Mục tiêu nghiên cứu là ứng dụng phương thức soạn lập ngân sách trung hạn theo hiệu quả hoạt động Perfomance budgeting vào hoạt động đào tạo cụ thể của một cơ sở giáo dục nghề nghiệp, với
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
QUẢNG THỊ MỸ YẾN
ỨNG DỤNG PHƯƠNG THỨC LẬP NGÂN SÁCH THEO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG (PERFORMANCE BUDGETING) VÀO DỰ TOÁN TRUNG HẠN NGÀNH KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP,
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
QUẢNG THỊ MỸ YẾN
ỨNG DỤNG PHƯƠNG THỨC LẬP NGÂN SÁCH THEO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG (PERFORMANCE BUDGETING) VÀO DỰ TOÁN TRUNG HẠN NGÀNH KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP,
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG ĐỒNG THÁP
Chuyên ngành: Tài chính công
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THỊ HUYỀN
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 3TÓM TẮT
Luận văn ứng dụng một phương thức soạn lập ngân sách tiên tiến, phù hợp để góp phần cải thiện kết quả hoạt động tài chính cũng như hoạt động cung ứng dịch vụ của một đơn vị sự nghiệp giáo dục Mục tiêu nghiên cứu là ứng dụng phương thức soạn lập ngân sách trung hạn theo hiệu quả hoạt động (Perfomance budgeting) vào hoạt động đào tạo cụ thể của một cơ sở giáo dục nghề nghiệp, với nghiên cứu trường hợp cho ngành Kế toán doanh nghiệp, trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp Tác giả thu thập và nghiên cứu các thông tin thứ cấp của Nhà trường trong giai đoạn 2015 – 2018 để tiếp cận và giải quyết vấn đề Từ thực trạng lập và thực hiện dự toán ngân sách hàng năm, những phân tích về hạn chế của phương thức lập ngân sách hiện tại, tác giả đề xuất áp dụng một phương thức lập dự toán mới nhằm khắc phục được những nhược điểm của phương thức soạn lập ngân sách nêu trên cũng như cải thiện kết quả hoạt động tài chính cho Nhà trường Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận văn còn hướng đến mục tiêu xây dựng một hình mẫu về phương thức lập ngân sách trung hạn theo hiệu quả hoạt động, đóng góp vào tài liệu tham khảo hữu ích và quan trọng cho việc xây dựng chiến lược phát triển, nhằm hướng đến tự chủ tài chính của Nhà trường
Từ khóa: Lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động, Lập ngân sách trung hạn, Tài chính
công, giáo dục nghề nghiệp
ABSTRACT
The study in this thesis applies an advanced and appropriate budgeting method to contribute to improve the financial performance as well as the service provision of an educational institution The objective of the study is to apply a method of medium-term performance budgeting to specific training activities of a vocational education institution, with the case study on the program of Business Accounting at Dong Thap Community College The author collected and studied on secondary data of the college’s annual budgeting in the period 2015 – 2018 From the current situation of making and implementing annual budget estimates as well as limitations of the current budgeting method, the author proposes to apply a new budgeting method to overcome the disadvantages and limitations of the current method stated above and
to create a better annual financial performance for the college In addition, results from the study of this thesis also aim to build a model of how to make a medium-term budget according to performance, contributing to useful and important references for the building of college’s development strategy, towards the aimed of financial autonomy of the college in the near future
Keywords: performance budgeting, medium-term budgeting, public finance,
vocational education
Trang 4CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ kinh tế “Ứng dụng phương thức Lập ngân
sách theo hiệu quả hoạt động (Performance Budgeting) vào dự toán trung hạn ngành Kế toán doanh nghiệp, trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp” là công
trình nghiên cứu của riêng tôi và được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Huyền
Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Nội dung của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Đồng thời, tôi cũng xin cam đoan rằng các số liệu, kết quả nghiên cứu trước đây đều được trích dẫn đầy đủ theo quy định của trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính pháp lý và trung thực về kết quả nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp này
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
Người thực hiện luận văn
Quảng Thị Mỹ Yến
Trang 5MỤC LỤC
Trang
TÓM TẮT i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ viii
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Khung phân tích, cách tiếp cận và dữ liệu nghiên cứu 2
1.4.1 Khung phân tích 2
1.4.2 Phương pháp tiếp cận 2
1.4.3 Phân tích dữ liệu 3
1.5 Kỳ vọng kết quả đề tài 4
1.6 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT VỀ LẬP NGÂN SÁCH THEO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ NGÂN SÁCH TRUNG HẠN 5
2.1 Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 5
2.1.1 Khái niệm giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 5
2.1.2 Phân loại cơ sở giáo dục nghề nghiệp 5
2.1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 5
2.1.4 Vai trò của cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập đối với kinh tế - xã hội địa phương 7
Trang 62.2 Tổng quan các phương thức soạn lập ngân sách 8
2.2.1 Lập ngân sách theo khoản mục (line-item butgeting) 8
2.2.2 Lập ngân sách theo chương trình (programme budgeting) 9
2.2.3 Lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động (performance budgeting) 9
2.2.4 Lập ngân sách theo đầu ra (Output based butgeting) 10
2.2.5 Lập ngân sách theo kết quả (outcome based budgeting) 12
2.3 Lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động ở một đơn vị công 13
2.4 Lập dự toán theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF) ở đơn vị công 14
2.4.1 Khái niệm khuôn khổ chi tiêu trung hạn 14
2.4.2 Đặc trưng của khuôn khổ chi tiêu trung hạn ở đơn vị công 16
2.4.3 Định dạng khuôn khổ chi tiêu trung hạn ở đơn vị công 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 20
CHƯƠNG 3 CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN NGÂN SÁCH CHO CÁC NGÀNH ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG ĐỒNG THÁP GIAI ĐOẠN 2015 – 2018 21
3.1 Tổng quan trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp 21
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 21
3.1.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp 22
3.1.3 Quy mô và các loại hình đào tạo 24
3.1.4 Đội ngũ cán bộ, giảng viên 26
3.2 Sứ mệnh, mục tiêu và khách hàng mục tiêu của trường CĐCĐ Đồng Tháp 28
3.2.1 Sứ mệnh 28
3.2.2 Mục tiêu 28
3.2.3 Khách hàng mục tiêu 29
3.3 Thực trạng lập và thực hiện dự toán ngân sách đào tạo của trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp giai đoạn 2015-2018 29
3.3.1 Cơ sở lập dự toán ngân sách đào tạo của trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp 29
3.3.2 Cơ cấu nguồn tài chính và nội dung thu tại trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp giai đoạn 2015 – 2108 34
3.3.3 Cơ cấu nguồn tài chính và nội dung chi tại trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp giai đoạn 2015 - 2108 37
Trang 73.3.4 Nhược điểm trong lập dự toán ngân sách đào tạo của trường CĐCĐ Đồng
Tháp giai đoạn 2015 - 2018 40
3.4 Lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động đối với một ngành đào tạo cụ thể tại trường CĐCĐ Đồng Tháp 42
3.4.1 Cơ sở lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động đối với một ngành đào tạo cụ thể tại trường CĐCĐ Đồng Tháp 42
3.4.2 Sơ đồ lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động đối với một ngành đào tạo cụ thể tại trường CĐCĐ Đồng Tháp 45
3.4.3 Lập dự toán ngân sách theo hiệu quả hoạt động đối với ngành Kế toán doanh nghiệp của trường CĐCĐ Đồng Tháp 46
3.4.4 Cân đối nguồn tài chính với dự toán chi phí cho ngành cao đẳng Kế toán doanh nghiệp của trường CĐCĐ Đồng Tháp 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 48
CHƯƠNG 4 NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỂ ÁP DỤNG PHƯƠNG THỨC SOẠN LẬP NGÂN SÁCH THEO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI NGÀNH KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP, TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG ĐỒNG THÁP 49
4.1 Xu hướng phát triển của Nhà trường 49
4.2 Kiến nghị 50
4.2.1 Đối với Nhà trường 50
4.2.2 Đối với Nhà nước 52
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 01 55
PHỤ LỤC 02 57
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Phân loại những ước tính trung hạn của ngành 18 Bảng 3.1 Hệ và ngành đào tạo chính quy trường CĐCĐ Đồng Tháp 24 Bảng 3.2 Hệ và ngành đào tạo vừa làm vừa học, từ xa trường CĐCĐ Đồng Tháp 25 Bảng 3.3 Quy mô các hệ đào tạo trường CĐCĐ Đồng Tháp giai đoạn 2013 – 2018 26 Bảng 3.4 Đội ngũ cán bộ, giảng viên trường CĐCĐ Đồng Tháp giai đoạn 2015 –
2018 27 Bảng 3.5 Lập và thực hiện dự toán thu tại Trường CĐCĐ Đồng Tháp giai đoạn 2015 – 2018 35 Bảng 3.6 Lập và thực hiện dự toán chi Trường CĐCĐ Đồng Tháp giai đoạn 2015 –
2018 37 Bảng 3.7 Cân đối thu chi tài chính Trường CĐCĐ Đồng Tháp giai đoạn 2015 – 2018 40 Bảng 3.8 Dự toán nguồn thu tài chính với ngành Kế toán doanh nghiệp trường CĐCĐ Đồng Tháp 46 Bảng 3.9 Định mức phân bổ dự toán chi đối với ngành Kế toán doanh nghiệp trường CĐCĐ Đồng Tháp 46
Trang 10Sơ đồ 3.1 Các bước lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động ở một đơn vị công… 45
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp là đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm
bảo một phần chi thường xuyên từ 04/2016 theo Quyết định số 482/QĐ-UBND-HC
ngày 29/4/2016 của UBND tỉnh Đồng Tháp về việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho đơn vị sự nghiệp công lập năm 2016 Theo tinh thần của Quyết định này, Trường CĐCĐ Đồng Tháp đã bước đầu thực hiện tự chủ một phần (đến nay
đã tự đảm bảo được khoảng 40%, chủ yếu về chi thường xuyên) và cố gắng giải quyết khả năng tự chủ tài chính (TCTC) của đơn vị
Với nguồn thu từ ngân sách ngày càng giảm như hiện nay và trong thời gian tới, Nhà trường trước mắt cần cân đối nguồn thu-chi hợp lý, tiến tới xây dựng chiến lược phát triển mới, nhằm mục tiêu TCTC và đảm bảo chất lượng đào tạo Để thực hiện được hai mục tiêu đó, Nhà trường cần xây dựng được dự toán ngân sách theo hiệu quả hoạt động cho từng lớp học, từng ngành nghề đạo tạo, tiến tới lập dự toán theo hiệu quả hoạt động cho tất cả hoạt động của đơn vị
Để đảm bảo TCTC, một đơn vị trước hết cần tập trung tự cân đối tài chính cho đơn vị, xây dựng phương thức dự toán hoạt động hiệu quả theo hướng tiết kiệm chi tiêu trên cơ sở các nguồn thu hiện có, đồng thời vẫn đảm bảo chất lượng và mục tiêu đào tạo Do đó, việc áp dụng một phương thức soạn lập ngân sách tiên tiến, phù hợp sẽ góp phần cải thiện kết quả hoạt động tài chính cũng như hoạt động cung ứng dịch vụ của một đơn vị, trong đó bao gồm cả các cơ sở giáo dục nghề nghiệp Do đó, tôi lựa chọn
thực hiện đề tài “Ứng dụng phương thức Lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động
(Performance Budgeting) vào dự toán trung hạn ngành Kế toán doanh nghiệp, trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp” với mong muốn khắc phục một số hạn chế
của phương thức lập dự toán mà Nhà trường đang áp dụng, xây dựng một hình mẫu về phương thức lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động, đóng góp vào tài liệu tham khảo hữu ích, quan trọng cho việc xây dựng chiến lược, định hướng TCTC của Nhà trường
Trang 12và phục vụ cho việc hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Tài chính Công của
Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh năm 2019
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Ứng dụng phương thức soạn lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động hoạt động
(Performance Budgeting, PB) vào hoạt động đào tạo cụ thể của một cơ sở giáo dục
nghề nghiệp, với nghiên cứu trường hợp cho ngành Kế toán doanh nghiệp, trường CĐCĐ Đồng Tháp
Để thực hiện được mục tiêu trên, đề tài nghiên cứu trường hợp cần trả lời các câu hỏi trọng tâm sau:
1) Thực trạng và hiệu quả của phương thức lập dự toán ngân sách đào tạo của trường CĐCĐ Đồng Tháp giai đoạn 2015 – 2018;
2) Tại sao phải lập ngân sách trung hạn theo PB đối với hoạt động đào tạo sinh viên ngành Kế toán doanh nghiệp, trường CĐCĐ Đồng Tháp?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trường CĐCĐ Đồng Tháp, tập trung vào thực trạng và hiệu quả của công tác lập dự toán tài chính hàng năm của Nhà trường
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Ngành Kế toán doanh nghiệp, trường CĐCĐ Đồng Tháp giai đoạn 2015 – 2018
1.4 Khung phân tích, cách tiếp cận và dữ liệu nghiên cứu
1.4.1 Khung phân tích
- Lược khảo một số phương thức soạn lập ngân sách cho ngành, đơn vị và phương thức soạn lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động được chọn làm cơ sở phân tích và áp dụng
- Dựa trên lý thuyết khuôn khổ chi tiêu trung hạn áp dụng cho ngành, từ đó ứng dụng ước tính dự toán chi tiêu trung hạn cho đơn vị với chương trình đào tạo cụ thể là chương trình Kế toán doanh nghiệp của trường CĐCĐ Đồng Tháp
1.4.2 Phương pháp tiếp cận
- Các tài liệu về lý thuyết và thực tiễn liên quan đến phương thức lập ngân sách theo PB trong và ngoài nước
Trang 13- Tuyên bố của Nhà trường về tầm nhìn (Vision), sứ mạng (Mision), chiến lược phát triển (Developmental Strategies) và các văn bản liên quan đến hoạt động của Nhà
trường: kế hoạch và báo cáo tổng kết năm học những năm qua, hiện trạng cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, giảng viên, chương trình đào tạo các ngành học của Nhà trường CĐCĐ
- Thực trạng công tác đào tạo ngành Kế toán doanh nghiệp của Nhà trường, tập trung vào những mặt liên quan đến tình hình thu-chi tài chính của ngành như: hỗ trợ từ ngân sách, chương trình đào tạo, mức thu học phí, các khoản chi về lương giảng viên,
cơ sở vật chất, thực hành, thực tập, học bổng sinh viên, để đánh giá cân đối tài chính trong nội bộ ngành
Dựa vào phương thức lập ngân sách theo PB và kinh nghiệm thực hiện PB ở các nước, tác giả đề xuất vận dụng vào việc lập ngân sách trung hạn (3 năm) theo hiệu quả hoạt động cho ngành Kế toán doanh nghiệp trường CĐCĐ Đồng Tháp, tiến đến xây dựng hình mẫu nhân rộng cho các hoạt động chung cho toàn trường
1.4.3 Phân tích dữ liệu
Thu thập dữ liệu (Data collection):
Để có cơ sở vận dụng Khung phân tích lập ngân sách theo PB (đã nêu ở phần 1.4.1) cho ngành Kế toán doanh nghiệp, tác giả thu thập và nghiên cứu các thông tin thứ cấp:
- Hiện trạng cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, giảng viên, chương trình đào tạo các ngành của Nhà trường, tập trung chủ yếu vào ngành Kế toán doanh nghiệp
- Báo cáo của Nhà trường về tầm nhìn, sứ mạng, chiến lược phát triển, kế hoạch
và số liệu tổng kết các năm học
- Báo cáo tài chính của trường CĐCĐ Đồng Tháp hàng năm, trong giai đoạn
2015 – 2018 và thực trạng TCTC của đơn vị từ năm 2016
- Các quy định về chế độ chính sách, trợ cấp xã hội, học bổng khuyến khích học
tập, quy định về mức học phí theo Quyết định số 38/QĐ-UBND ngày 22/8/2016 của
UBND tỉnh Đồng Tháp đối với các cơ sở đào tạo công lập trên địa bàn tỉnh đến năm
2021
Trang 141.5 Kỳ vọng kết quả đề tài
Với chủ thể, phạm vi và mục tiêu nêu trên, tác giả kỳ vọng đạt được 02 mục tiêu
chính khi thực hiện đề tài:
- Thực trạng và hiệu quả của phương thức lập dự toán ngân sách cho ngành Kế toán doanh nghiệp của Nhà trường giai đoạn 2015 -2018
- Ứng dụng phương thức lập dự toán theo PB một cách có hiệu quả vào dự toán trung hạn ngành Kế toán doanh nghiệp tại trường CĐCĐ Đồng Tháp
1.6 Kết cấu luận văn
Ngoài lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục biểu bảng, biểu đồ, phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được dự kiến thực hiện với kết cấu gồm 04 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Lý thuyết về lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động và ngân sách
trung hạn
Chương 3: Công tác lập dự toán ngân sách cho các ngành đào tạo của trường
Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp giai đoạn 2015 -2018
Chương 4: Những kiến nghị để áp dụng phương thức soạn lập ngân sách theo
hiệu quả hoạt động đối với ngành Kế toán doanh nghiệp, trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp
Trang 15CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT VỀ LẬP NGÂN SÁCH THEO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG VÀ NGÂN SÁCH TRUNG HẠN
2.1 Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập
2.1.1 Khái niệm giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập
Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014, trang 1 và 3) nêu rõ các khái niệm:
“Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên”
“Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất”
2.1.2 Phân loại cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014, trang 3, 15-16) phân loại của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp như sau:
(1) Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tổ chức đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo
nghề nghiệp phổ thông và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh theo chương trình giáo dục phổ thông;
(2) Trường trung cấp tổ chức đào tạo trình độ trung cấp, trình độ sơ cấp;
(3) Trường cao đẳng tổ chức đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp và
trình độ sơ cấp Đây là cơ sở giáo dục có đội ngũ giảng viên được đào tạo với trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng tốt nhất so với hai loại hình còn lại
2.1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập
Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014, trang 15-17) giao nhiệm vụ, quyền hạn cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp như sau:
(1) Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển cơ sở giáo dục nghề nghiệp;
Trang 16(2) Tổ chức đào tạo đối với các trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp, trình độ sơ cấp, đào tạo nghề nghiệp phổ thông và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh theo chương trình giáo dục phổ thông;
(3) Tổ chức đào tạo thường xuyên với các chương trình sau đây:
a) Chương trình đào tạo thường xuyên theo yêu cầu của người học; chương trình bồi dưỡng, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp;
b) Chương trình đào tạo theo hình thức kèm cặp nghề, truyền nghề, tập nghề; c) Chương trình chuyển giao công nghệ;
d) Chương trình đào tạo khác có thời gian đào tạo dưới 3 tháng;
đ) Chương trình đào tạo để lấy bằng tốt nghiệp cao đẳng, trung cấp và chứng chỉ
sơ cấp theo hình thức đào tạo thường xuyên
(4) Tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tuyển sinh và quản lý người học;
(5) Công bố công khai mục tiêu, chương trình đào tạo; điều kiện để bảo đảm chất lượng dạy và học; mức học phí và miễn, giảm học phí; kết quả kiểm định chất lượng đào tạo; hệ thống văn bằng, chứng chỉ của cơ sở giáo dục nghề nghiệp; vị trí việc làm sau khi tốt nghiệp và các biện pháp kiểm tra, giám sát chất lượng đào tạo;
(6) Tổ chức giảng dạy, học tập theo mục tiêu, chương trình đào tạo; cấp bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp cho người học; tổ chức cho người học học tập, thực hành và thực tập tại doanh nghiệp thông qua hợp đồng với doanh nghiệp;
(7) Được sử dụng chương trình đào tạo của nước ngoài đã được tổ chức giáo dục, đào tạo nước ngoài hoặc quốc tế có uy tín công nhận về chất lượng để thực hiện nhiệm vụ đào tạo theo quy định của pháp luật
(8) Liên kết đào tạo trong nước; liên kết hoạt động đào tạo với nước ngoài theo quy định của Luật giáo dục nghề nghiệp và pháp luật có liên quan;
(9) Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật; (10) Xây dựng, đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa;
(11) Tuyển dụng, sử dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ quản lý, viên chức, người lao động; tổ chức cho nhà giáo thực tập sản xuất tại doanh nghiệp để cập nhật, nâng cao
Trang 17kỹ năng nghề; tổ chức cho nhà giáo, viên chức, người lao động và người học tham gia các hoạt động xã hội;
(12) Thực hiện kiểm định và bảo đảm chất lượng đào tạo theo quy định;
(13) Tư vấn đào tạo, tư vấn việc làm miễn phí cho người học;
(14) Được thành lập doanh nghiệp, được tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất, kinh doanhm dịch vụ theo quy định của pháp luật;
(15) Đưa nội dung giảng dạy về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, pháp luật có liên quan của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật có liên quan của Việt Nam vào chương trình đào tạo khi tổ chức đào tạo cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
(16) Nghiên cứu khoa học để phục vụ và nâng cao chất lượng đào tạo; ứng dụng các kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ;
(17) Thực hiện quy chế dân chủ trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp;
(18) Có cơ chế để người học, nhà giáo và xã hội tham gia đánh giá chất lượng đào tạo nghề nghiệp;
(19) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và chịu sự giám sát, thanh tra, kiểm tra theo quy định của pháp luật;
(20) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
2.1.4 Vai trò của cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập đối với kinh tế - xã hội địa phương
Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập điển hình trường CĐCĐ Đồng Tháp đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Tháp Bên cạnh đó, Trường CĐCĐ Đồng Tháp còn thực thi các chương trình đào tạo theo chủ trương của tỉnh đề ra Hiện nay, tỉnh Đồng Tháp đang đẩy mạnh phát triển các ngành
mà tỉnh có thế mạnh như nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp, cây ăn trái, hoa kiểng, thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển nên nhu cầu về nguồn nhân lực thuộc khối ngành kinh tế, nhất là ngành kế toán doanh nghiệp đang rất lớn Do đó, trường CĐCĐ Đồng Tháp đóng vai trò là đầu mối đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho tỉnh là đơn vị đóng vai trò trung tâm để
Trang 18thực thi chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh Đồng Tháp Hàng năm, ngân sách của tỉnh cấp cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập tương đối lớn để hỗ trợ đào tạo cho các ngành nghề tỉnh có thế mạnh nhằm trong ưu tiên chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới
2.2 Tổng quan các phương thức soạn lập ngân sách
2.2.1 Lập ngân sách theo khoản mục (line-item butgeting)
Kristensen (2002) đưa ra định nghĩa: “Lập ngân sách theo đầu vào là hướng về việc xác định nguồn lực sử dụng bao nhiêu, nhân lực, hoạt động,… cho một chương trình hay một bộ Tổng số tiền được chi tiêu cho một chương trình hay vấn đề thường
là đo lường công việc thực hiện chính khi quản lý theo đầu vào Thông tin quản lý nội
bộ của hệ thống đầu vào không biểu hiện nguồn lực gì đã mua trên thực tế mà thường tập trung vào đầu vào liên quan đến những quy định, có nghĩa là liên quan đến tiêu chuẩn, nguyên tắc mà đầu vào sắp xếp như thế nào, những vật được dùng ra sao” [7,34]
Theo tài liệu ngân hàng thế giới (2008), lập ngân sách theo khoản mục là phương thức soạn lập dựa trên chi phí cần thiết để đảm bảo hoạt động của đơn vị mà không đề cập đến mục tiêu của khoản chi Lập ngân sách theo khoản mục chú trọng vào quản lý các yếu tố đầu vào và đơn vị thực hiện nặng về tính tuân thủ hơn là kết quả của chi tiêu
Vì thế, lập ngân sách theo khoản mục còn gọi là lập ngân sách theo đầu vào
Lập ngân sách theo khoản mục có những ưu điểm:
Thứ nhất, khuôn mẫu soạn lập ngân sách được sắp xếp và phân loại nhất quán; Thứ hai, với khoản mục chi tiết, người đọc có thể xem xét tính hợp lý của những
ước tính chi phí và phát hiện ngay những chênh lệch lớn hoặc vô lý và như vậy tạo thuận lợi cho yêu cầu kiểm soát chi phí
Lập ngân sách theo khoản mục có những nhược điểm:
Thứ nhất, không giải quyết được những vấn đề then chốt theo các mục tiêu do
Chính phủ đề ra
Thứ hai, chúng chỉ tập trung giải quyết những hạn mục nhỏ, mang tính liệt kê
đầu vào mà nhà quản lý ngân sách lẫn đơn vị thụ hưởng không chú trọng đến chương trình, hoạt động có hiệu suất và hiệu quả hay không Do đó, mối liên kết giữa ngân sách
và các dịch vụ do Chính phủ cung cấp thường yếu kém
Trang 19Thứ ba, Cách lập và thực hiện ngân sách rất cứng nhắc Sự phân bổ nguồn lực
ngân sách không lý giải được tại sao tiền phải chi tiêu
2.2.2 Lập ngân sách theo chương trình (programme budgeting)
Ngân sách theo khoản mục không giải quyết được những mục tiêu then chốt của chính sách chính phủ và những gắn kết giữa chính sách với ngân sách Theo lịch sử, ngân sách theo chương trình thay thế ngân sách theo khoản mục và trở thành công cụ
để phân bổ nguồn lực Vì thế, lập ngân sách theo chương trình được các nước công nghiệp áp dụng vào những năm đầu của thập niên 60 Cách lập ngân sách này được thiết kế gắn liền với các hoạt động, chương trình của chính phủ
Chương trình là một loạt các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu nào đó của chính phủ Để thực hiện chương trình nhắm đạt được mục tiêu, cơ quan hay đơn vị phải
nổ lực hoạt động với một ngân sách, với số lượng nhân viên, đối tượng tham gia và một thời gian nhất định và dĩ nhiên chương trình đó có liên hệ đến chức năng nhiệm vụ của đơn vị Như vậy chương trình bao gồm nhiều hoạt động hoặc dự án
Theo Sử Đình Thành định nghĩa:” Lập ngân sách theo chương trình thiết lập một
hệ thống phân phối nguồn lực, gắn kết chi phí chương trình với kết quả của những chương trình đầu tư công” [8,26]
Ưu điểm của phương thức lập ngân sách theo chương trình là một cách lập ngân sách trên cơ sở hiệu quả hoạt động và các chương trình đã xác định theo các mục tiêu chính sách của chính phủ Với ngân sách theo chương trình, các khoản chi tiêu được sắp xếp theo từng hoạt động hoặc chương trình, mục đích hoạt động của mỗi chương trình được xác định và những chỉ số hiệu quả hoạt động được thiết lập cho mỗi chương trình hoặc hoạt động
Hạn chế của phương thức này là có những kết quả khó lượng hóa bằng con số như sự thỏa mãn của người dân khi sử dụng chương trình, lợi ích xã hội mà chương trình mang lại, các biến phí của chương trinh Bên cạnh đó, phương thức lập ngân sách này đòi hỏi nhiều nguồn nhân lực, thời gian và chi phí bỏ ra nhiều
2.2.3 Lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động (performance budgeting)
Liên hiệp quốc năm 1965 đã định nghĩa: “ngân sách theo hiệu quả hoạt động là hiện thân của những mục đích và những mục tiêu mà các quỹ tài trợ đòi hỏi, chi phí của
Trang 20chương trình được đề nghị để đạt những mục tiêu đó và dữ liệu số lượng nhằm đo lường
công việc thực hiện và mức độ hoàn thành ở mỗi chương trình” [7]
Ngân sách theo hiệu quả hoạt động là một dạng lập ngân sách thể hiện mục đích, mục tiêu của việc tài trợ yêu cầu, chi phí cho chương trình và hoạt động liên quan để đạt được mục tiêu đó, các yếu tố đầu ra được sản xuất hay dịch vụ được cung ứng bởi mỗi chương trình Một ngân sách toàn diện phải định lượng được toàn bộ chuỗi kết quả như đầu vào/đầu vào trung gian, đầu ra (kết quả trực tiếp), những tác động (kết quả lâu dài) Theo Liên hiệp quốc, lập ngân sách theo chương trình cũng được xem là một dạng của ngân sách thực hiện
Ưu điểm của phương thức lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động: (1) Cho phép các nguồn lực tài chính được sử dụng một cách linh hoạt hơn và giúp nâng cao trách nhiệm giải trình với kết quả hoạt động ở một đơn vị công (2) Ngân sách theo hiệu quả hoạt động thay đổi từ tập trung vào những danh mục chi tiết thành tập trung vào kết quả hoạt động trong việc cung cấp dịch vụ ở đơn vị công Tuy nhiên phương thức lập ngân sách này vẫn còn một số hạn chế: (1) Lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động yêu cầu về số liệu và kỹ thuật lập ngân sách rất khắt khe (2) Thể hiện mối liên hệ giữa ngân sách và mục tiêu thực hiện nhưng vẫn chưa đạt được tính hiệu quả cao do nhu cầu thực hiện công việc nhiều, trong khi ngân sách thì có hạn
Như vậy, phương thức soạn lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động dùng để lập
dự toán cho từng đơn vị công để xem xét, đánh giá tính hiệu suất của từng hoạt động thực hiện từ đó xem xét và ưu tiên ngân sách cấp phù hợp với từng hoạt động
2.2.4 Lập ngân sách theo đầu ra (Output based butgeting)
Theo Kristensen cho rằng: “Quản lý và lập ngân sách theo đầu ra mô tả những chức năng khu vực công trong cung ứng hàng hóa và dịch vụ và tính toán bao nhiêu dịch vụ đang được cung cấp và sản phẩm đang được sản xuất Tập trung vào đầu ra chủ yếu hướng đến các chỉ số như là khối lượng và tính kịp thời, và đến mức độ khác nhau, chất lượng, ví dụ có bao nhiêu tuyên bố liên quan người hưởng quyền lợi được xử lý
với các lỗi tối thiểu” [5,14]
Trang 21Lập ngân sách theo đầu ra là phương thức soạn lập ngân sách dựa trên nhu cầu người thụ hưởng để xây dựng, lựa chọn chương trình nhằm tạo ra đầu ra tương ứng với nguồn lực cho trước, đảm bảo tính hiệu suất, tính kịp thời và trong một vài trường hợp cũng xem xét đến hiệu quả Đo lường kết quả hoạt động của đơn vị theo đầu ra một cách truyền thống phải đầy đủ các yếu tố: số lượng, chất lượng, tính kịp thời và chi phí Một cách phức tạp hơn, đo lường chất lượng đầu ra có thể xem xét đến những kết quả của chính phủ mà đầu ra đóng góp Kết quả đo lường đầu ra không chỉ phục vụ cho nhu cầu nội bộ để quản lý mà còn là cơ sở để cộng đồng có thể biết được chính quyền đang cung ứng dịch vụ ra sao, cũng như qui mô và chất lượng của các dịch vụ đó
Phương thức lập ngân sách đầu ra đòi hỏi việc dự báo nhu cầu xã hội, nguồn lực của chính phủ ở tầm trung hạn để xác định ưu tiên chính sách, chủ động lựa chọn chương trình, hoạt động cung cấp hàng hóa và dịch vụ theo hướng hoạt động, chương trình đảm bảo tính hiệu suất, hiệu quả, tính kịp thời và chất lượng
Tuy nhiên, lập ngân sách dựa vào đầu ra cũng có những hạn chế:
i) Những dịch vụ công điển hình như là thu gom xử lý chất thải rắn, cung cấp nước sạch, vệ sinh đô thị, phát hành hộ chiếu,…thì việc đo lường số lượng đầu ra dễ thực hiện Những dịch vụ không dễ đo lường dịch vụ đầu ra vì có những đơn vị sản phẩm tạo ra không đồng nhất như cấp phép đầu tư, giải quyết tranh chấp (tòa án), dịch
iv) Đầu ra thường không có sự liên kết mạnh mẽ giữa các chính sách của chính phủ bằng kết quả
v) Tập trung vào đầu ra, ít có thông tin hoặc những bài học cho chính phủ để sau
đó sử dụng trong xây dựng chính sách hoặc kiểm tra công trình nào thực sự hoàn thành
Trang 22Aiden Rose (2003) viết: “Cách tiếp cận đầu ra bị chỉ trích bởi vì trong khi lập ngân sách theo đầu ra đảm bảo rằng các chính phủ nhận nhiều hơn với chi phí ít hơn,
họ có thể nhận nhiều đầu ra mà chúng ít đóng góp trong giải quyết những vấn đề chính sách Vì thế, nhiều nước tuyên bố rằng họ sẽ thích nghi với cách tiếp cận theo kết quả, nhấn mạnh việc thực hiện những kết quả Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng tiến trình này, hiện nay, là hạn chế Đối với nhiều nước, điều này vẫn còn là mục tiêu hoặc một khát vọng chứ không phải là một sự mô tả về công việc nhà nước hiện hành”
2.2.5 Lập ngân sách theo kết quả (outcome based budgeting)
Kristensen (2002) cho rằng: “Trong quản lý và lập ngân sách tập trung vào kết quả, chính phủ xác định chức năng hoặc những gì một chương trình cụ thể mang lại và đạt đến lợi ích chung, phúc lợi cộng đồng hoặc sự an ninh; ví dụ, kết quả để giảm tỷ lệ mắc bệnh, hoặc đảm bảo một chương trình học vấn nhất định cho hầu hết các sinh viên
Để có những kết quả đã xác định, một hệ thống kết quả đã xây dựng qua các chỉ số mà
có thể giúp đánh giá công việc làm tốt như thế nào để đạt được những kết quả đó.” [5,6]
Lập ngân sách dựa vào kết quả là một phương thức soạn lập ngân sách lấy kết quả (tác động) của chương trình, hoạt động là yếu tố cốt lõi để phân bổ nguồn lực mà các chương trình, hoạt động này được lựa chọn để thực hiện mục tiêu chính sách, ưu tiên chiến lược của từng đơn vị công trong từng giai đoạn trung hạn Trách nhiệm quản
lý, trách nhiệm giải trình và sự minh bạch trong các nhà quản lý công và người đứng đầu vể điều hành (cơ quan, đơn vị) được đề cao trong phương thức soạn lập này
Cách tiếp cận quản lý và lập ngân sách theo kết quả đặt ra những yêu cầu về yếu
tố hiệu quả và hiệu suất cho quá trình hoạt động của đơn vị công, hoặc những dịch vụ công cung ứng cho công chúng phải có tiêu chuẩn về chất lượng (tính kịp thời, khả năng tiếp cận, sự uy tín và chính xác của dịch vụ), mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ (mức đánh giá dịch vụ của người sử dụng), hiệu suất (chi phí cho một đơn vị sản phẩm) và cao hơn nữa là so sánh từ mục tiêu chính sách và kết quả mong muốn (dự kiến) từ chương trình với tác động lập tức, dây chuyền hay dài hạn của các đầu ra trong quá trình thực hiện chương trình, hoạt động của đơn vị công Như vậy, lập ngân sách
Trang 23theo kết quả được sử dụng để lập dự toán ở các đơn vị công nhằm xem xét tính hiêu suất cho quá trình hoạt động của đơn vị công tuy nhiên, để thực hiện được phương thức lập ngân sách này đòi hỏi thời gian xem xét dài
2.3 Lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động ở một đơn vị công
Lập ngân sách theo hiệu quả (hiệu suất) hoạt động ở một đơn vị công được mô
tả thông qua các bước trong Sơ đồ 2.1 bao gồm 7 bước sau:
(1) Xác định tuyên bố sứ mệnh của đơn vị công
(2) Xác định mục tiêu của đơn vị công
(3) Xác định và định lượng đầu ra hoặc mục tiêu cần thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra
(4) Xác định và định lượng các hoạt động được thực hiện để đạt được các mục tiêu
(5) Chi phí hoạt động để đạt được các mục tiêu
(6) So sánh chi phí với nguồn lực tài chính của đơn vị
(7) Ưu tiên các hoạt động để phù hợp với nguồn lực tài chính được sử dụng
Trang 24Sơ đồ 2.1 Tổng quan phương thức lập ngân sách trung hạn theo hiệu quả hoạt
động ở một đơn vị công
(Nguồn: MEFMI, 2008, trang 190)
2.4 Lập dự toán theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF) ở đơn vị công
2.4.1 Khái niệm khuôn khổ chi tiêu trung hạn
Theo Ngân hàng Thế giới khái niệm về khuôn khổ chi tiêu trung hạn (Medium Term Expenditure Framework, MTEF): “MTEF bao gồm về tổng nguồn lực được giới hạn theo con đường từ trên xuống; và việc ước tính chi phí dự toán năm hiện hành và giai đoạn trung hạn cho chính sách đang tồn tại và sau cùng, một sự đối chiếu giữa dự toán chi tiêu với nguồn lực sẵn có trong nội dung tiến trình ngân sách hàng năm” “Tổng
Sứ mệnh
Mục tiêu
Lập thứ tự ưu tiên các hoạt động
Thực hiện các hoạt động
Trang 25nguồn lực được giới hạn theo con đường từ trên xuống” về cơ bản dựa trên mô hình kinh tế vĩ mô để đưa ra mục tiêu tài khóa, và ước tính nguồn thu và tổng chi tiêu, bao gồm nghĩa vụ tài chính của chính phủ Thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô, các ngành cam kết trong “tiến trình từ dưới lên” bắt đầu xem xét lại những chính sách và hoạt
động của ngành với quan điểm tối ưu hóa trong phân bổ nguồn lực” [46]
MTEF là một phương thức soạn lập ngân sách trung hạn, có tính minh bạch MTEF xác định một giới hạn nguồn lực tổng thể từ trên xuống đối với kỹ luật tài chính tổng thể và yêu cầu các dự toán chi phí thực hiện các chính sách từ dưới lên và hợp nhất chúng với các chính sách chi tiêu phù hợp với các ưu tiên chiến lược
Chúng ta có thể hiểu MTEF là một quy trình vừa thể hiện tính ngân sách, vừa thể hiện tính chính trị vì thực hiện MTEF là thực hiện cam kết chính sách lẫn cam kết chi tiêu và xuyên suốt qua các Bộ, ngành, đơn vị khác nhau với sự cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ và đòi hỏi có sự điều phối nhịp nhàng
Như vậy đề cập đến lập ngân sách trung hạn, MTEF có hai bản dự toán trung hạn:
Khuôn khổ tài chính trung hạn (MTFF – Medium Term Financial Framework)
là một phần nội dung trong phương thức soạn lập ngân sách trung hạn Khuôn khổ tài chính trung hạn là kế hoạch ngân sách cấp quốc gia, mô tả tổng quan về tình hình tài khóa, khả năng cân đối thu chi, dự kiến và mục tiêu của Chính phủ (mức thâm hụt tài khóa, nợ công, các mức chi tiêu của Chính phủ) dựa trên những phân tích và dự báo kinh tế vĩ mô trong giai đoạn trung hạn Khuôn khổ tài chính trung hạn cung cấp cho chính phủ hoặc chính quyền địa phương một khuôn khổ tài khóa nhằm xây dựng dự toán chi tiêu trung hạn
Khuôn khổ chi tiêu trung hạn ngành (MTEFs - Medium Term Expenditure Framework for sector) là một phần nội dung trong phương thức soạn lập ngân sách theo khuôn khổ trung hạn Khuôn khổ chi tiêu trung hạn ngành là kế hoạch chi tiêu của các
bộ, các ngành, các địa phương trong đó xây dựng các đề xuất chi tiêu cho ba năm tới, bao gồm cả các ưu tiên, chiến lược và hoạt động, cùng các nguồn vốn dự kiến
Trang 262.4.2 Đặc trưng của khuôn khổ chi tiêu trung hạn ở đơn vị công
MTEF là một phương pháp lập ngân sách theo cách tiếp cận trung hạn và theo nguyên tắc cuốn chiếu Trung hạn là từ 3 đến 5 năm Nguyên tắc cuốn chiếu là liên tục không bị cắt đoạn giữa các kỳ lập ngân sách để thực hiện những chương trình, hoạt động kéo dài, đã được dự kiến trong các khuôn khổ chi tiêu trung hạn trước đó nhằm đạt được mục tiêu đã đưa ra trong kế hoạch, chiến lược và chính sách của một đơn vị công
MTEF phân bổ nguồn lực trên cơ sở ưu tiên chiến lược của đơn vị công Trong quá trình lập ngân sách theo MTEF, có sự liên kết giữa chính sách, kế hoạch và lập ngân sách Do vậy, MTEF được gắn kết với phương thức soạn lập ngân sách theo đầu
ra và quản lý theo kết quả
MTEF là một phương pháp mà các nhà soạn lập ngân sách sử dụng với nhận thức là nguồn lực luôn hạn chế và không thể tăng trong thời kỳ trung hạn MTEF không tạo nguồn lực mà là phương tiện hoặc công cụ để xác định và phân bổ nguồn lực phù hợp với những mục tiêu chính sách và ưu tiên chiến lược
MTEF luôn đưa ra giới hạn tài chính: Trần nguồn lực giao từ trên xuống kết hợp với dự toán từ dưới lên về chi phí hiện tại và trung hạn cho các chính sách hiện có
2.4.3 Định dạng khuôn khổ chi tiêu trung hạn ở đơn vị công
Nguyên tắc cuốn chiếu thể hiện: năm N+1 trong khuôn khổ năm trước trở thành nền tảng cho ngân sách và 3 năm mới được thêm vào (hình 2.2) Điều này gia tăng tính hiệu quả của việc lập kế hoạch và làm dễ dàng tiến trình ngân sách hàng năm
Trang 27Sơ đồ 2.2 Định dạng khuôn khổ trung hạn
Nếu chúng ta đang ở năm N năm báo cáo lập kế hoạch ngân sách 3 năm (N + 1,
N + 3) trong đó dự toán năm N + 1 được xem xét cụ thể và các cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn để chấp hành, thì dự toán trung hạn các năm N + 2, N + 3 mặc dù được thiết lập song song với năm N + 1 nhưng chỉ được xem xét chứ không phê chuẩn Bởi lẽ, dự toán trung hạn các năm N + 2, N + 3 mang tính tiên liệu, mang tính định hướng về chiến lược, mục tiêu, nguồn lực và chi tiêu Đến năm N + 1,việc lập ngân sách cho giai đoạn (N + 2, N + 4) sẽ theo trình tự: dự toán ngân sách của năm N + 2, N + 3 để được dự kiến ở giai đoạn trung hạn trước (N + 1, N + 3) sẽ được cập nhật lại trên cơ sở người lập đang ở thời điểm của năm N+1, số liệu sẽ được điều chỉnh bổ sung cùng với dự kiến
kế hoạch ngân sách cho năm N+4 Dự toán năm N + 2 sẽ được hoàn thiện mà cơ quan
có thẩm quyền phê chuẩn để thực thi trong bối cảnh tầm nhìn trung hạn (N+2, N+4) Các năm tiếp theo, cách lập dự toán ngân sách diễn ra tương tự Việc phê chuẩn ngân
Ngân sách
năm N
Dự toán NS năm N+1
Dự toán trung hạn năm N+2
Dự toán năm N+3
Thay đổi thông số và chính sách
Ngân sách năm N+3
Ngân sách năm N+2
Ngân sách
năm N+1
Ngân sách năm N+4
Ngân sách
năm N+2
Trang 28sách từng năm kế tiếp trong khuôn khổ trung hạn gọi là “nguyên tắc cuốn chiếu” (xem
Sơ đồ 2.2)
2.4.4 Phân loại những ước tính trung hạn ở đơn vị công
Những ước tính trung hạn của ngành đề cập đến 2 loại chỉ tiêu (Bảng 2.1):
Bảng 2.1 Phân loại những ước tính trung hạn của ngành
Ước tính trung hạn
1 Chi tiêu hiện tại
Chi tiêu cơ sở
2 Chi tiêu tăng thêm trong tương lai để cung cấp chất lượng dịch vụ như hiện tại
3 Chi tiêu nếu mức độ và loại dịch vụ được thay đổi Chi tiêu sáng kiến mới
- Chi tiêu cơ sở:
Chi tiêu cho chính sách hiện hành bao gồm: chi phí để duy trì việc cung ứng dịch vụ cho đối tượng hưởng lợi; chi phí cho các dự án đầu tư đang thực hiện trong thời kỳ trung hạn; chi phí được tiên liệu cho chương trình đầu tư đang tiếp tục; chi phí tương lai của chương trình phúc lợi dựa trên những chính sách đã thông qua Như vậy, trong khuôn khổ ngân sách hàng năm, phạm vi của chi tiêu cơ sở được giới hạn bởi các chi tiêu hiện hành Trong trung hạn, chi tiêu cơ sở phải ước tính phần tăng thêm cần thiết để cung ứng cùng dịch vụ và cùng chất lượng như hiện tại Chi tiêu cơ sở được hình thành thông qua tiến trình cuốn chiếu của ngân sách trung hạn
- Chi tiêu sáng kiến mới:
Chi tiêu cho sáng kiến mới bao gồm: chi phí của chương trình, hoạt động bổ sung để thực hiện nhiệm vụ mới, chính sách mới do chính phủ đưa ra liên quan đến ngành; chi phí của ngành phát sinh do thay đổi chính sách; chi phí để cải tiến chất lượng dịch vụ bằng cách thêm hoạt động hoặc thêm khối lượng công việc Chi tiêu sáng kiến mới có thể thay thế một phần chi tiêu cơ sở nếu một số chính sách hiện hành được loại
bỏ hoặc những chương trình, hoạt động hiện tại không hiệu quả
Trang 292.5 Sự kết hợp soạn lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động với khuôn khổ chi tiêu trung hạn
Mục tiêu chính của việc kết hợp soạn lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động với khuôn khổ chi tiêu trung hạn là để xem xét hiệu quả hoạt động của đơn vị công như thế nào và sử dụng nguồn lực có hiệu suất hay không Bên cạnh đó, lập dự toán ngân sách theo phương thức này nhằm ước tính nguồn lực tài chính và các chương trình chi tiêu trung hạn tại một đơn vị công từ đó, so sánh chi phí với nguồn lực và xem xét thứ tự ưu tiên các hoạt động để phù hợp với nguồn lực tài chính tại đơn vị công (Hình 2.1)
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 là nền tảng lý thuyết cho chủ đề nghiên cứu của toàn luận văn, nhằm giới thiệu những nội dung cơ bản về các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được quy định tại Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 và tổng quan về các phương thức soạn lập ngân sách hiện nay với phần phân tích về việc ứng dụng phương thức soạn lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động vào một cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, khuôn khổ chi tiêu trung hạn và sự kết hợp của phương thức lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động và khuôn khổ chi tiêu trung hạn vào hoạt động của đơn vị công
Trang 31CHƯƠNG 3 CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN NGÂN SÁCH CHO CÁC NGÀNH ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG ĐỒNG
3633/QĐ-BGD&ĐT-Trường được hình thành trên cơ sở hợp nhất 04 đơn vị đào tạo trực thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) Tỉnh và Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Tháp, bao gồm Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng tại chức, Trung tâm Ngoại ngữ và Tin học, Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp Hướng nghiệp và Dạy nghề Thị xã Cao Lãnh và Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp Hướng nghiệp và Dạy nghề Thị xã Sa Đéc Hiện tại, trụ sở chính của trường đặt tại phường Hòa Thuận, Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Trường CĐCĐ Đồng Tháp là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND tỉnh Đồng Tháp, chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) Trước năm 2012, trường đào tạo các ngành cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp theo niên chế Từ năm 2012, trường đã chuyển phương thức đào tạo niên chế sang học chế tín chỉ và do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản
lý Năm 2017, với sự chuyển đổi cơ quan chủ quản mới là Bộ LĐTB&XH quản lý, trường đã thực hiện chuyển đổi chương trình đào theo học chế tín chỉ đối với hệ trung cấp và chương trình đạo tạo theo học chế tín chỉ đối với trình độ CĐ theo quy định của
Bộ LĐTB&XH có nhiều thuận lợi hơn do trường đã chuyển đổi chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm 2012
Các ngành thế mạnh của trường gồm: Công nghệ thực phẩm, Chế biến và bảo quản thủy sản, Nuôi trồng thủy sản, Bảo vệ thực vật, Dịch vụ thú y và Kê toán doanh nghiệp Mục tiêu đến năm 2020, Trường CĐCĐ Đồng Tháp phấn đấu trở thành trường
Trang 32chất lượng cao, nằm trong top đầu các cơ sở giáo dục nghề nghiệp khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Qua hơn 17 năm hoạt động, trường CĐCĐ Đồng Tháp đã có những bước tiến vững chắc và đạt được những thành tựu quan trọng trong việc thực hiện mô hình trường cộng đồng
3.1.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp
Cơ cấu tổ chức:
Tổ chức bộ máy của trường CĐCĐ Đồng Tháp được thực hiện theo quy định tại Khoản 1, Điều 9 Luật Giáo dục nghề nghiệp và Thông tư số 46/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định Điều lệ trường cao đẳng Hiện nay, trường CĐCĐ Đồng Tháp có cơ cấu tổ chức gồm: 08 Phòng chức năng,
05 Khoa và 03 Trung tâm.
Trang 33có chức năng liên kết với các trường cao đẳng, đại học khác đào tạo liên thông, đào tạo
Trang 34một số ngành, nghề theo yêu cầu của Tỉnh đúng theo quy định; tổ chức các lớp bồi dưỡng thường xuyên, đào tạo ngắn hạn theo yêu cầu đào tạo nhân lực cho các Sở, Ban ngành Tỉnh và các Huyện, Thị trên địa bàn Tỉnh Đồng Tháp
3.1.3 Quy mô và các loại hình đào tạo
Các hệ và ngành đào tạo:
Hiện nay, trường đang đào tạo 12 ngành hệ cao đẳng và 14 ngành hệ trung cấp chính quy (Bảng 3.1) Trường còn liên kết đào tạo với các trường Đại học để đào tạo các hệ đại học từ xa, vừa học vừa làm (Bảng 3.2) cho nhiều đối tượng người học khác nhau Từ năm học 2017 – 2018, trường CĐCĐ Đồng Tháp đã được UBND Tỉnh Đồng Tháp cho phép liên kết đào tạo với các trường Đại học có uy tín để mở thêm hệ đào tạo Thạc sỹ, góp phần đáp ứng tốt hơn nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của địa phương Bên cạnh đó, trường đã liên kết, hợp tác với hơn 100 doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài tỉnh trong công tác đào tạo, thực hành, thực tập của sinh viên, giảng viên và liên kết tuyển dụng nhân sự Sinh viên trường sau tốt nghiệp có việc làm đạt tỷ lệ khá cao: với > 90% Đây là điểm sáng trong kết quả đầu ra, khẳng định chất lượng nguồn nhân lực đào tạo của Nhà trường đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội
Bảng 3.1 Hệ và ngành đào tạo chính quy trường CĐCĐ Đồng Tháp
4 Nuôi trồng thủy sản 4 Trồng trọt và bảo vệ thực vật
9 Khoa học cây trồng (*) 9 Bệnh học thủy sản (*)
10 Phòng và chữa bệnh thủy sản (*) 10 Công nghệ thực phẩm
11 Quản trị bán hàng (*) 11 Văn thư lưu trữ (*)