1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng dự toán thu ngân sách nhà nước dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu ngân sách nhà nước tại cục thuế tỉnh đồng tháp

87 147 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 775,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, công tác kiểm soát dự báo thu NSNN để xây dựng dự toán thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế nhất định như: dự báo thu chưa khoa học, dự

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ KIỀU OANH

XÂY DỰNG DỰ TOÁN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC DỰA TRÊN CƠ SỞ KIỂM SOÁT DỰ BÁO THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ KIỀU OANH

XÂY DỰNG DỰ TOÁN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC DỰA TRÊN CƠ SỞ KIỂM SOÁT DỰ BÁO THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG THÁP

Chuyên ngành: Tài chính công

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS Diệp Gia Luật

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các s ố liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, khách quan và phù h ợp với thực tiễn Các kết quả này chưa từng được công bố trong b ất cứ công trình khoa học nghiên cứu nào khác

TP H ồ Chí Minh, ngày 19 tháng 9 năm 2019

Người thực hiện đề tài

Nguyễn Thị Kiều Oanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước“hết, tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và Viện Đào tạo Sau đại học đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho”tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Diệp Gia Luật đã

tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành”luận văn này

Bên cạnh đó, tôi“cũng xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức ngành Thuế tỉnh Đồng Tháp, những người đã tạo điều kiện hỗ trợ trong việc cung cấp các thông”tin cần thiết về vấn đề nghiên cứu cho tôi trong quá trình tìm tư liệu tại cơ quan

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

TP H ồ Chí Minh, ngày 19 tháng 9 năm 2019

Người thực hiện đề tài

Nguyễn Thị Kiều Oanh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ v

TÓM TẮT vi

PHẦN I GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1.1 M ục tiêu chung 3

2.1.2 M ục tiêu cụ thể 3

2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Khung phân tích, dữ liệu và cách tiếp cận 4

4.1 Khung phân tích 4

4.2 Dữ liệu nghiên cứu 4

4.3 Cách tiếp cận 4

5 Kết cấu luận văn 5

6 Kỳ vọng kết quả thực hiện luận văn 5

7 Tổng quan các nghiên cứu trước 6

7.1 Các nghiên cứu liên quan đến quản lý thuế và lập dự toán thu NSNN 6

7.2 Đánh giá chung về những nghiên cứu có liên quan 8

7.3 Khoảng trống nghiên cứu 8

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THU NSNN; DỰ BÁO VÀ DỰ TOÁN THU NSNN NGÀNH THUẾ 10

Trang 6

1.1 Cơ sở lý thuyết về thu NSNN 10

1.1.1 Tổng quan về thu NSNN 10

1.1.1.1 Khái ni ệm thu NSNN 10

1.1.1.2 Đặc điểm thu NSNN 10

1.1.1.3 C ơ cấu thu NSNN 10

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN 11

1.1.3 Nguyên tắc quản lý thu NSNN ngành thuế 12

1.2 Cơ sở lý thuyết về dự báo và dự toán thu NSNN ngành thuế 13

1.2.1 Dự báo thu NSNN ngành thuế 13

1.2.1.1 Khái quát chung 13

1.2.1.2 Quy trình d ự báo thu NSNN ngành thuế 14

1.2.1.3 Các công c ụ sử dụng trong dự báo thu 15

1.2.1.4 Các ph ương pháp dự báo sử dụng trong lập dự toán thu NSNN ngành thu ế 17

1.2.1.5 Các nhân t ố ảnh hưởng đến chất lượng công tác dự báo thu NSNN ngành thu ế 21

1.2.1.6 Ki ểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế 23

1.2.2 Dự toán thu NSNN ngành thuế 25

1.2.2.1 Khái quát chung d ự toán thu NSNN ngành thuế 25

1.2.2.2 So sánh d ự báo thu và dự toán thu NSNN 27

1.2.2.3 Xây d ựng dự toán thu NSNN ngành thuế 28

1.2.3 Hệ thống thông tin phục vụ công tác dự báo thu NSNN, xây dựng dự toán thu NSNN ngành thuế 28

1.2.3.1 Khái quát chung v ề hệ thống thông tin phục vụ công tác dự báo thu NSNN, xây d ựng dự toán thu NSNN ngành thuế 28

1.2.3.2 Yêu c ầu và nguyên tắc 29

1.2.3.3 N ội dung hệ thống thông tin phục vụ công tác dự báo thu NSNN, xây d ựng dự toán thu NSNN ngành thuế 30

1.3 Khung nghiên cứu 31

Trang 7

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 31

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG DỰ TOÁN THU NSNN DỰA TRÊN CƠ SỞ KIỂM SOÁT DỰ BÁO THU NSNN TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG THÁP 32

2.1 Giới thiệu về Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp 32

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp 32

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp 33

2.2 Thực trạng công tác xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp 33

2.2.1 Tình hình thực hiện nhiệm vụ thu NSNN giai đoạn năm 2016 - 2018 33

2.2.2 Phân tích thực trạng xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp giai đoạn năm 2016 - 2018 38

2.3 Đánh giá công tác xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp 43

2.3.1 Thực trạng công tác xây dựng dự toán thu dựa trên phân tích dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp giai đoạn năm 2016 - 2018 43

2.3.2 Đánh giá công tác xây dựng dự toán thu dựa trên phân tích dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp giai đoạn năm 2016 - 2018 44

2.3.2.1 Nh ững kết quả đạt được 44

2.3.2.2 H ạn chế và nguyên nhân 45

2.4 Khảo sát ý kiến của cán bộ thuế trong quá trình dự báo thu để xây dựng dự toán thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp 54

2.4.1 Giới thiệu đối tượng khảo sát 54

2.4.2 Tổng hợp ý kiến 55

2.4.2.1 Tích c ực 58

2.4.2.2 H ạn chế 59

2.4.2.3 Nguyên nhân 61

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 61

Trang 8

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG DỰ TOÁN THU NSNN DỰA TRÊN CƠ SỞ KIỂM SOÁT DỰ BÁO THU NSNN TẠI

CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG THÁP 62

3.1 Định hướng và nhiệm vụ trong xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp 62

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp 64

3.2.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 64

3.2.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp 64

3.2.2.1 T ăng cường sự lãnh đạo của Đảng uỷ, Ban Lãnh đạo Cục Thuế 64

3.2.2.2 Hoàn thi ện quy trình dự báo thu NSNN 65

3.2.2.3 Nâng cao n ăng lực, trình độ của cán bộ xây dựng dự toán 65

3.2.2.4 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lập dự toán thu NSNN 66

3.3 Kiến nghị 66

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 67

PHẦN III KẾT LUẬN 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Bảng 2.1: Thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp năm 2016 - 2017 và dự toán thu

Cục Thuế xây dựng năm 2018 33

Bảng 2.2: So sánh kết quả thu NSNN với dự toán Bộ Tài chính giao giai đoạn năm

2016 - 2018 36

Bảng 2.3: So sánh dự toán thu NSNN Cục Thuế xây dựng với ước thực hiện thu NSNN giai đoạn năm 2016 - 2018 41 Bảng 2.4: Tổng hợp ý kiến chuyên gia về lập dự toán thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp 54

Sơ đồ 1.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất 31 Hình 2.1: Dự toán Bộ Tài chính giao và số thu thực tế giai đoạn năm 2016 -2018 37

Trang 11

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Xây dựng dự toán thu NSNN hàng năm có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngành thuế nói chung và Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp nói riêng Vấn đề này được Ban lãnh đạo Cục Thuế rất quan tâm và xem đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế, góp phần hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu thu NSNN được Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và UBND tỉnh giao Tuy nhiên, công tác kiểm soát dự báo thu NSNN để xây dựng dự toán thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế nhất định như: dự báo thu chưa khoa học, dự báo theo cảm nhận chủ quan của cán bộ phân tích dẫn đến lập

dự toán chưa đầy đủ và chưa bao quát hết nguồn thu, việc đánh giá, phân tích dự báo thu chưa được tiến hành một cách toàn diện, sâu sắc, công tác lập dự toán thu thiếu tính kịp thời so với thực tế, chưa phân định được những nhân tố ảnh hưởng khách quan, chủ quan, chính yếu và thứ yếu Chính vì vậy, việc nghiên cứu “Xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp” nhằm nâng cao chất lượng lập dự toán thu NSNN hàng năm là rất cần thiết Nghiên cứu này đã hệ thống những vấn đề về dự báo thu và dự toán thu NSNN; phân tích, đánh giá công tác dự báo thu để xây dựng dự toán thu NSNN; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp Các mục tiêu nghiên cứu lần lượt được làm sáng tỏ qua việc vận dụng kết hợp nhiều phương pháp như: thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp để trình bày cơ sở lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu; quan sát thực tế, phân tích các quy trình nghiệp vụ có liên quan để thấy được những mặt được và chưa được của việc lập dự toán hiện nay; phương pháp so sánh, đối chiếu để thấy được bức tranh tổng quan về dự báo thu, lập dự toán và thực hiện dự toán cùng những nguyên nhân tác động đến quá trình lập và chấp hành dự toán; phương pháp khảo sát ý kiến của các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lập dự toán thu NSNN để luận giải, làm sáng tỏ hơn các vấn đề đã phân tích, đồng thời làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp mang tính khả thi, hiệu quả

Trang 12

Nghiên cứu cũng đã đưa ra những kiến nghị đối với các cơ quan có thẩm quyền

và đề xuất bốn nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lập dự toán thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp dựa trên cơ sở kiểm soát các yếu tố tác động đến dự báo thu NSNN, đó là: (1) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng uỷ, Ban Lãnh đạo Cục Thuế; (2) Hoàn thiện quy trình dự báo thu NSNN; (3) Nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ xây dựng dự toán; (4) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lập dự toán thu NSNN

Tác giả hy vọng đây là những giải pháp có ý nghĩa khoa học và thực tiễn có thể triển khai để góp phần hoàn thiện công tác lập dự toán thu NSNN hàng năm tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp

Từ khóa: Thu ngân sách nhà nước, dự toán, xây dựng dự toán thu, dự báo thu, kiểm soát dự báo thu./

Trang 13

ABSTRACT

Setting annual government budget revenue estimates is one of the most important tasks to improve the effectiveness and efficiency in tax administration so that it could help to exceed the budget revenue assigned by the central government However, monitoring activities for forcasting the estimates of government budget revenue at Dong Thap Tax Department still have had some shortcomings such as unrealistic revenue forecast, analyst’s subjective forecast leading to inadequate and incomprehensive estimation of revenue sources Therefore, the research

“Developing government budget revenue estimates based on monitoring the forecast of budget revenue in Dong Thap Tax Department” aiming at improving the quality of setting annual government budget revenue estimates is essential

This research has systematically raised the issues of revenue forecasting and government budget revenue estimation; analyzed and evaluated revenue forecasting and at the same time, make recommendations to the competent authorities and propose four groups of solutions: (1) Strengthening the leadership of the Party Committee, Board of Directors of Tax Department; (2) Complete the process of forecasting Government budget revenues; (3) Improving the capability and qualifications of estimating officers; (4) Promote the application of information technology in setting Government budget revenue estimates

Keywords: Government budget revenues, estimates, construction of revenue estimates, revenue forecast, control revenue forecast./

Trang 14

PHẦN I GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

D ự toán thu ngân sách nhà nước (NSNN) đóng vai trò đặc biệt quan trọng với

m ỗi quốc gia nói chung và ở cấp độ địa phương nói riêng Nội dung phần này sẽ phân tích để thấy được sự cần thiết của nghiên cứu “Xây dựng dự toán thu NSNN

d ựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp” Ngoài

ra, ph ần này giới thiệu các nội dung chính về mục tiêu, câu hỏi, phương pháp, số

li ệu nghiên cứu,… Bên cạnh đó, các nghiên cứu có liên quan được lược khảo để

c ủng cố thêm sự cần thiết của vấn đề phân tích trong luận văn

1 Lý do chọn đề tài

Ngân sách nhà nước (NSNN)“đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt là nguồn thu từ thuế Vì vậy, dự toán thu NSNN cũng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tạo ra nguồn lực tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước,”phát triển kinh tế - xã hội và tạo căn cứ cho việc điều hành thu ngân sách một cách khoa học và hợp lý Việt Nam đang trong xu thế phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đòi hỏi công tác xây dựng dự toán thu NSNN phải thích hợp, vừa đảm bảo khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, vừa đảm bảo mức động viên của NSNN, góp phần nâng cao chất lượng quản lý ngân sách

Dự báo thu NSNN ở Việt Nam hiện nay thường áp dụng nhiều nhóm phương pháp dự báo thu khác nhau như phương pháp mô hình hoá, phương pháp chuyên gia

và nhóm phương pháp kết hợp để dự báo các vấn đề liên quan đến kinh tế - xã hội

và số thu NSNN để lập dự toán thu NSNN Tuy nhiên, mỗi đơn vị, tổ chức quản lý thu thường áp dụng phương pháp dự báo theo các mức độ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất, năng lực cán bộ và mục đích nghiên cứu, quản lý Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các bộ, ngành có liên quan trong việc tổng hợp, lập dự toán NSNN trình Chính phủ theo các nội dung quy định Trong“những năm qua, ngành thuế luôn bám sát sự chỉ đạo của Bộ Tài chính, tập trung triển khai thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và số thu NSNN, về xây dựng và tổ chức thực hiện dự toán NSNN Trên cơ sở rà soát lại

Trang 15

kết quả thực hiện thu của năm trước liền kề, đánh giá lại toàn bộ các nguồn thu trên từng địa bàn theo từng khoản thu, sắc thuế, Tổng cục Thuế đã ban hành các văn bản

về việc triển khai dự toán thu ngân sách hàng năm Trong đó, yêu cầu các Cục Thuế thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo, điều hành, kiểm soát dự báo thu ngân sách để lập dự toán thu sát thực tế, đạt hiệu quả cao, nâng cao chất lượng quản

lý thuế Phát động các phong trào thi đua phấn đấu hoàn thành vượt mức dự toán thu NSNN được giao ngay từ những ngày đầu năm.”

Với vai trò rất quan trọng của công tác lập dự toán thu ngân sách,“Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp luôn quan tâm đến kiểm soát dự báo thu để có thể xây dựng được

dự toán thu thích hợp với điều kiện thực tiễn địa phương, đồng thời đáp ứng chỉ tiêu thu NSNN do Tổng cục Thuế, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Đồng Tháp giao và đúng quy trình, quy định pháp luật Tuy nhiên, công tác kiểm soát dự báo thu NSNN để xây dựng dự toán tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế nhất định như: dự báo thu chưa khoa học, dự báo theo cảm nhận chủ quan của cán bộ phân tích dẫn đến lập dự toán chưa đầy đủ và bao quát hết nguồn thu, số liệu ước thực hiện thu thấp so với khả năng thực hiện, việc đánh giá, phân tích, dự báo thu chưa được tiến hành một cách toàn diện, sâu sắc, công tác lập dự toán thu thiếu tính kịp thời so với thực tế, chưa phân định được những nhân tố ảnh hưởng khách quan, chủ quan, chính yếu và thứ yếu.”

Ngoài ra, trình độ chuyên môn của cán bộ,“công chức làm công tác dự báo thu, xây dựng dự toán thu NSNN còn hạn chế, kiến thức về tài chính, thuế, kinh tế học,… chưa được đào tạo chuyên sâu nên gây khó khăn trong việc thu thập, phân tích thông tin, dữ liệu, thiếu cơ chế trao đổi thông tin với các đơn vị trong và ngoài ngành tài chính phục vụ quản lý thuế,… Những hạn chế này tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp làm cho việc phân tích, đánh giá dự báo thu để xây dựng dự toán thu NSNN chưa khoa học, hợp lý nên rất cần thiết phải kiểm soát dự báo thu NSNN để nâng cao chất lượng xây dựng dự toán thu NSNN.”

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn về công tác thu NSNN nêu trên, cùng với tầm quan trọng đặc biệt của công tác dự báo thu NSNN đối với ngành thuế nên đề

Trang 16

tài “Xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp” là rất cần thiết.“Đề tài sẽ phân tích thực trạng dự báo

thu để xây dựng dự toán thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong việc phân tích, đánh giá dự báo thu NSNN, nhằm góp phần nâng cao chất lượng xây dựng dự toán thu NSNN đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách hệ thống thuế và hiện đại hoá ngành thuế.”

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu chung của nghiên cứu là đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng“xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN ngày càng chính xác, đạt hiệu quả cao.”

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Vận dụng lý luận về dự báo thu NSNN và dự toán thu NSNN để phân tích, đánh giá công tác xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp;

- Đề xuất các kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng công tác xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát

dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp?

- Cách thức kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp có những hạn chế gì?

- Giải pháp giúp nâng cao chất lượng xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ

sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp?”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:“Những vấn đề chung về lý thuyết và thực tiễn về kiểm soát dự báo thu NSNN để xây dựng dự toán thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp.”

Trang 17

- Phạm vi nghiên cứu:

+“Về nội dung: Nghiên cứu giới hạn trong phạm vi nội dung là quy trình lập

dự toán thu NSNN về thuế, tình hình thực hiện thu thuế theo dự toán giai đoạn năm

2016 - 2018, và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng dự toán thu NSNN

về thuế định hướng đến năm 2022.”

+ Dữ liệu nghiên cứu: Về thời gian từ năm 2016 - 2018, định hướng đến 2022;

về không gian tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp

4 Khung phân tích, dữ liệu và cách tiếp cận

4.1 Khung phân tích

- Lý thuyết về thu NSNN

- Lý thuyết về dự báo thu NSNN và dự toán thu NSNN

-“Các quy định, hướng dẫn của cấp có thẩm quyền về xây dựng, lập dự toán thu NSNN.”

4.2 Dữ liệu nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các số liệu dự toán, các báo cáo của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp, Tổng cục Thuế, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư,

từ các báo cáo kinh tế - xã hội hàng năm, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội, các báo cáo kết quả thực hiện thu ngân sách hàng năm Nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập bằng phiếu khảo sát ý kiến các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong công tác dự báo thu, dự toán thu NSNN, để củng cố và khẳng định các kết luận từ nghiên cứu một cách khách quan và mang ý nghĩa thực tiễn hơn

4.3 Cách tiếp cận

Qua quá trình nghiên cứu, cách tiếp cận để đạt được mục tiêu của đề tài là phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên cơ sở phỏng vấn chuyên gia với các đối tượng là: Chuyên viên và Lãnh đạo Cục Thuế trực tiếp làm hoặc trực tiếp quản lý có nhiều năm kinh nghiệm trong công tác xây dựng dự toán thu NSNN hàng năm của ngành thuế tỉnh Đồng Tháp Mục đích để đánh giá tình hình quản lý và kiểm soát

dự báo thu NSNN, chỉ ra nguyên nhân hạn chế trong việc kiểm soát dự báo thu

Trang 18

NSNN, từ đó đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới Phiếu khảo sát là gồm những câu hỏi mở để đối tượng được phỏng vấn đưa

ra ý kiến, quan điểm về xây dựng dự toán NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu tại đơn vị mình hiện nay đang công tác

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp so sánh để việc trình bày luận văn được rõ ràng và có sức thuyết phục hơn

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn gồm ba chương như sau:

- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về thu NSNN; dự báo và dự toán thu NSNN ngành thuế

- Chương 2:“Thực trạng công tác xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp.”

- Chương 3:“Những giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp.”

6 Kỳ vọng kết quả thực hiện luận văn

Trên cơ sở tìm hiểu nguyên nhân hạn chế trong công tác dự báo thu NSNN để xây“dựng dự toán thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp,”luận văn sẽ bổ sung và

hệ thống các vấn đề về lý thuyết dự báo và dự toán thu NSNN, phân tích, đánh giá thực trạng công tác dự báo thu NSNN để làm rõ hơn lý thuyết và thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp giúp nâng cao chất lượng xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên

cơ sở kiểm soát dự báo thu ngày càng chính xác, đạt hiệu quả hơn tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp

7 Tổng quan các nghiên cứu trước

7.1 Các nghiên cứu liên quan đến quản lý thuế và lập dự toán thu NSNN

Trước yêu cầu“về lập dự toán NSNN phải sát với thực tế, có đầy đủ căn cứ khoa học, đúng quy định đòi hỏi các cơ quan, đơn vị phải có những phương pháp dự báo phù hợp để xây dựng dự toán thu NSNN đạt hiệu quả cao nhất Vì vậy, đã có

Trang 19

nhiều bài viết, bài nghiên cứu khoa học, công trình luận văn, luận án,… của nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này.”

Nguyễn Thị Thùy Dương (2011)“phân tích công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.“Tác giả đã hệ thống bộ máy quản lý thuế, thực trạng cơ sở pháp lý và nội dung quản lý thuế Các phương pháp phân tích chủ yếu của nghiên cứu là phương pháp hệ thống, thống kê mô tả, phân tích tổng hợp,

so sánh,”đối chiếu, công cụ phân tích định lượng bằng mô hình GTAP Qua đó, nhiều giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, tập trung chủ yếu vào các vấn đề: (1) Giải quyết tốt mối quan hệ với người nộp thuế như giảm thấp chi phí tuân thủ cho người nộp thuế, tăng cường giao tiếp thông tin với người nộp thuế; (2) Xây dựng mô hình phân tích để dự báo và ứng dụng vào công tác quản trị thuế; tăng cường công tác lập thống kê, báo cáo, tổng hợp trong quản trị thuế; (3) Thành lập bộ phận chức năng tại Tổng cục Thuế chuyên trách quản lý sự thay đổi của môi trường bên trong

và bên ngoài có tác động đến hoạt động quản lý thuế, đồng thời thành lập bộ phận chuyên quản lý, theo dõi, giám sát hoạt động của các đại lý thuế; (4) Bổ sung thêm các quy định về giao dịch điện tử trong Luật Quản lý thuế Tuy nhiên, do đối tượng

và phạm vi nghiên cứu là quản lý thuế ở Việt Nam nên công trình của tác giả khó áp dụng cho một địa phương cụ thể.”

Cũng ở cấp độ quốc gia, Vũ Sỹ Cường (2017)“đánh giá việc thực hiện dự toán ngân sách 2017 thông qua đúc kết bài học từ năm ngân sách 2016 Tác giả đã chỉ ra bốn bài học kinh nghiệm dựa trên cơ sở đánh giá về tình hình thu, chi NSNN năm

2016 là: (1) Sự chỉ đạo điều hành kịp thời với những thay đổi của tình hình kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện dự toán NSNN; (2) Trong bối cảnh khó khăn kinh tế thì việc tăng cường kiểm tra, giám sát quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế; cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng

và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới cần được quan tâm; (3) Điều chỉnh việc lập dự toán NSNN phù hợp với những thay đổi dự kiến của tình hình kinh tế; (4) Thực hiện các biện pháp chủ động và tích cực trong việc tiết kiệm chi tiêu từ NSNN.”

Trang 20

Tương tự,“Nguyễn Thị Minh Hạnh (2011) tiếp cận vấn đề quản lý thuế ở cấp

độ địa phương trên góc độ quản lý nhà nước về kinh tế Phương pháp duy vật biện chứng, điều tra khảo sát, phân tích thống kê, so sánh được sử dụng Trong nghiên cứu, các giải pháp tăng cường quản lý thuế của tỉnh Thái Nguyên được đề xuất thông qua việc: hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về quản lý thuế của địa phương như khái niệm quản lý thuế của địa phương, vai trò của chính quyền địa phương trong công tác quản lý thuế, nội dung quản lý thuế của địa phương, các nhân có tố ảnh hưởng đến quản lý thuế của địa phương Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn chưa đề cập đến các tiêu chí đánh giá hiệu quả việc quản lý thuế của địa phương, chưa thể hiện rõ các nội dung phân cấp quản lý thuế giữa tỉnh - huyện - xã và tác động tới số thu địa phương.”

Ngoài ra, Nguyễn Thị Thanh Mai (2017) đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ một

số vấn đề cơ sở lý luận về NSNN, ngân sách địa phương và quản lý nhà nước (QLNN) đối với thu - chi ngân sách địa phương qua nghiên cứu “Hoàn thiện QLNN đối với thu - chi ngân sách của thành phố Hải Phòng” Tuy nhiên, tác giả chưa phân tích được hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với thu - chi ngân sách địa phương, chưa đưa ra được hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá hiệu lực, hiệu quả QLNN đối thu - chi ngân sách địa phương

Ở cấp huyện, Đàm Thị Hệ (2013) nêu lên các giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý NSNN trong một nghiên cứu điển hình tại tại thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông Trong nghiên cứu, tác giả cũng đã hệ thống các giải pháp quản lý NSNN cho công tác lập dự toán NSNN, chấp hành dự toán NSNN, thanh quyết toán ngân sách và kiểm tra, thanh tra NSNN Từ đó, sáu giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý ngân sách cấp huyện được đề xuất gồm: “(1) Công khai NSNN; (2) Hoàn thiện quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách; (3) Tăng cường bồi dưỡng nguồn thu; (4) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tài chính NSNN; (5) Nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý ngân sách; (6) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý Hạn chế của nghiên cứu này là chưa tập trung vào vấn đề lập dự toán thu ngân sách mà chỉ tập trung chủ yếu vào vấn đề kiểm soát chi.”

Trang 21

Tương tự,“Lê Thanh Hà (2015) đã hệ thống cơ sở lý thuyết về công tác quản

lý thu NSNN từ thuế trên địa bàn quận, huyện, đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu NSNN từ thuế của Chi cục Thuế qua”nghiên cứu “Hoàn thiện công tác quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Ba Vì” Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu vào những hạn chế và nguyên nhân hạn chế tồn tại trong quá trình quản

lý thuế trên địa bàn

7.2 Đánh giá chung về những nghiên cứu có liên quan

Thông qua tổng quan các nghiên cứu trên cho thấy, các nghiên cứu được thực hiện với nhiều cấp độ quản lý thuế khác nhau: quốc gia, tỉnh/thành phố, huyện/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh Phần lớn các công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều khía cạnh về quản lý thu, chi NSNN, hệ thống hóa và luận giải rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề xuất phương hướng, bài học kinh nghiệm,“giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý NSNN Tuy nhiên, do xuất phát từ đối tượng, phạm vi nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau nên có rất ít công trình nghiên cứu về dự báo thu NSNN Lý luận về dự báo và xây dựng dự toán thu NSNN đã không được nghiên cứu cụ thể.”

7.3 Khoảng trống nghiên cứu

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về quản lý thuế nhưng các công trình này vẫn chưa đề cập và“luận giải rõ một vài vấn đề như sau:”

- Cơ sở lý thuyết về thu NSNN và dự toán thu NSNN, phương pháp lập dự toán thu NSNN, cách thức kiểm soát dự báo thu NSNN áp dụng cho từng trường hợp cụ thể

- Chưa có nghiên cứu nào chỉ ra các giải pháp để nâng cao chất lượng xây dựng dự toán thu NSNN dựa trên cơ sở kiểm soát dự báo thu NSNN Những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng đến dự toán NSNN cũng chưa được phân tích xác đáng

Trên đây là một số nội dung mới mang tính thực tiễn và cấp thiết sẽ được nghiên cứu và làm sáng tỏ trong luận văn

Trang 22

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THU NSNN; DỰ BÁO VÀ DỰ TOÁN

THU NSNN NGÀNH THUẾ 1.1 Cơ sở lý thuyết về thu NSNN

1.1.1 Tổng quan về thu NSNN

1.1.1.1 Khái niệm thu NSNN

Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước Nguồn tài chính tập trung vào NSNN là những khoản thu nhập của Nhà nước được hình thành trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội

dưới hình thức giá trị Theo Luật NSNN năm 2015 của Quốc hội: Thu NSNN bao

g ồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà

n ước; các khoản đóng góp của các tổ chức cá nhân; các khoản viện trợ và các kho ản thu khác theo quy định của pháp luật

Thu NSNN là gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù giá trị như thu nhập, giá cả, lãi suất, Sự vận động của các phạm trù đó vừa tác động đến sự tăng trưởng mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều tiết của các công cụ thu NSNN

1.1.1.3 Cơ cấu thu NSNN

Cơ cấu thu NSNN có thể chia thành: thu trong cân đối NSNN và thu ngoài cân đối NSNN Thu trong cân đối NSNN là bao gồm các khoản thu thường xuyên:

Trang 23

Thuế, phí, lệ phí với nhiều hình thức cụ thể do luật định và thu không thường xuyên bao gồm các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và các khoản thu khác.”Thu ngoài cân đối NSNN hay còn gọi là thu bù đắp thiếu hụt NSNN: Khi số thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu và Nhà nước phải đi vay, bao gồm các khoản vay trong nước từ các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội và các khoản vay từ nước ngoài

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN

- Thu nh ập GDP bình quân đầu người:“Tổng GDP phản ánh quy mô của nền

kinh tế, từ đó quyết định đến tổng thu NSNN, còn GDP bình quân đầu người là một chỉ tiêu phản ánh trình độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước GDP bình quân đầu người là một yếu tố khách quan quyết định mức động viên của NSNN Do đó, khi xác định mức

độ động viên thu nhập vào NSNN mà thoát ly chỉ tiêu này thì sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của nền kinh tế.”

- T ỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế:“Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu

quả của đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung và hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng Tỷ suất lợi nhuận bình quân càng lớn sẽ phản ánh khả năng tái tạo và mở rộng các nguồn thu nhập trong nền kinh tế càng lớn, từ đó đưa tới khả năng huy động cho NSNN Đây là yếu tố quyết định đến việc nâng cao tỷ suất thu NSNN Do vậy, khi xác định tỷ suất thu Ngân sách cần căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế để đảm bảo việc huy động của NSNN không gây khó khăn về mặt tài chính cho các hoạt động kinh tế.”

- Kh ả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên:“Đối với các

nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thì việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu to lớn cho NSNN Với cùng một điều kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản lớn thì

tỷ lệ động viên vào NSNN cũng lớn hơn.”

Trang 24

- “ M ức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: Mức độ trang trải các

khoản chi phí của Nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô tổ chức của bộ máy Nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, những nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử, chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước Khi các nguồn tài trợ khác cho chi phí hoạt động của Nhà nước không có khả năng tăng lên, việc tăng mức độ chi phí của Nhà nước sẽ đòi hỏi tỷ suất thu của Ngân sách cũng tăng lên Các nước đang phát triển thường rơi vào tình trạng nhu cầu chi tiêu của NSNN vượt quá khả năng thu, nên các Chính phủ thường phải vay nợ để bù đắp bội chi.”

- “ T ổ chức bộ máy thu nộp: Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng đến chi phí

và hiệu quả hoạt động của bộ máy này Nếu tổ chức hệ thống cơ quan Thuế, Hải quan, Kho bạc Nhà nước gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống lại thất thu do trốn, lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cực làm giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn thỏa mãn được các nhu cầu chi tiêu của NSNN.”

1.1.3 Nguyên tắc quản lý thu NSNN ngành thuế

- Nguyên t ắc thống nhất: Mọi khoản thu NSNN từ thuế phải tuân thủ theo những quy định của Luật NSNN và phải được dự toán hàng năm được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Tất cả các khâu trong chu trình thu NSNN từ thuế khi triển khai thực hiện phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền Hoạt động thu NSNN từ thuế phải có sự thống nhất với hoạt động kinh tế - xã hội của từng vùng, miền, địa phương

- Nguyên t ắc dân chủ:“Sự tham gia của xã hội, công chúng thực hiện trong

suốt chu trình ngân sách, từ lập dự toán, chấp hành, quyết toán ngân sách, thể hiện nguyên tắc dân chủ trong quản lý ngân sách Sự tham gia của người dân sẽ làm cho ngân sách được minh bạch hơn, thông tin ngân sách trung thực và chính xác hơn.”

- Nguyên t ắc công khai, minh bạch: Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định thu, hạn chế những thất thoát và đảm bảo tính hiệu quả Nguyên tắc công khai, minh bạch được thực hiện trong suốt chu trình thu ngân sách từ thuế

Trang 25

- Nguyên t ắc quy trách nhiệm: Nhà nước là cơ quan công quyền, sử dụng các

nguồn lực của nhân dân thực hiện các mục tiêu đề ra Đây là nguyên tắc yêu cầu về trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân trong quá trình quản lý thu ngân sách, bao gồm: Quy trách nhiệm giải trình về các hoạt động thu ngân sách từ thuế, chịu trách nhiệm

về các quyết định thu ngân sách từ thuế của mình; Quy trách nhiệm đối với cơ quan quản lý cấp trên và trách nhiệm đối với công chúng, xã hội; Quy trách nhiệm yêu cầu phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm từng cá nhân, đơn vị, chính quyền các cấp trong thực hiện thu NSNN từ thuế theo chất lượng công việc đạt được

- Nguyên t ắc rõ ràng, trung thực, chính xác:“Mọi khoản thu phải được ghi đầy

đủ vào kế hoạch thu NSNN từ thuế, vào sổ và quyết toán thu rõ ràng Chỉ có kế hoạch thu NSNN đầy đủ, trọn vẹn mới phản ánh đúng mục đích, chính xác và đảm bảo tính minh bạch của các khoản thu Nguyên tắc này là cơ sở,”tạo tiền đề cho mỗi người dân có thể nhìn nhận được chương trình hoạt động của chính quyền địa phương và chương trình này phải được phản ánh ở việc thực hiện chính sách tài chính địa phương

1.2 Cơ sở lý thuyết về dự báo và dự toán thu NSNN ngành thuế

1.2.1 Dự báo thu NSNN ngành thuế

1.2.1.1 Khái quát chung

- Khái ni ệm dự báo thu: Dự báo thu là sự tiên đoán có căn cứ khoa học, mang

tính chất xác suất về mức độ, nội dung, các mối quan hệ, trạng thái, xu hướng phát

triển của các nguồn thu NSNN trong thời gian nhất định ở tương lai

- V ị trí, vai trò của dự báo thu

+ Trong công tác quản lý tài chính vĩ mô: Dự báo thu ngân sách là khâu đầu

tiên của quá trình hoạch định chính sách tài chính,“là cơ sở để chỉ đạo, điều hành quản lý ngân sách Là công cụ quan trọng để đánh giá đúng chất lượng công tác quản lý thu ngân sách ở cơ quan thuế các cấp.”Cung cấp cơ sở để chủ thể quản lý ban hành các quyết định trong quản lý thuế

+ Trong công tác QLNN: Số liệu dự báo thu là cơ sở quan trọng để lãnh đạo các cấp ra quyết định trong quản lý, trên cơ sở đánh giá thực trạng, phân tích xu

Trang 26

hướng vận động và phát triển trong quá khứ, hiện tại và tương lai của công tác dự báo, sẽ cung cấp thông tin cần thiết, khách quan làm căn cứ cho việc nghiên cứu, ban hành các quyết định QLNN, các chiến lược phát triển kinh tế, xã hội

+ Trong công tác xây dựng, hoạch định cơ chế, chính sách: Dự báo có thể tiên đoán được các hiệu quả, hậu quả có thể phát sinh trong quá trình thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, từ đó, giúp các cơ quan chức năng kịp thời điều chỉnh mục tiêu cũng như các cơ chế tác động vào QLNN để đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao, đặc biệt là trong việc đánh giá các công việc trong lĩnh vực ngân sách và các kiến nghị sửa đổi chính sách tài chính, thuế Dự báo thu giúp nhận biết và giải quyết những vấn đề phát sinh khi vận hành chính sách thu trong thực tế, cung cấp các cơ

sở, điều kiện cần thiết cho quá trình hoạch định chính sách đồng thời ước lượng trước và đánh giá được nguồn lực tài chính cho đất nước sẽ thu được từ một chính sách thuế sẽ ban hành

- Các nguyên tắc trong dự báo thu ngân sách

+ Trung thực khách quan, không áp đặt

+ Thừa nhận và tôn trọng mối quan hệ và tác động qua lại của các yếu tố tác động đến nguồn thu ngân sách

+ Thể hiện được tính kế thừa lịch sử các thông tin trong quá khứ

+ Tôn trọng đặc thù của các đối tượng, yếu tố có liên quan đến số thu được phân tích, dự báo

1.2.1.2 Quy trình dự báo thu NSNN ngành thuế

Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế về phân tích, dự báo thu NSNN, dự báo thu NSNN được thực hiện theo các bước như sau:

- B ước 1: Xác định mục tiêu và phạm vi dự báo thu NSNN cụ thể, đối với dự

báo thu NSNN có thể là dự báo tổng thu ngân sách, hoặc dự báo từng khoản thu, sắc thuế cụ thể trên phạm vi cả nước hoặc từng địa phương, từng lĩnh vực, ngành,… và khoảng thời gian cần dự báo ở tương lai như tháng, quý, năm, 3 năm, 5 năm,…

- B ước 2: Xác định loại dự báo là định tính hay định lượng tùy theo yêu cầu,

mục tiêu của dự báo

Trang 27

- B ước 3: Lựa chọn phương pháp, mô hình và công cụ dự báo: Căn cứ trên

mục tiêu, loại hình dự báo, căn cứ đánh giá về cơ sở dữ liệu hiện có và trình độ dự báo để lựa chọn phương pháp, mô hình, công cụ dự báo thu cho phù hợp

- B ước 4: Thu thập số liệu và tiến hành dự báo Trên cơ sở yêu cầu về các dữ

liệu đầu vào của mô hình, người dự báo tiến hành thu thập, xử lý dữ liệu đầu vào cho phương pháp, mô hình dự báo đảm bảo đáp ứng đầy đủ cơ sở dữ liệu cần thiết

để dự báo

- B ước 5: Ứng dụng kết quả dự báo: Là khâu sử dụng kết quả dự báo cho

những mục đích nhất định Đối với dự báo thu NSNN, kết quả dự báo thu có thể được sử dụng cho lập dự toán thu NSNN hàng quý, năm, sử dụng cho đánh giá hiệu quả công tác quản lý thu hoặc đánh giá tác động đến số thu NSNN khi nghiên cứu, xây dựng, ban hành chính sách thuế mới,…

- B ước 6: Điều chỉnh, cập nhật mô hình: Là quá trình vận hành, cập nhật, bổ

sung dữ liệu mới và điều chỉnh mô hình cho phù hợp với thực tế

1.2.1.3 Các công cụ sử dụng trong dự báo thu

Tùy theo độ phức tạp của hệ thống cơ sở dữ liệu, mục đích dự báo số thu hay công tác hoạch định chính sách, người làm công tác dự báo có thể sử dụng các công

cụ phần mềm khác nhau để phân tích dự báo thu, có rất nhiều phần mềm được lập trình ra nhằm hỗ trợ cho công tác xử lý phân tích số liệu Cụ thể một số phần mềm thông dụng trong phân tích số liệu như sau:

- Chương trình Microsoft Excel: Được áp dụng phổ biến, tuy nhiên chỉ ở mức

độ đơn giản, thô sơ Đối với việc phân tích số liệu, Excel cũng cung cấp các hàm chuyên dụng rất tiện lợi Có thể áp dụng cho hầu hết các mô hình: Cân bằng tổng thể, mô phỏng vi mô, chuỗi thời gian, đồng thời cũng có các công cụ phục vụ tính toán hồi quy theo mô hình kinh tế lượng Số liệu được nhập vào biểu Excel dưới dạng bảng, chuỗi số theo thời gian được nhập vào theo cột, đầu cột là tên biến Sử dụng công cụ Data Analysis trong Excel để thực hiện các phân tích hồi quy, tương quan, biểu đồ,… Kết quả phân tích được hiển thị trên một sheet trong Excel

- Phần mềm Eviews (Econometrics Views): Được xây dựng và phát triển bởi

Trang 28

công ty Quantative Micro Software (QMS) từ năm 1981 Đến nay Eviews đã được cập nhật nhiều lần đến phiên bản 7.x Eviews là một công cụ rất mạnh trong phân tích và dự báo, được sử dụng cho học tập và nghiên cứu tại hầu hết các trường kinh

tế ở các nước phát triển.“Eviews cung cấp các công cụ để phân tích những dữ liệu phức tạp, hồi qui và dự báo, xây dựng mối quan hệ kinh tế lượng từ dữ liệu có sẵn

và sử dụng mối quan hệ này để dự báo các giá trị tương lai Eviews thường được sử dụng trong nhiều loại nghiên cứu như đánh giá và phân tích dữ liệu khoa học, phân tích tài chính, mô phỏng và dự báo vĩ mô, dự báo doanh số và phân tích chi phí, Đặc biệt, Eviews là một phần mềm mạnh cho phân tích dữ liệu thời gian cũng như

dữ liệu chéo với cỡ mẫu lớn Eviews đưa ra nhiều cách nhập dữ liệu thông dụng và

dễ sử dụng như nhập từ bàn phím, từ các file sẵn có dưới dạng excel hay text, dễ dàng mở rộng file dữ liệu có sẵn, trình bày các biểu mẫu, đồ thị, kết quả phân tích

và có thể in trực tiếp hoặc chuyển qua các loại định dạng văn bản khác Eviews giúp người sử dụng dễ dàng ước lượng và cung cấp nhiều công cụ kiểm định các mô hình kinh tế lượng giúp cho việc phân tích dữ liệu, ước lượng phương trình và đánh giá kiểm định các khuyết tật của mô hình một cách nhanh chóng, hiệu quả.”

- Phần mềm MFIT (Microfit cho Windows): Được hai tác giả là Bahram

Pesaran và Hashem Pesaran của trường đại học Oxford nghiên cứu và phát triển, đến nay đã có phiên bản Mfit 5.0 cho Windows Tương tự Eviews, Mfit 5.0 cung cấp hàng loạt công cụ để sử dụng cho ước lượng, kiểm định giả thuyết, dự báo, xử

lý dữ liệu, quản lý tập tin và màn hình hiển thị biểu đồ, đồ thị Mfit 5.0 được đánh giá là một trong những phần mềm phân tích chuỗi thời gian về kinh tế, tài chính mạnh mẽ nhất hiện nay Mfit được sử dụng trong giảng dạy môn học kinh tế lượng tại nhiều trường đại học

1.2.1.4 Các phương pháp dự báo sử dụng trong lập dự toán thu NSNN

ngành thuế

- Ph ương pháp ngoại suy: Các phương pháp mà ngành thuế đang sử dụng để

dự báo số thu chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp ngoại suy

Trang 29

Phương pháp này giả định rằng số thu tiếp tục diễn biến theo xu thế giống như với giai đoạn trước, với kỹ thuật so sánh đơn giản, dễ tính toán và dựa vào tính chất ngắn hạn của những thông tin, đặc biệt là dựa vào kinh nghiệm của các chuyên gia công tác lâu dài trong một lĩnh vực quản lý thu nhất định để suy diễn mức tăng trưởng, khả năng thu, để dự báo những nguồn thu cụ thể

Với cách thức tính toán như trên, phương pháp này không tính được đầy đủ, chính xác những thay đổi thu do ảnh hưởng của các yếu tố trong và ngoài nước tác động đến sự thay đổi tốc độ tăng trưởng, cấu trúc nền kinh tế trong tương lai Hai phương pháp cơ bản mà ngành thuế thường sử dụng để dự báo số thu là:

+ Phương pháp chỉ số dự báo tổng hợp: Phương pháp này sử dụng các chỉ số

để tính toán, xác định nguồn thu tổng thể theo khoản thu, sắc thuế, lĩnh vực hoặc địa bàn trong một kỳ nhất định Nguồn thu được dự báo trên cơ sở giả định rằng tác động của cơ chế, chính sách hay sự thay đổi cấu trúc của nền kinh tế, không làm quy luật thu bị phá vỡ

Các chỉ số thường được sử dụng đó là chỉ số tỷ lệ tăng trưởng thu, chỉ số tỷ trọng thu và chỉ số tỷ lệ điều tiết trên GDP, ứng với mỗi chỉ số, có một phương pháp

dự báo Thông thường cả ba phương pháp trên đều được dùng để dự báo ngắn hạn,

áp dụng đối với dự báo khoản thu, sắc thuế, địa bàn thu và tổng thu NSNN khi đánh giá kết quả thu NSNN hàng tháng, quý, năm và khi xây dựng dự toán thu hàng năm Trước khi thực hiện dự báo, phải tiến hành phân tích, đánh giá tình hình thu trong kỳ để loại trừ/ tính thêm các khoản thu đột biến, đột xuất và bất thường phát sinh ngoài quy luật và có cơ sở dự báo các chỉ số tăng trưởng thu cho năm sau

Do kỳ dự báo là tương đối ngắn, với quy định thu nộp thuế theo các văn bản pháp luật thuế hiện nay, sự ảnh hưởng của yếu tố kinh tế có độ trễ tối thiểu chậm hơn khoảng một tháng (thuế giá trị gia tăng) hoặc một quý (thuế thu nhập doanh nghiệp)… thậm chí cả năm (như thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, lệ phí môn bài)…“thì việc áp dụng phương pháp phân tích, dự báo như trên cũng cho kết quả tương đối sát Tuy nhiên, đối với dự báo thu trung và dài hạn, thì phương pháp trên cho kết quả còn có sai lệch nhất định.”

Trang 30

Hạn chế của phương pháp này là chỉ tính toán được những khoản thu, sắc thuế phát sinh mang tính ổn định, những khoản thu mới, phát sinh đột biến, phát sinh ngoài quy luật thì phương pháp này không tính toán được Cụ thể từng phương pháp như sau:

 Phương pháp sử dụng tốc độ tăng trưởng thu

Phương pháp này căn cứ trên tốc độ tăng trưởng thu NSNN bình quân các năm (thường lấy là 5 năm) để tính số thu năm dự báo

Tốc độ bình quân những năm gần nhất được tính theo công thức bình quân nhân của tốc độ tăng trưởng qua các năm:

Tốc độ tăng trưởng thu bình quân của n năm = (Số thuế năm t/ số thuế năm t-n)^(1/n)

Số thuế của năm dự báo = Số thuế của năm liền trước * Tốc độ tăng trưởng bình quân thu các năm (5 năm) gần nhất

 Phương pháp sử dụng chỉ số tỷ trọng thu

Chỉ số tỷ trọng thu được sử dụng để dự báo số thuế thu được trong một năm

Tỷ trọng là tỷ lệ (%) của số thuế thu được trong kỳ đánh giá so với mức thu cả năm, được tính bằng công thức:

 Phương pháp sử dụng chỉ số tỷ lệ điều tiết trên GDP

Thông thường được sử dụng để dự báo số thu cho cả năm sau, được tính bằng công thức:

GDP của năm (x-1)

Trang 31

Số thu thuế được tính bằng tỷ lệ điều tiết về thuế trên GDP năm trước nhân (x) với GDP năm sau Trong đó:

T(x) là số thuế thu được của năm x

T(x-1) là số thuế thực thu năm (x-1)

+ Phương pháp dự báo vi mô: Là phương pháp dự báo nguồn thu trên cơ sở

phân tích, tính toán cụ thể, chi tiết đến từng cơ sở, doanh nghiệp nộp thuế, để dự báo khả năng các nguồn thu trên một địa bàn hoặc cả nước trong kỳ dự báo Để dự báo được nguồn thu, cần sử dụng một lượng lớn mẫu doanh nghiệp, cơ sở tính thuế tiêu biểu, từ đó ước lượng lên tổng thể Phương pháp này được sử dụng để tính toán các khoản thu từ khu vực doanh nghiệp, thu phí, lệ phí

Nội dung của phương pháp này là:

“Tiến hành thu thập dữ liệu về tình hình sản xuất kinh doanh và thu nộp NSNN theo từng khu vực doanh nghiệp, sắc thuế và địa bàn thu.”

“Dữ liệu thu thập thông thường gồm kết quả thực hiện của cả năm trước, của

6 tháng đầu năm báo cáo, kế hoạch đầu tư phát triển, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngành, địa bàn trong 6 tháng cuối năm báo cáo, của năm kế hoạch, ” Nguồn dữ liệu chủ yếu được thu thập trên hệ thống“quản lý tờ khai thuế, các báo cáo thống kê thuế, thu thập trực tiếp từ doanh nghiệp hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng.”

Dự báo thu căn cứ những thông tin về sản lượng, giá bán,“doanh số, chi phí, thu nhập, số thuế đã nộp năm hiện tại, ”trên cơ sở dự báo những thay đổi trong năm sau về tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng thu nộp NSNN, các cơ chế, chính sách dự kiến sẽ có hiệu lực trong kỳ dự báo để ước lượng, tính toán nguồn thu

và dự báo khả năng thu nộp ngân sách của doanh nghiệp theo các quy trình nghiệp

vụ quản lý thu để xác định dự toán thu cho năm sau

Giả định tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong mối liên hệ với những thay đổi chung về tăng trưởng kinh tế, hiệu quả sản xuất kinh doanh, giá

cả thị trường của ngành hàng đó, địa phương đó, lĩnh vực đó,“năng lực quản lý của

Trang 32

cơ quan thuế trên địa bàn và các nhân tố về chính sách tác động làm ảnh hưởng, thay đổi nguồn thu.”

Cơ quan thuế cấp trên phải phối hợp, thảo luận với cơ quan thuế cấp dưới để làm rõ một số khoản thu trong dự toán Do nền kinh tế biến động không ngừng, nguồn thu tại từng địa bàn lại có những đặc thù riêng, vì vậy,“cần thảo luận để đánh giá chính xác các khoản thu ở từng địa bàn hàng năm.”

Hạn chế của phương pháp này là phải tính toán chi tiết đến từng doanh nghiệp,

vì vậy, đòi hỏi phải có số liệu thống kê tối thiểu là trong một năm, với một lượng lớn mẫu tiêu biểu Tuy nhiên, phương pháp này không rút ra được quy luật vận động, biến đổi của nguồn thu do tác động của những thay đổi của cấu trúc nền kinh

tế nên mặc dù tính toán với khối lượng mẫu rất lớn nhưng kết quả dự báo thu chưa sát.“Chưa tính toán hết được tác động qua lại của các nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến sản lượng tiêu thụ và giá bán như tăng trưởng GDP, mức tăng thu nhập trong dân cư, xu hướng tiêu dùng sản phẩm, các chi phí đầu vào có liên quan phục vụ cho việc sản xuất, tiêu thụ, Bên cạnh đó, dự báo này chỉ được thực hiện đối với từng doanh nghiệp, từng ngành.”

- Ph ương pháp sử dụng các mô hình dự báo thu hiện đại

Hiện nay, tại Tổng cục Thuế, bên cạnh việc sử dụng các phương pháp dự báo thu theo các phương pháp truyền thống nêu trên cũng đã bước đầu nghiên cứu và ứng dụng một số mô hình dự báo thu hiện đại trong dự báo một số sắc thuế lớn như thuế giá trị gia tăng (GTGT), thu nhập cá nhân (TNCN), tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thông qua một số mô hình dự báo như: mô hình hồi quy, mô hình bảng cân đối liên ngành đầu vào - đầu ra (bảng I-O), mô hình dự báo ngắn hạn theo tháng,

Các mô hình dự báo thu hiện đại có ưu điểm là căn cứ tính toán khoa học, có thể đánh giá được tác động của từng yếu tố giả định đầu vào đến kết quả dự báo đầu

ra của mô hình, có thể dự báo cho trung và dài hạn Tuy nhiên dự báo thu bằng mô hình đòi hỏi phải có nguồn cơ sở dữ liệu chính xác, đầy đủ bao gồm cả dữ liệu trong nội bộ ngành thuế cũng như dữ liệu thống kê và dự báo liên quan đến các chỉ tiêu

Trang 33

kinh tế vĩ mô do các cơ quan khác ngoài ngành thuế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê, cơ quan tài chính, hải quan, ) cung cấp Khối lượng dữ liệu lớn và

dự báo bằng mô hình hiện đại đến nay mới chỉ được nghiên cứu và ứng dụng tại cấp trung ương (cấp Tổng cục Thuế)

Kết quả của dự“báo thu bằng các mô hình dự báo hiện đại tại Tổng cục Thuế

đã được ứng dụng trong một số dự báo, đánh giá như: dự báo thu giai đoạn trung hạn, dự báo đánh giá tác động khi xây dựng, sửa đổi bổ sung các Luật thuế và đánh giá hiệu quả công tác quản lý thuế.”

1.2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác dự báo thu NSNN

ngành thuế

- Độ chính xác của số liệu thống kê: Trong một mô hình dự báo thu, số liệu

thống kê chính là đầu vào của mô hình còn đầu ra chính là các dự báo làm căn cứ để đưa ra các quyết định của chủ thể quản lý thu Vì vậy, độ chính xác của số liệu thống kê là điều kiện tiền đề quyết định đến chất lượng kết quả công tác dự báo thu

Kế toán và thống kê thuế là hai công cụ không thể thiếu để cung cấp dữ liệu thông tin phục vụ cho công tác quản lý và hoạch định chính sách trong lĩnh vực thuế Với

sự trợ giúp của tiến bộ kỹ thuật, công tác kế toán và thống kê thuế hiện nay đã được tin học hoá.“Đây là điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp, xử lý, phân tích thông tin trong lĩnh vực thuế ngày càng có chất lượng cao hơn, phục vụ kịp thời hơn cho công tác quản lý thu thuế.”

- Mô hình, ph ương pháp dự báo được lựa chọn:“Với mỗi mục tiêu dự báo,

phải lựa chọn được các phương pháp, mô hình dự báo phù hợp Trong quy trình dự báo hiện đại bằng các mô hình, việc thiết lập và lựa chọn mô hình dự báo quyết định đến kết quả dự báo Ví dụ để đánh giá tác động của một chính sách thu mới sẽ ban hành, thông thường người ta sử dụng mô hình mô phỏng vi mô sẽ cho kết quả

dự báo sát hơn một mô hình hồi quy Việc lựa chọn phương pháp, mô hình dự báo đúng, phù hợp sẽ cho kết quả chính xác với hiệu quả ứng dụng tối ưu; việc lựa chọn sai phương pháp, mô hình sẽ gặp khó khăn trong dự báo và có thể dẫn đến kết quả

dự báo sai Một số các sai lầm thường mắc phải như: lựa chọn sai phương pháp,

Trang 34

dạng mô hình; mô hình thiếu biến; mô hình thừa biến; chọn sai dạng hàm; không đầy đủ dữ liệu, ”

- S ự ổn định của cơ chế, chính sách:“Thuế là một công cụ tác động vào sự

phân bổ nguồn lực trong xã hội, Chính phủ sử dụng thuế để điều chỉnh cơ cấu kinh

tế theo định hướng chiến lược của mình, thực hiện phân phối lại thu nhập để thực hiện các mục tiêu về công bằng xã hội, Vì vậy, khi một chính sách thu thay đổi, xét về mặt sản xuất, thuế có thể làm thay đổi quyết định đầu tư của các hãng như sẽ chú trọng đầu tư đến các ngành được ưu đãi và ưu đãi cao về thuế, rút dần khỏi các ngành phải chịu mức thuế cao; xét về mặt tiêu dùng, thuế sẽ phân bổ lại các nguồn lực trong xã hội Tất cả những hiệu ứng đó sẽ tác động trực tiếp đến nguồn thu ngân sách, tác động gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế và quay trở lại, tác động đến số thu ngân sách Tuy nhiên, nếu trong một thời gian ngắn, chính sách thu luôn thay đổi, không ổn định, với nhiều chính sách đồng loạt sửa đổi sẽ tạo ra những tác động dây chuyền, tác động chéo làm ảnh hưởng số thu của nhiều sắc thuế, nhiều nhóm đối tượng chịu thuế;”Việc đánh giá từng tác động của từng chính sách riêng biệt cũng như tác động chéo, tác động dây chuyền sẽ vô cùng phức tạp trong điều kiện chính sách thuế liên tục thay đổi Từ đó tác động đến chuỗi dữ liệu đầu vào của dự báo thu thuế dẫn đến những sai lệch trong dự báo thu.”

- S ự ổn định của nền kinh tế: Thu NSNN và tổng sản phẩm trong nước (GDP)

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Thu ngân sách là một bộ phận trong GDP,“quy

mô thu ngân sách phụ thuộc chủ yếu vào quy mô GDP và các thành tố cấu thành trong GDP Hay nói cách khác, GDP và các thành tố cấu thành của GDP chính là cơ

sở thuế Ví dụ, thuế thu nhập được thu trên tiền lương, lãi tiền vay, thu nhập từ cho thuê, hoặc thuế giá trị gia tăng được thu trên chi phí tiêu dùng và khi GDP tăng thì

số thuế thu được sẽ“tăng theo.”Sự biến động về kinh tế sẽ gây ra các thay đổi về cơ cấu, tỷ trọng của các thành tố đã nêu trên Do mức điều tiết về thuế trên mỗi thành

tố là khác nhau theo mỗi mức thuế suất của các sắc thuế khác nhau, vì vậy, kết quả chung là sẽ làm thay đổi về số thuế sẽ thu được Trong một thời gian nhất định, với chính sách thu và chất lượng công tác quản lý thu ổn định tương đối, thì GDP là tiền

Trang 35

đề quan trọng bậc nhất quyết định đến số thuế thu được của một quốc gia.”

- Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý thuế: Mục tiêu của doanh nghiệp là

tối đa hoá lợi nhuận, khi trình độ quản lý thu thuế của cán bộ thuế không theo kịp thực tế, sẽ làm gia tăng tình trạng trốn thuế, tránh thuế và một trong số những cách

để doanh nghiệp trốn thuế, gian lận thuế là sẽ mở hai hệ thống sổ sách kế toán, tham gia vào các hoạt động kinh tế ngầm để che giấu doanh số và trốn thuế Kết quả là làm méo mó chính sách thuế; méo mó số liệu thống kê do một bộ phận kinh tế ngầm không được phản ánh trong GDP, số thuế thất thu không được phản ánh vào kết quả thu NSNN và dẫn đến là kết quả phân tích sẽ phản ánh không đúng mối tương quan giữa thuế và GDP

-Trình độ, năng lực và kinh nghiệm của cán bộ làm công tác dự báo và dự toán thu NSNN v ề phân tích, dự báo thu NSNN: Để công tác dự báo có chất lượng,

đòi hỏi cán bộ làm công tác dự báo phải có đủ kiến thức tổng hợp, trình độ chuyên môn nghiệp vụ sâu, cụ thể, phải có kiến thức cơ bản về kinh tế học, có trình độ chuyên môn sâu về tài chính, am hiểu sâu về thuế, đặc biệt phải hiểu rõ chính sách thuế, quy trình, thủ tục thu, nộp thuế để có thể hiểu căn nguyên gây ra sự biến đổi

và xu hướng vận động của nguồn thu dưới sự tác động của nền kinh tế, cơ chế và chính sách thu, cũng như chất lượng quản lý thu thuế Từ những phân tích đúng đắn, chính xác, với trình độ và năng lực phán đoán của mình, người phân tích có thể

dự báo sát xu hướng vận động, biến đổi của nguồn thu, những thuận lợi và khó khăn

sẽ gặp phải trong quá trình quản lý thu, từ đó đề xuất được những biện pháp thiết thực, hiệu quả, phục vụ cho việc hoàn thiện chính sách thu và quy trình quản lý thu, xác định được những khu vực/lĩnh vực có rủi ro cao về thuế,… Đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu của công tác dự báo thu ngân sách.”

Ngoài ra, còn nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác dự báo thu NSNN như các yếu tố bất ngờ của nền kinh tế, sự bất ổn của doanh nghiệp về tình hình hoạt động, tình hình xuất khẩu, yếu tố tự nhiên, thiên tai, dịch bệnh, là những nhân tố không thể dự báo trước nhưng có ảnh hướng lớn đến việc thực hiện thu ngân sách cũng như dự báo tình hình thu NSNN

Trang 36

1.2.1.6 Kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế

Kiểm soát dự báo thu NSNN tại Cục Thuế dựa trên các tiêu chí như sau:

- Thu th ập thông tin, số liệu và dự đoán các nguồn thu NSNN trong tương lai

Lập các dự báo thu định kỳ về các nguồn thu NSNN cho tháng, quý, năm, giai đoạn tiếp theo Dự báo tương đối chính xác về các nguồn thu giúp cơ quan thuế nhận biết được những khó khăn gặp phải trước khi nó xảy ra

Dự báo về các nguồn thu phải là những dự đoán có căn cứ, dựa trên cân đối giữa nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm: số liệu được thống kê, mô hình, phương pháp dự báo được lựa chọn, sự ổn định của cơ chế, chính sách, của nền kinh tế, trình độ, năng lực của cán bộ quản lý thuế, của cán bộ làm công tác dự báo và dự toán thu NSNN về phân tích, dự báo thu NSNN Với nguồn thu NSNN được dự báo trên cơ sở giả định rằng chính sách ổn định, cơ chế thu nộp ổn định, kinh tế không

có những biến động bất thường thì phương pháp sử dụng chỉ số tỷ trọng thu đang được áp dụng tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp cho kết quả dự báo tương đối chính xác Việc dự đoán các nguồn thu bằng cách thu thập các thông tin, số liệu liên quan trong ngành thuế và cả ngoài ngành và đối với tất cả các thông tin liên quan sẽ đặt

ra là có những biến cố có thể xảy ra dẫn đến những biến động các nguồn thu NSNN

- Quan tâm các ngu ồn thu chiếm tỷ trọng lớn

Cơ quan thuế trên cơ sở dự báo những thay đổi về tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng thu nộp NSNN, các cơ chế, chính sách dự kiến sẽ có hiệu lực trong

kỳ dự báo để ước lượng, tính toán nguồn thu và dự báo khả năng thu nộp ngân sách của doanh nghiệp theo từng khu vực doanh nghiệp, sắc thuế và địa bàn thu ngân sách Nhưng thật sự rất khó để thực hiện, do vậy cơ quan thuế cần tập trung cho các nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn, ảnh hưởng đến tình hình thu ngân sách trên địa bàn thông qua việc thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế đối với các nguồn thu này

Cụ thể như sau:

+ Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế, để người nộp thuế biết, thực hiện đúng các quy định pháp luật;

Trang 37

+ Đôn đốc, hướng dẫn người nộp thuế kê khai đúng và nộp tờ khai thuế, nộp thuế đúng thời hạn;

+ Công tác thanh tra, kiểm tra thuế thực hiện theo đúng quy trình, tập trung tại các doanh nghiệp khi phân tích có mức độ rủi ro cao, gian lận về thuế;

+ Thực hiện các biện pháp thu hồi nợ thuế như: Ban hành các thông báo tiền thuế nợ và phạt chậm nộp, các quyết định cưỡng chế nợ thuế;

+ Quản lý thông tin người nộp thuế

- Qu ản lý các khoản phải thu NSNN đúng thời hạn

Tăng cường quản lý, lập kế hoạch đảm bảo số thu đối với các khoản phải thu NSNN, nội dung quản lý phù hợp với lộ trình, đồng thời có các biện pháp triển khai thực hiện nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ các khoản phải thu NSNN Công tác lập

kế hoạch càng kỹ lưỡng thì công tác triển khai thực hiện đạt hiệu quả cao

- K ết hợp các kết quả dự báo với kinh nghiệm phán đoán của các chuyên gia

Dự báo thu NSNN tại Cục Thuế được căn cứ trên các thông tin, số liệu phản ảnh tình hình thực tế ở thời điểm hiện tại, các báo cáo về số thu NSNN của thời điểm trước, của cùng kỳ, căn cứ vào xu thế phát triển của tình hình, dùng phương pháp sử dụng tốc độ tăng trưởng thu, chỉ số tỷ trọng thu để dự đoán số thu NSNN Nhưng các dự đoán này thường sai lệch hoặc thay đổi nếu xuất hiện các thay đổi về tình hình kinh tế, các thay đổi về cơ chế, chính sách thuế

Mặt khác, các phương pháp dự báo khác nhau thường cho ta các kết quả dự báo có khi khác nhau, chưa có kỹ thuật dự báo tổng quát có thể dùng cho mọi trường hợp cần dự báo Vì vậy, khi xuất hiện các thay đổi về tình hình kinh tế, các thay đổi về cơ chế, chính sách thuế, nhất là khi dự báo thu dài hạn thì cần kết hợp chặt chẽ giữa các kết quả dự báo thu với kinh nghiệm phán đoán của các chuyên gia mới có thể có được lập dự toán thu NSNN sát thực tế, phù hợp thực tế địa phương

- Giám sát và ki ểm soát dự báo

Khi đã có các số liệu dự báo thu NSNN được chấp nhận thì có thể đưa ra để thực hiện, nhưng qua từng thời kỳ các số liệu thực tế có thể không khớp với số liệu

dự báo Vì vậy cần tiến hành công tác theo dõi, giám sát và kiểm soát dự báo thu

Trang 38

Nếu mức độ chênh lệch giữa thực tế và dự báo thu nằm trong phạm vi cho phép thì không cần phải xét lại phương pháp dự báo đã sử dụng Ngược lại, nếu chênh lệch này quá lớn vượt khỏi phạm vi cho phép thì cần nghiên cứu sửa đổi phương pháp dự báo cho phù hợp

1.2.2 Dự toán thu NSNN ngành thuế

1.2.2.1 Khái quát chung dự toán thu NSNN ngành thuế

Dự toán“thu NSNN là sự tính toán, dự kiến các khoản thu NSNN trong một thời gian nhất định ở tương lai (thường là 1 năm, 1 quý) theo đúng những quy định của pháp luật về quản lý NSNN Lập dự toán thu NSNN là khâu đầu tiên và là khâu quan trọng của quá trình ngân sách mỗi quốc gia Lập dự toán thu NSNN quá trình xây dựng, quyết định dự toán thu ngân sách của Nhà nước trong tương lai Lập dự toán thu NSNN là khâu tiền đề, cơ sở cho các khâu tiếp theo trong quá trình”NSNN

- Vai trò của lập dự toán thu NSNN

Dự toán thu là khâu đầu tiên trong quá trình quản lý NSNN, quyết định tới cân đối NSNN Dự toán thu có vai trò quan trọng trong công tác quản lý NSNN, cụ thể: + Trên phạm vi cả nước: Dự toán thu là một bộ phận quan trọng trong dự toán NSNN.“Là cơ sở phân bổ nguồn lực tài chính cho hoạt động của Chính phủ trong

kỳ kế hoạch, và xây dựng các mục tiêu tăng trưởng kinh tế.”

+ Đối với từng địa phương: Dự toán thu là chỉ tiêu quan trọng để xác định số thu ngân sách địa phương và số bổ sung từ ngân sách cấp trên cấp cho ngân sách cấp dưới

+“Đối với ngành thuế: Dự toán thu là bộ phận không thể tách rời trong kế hoạch hàng năm của ngành thuế, là nhiệm vụ chính trị đối với ngành thuế trong công tác thực hiện quản lý thu thuế hàng năm.”

Chất“lượng công tác lập dự toán thu nội địa quyết định đến chất lượng của dự toán thu NSNN Việc lập dự toán thu NSNN sát với thực tế có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp cân đối thu, chi ngân sách chủ động, tích cực, hiệu quả; hạn chế các tác động tiêu cực do bội thu hoặc bội chi gây ra; thúc đẩy, tăng cường quản lý ở cơ quan thuế các cấp và là công cụ đánh giá chất lượng quản lý thu.”

Trang 39

- Phân lo ại dự toán thu ngân sách

+ Theo độ dài thời gian: Có thể phân thành dự toán ngắn hạn, dự toán trung hạn và dự toán dài hạn

 Dự toán ngắn hạn: Dự toán thu hàng năm, dự toán quý

 Dự toán trung hạn: Thời gian dự toán khoảng 3-5 năm, được lập căn cứ trên

kế hoạch tài chính - ngân sách trung hạn

 Dự toán dài hạn: Dự toán mang tính chiến lược, được lập căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế, xã hội dài hạn 5-10 năm, phục vụ cho việc xây dựng chiến lược về thu - chi ngân sách dài hạn 5-10 năm

+ Theo phạm vi quản lý: Có thể phân dự toán thu NSNN thành dự toán tổng hợp và dự toán chi tiết

 Dự toán tổng hợp: Là dự toán được lập tổng hợp theo khoản thu, sắc thuế, tổng hợp theo địa bàn

“Dự toán chi tiết: Là dự toán được lập chi tiết đối với từng đơn vị quản lý, từng khoản thu, sắc thuế theo từng khu vực kinh tế, hoặc theo cấp quản lý.”

+ Theo tính pháp lý: Có thể phân dự toán thu NSNN thành dự toán pháp lệnh

và dự toán phấn đấu

 Dự toán pháp lệnh:“Là dự toán do Chính phủ xây dựng sau đó trình Quốc hội thảo luận, biểu quyết và thông qua Căn cứ Nghị quyết về dự toán ngân sách được Quốc hội thông qua, Chính phủ quyết định giao dự toán thu cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Dự toán này là chỉ tiêu pháp lệnh mà cơ quan thuế các cấp phải thực hiện, đây cũng là nhiệm vụ chính trị quan trọng của mỗi cấp.” UBND các tỉnh, thành phố xây dựng sau đó trình Hội đồng nhân dân thông qua Nghị quyết về dự toán NSNN trên địa bàn Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành quyết định giao dự toán thu thuế cho UBND

và cơ quan thuế cấp dưới Dự toán này thông thường cao hơn dự toán pháp lệnh do Quốc hội thông qua Dự toán này vừa là dự toán mang tính pháp lệnh, vừa mang tính phấn đấu đối với các cấp ở địa phương

 Dự toán phấn đấu (Chỉ tiêu phấn đấu): Do cơ quan thuế cấp trên lập, giao

Trang 40

cho cơ quan thuế cấp dưới thực hiện Dự toán phấn đấu mang tính chất định hướng, chỉ đạo, nhằm đảm bảo hoàn thành và hoàn thành đạt, vượt mức dự toán pháp lệnh

1.2.2.2 So sánh dự báo thu và dự toán thu NSNN

- M ột số đặc điểm chung

+ Tính toán và xác định số thu ngân sách được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định ở tương lai

+ Phương pháp tính toán là: Sử dụng số liệu thống kê về các chỉ tiêu kinh tế,

số thu thuế ở các kỳ trước, các dự đoán, dự báo về chỉ tiêu kinh tế, số thu dự kiến trong tương lai,“đồng thời sử dụng các phương pháp, các công cụ tính toán.”

- Một số điểm khác nhau giữa dự báo và dự toán thu

- Dự báo thu có thể do một cơ quan

- Kết quả của dự báo dùng để so

sánh, đối chiếu khi lập dự toán hoặc

được thực hiện để phục vụ nghiên

cứu và hoạch định chính sách

- Được thực hiện theo đúng quy trình thống nhất từ trung ương tới địa phương, tuân“thủ theo đúng các quy định của Luật NSNN và các văn bản pháp luật có liên quan nhằm lập kế hoạch thu NSNN trong một thời kỳ”(5 năm, hàng năm, hàng quý)

Số liệu dự toán được tính toán cụ thể, chi tiết theo từng ngành, từng địa phương và

cả nước

- Dự báo có thể được thực hiện bất

cứ khi nào nếu có đủ thông tin, số

liệu và các công cụ

- Thực hiện hàng năm tại thời điểm đã được quy định trước trong Luật NSNN hoặc các văn bản pháp luật có liên quan

Ngày đăng: 04/11/2019, 00:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w