1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của các công ty cổ phần sản xuất và cung cấp điện được niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

99 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó các công ty sản xuất và cung cấp điện cần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và cần thiết phải tìm hiểu sự tác động của việc quản trị vốn luân chuyển đến khả năng suất sinh lợi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ CUNG CẤP ĐIỆN ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ CUNG CẤP ĐIỆN ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS-TS NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên Nguyễn Thị Hương, tác giả của luận văn tốt nghiệp “Tác động của

quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của các công ty cổ phần sản xuất

và cung cấp điện được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Tôi xin

cam đoan nội dung của luận văn là kết quả nghiên cứu của cá nhân dưới sự hướng

dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang Những số liệu sử dụng cho việc chạy

mô hình là trung thực được chính tác giả thu thập và có nguồn gốc rõ ràng, minh

bạch; các số liệu khác phục vụ cho việc phân tích, nhận xét đánh giá được thu thập

từ các nguồn trích dẫn khác nhau và đã ghi trong phần tài liệu tham khảo

Học viên thực hiện Luận văn

Nguyễn Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH VẼ viii

DANH MỤC PHỤ LỤC ix

TÓM TẮT x

ABSTRACT xi

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.4 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.5 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.6 Phạm vi nghiên cứu 3

1.7 Đối tượng nghiên cứu 3

1.8 Phương pháp nghiên cứu 3

1.9 Bố cục bài luận văn 4

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA DOANH NGHIỆP 5

2.1 Cơ sở lý thuyết về vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi 5

2.1.1.Vốn luân chuyển 5

2.1.1.1 Khái niệm vốn luân chuyển 5

2.1.1.2 Thành phần vốn luân chuyển 5

2.1.2 Khả năng sinh lợi 8

2.2 Các nghiên cứu về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp 8

Trang 5

2.2.1 Tác động của số ngày khoản phải thu đến khả năng sinh lợi của doanh

nghiệp 9

2.2.2 Tác động của số ngày tồn kho đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.10 2.2.3 Tác động của số ngày khoản phải trả đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp 12

2.2.4 Tác động của chu kỳ tiền mặt đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.14 2.3 Kết luận về các nghiên cứu trước 18

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Quy trình nghiên cứu 20

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 20

3.3 Phương pháp nghiên cứu 21

3.3.1 Thống kê mô tả 21

3.3.2 Phân tích ma trận tương quan 21

3.3.3 Phân tích hồi quy 21

3.4 Mô hình nghiên cứu 22

3.4.1 Biến phụ thuộc là ROA 22

3.4.2 Biến phụ thuộc là ROE 22

3.5 Mô tả các biến và cách đo lường các biến trong mô hình 23

3.5.1 Biến phụ thuộc 24

3.5.2 Biến độc lập 24

3.5.2.1 Số ngày khoản phải thu (AR) 24

3.5.2.2 Số ngày tồn kho (INV) 25

3.5.2.3 Số ngày khoản phải trả (AP) 25

3.5.2.4 Chu kỳ tiền mặt (CCC) 25

3.5.3 Biến kiểm soát 26

3.5.3.1 Quy mô doanh nghiệp (SIZE) 26

3.5.3.2 Tỷ lệ nợ (DEBT) 26

3.5.3.3 Tăng trưởng doanh thu (SGROW) 26

3.5.3.4 Tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm (GDPGR) 27

Trang 6

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 30

4.1.1 Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 30

4.1.2 Kỳ thu tiền 31

4.1.3 Kỳ luân chuyển hàng tồn kho 32

4.1.4 Kỳ trả tiền 32

4.1.5 Chu kỳ tiền mặt 33

4.1.6 Quy mô doanh nghiệp 33

4.1.7 Tỷ lệ nợ 34

4.1.8 Tốc độ tăng trưởng doanh thu 35

4.1.9 Tỷ lệ tăng trưởng GDP 35

4.2 Phân tích tương quan 35

4.3 Phân tích hồi quy 36

4.3.1 Ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính bằng phương pháp OLS 36

4.3.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 39

4.3.3 Kiểm định phương sai thay đổi 39

4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 44

4.4.1 Mô hình 1A,1B: Nghiên cứu tác động của kỳ thu tiền đến tỷ suất sinh lợi…… 45

4.4.2 Mô hình 2A, 2B: Nghiên cứu tác động của kỳ luân chuyển hàng tồn kho đến tỷ suất sinh lợi 45

4.4.3 Mô hình 3A,3B: Nghiên cứu tác động của kỳ trả tiền đến tỷ suất sinh lợi……… 46

4.4.4 Mô hình 4A, 4B: Nghiên cứu tác động của chu kỳ tiền mặt đến tỷ suất sinh lợi 46

4.4.5 Tác động của các biến kiểm soát đến tỷ suất sinh lợi 46

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 48

5.1 Kết luận 48

5.2 Một số gợi ý nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh 48

Trang 7

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 51

5.3.1 Hạn chế 51

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 52

KẾT LUẬN 53

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

PHỤ LỤC 58

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Bảng tóm tắt kết quả các nghiên cứu có liên quan 16

Bảng 3.1: Các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu 27

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 30

Bảng 4.2: Số liệu trung bình năm của 22 công ty 35

Bảng 4.3: Kết quả ma trận tương quan 36

Bảng 4.4: Kết quả hồi quy tuyến tính bằng phương pháp OLS theo biến phụ thuộc ROA 37

Bảng 4.5: Kết quả hồi quy tuyến tính bằng phương pháp OLS theo biến phụ thuộc ROE 38

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 39

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi 39

Bảng 4.8: Kết quả hồi quy theo biến phụ thuộc ROA (sau khi đã khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi) 41

Bảng 4.9: Kết quả hồi quy theo biến phụ thuộc ROE (sau khi đã khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi) 42

Bảng 4.10: Tổng hợp kết quả nghiên cứu 44

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 4.1: Tỷ suất sinh lợi bình quân 22 công ty theo từng năm 31

Trang 11

DANH MỤC PHỤ MỤC

Phụ lục 1: Thống kê mô tả 58

Phụ lục 2: Ma trận hệ số tương quan 59

Phụ lục 3: Kết quả hồi quy tuyến tính bằng phương pháp OLS theo biến phụ thuộc ROA 60

Phụ lục 4: Kết quả hồi quy tuyến tính bằng phương pháp OLS theo biến phụ thuộc ROE 64

Phụ lục 5: Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 68

Phụ lục 6: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi 69

Phụ lục 7: Kết quả hồi quy theo biến phụ thuộc ROA (sau khi đã khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi) 71

Phụ lục 8: Kết quả hồi quy theo biến phụ thuộc ROE (sau khi đã khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi) 75

Phụ lục 9: Danh sách các công ty trong mẫu nghiên cứu 78

Phụ lục 10: Danh sách mẫu quan sát trong nghiên cứu 79

Phụ lục 11: Số liệu bình quân từng công ty trong 5 năm (từ 2014 đến 2018) 85

Trang 12

TÓM TẮT

Vốn luân chuyển là một phần quan trọng trong công tác quản lý tài chính của một doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận Quản trị vốn luân chuyển hiệu quả sẽ đảm bảo tính thanh khoản và lợi nhuận, đây là hai mục tiêu quan trọng để duy trì hoạt động của công ty

Ngành điện là một ngành quan trọng, đóng vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo cung cấp điện cho nền kinh tế Để tham gia thị trường điện cạnh tranh đang từng bước hoàn thiện, các công ty sản xuất và cung cấp điện cần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Trong bài luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất (OLS) để nghiên cứu tác động của việc quản trị vốn luân chuyển đến tỷ suất sinh lợi của của các công ty sản xuất và cung cấp điện được niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam Tác giả lựa chọn một mẫu gồm 22 công ty sản xuất và cung cấp điện trong khoảng thời gian từ 2014 đến năm 2018

Kết quả cho thấy sự ảnh hưởng của các biến đại diện cho vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của các công ty như sau: AR tác động ngược chiều với ROA nhưng lại không tác động với ROE, INV và AP có mối tương quan nghịch chiều với ROA lẫn ROE, CCC không cho kết quả có ý nghĩa thống kê với cả hai biến phụ thuộc ROA và ROE Ngoài ra, các biến kiểm soát DEBT có tác động ngược chiều với ROA lẫn ROE; SGROW có tác động cùng chiều với ROA và ROE; SIZE và GDPGR không cho kết quả có ý nghĩa thống kê với cả ROA lẫn ROE

Các kết quả thu được từ quá trình phân tích chính là các căn cứ để tác giả đưa

ra các khuyến nghị liên quan đến việc nâng cao khả năng sinh lợi của các công ty

Từ khóa: Quản trị vốn luân chuyển, tỷ suất sinh lợi, Công ty sản xuất và cung cấp

điện

Trang 13

ABSTRACT

Woking capital is an important part of a company's financial management because it directly affects profits Effective management of working capital will ensure liquidity and profitability, which are two important goals to maintain the company's operations

The electricity industry is an important industry, playing a key role in securing electricity supply for the economy To participate in the competitive electricity market being gradually forming, electrical manufacturing and providing enterprises need to improve business performance

In this topic, the author uses the least squares regression method (OLS) to analyse the effect of working capital management on the profitability of electrical manufacturing and providing enterprises listed on the Vietnam Stock Market The samples of 22 electrical manufacturing and providing enterprises for the period

2014 - 2018 were selected

The research results indicated the effects of working capital management on the profitability The study finds AR had negative impact on ROA but didn’t have impact on ROE, INV and AP had a negative correlation with ROA and ROE, CCC did not give statistically significant results with both dependent variables ROA and ROE In addition, DEBT had the negative impact on both ROA and ROE The author observed that ROA and ROE were influenced positively by SGROW There was no impact of the firm size (SIZE) and the GDP growth (GDPGR) on the enterprises’ profit

The results from the analysis played an important role from which this study provided the recommendations related to improving the profitability for the enterprises

Keywords: Working capital management, profitability, electrical manufacturing

and providing enterprises

Trang 14

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Vốn luân chuyển là một phần quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lợi Quản trị vốn luân chuyển hiệu quả sẽ đảm bảo tính thanh khoản và lợi nhuận, đây là hai mục tiêu quan trọng duy trì hoạt động của một công ty Vốn luân chuyển là sự chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, là một thước đo sự dịch chuyển của dòng tiền mặt Trong mỗi chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, chúng chuyển hóa từ tiền mặt, đến hàng tồn kho, rồi đến khoản phải thu và cuối cùng quay trở lại hình thái tiền mặt Khi công ty đầu tư quá nhiều vào các khoản phải thu, hàng tồn kho, vốn sẽ tồn đọng bên trong vốn luân chuyển, từ đó hạn chế khả năng phát triển của công ty

Quản trị vốn luân chuyển mà cụ thể là quản lý tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn một cách hiệu quả là duy trì từng bộ phận cấu thành nên vốn luân chuyển, đó là tiền mặt, khoản phải thu hàng tồn kho và khoản phải trả, một cách tối ưu nhất

1.2 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp luôn là động lực kích thích các doanh nghiệp tìm cách phát huy tối đa tiềm năng của mình nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất Vì vậy vấn đề quản trị vốn luân chuyển nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp càng trở nên cấp thiết

Quản trị vốn luân chuyển là nội dung quan trọng trong quản trị tài chính của các doanh nghiệp Quản trị vốn luân chuyển góp phần sử dụng hợp lý các nguồn vốn, tiết kiệm chi phí và mang lại lợi nhuận cao nhất cho công ty

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Thách thức không nhỏ đó là sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường Vì vậy làm thế nào để duy trì hoạt động kinh doanh, tạo ra lợi nhuận là vấn đề mà hầu hết các doanh nghiệp trong các ngành, các lĩnh vực đều quan tâm

Trang 15

Ngành Điện hiện nay là một trong những ngành quan trọng của quốc gia, giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo cung cấp điện cho nền kinh tế, chủ trương của Chính phủ về tái cơ cấu ngành điện giai đoạn 2016 – 2020 định hướng đến năm

2025 là tiếp tục chuyển đổi hoạt động của ngành điện theo cơ chế thị trường, xây dựng thị trường điện cạnh tranh ở cả 3 cấp độ: phát điện, bán buôn điện và bán lẻ điện Do đó các công ty sản xuất và cung cấp điện cần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và cần thiết phải tìm hiểu sự tác động của việc quản trị vốn luân chuyển đến khả năng suất sinh lợi nhằm nâng cao năng lực để có nhiều cơ hội tham gia trên

thị trường điện cạnh tranh Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Tác động của quản

trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của các công ty cổ phần sản xuất và cung cấp điện được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để nghiên

cứu

1.3 Ý nghĩa của đề tài

- Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp nhiều thông tin giá trị cho các nhà đầu tư, cung cấp sự hiểu biết toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của công ty sản xuất và cung cấp điện và là căn cứ để các nhà đầu tư ra quyết định đầu tư vào cổ phiếu các công ty này

- Kết quả nghiên cứu còn là nguồn thông tin cung cấp đến các nhà quản trị của các công ty trong sản xuất và cung cấp điện, hỗ trợ các nhà quản trị đưa ra các quyết định tài chính hợp lý để đạt được mục tiêu tối đa giá trị doanh nghiệp

1.4 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích tác động của quản trị vốn luân chuyển đến tỷ suất sinh lợi của 22 công ty cổ phần sản xuất và cung cấp điện được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Từ kết quả thu được, người viết đưa ra những khuyến nghị để giúp các công ty cổ phần sản xuất và cung cấp điện lựa chọn phương thức quản trị vốn luân chuyển tối ưu để nâng cao giá trị công ty

1.5 Câu hỏi nghiên cứu

Trang 16

- Các yếu tố của vốn luân chuyển tác động như thế nào đến khả năng sinh lợi của các công ty cổ phần sản xuất và cung cấp điện được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?

- Khi có kết quả nghiên cứu, có đề xuất kiến nghị gì cho các doanh nghiệp trong việc quản trị vốn luân chuyển

1.6 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu vốn luân chuyển tác động đến khả năng sinh lợi của 22 công ty cổ phần sản xuất và cung cấp điện niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu việc quả trị vốn luân chuyển tác động

đến khả năng sinh lợi các công ty nêu trên trong 5 năm từ năm 2014 đến 2018

1.7 Đối tượng nghiên cứu

Quản trị vốn luân chuyển tác động đến khả năng sinh lợi của các công ty cổ phần sản xuất và cung cấp điện được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

1.8 Phương pháp nghiên cứu

- Thống kê mô tả

Tác giả thu thập số liệu, tóm tắt, tính toán bằng phần mềm STATA và trình bày mô tả tổng quát các đối tượng nghiên cứu

- Phân tích ma trận tương quan

Tác giả sử dụng bảng ma trận tương quan để tìm hiểu mối quan hệ giữa các biến trong mô hình

- Phân tích hồi quy

Tác giả sử dụng phần mềm STATA để thực hiện ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính nhằm xác định mối quan hệ giữa các biến độc lập cũng như các biến kiểm soát đối với các biến phụ thuộc bằng phương pháp OLS và thực hiện kiểm

Trang 17

định như kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến giải thích, kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi Nếu mô hình có xảy ra các khuyết tật trên thì tác giả sẽ thực hiện khắc phục

1.9 Bố cục bài luận văn

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu có liên quan và sơ lược về ngành điện Việt Nam

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Nhận xét

Trang 18

2.1.1.1 Khái niện vốn luân chuyển

Vốn luân chuyển là chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, vốn luân chuyển chuyển hóa qua tất cả các dạng – từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và quay trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt Vốn luân chuyển có vai trò quan trọng trong việc tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp

2.1.1.2 Thành phần vốn luân chuyển:

Vốn luân chuyển bao gồm bốn thành phần: Số ngày khoản phải thu, số ngày tồn kho, số ngày khoản phải trả và chu kỳ tiền mặt

- Số ngày khoản phải thu:

Số ngày khoản phải thu là khoảng thời gian từ khi bán hàng hóa dịch vụ cho

khách hàng cho đến khi thu được tiền

Mở rộng tín dụng thương mại cho khách hàng, đồng nghĩa với việc tăng khoảng thời gian thu tiền, sẽ làm tăng doanh thu vì tín dụng thương mại có thể xem như một sự giảm giá hiệu quả (Brennan và cộng sự, 1988; Petersen và Rajan, 1997) Điều này khuyến khích khách hàng tiêu thụ sản phẩm trong những thời điểm nhu cầu thấp (Emery, 1984), cho phép khách hàng kiểm tra xem sản phẩm họ nhận được (cả về số lượng và chất lượng) có đúng như thỏa thuận hay không và để đảm bảo rằng các dịch vụ trong hợp đồng được thực hiện (Smith, 1980) Khi mở rộng tín dụng trong hoạt động bán hàng hóa dịch vụ, doanh nghiệp có thể gia tăng được thị phần, từ đó gia tăng được doanh thu bán hàng và lợi nhuận

Trang 19

Tuy nhiên, khi doanh nghiệp mở rộng việc bán chịu hàng hóa cho khách hàng sẽ làm nợ phải thu gia tăng Tăng thời gian khoản phải thu sẽ làm tăng nguy

cơ đối mặt với rủi ro đối với doanh nghiệp, do tăng các khoản chi phí quản lý nợ, chi phí thu hồi nợ, chi phí lãi tiền vay để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thiếu do vốn của doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng Tình trạng nợ quá hạn khó đòi hoặc không thu được do khách hàng vỡ nợ, gây mất vốn của doanh nghiệp, điều này ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Ngược lại, khi doanh nghiệp giảm thời gian khoản phải thu bằng cách thắt chặt tín dụng, thu được tiền nhanh, cải thiện tính thanh khoản, nhưng doanh thu có thể sụt giảm do sức cạnh tranh trên thị trường giảm, từ đó sẽ giảm khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Do đó việc cần thiết đối với nhà quản trị doanh nghiệp là duy trì

khoản phải thu ở mức tối ưu

Thông thường, số ngày tồn kho càng ngắn, vòng quay hàng tồn kho cao thì việc quản trị hàng tồn kho càng có hiệu quả Tuy nhiên, số ngày tồn kho thấp có thể

là dấu hiệu của việc duy trì số lượng tồn kho quá ít, từ đó có khả năng xuất hiện rủi

ro là việc sản xuất bị chậm trễ nếu vật liệu không được phân phối đúng hạn, khả năng sinh lời sẽ bị ảnh hưởng xấu

Ngược lại, số ngày tồn kho dài thường là dấu hiệu của việc số lượng tồn kho cao, điều này mang lại lợi ích làm giảm rủi ro do thiếu nguyên vật liệu, một lượng tồn kho lớn làm cho hoạt động sản xuất có thể tiến hành được dài hơn, liên tục hơn

và tiết kiệm hơn, từ đó tăng khả năng cải thiện được lợi nhuận Nhưng việc dự trữ

Trang 20

tồn kho phải trả giá, đó là lãi suất mất đi do tiền phải đầu tư vào dự trữ tồn kho, tiền thuê kho phải trả, nguy cơ hàng hóa sẽ hư hỏng và giảm chất lượng

Do vậy, muốn cải thiện lợi nhuận, các doanh nghiệp phải xác định mức độ đầu tư vào hàng tồn kho tối ưu, khi đó nhà quản trị cần so sánh lợi ích đạt được và chi phí phát sinh, kể cả chi phí cơ hội của tiền được đầu tư vào hàng tồn kho

Có hai loại chi phí liên quan đến tồn kho là chi phí lưu giữ (bao gồm chi phí lưu giữ và quản lý; chi phí bảo hiểm và thuế; thiệt hại do lỗi thời, hư hỏng hoặc trộm cắp; chi phí cơ hội của số vốn đầu tư vào hàng tồn kho) và chi phí thiếu hụt (là chi phí liên quan đến việc không đủ hàng tồn kho) Do đó tồn kho tối ưu đạt được khi giảm thiểu tổng hai loại chi phí trên

- Số ngày khoản phải trả

Số ngày khoản phải trả (kỳ trả tiền) là khoảng thời gian từ khi mua nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ cho đến khi doanh nghiệp thanh toán cho nhà cung cấp

Kỳ trả tiền càng dài doanh nghiệp sẽ tận dụng được nguồn vốn tạm thời để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh Tín dụng thương mại là nguồn tài chính làm giảm số tiền cần thiết để tài trợ cho các khoản hàng tồn kho và tài khoản phải thu khách hàng, từ đó gia tăng lợi nhuận Tuy nhiên, nếu kéo dài kỳ thanh toán có thể ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của công ty

Bên cạnh đó, một điều mà các nhà quản lý công ty cần lưu ý là tín dụng tài chính từ các nhà cung cấp có thể có chi phí ngầm rất cao nếu họ có chính sách giảm giá khi người mua hàng thanh toán sớm, vì vậy nếu công ty thanh toán trước thời hạn các hóa đơn mua hàng cũng có thể được hưởng các khoản chiết khấu trên số tiền thực tế phải trả nếu trả đúng hạn, dẫn đến tăng lợi nhuận Nhưng khi chọn kỳ trả tiền ngắn, doanh nghiệp sẽ không tận dụng được nguồn vốn tạm thời từ các khoản phải trả mà phải sử dụng nguồn vốn vay bên ngoài nếu có nhu cầu về vốn, khi đó công ty vừa phải trả thêm chi phí sử dụng vốn, gây ảnh hưởng không tốt đến khả năng sinh lợi, vừa phải công khai thông tin khi theo yêu cầu của các tổ chức tín dụng, điều này có thể gây bất lợi cho công ty Do vậy việc sử dụng tín dụng thương mại từ việc trì hoãn thanh toán các hóa đơn cho nhà cung cấp như thế nào là vấn đề

Trang 21

cần được các nhà quản trị doanh nghiệp lưu tâm Các nghiên cứu trước đây đã phân tích chi phí tín dụng thương mại cao và thấy rằng các công ty tự tài trợ bằng tín dụng người bán khi họ không có sẵn các nguồn tài chính khác (Petersen và Rajan,

1994, 1997)

- Chu kỳ tiền mặt:

Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (hay còn gọi là chu kỳ tiền mặt) là khoảng thời gian cần thiết để doanh nghiệp mua nguyên liệu, sản xuất, bán hàng và thu lại tiền mặt Thời gian chu kỳ chuyển đổi tiền càng dài, nghĩa là các doanh nghiệp đầu tư vào vốn lưu động càng lớn Các doanh nghiệp có chu kỳ tiền mặt dài hơn có thể gia tăng lợi nhuận vì doanh số cao hơn Tuy nhiên, lợi nhuận doanh nghiệp cũng có thể giảm khi tăng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, điều này xảy ra khi chi phí đầu tư vào vốn lưu động cao hơn và tăng nhanh hơn lợi ích đem lại từ việc lưu trữ nhiều hàng tồn kho và mở rộng chính sách tín dụng thương mại cho khách hàng (Delagger, 2003)

2.1.2 Khả năng sinh lợi

Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp thể hiện ở chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi, chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của công ty, là kết quả thu được khi so sánh giữa lợi nhuận và các chỉ tiêu như tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, doanh thu,

2.2 Các nghiên cứu về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Nhận thấy tầm quan trọng của quản trị vốn luân chuyển trong công tác tài chính của doanh nghiệp, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam

đã tập trung vào nghiên cứu sự tác động của việc quản trị vốn luân chuyển, được đo lường thông qua số ngày khoản phải thu (AR), số ngày tồn kho (INV), số này khoản phải trả (AP), chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp Tác giả của các nghiên cứu thực nghiệm trước đây đã sử dụng mẫu nghiên cứu là những công ty thuộc các ngành nghề khác nhau, tại nhiều nước trên thế giới, vào những khoảng thời gian khác nhau, từ đó họ đã tìm thấy mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp Việc quản

Trang 22

trị vốn luân chuyển, thể hiện qua các yếu tố cấu thành nên, tác động đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp được thể hiện như sau:

2.2.1 Tác động của số ngày khoản phải thu đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Theo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, kỳ thu tiền có mối tương quan ngược chiều với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Điều này có nghĩa rằng các nhà quản lý có thể cải thiện khả năng sinh lợi bằng việc giảm thời gian khoản phải thu khách hàng Kết quả này được thể hiện ở những nghiên cứu về quản trị vốn luân chuyển tác động đến khả năng sinh lợi của công ty của các tác giả sau:

Deloof (2003) thu thập số liệu của 1009 doanh nghiệp phi tài chính của Bỉ trong thời gian từ năm 1992 đến năm 1996, sử dụng mô hình tương quan và hồi quy, với biến phụ thuộc dùng để đo lường khả năng sinh lợi được tính bằng tổng thu nhập hoạt động; biến độc lập dùng để đo lường quản trị vốn luân chuyển là số ngày khoản phải thu (RCP), số ngày hàng tồn kho (ICP), số ngày khoản phải trả (PDP), chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC); biến kiểm soát quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, tăng trưởng doanh thu và tỷ lệ tài sản tài chính trên tổng tài sản

Lazaridis và Tryfonidis (2006) với mẫu nghiên cứu tập trung vào thị trường

chứng khoán Anthens (Hi Lạp) gồm 131 công ty trong khoảng thời gian 2001-2004

Mosa và cộng sự (2012) nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển và lợi nhuận của các công ty thực phẩm ở Tehran, Iran Họ nghiên cứu một mẫu gồm 33 công ty từ năm 2006 đến năm 2011

Ukaegbu (2014) với dữ liệu nghiên cứu 102 công ty có quy mô lớn (20 công

ty từ Ai Cập, 20 công ty từ Nigeria, 20 công ty từ Kenya và 42 công ty từ Nam Phi) trong những năm 2005 - 2009, đã xem xét mối quan hệ giữa việc quản trị vốn luân chuyển và tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp (GOP) là biến phụ thuộc dùng để đo lường khả năng sinh lợi Biến độc lập dùng để đo lường việc quản trị vốn luân chuyển là

số ngày khoản phải thu (AR), số ngày khoản phải trả (AP), số ngày tồn kho (INV), chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC); biến kiểm soát được sử dụng trong mô hình là quy mô của công ty được tính bằng logarit của tổng tài sản (SIZE), quy mô Ban

Trang 23

Giám đốc công ty được tính bằng logarit của số lượng giám đốc (CG), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Kết quả nghiên cứu cho thấy việc quản trị vốn luân chuyển

có tác động đến khả năng sinh lợi của các công ty trong mẫu nghiên cứu, trong đó

số ngày khoản phải thu có mối tương quan nghịch với lợi nhuận Điều này cũng hàm ý rằng việc cấp tín dụng thương mại cho khách hàng khi công ty bán sản phẩm của mình cũng là một cách để công ty cạnh tranh với các đối thủ trên thương trường, nhưng nếu quản lý khoản phải thu kém dẫn đến các khoản nợ khó đòi sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi Do đó bắt buộc công ty phải lựa chọn chính sách tín dụng áp dụng với khách hàng một cách phù hợp, vừa đảm bảo mục tiêu thanh khoản, đồng thời phải bảo đảm lợi nhuận

Dong và Su (2010) sử dụng dữ liệu 130 công ty niêm yết tại Việt Nam trong

3 năm từ 2006-2008 để kiểm tra mối quan hệ giữa việc quản trị vốn luân chuyển và lợi nhuận của doanh nghiệp Họ đã chạy nhiều mô hình hồi quy bao gồm biến phụ thuộc là lợi nhuận hoạt động gộp (GROSSPR) đại diện cho khả năng sinh lợi, các biến kiểm soát được sử dụng là quy mô của công ty được tính Logarit tự nhiên của doanh số (LOS), Tỷ lệ nợ được tính bằng tổng nợ chia cho tổng tài sản (DR), Tỷ lệ tài sản tài chính cố định trên tổng tài sản (FATA); các biến độc lập như kỳ thu tiền (RCP), kỳ luân chuyển hàng tồn kho (ICP), kỳ trả tiền (PDP), kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa việc quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi, trong đó kỳ thu tiền có mối tương quan nghịch chiều với lợi nhuận hoạt động gộp

Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014) nghiên cứu mối quan hệ của việc quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lợi của các công ty tại Việt Nam,

họ đã sử dụng mẫu gồm 208 công ty phi tài chính niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam vào các năm từ 2006 - 2012 bằng phương pháp phân tích tương quan và phân tích hồi quy Pooled OLS, GLS, FEM

2.2.2 Tác động của số ngày tồn kho đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Trang 24

Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây đưa ra kết quả khác nhau về mối quan hệ giữa số ngày tồn kho và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Mối quan hệ ngược chiều giữa số ngày tồn kho và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, điều này hàm ý rằng doanh nghiệp đẩy nhanh chu kỳ luân chuyển hàng tồn kho sẽ cải thiện được khả năng sinh lợi Kết quả này được thừa nhận trong các nghiên cứu sau:

Garcia Teruel và Martinez – Solano (2007) nghiên cứu về ảnh hưởng của việc quản lý vốn luân chuyển đến tỷ suất sinh lợi của một mẫu gồm 8872 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tây Ban Nha trong khoảng thời gian 1996-2002 với phương pháp nghiên cứu là phân tích ma trận tương quan và hồi quy dữ liệu bảng bằng mô hình tác động cố định, mô hình hồi quy

Karaduman và cộng sự (2010) sử dụng dữ liệu bảng của một mẫu gồm 140 công ty được niêm yết tại Thị trường giao dịch chứng khoán Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) trong giai đoạn 2005- 2008 và chạy nhiều mô hình hồi quy bao gồm các biến kiểm soát và các biến độc lập phản ánh việc quản trị vốn luân chuyển để kiểm tra sự tác động của việc quản lý vốn luân chuyển đến tỷ suất sinh lợi của các công ty này

Pais và Gama (2015) nghiên cứu dữ liệu của 6063 công ty vừa và nhỏ ở Bồ Đào Nha trong thời gian từ 2002 – 2009 để tìm mối quan hệ giữa việc quản trị vốn lưu động và lợi nhuận của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tác giả sử dụng mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản bình quân (ROA)

để đo lường khả năng sinh lợi; biến độc lập dùng làm thước đo việc quản trị vốn luân chuyển bao gồm: số ngày khoản phải thu (AR), số ngày khoản phải trả (AP),

số ngày tồn kho (INV), chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) được tính bằng AR+INV-AP Ngoài ra các biến kiểm soát: quy mô của công ty (SIZE), tăng trưởng doanh số (SGROW), tỷ lệ nợ (DEBT), tỷ lệ tài sản ngắn hạn chia tổng tài sản (CAR), tỷ lệ nợ ngắn hạn chia tổng nợ phải trả (CLR), mức tăng trưởng GDP hàng năm (GDPGR) Sau khi thu được kết quả của mô hình hồi quy, tác giả kết luận rằng các biến AR, AP, INV, CCC có mối tương quan nghịch với ROA

Trang 25

Bùi Thu Hiền và Nguyễn Hoài Nam (2015) nghiên cứu tác động của quản trị vốn lưu động đối với khả năng sinh lời của doanh nghiệp bằng phương pháp hồi quy tương quan (OLS) với dữ liệu sử dụng là báo cáo của 27 doanh nghiệp lớn trong ngành thực phẩm - đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2013

Ngược lại với kết quả trên, Makori và Jagongo (2013) phân tích ảnh hưởng của quản lý vốn lưu động đối với khả năng sinh lợi với mẫu nghiên cứu gồm 10 công ty sản xuất và xây dựng niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Nairobi ở Kenya trong giai đoạn 2003 đến 2012, tương ứng 100 quan sát Các mô hình tương quan Pearson và mô hình hồi quy OLS được sử dụng để thiết lập mối quan hệ giữa việc quản trị vốn lưu động và lợi nhuận của công ty, biến phụ thuộc dùng để đo lường khả năng sinh lợi là lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA); biến độc lập dùng để đo lường việc quản trị vốn lưu động bao gồm kỳ thu tiền (ACP), số ngày tồn kho (ICP), kỳ trả tiền (APP), chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC); biến kiểm soát: quy mô công ty (SIZE), tăng trưởng doanh số (GROWTH), đòn bấy tài chính (LEV), tỷ số thanh toán hiện hành (CR) Nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ của các phần cấu thành vốn luân chuyển và ROA, trong đó số ngày tồn kho tác động cùng chiều đến tỷ suất sinh lợi Kết quả này cho thấy ban quản trị công ty có thể gia tăng giá trị công ty bằng việc tăng hàng tồn kho lên mức hợp lý, sẽ làm giảm chi phí có thể xảy ra nếu bị gián đoạn trong quá trình sản xuất và kinh doanh do khan hiếm nguyên liệu, sản phẩm Làm như vậy, sẽ cải thiện được khả năng sinh lợi của công

Trang 26

Padachi (2006) xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận và việc quản trị vốn lưu động của 58 công ty sản xuất nhỏ của Mauritius trong giai đoạn 1997-2003;

Raheman và Nasr (2007) xem xét mẫu nghiên cứu gồm 94 công ty Pakistan được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Karachi trong khoảng thời gian 6 năm từ 1999 – 2004

Al-Debi'e (2011) thuộc Đại học Jordan, đã sử dụng dữ liệu của 77 công ty Công nghiệp được niêm yết trên Thị trường chứng khoán Amman, Jordan trong giai đoạn 2000-2010 và chạy các mô hình tương quan Pearson để thiết lập mối quan hệ giữa việc quản trị vốn lưu động và lợi nhuận của công ty Trong mô hình, biến phụ thuộc khả năng sinh lợi được dùng là tổng thu nhập hoạt động gộp của công ty; biến độc lập gồm kỳ thu tiền (RCP), số ngày tồn kho (ICP), kỳ trả tiền (PDP), chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC); biến kiểm soát: quy mô của công ty được tính bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản (SIZE), đòn bẩy tài chính được tính bằng tổng nợ chia cho tổng tài sản (LEVERAGE), tôc độ tăng trưởng GDP (GDPG)

Nguyễn Thị Tuyết Nga và Bùi Ngọc Toản (2017) phân tích dữ liệu của mẫu gồm 20 công ty thuộc ngành Thủy sản tại Việt Nam trong những năm từ 2008 đến

2016 để kiểm định tác động của việc quản lý vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp này

Tuy nhiên có một vài nghiên cứu đã tìm ra kết quả ngược lại, nghĩa là số ngày khoản phải trả có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, trì hoãn các khoản thanh toán cho nhà cung cấp giúp công ty có thời gian để kiểm định chất lượng sản phẩm đã mua và có thể tận dụng nguồn tín dụng rẻ tiền và linh hoạt cho hoạt động của mình, đó là kết quả của Shah và Sana (2006) xem xét dữ liệu của 7 công ty khai thác dầu khí Pakistan trong giai đoạn 2001-2005 bằng kỹ thuật phân tích tương quan và hồi quy bình phương bé nhất; kết quả của Dong và Su (2010) khi nghiên cứu dựa trên mẫu gồm dữ liệu 130 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 3 năm từ 2006 đến 2008; kết quả của Gul và cộng sự (2013) khi kiểm định sự ảnh hưởng của việc quản trị vốn luân chuyển đến lợi nhuận của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Pakistan vào các năm từ 2006-2012

Trang 27

bằng cách sử dụng kỹ thuật dữ liệu Panal trong mô hình hồi quy; kết quả của Makori và Jagongo (2013) khi dùng mô hình tương quan Pearson và mô hình hồi quy OLS để nghiên cứu dữ liệu của 10 doanh nghiệp ngành sản xuất và xây dựng trên Sàn giao dịch chứng khoán Nairobi ở Kenya trong giai đoạn 2003 đến 2012; kết quả đưa ra bởi Bùi Đan Thanh và Nguyễn Trần Thái Hà (2017) bằng việc nghiên cứu dữ liệu của 1032 doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TP.HCM trong khoảng thời gian từ 2006 – 2014; kết quả của Dương Thị Hồng Vân và Trần Phương Nga (2018) khi nghiên cứu mẫu gồm 42 công ty sản xuất vật liệu xây dựng tại Việt Nam trong giai đoạn 2012- 2016 bằng việc sử dụng mô hình gộp- OLS model, mô hình ảnh hưởng cố định- FEM, mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên- REM Điều này cho thấy các công ty càng duy trì số ngày thanh toán dài hơn, chứng tỏ công ty có uy tín với nhà cung cấp, chiếm dụng được nhiều vốn của nhà cung cấp, thì khả năng cải thiện lợi nhuận càng cao

2.2.4 Tác động của chu kỳ tiền mặt đến khả năng sinh lợi của doanh

nghiệp

Trong các nghiên cứu trước đây, kết quả cho thấy chu kỳ chuyển đổi tiền mặt

có mối tương quan ngược chiều với lợi nhuận, nghĩa là các công ty có khả năng cải thiện khả năng sinh lợi bằng cách quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực thông qua việc giảm chu kỳ chuyển đổi tiền mặt xuống mức tối thiểu Điều này phù hợp với các nghiên cứu:

Falope và Ajilore (2009) tiến hành xem xét tác động của việc quản trị vốn lưu động đối với khả năng sinh lợi của 50 doanh nghiệp ở Nigeria trong các năm từ

và tương quan Pearson

Trang 28

Vural và cộng sự (2012) nghiên cứu dữ liệu thứ cấp được thu thập từ 75 doanh nghiệp ngành sản xuất trên Thị trường Chứng khoán Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ vào những năm 2002-2009 Cùng với việc sử dụng phương pháp hồi quy, với biến phụ thuộc là hiệu suất công ty thông qua giá trị doanh nghiệp (Tobin Q) và lợi nhuận hoạt động gộp (GOP); biến độc lập gồm:

GOPt-1: Lợi nhuận hoạt động gộp năm trước (t-1)

AR: Kỳ thu tiền bình quân

INV: Số ngày tồn kho

AP: Kỳ trả tiền bình quân

OC: chu kỳ kinh doanh

CCC: Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt

Ngoài ra, các biến kiểm soát được sử dụng là:

FIRM SIZE: Quy mô của công ty

LEVERAGE: Tỷ lệ nợ

Kết quả chứng minh rằng việc quản trị vốn luân chuyển có mối quan hệ với lợi nhuận, trong đó chu kỳ chuyển đổi tiền mặt tương quan nghịch chiều với lợi nhuận công ty

Nguyễn Thúy Quỳnh và Triệu Thị Phương Hiền (2018) kiểm định ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của 200 doanh nghiệp niêm yết Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016 bằng cách thực hiện phân tích hồi quy dữ liệu theo

phương pháp OLS, REM, FEM, GLS

Trái với các kết quả trên, Gill và cộng sự (2010) sử dụng dữ liệu 88 công ty Hoa Kỳ từ năm 2005 đến 2007 và phương pháp hồi quy để tìm mối quan hệ giữa việc quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi Kết quả cho thấy có mối quan

hệ cùng chiều giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và lợi nhuận Họ kết luận rằng các nhà quản lý có thể cải thiện khả năng sinh lợi thông qua việc tăng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt đến mức hợp lý

Trang 29

Để thuận tiện cho việc theo dõi và so sánh kết quả các nghiên cứu có liên quan, tác giả tóm tắt ngắn gọn kết quả của một số nghiên cứu tiêu biểu trong bảng 2.1

Bảng 2.1 Bảng tóm tắt kết quả các nghiên cứu có liên quan

2004

LN hoạt động ròng

88 công ty Hoa Kỳ từ năm 2005

đến 2007 GOP - N/A N/A +

Karaduman và

cộng sự (2010)

140 công ty được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 2005-

N/A N/A N/A

-Tác giả Dữ liệu nghiên cứu

Biến phụ thuộc

Tác động của biến độc lập

Trang 30

AR INV AP CCC

Al-Debi'e (2011)

77 công ty Công nghiệp được niêm yết trên Thị trường chứng khoán Amman, Jordan trong giai

-Ukaegbu (2014)

102 doanh nghiệp có quy mô lớn (20 công ty từ Ai Cập, 20 công ty

từ Nigeria, 20 công ty từ Kenya

và 42 công ty từ Nam Phi) trong giai đoạn 2005 - 2009

-Pais và Gama

(2015)

6063 công ty vừa và nhỏ ở Bồ Đào Nha trong thời gian từ 2002

2012

-Bùi Thu Hiền và

Nguyễn Hoài Nam

(2015)

27 doanh nghiệp lớn trong ngành thực phẩm - đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2009 –

Tác giả Dữ liệu nghiên cứu

Biến phụ thuộc

Tác động của biến độc lập

Trang 31

Ghi chú:

Dấu (+): Mối quan hệ cùng chiều

Dấu (-): Mối quan hệ ngược chiều

N/A: không có mối quan hệ hoặc không nghiên cứu

2.3 Nhận xét của tác giả về các nghiên cứu trước

Nhìn chung tác động của việc quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt Nam Các nghiên cứu phần lớn chọn biến đại diện cho tỷ suất sinh lợi là lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp (GOP) Vốn luân chuyển được các tác giả đo lường bằng kỳ thu tiền (AR), số ngày hàng tồn kho (INV), kỳ trả tiền (AP), chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) Các tác giả cùng phát hiện mối quan hệ ngược chiều giữa biến độc lập đo lường vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lợi Mối quan hệ ngược chiều giữa kỳ thu tiền và khả năng sinh lợi có nghĩa là công ty có lợi nhuận cao cần ít thời gian để thu

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

Tác giả Dữ liệu nghiên cứu

Biến phụ thuộc

Tác động của biến độc lập

Trang 32

hồi các khoản nợ Mối quan hệ ngược chiều giữa kỳ trả tiền và khả năng sinh lợi cho thấy rằng công ty có lợi nhuận thấp sử dụng hết khoảng thời gian mà nhà cung cấp chấp thuận cho các khoản nợ Mối quan hệ ngược chiều giữa kỳ tồn kho và lợi nhuận hàm ý công ty có lợi nhuận cao chuyển đổi hàng tồn kho sang thành phẩm và bán cho khách hàng trong khoảng thời gian ngắn Điều này làm chắc chắn thêm vai trò của việc quản trị vốn luân chuyển đến tỷ suất sinh lợi của các công ty

Tuy nhiên có một vài nghiên cứu có kết quả ngược lại, số ngày hàng tồn kho (INV) có mối tương quan thuận chiều với tỷ suất sinh lợi (tác giả Makori và Jagongo, 2013), kỳ trả tiền (AP) có mối quan hệ cùng chiều với tỷ suất sinh lợi (tác giả Shah và Sana (2006), Dong và Su (2010), Gul và cộng sự (2013), Makori và Jagongo (2013), Bùi Đan Thanh và Nguyễn Trần Thái Hà (2017), Dương Thị Hồng Vân và Trần Phương Nga (2018)), chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) có mối quan

hệ thuận chiều với tỷ suất sinh lợi (tác giả Gill và cộng sự (2010))

Các biến kiểm soát được các tác giả trước đây đưa vào mô hình: Quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ nợ, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ tăng trưởng doanh thu, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm, tỷ số tài sản tài chính, tỷ số thanh toán hiện hành, tỷ lệ tài sản cố định bình quân trên tổng tài sản bình quân, thâm niên hoạt động, thuế thu nhập doanh nghiệp trên lợi nhuận trước thuế, tỷ lệ tài sản ngắn hạn chia tổng tài sản,… và các kết quả cho thấy có sự tác động đến tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu vẫn còn tồn tại những hạn chế như mẫu nghiên cứu trong giai đoạn ngắn, số lượng công ty đưa vào mẫu chưa nhiều, yếu tố bên ngoài chưa được xem xét nhiều như thay đổi lãi suất, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, …

Trang 33

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu:

Xác định và làm rõ vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu các mô hình nghiên cứu thực nghiệm trước

đây

Thu thập dữ liệu nghiên cứu

Phân tích dữ liệu nghiên cứu

Kết luận, kiến nghị

3.2 Dữ liệu nghiên cứu

Các dữ liệu trong bài nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp, được tổng hợp từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các công ty sản xuất và cung cấp điện niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, được công bố trên website http://www.cafef.vn, các công ty này đều ở tình trạng hoạt động bình thường, có tài chính ổn định, không bị thua lỗ dẫn đến hủy niêm yết do kiệt quệ tài chính Các công ty hoạt động trước năm 2014, có dữ liệu công bố đầy đủ từ năm 2014 đến năm

2018

Trang 34

Các biến trong bài được xác định theo công thức bảng 3.1, số liệu dùng để tính toán các biến được thu thập trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của 22 công ty sản xuất và cung cấp điện trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian 5 năm từ 2014-2018, tạo thành một bảng gồm 110 công ty – năm quan sát

3.3 Phương pháp nghiên cứu

trị trung bình, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất và độ lệch chuẩn của từng biến

3.3.2 Phân tích ma trận tương quan

Tác giả sử dụng bảng ma trận tương quan để tìm hiểu mối quan hệ giữa các biến trong mô hình

3.3.3 Phân tích hồi quy

Tác giả sử dụng phần mềm STATA để thực hiện ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính nhằm xác định mối quan hệ giữa các biến độc lập cũng như các biến kiểm soát đối với các biến phụ thuộc bằng phương pháp OLS và thực hiện kiểm định như:

- Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến giải thích thông qua hệ

số phóng đại phương sai VIF, nếu các hệ số VIF giữa các biến giải thích trong mô hình đều lớn hơn 1 và nhỏ hơn 4 thì kết luận mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến

Trang 35

- Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi: Phương sai của sai số thay đổi

sẽ làm cho các ước lượng thu được không hiệu quả, do đó tác giả tiến hành kiểm định giả thiết phương sai của sai số không đổi bằng kiểm định White với giả thiết

H0: Không có hiện tượng phương sai thay đổi

Nếu mô hình xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi, tác giả sẽ khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi bằng cách dùng ma trận ước lượng vững của hiệp phương sai sai số do White (1980) đề xuất để tính toán lại các giá trị kiểm định trên

phần mềm STATA

3.4 Mô hình nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là phân tích tác động của quản trị vốn luân chuyển đến tỷ suất sinh lợi của các công ty, do đó tác giả xây dựng các mô hình riêng lẻ để đánh giá tác động của từng yếu tố vốn luân chuyển đến tỷ suất sinh lợi

Tham khảo mô hình nghiên cứu của các tác giả Dong và Su (2010), Vural và cộng sự (2012), Pais và Gama (2015), Bùi Đan Thanh và Nguyễn Trần Thái Hà (2017) mô hình của luận văn có phương trình như sau:

3.4.1 Biến phụ thuộc là ROA

ROAit = β0 + β1CCCit + β2SIZEit + β3DEBTit + β4SGROWit + β5GDPGRt + εit

3.4.2 Biến phụ thuộc là ROE

Mô hình 1B

Trang 36

ROEit = β0 + β1ARit + β2SIZEit + β3DEBTit + β4SGROWit + β5GDPGRt + εit

Biến phụ thuộc hay biến được giải thích:

ROA: tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản

ROE: tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu

Biến độc lập hay biến giải thích:

AR: Số ngày khoản phải thu (hay kỳ thu tiền)

INV: Số ngày tồn kho (hay kỳ luân chuyển hàng tồn kho)

AP: Số ngày khoản phải trả (hay kỳ trả tiền)

CCC: Chu kỳ tiền mặt

Biến kiểm soát:

SIZE: Quy mô doanh nghiệp

DEBT: Tỷ lệ nợ

SGROW: Tốc độ tăng trưởng doanh thu

GDPGR: Tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm

β0: hệ số chặn

β1,β2, β3, β4, β5: các hệ số tương ứng với các biến trong mô hình

i: ký hiệu cho công ty,

t: ký hiệu cho năm,

ε: sai số

3.5 Mô tả các biến và cách đo lường các biến trong mô hình

Trang 37

số lợi nhuận trên doanh thu (ROS), hệ số thu nhập trên đầu tư (GOI), tuy nhiên ROA, ROE là các tiêu chí quan trọng nhất để phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vì nó phản ánh hiệu quả cuối cùng của doanh nghiệp Tác giả Pais và Gama (2015), đã dùng ROA làm biến phụ thuộc, Bùi Đan Thanh và Nguyễn Trần Thái Hà (2017) sử dụng cả ROA và ROE làm biến phụ thuộc Công thức được xác định bằng công thức sau:

3.5.2 Biến độc lập

Vốn lưu động được đo lường bằng kỳ thu tiền bình quân (AR), kỳ luân chuyển hàng tồn kho bình quân (INV), kỳ trả tiền bình quân (AP), chu kỳ luân chuyển tiền bình quân (CCC)

3.5.2.1 Số ngày khoản phải thu (AR)

Số ngày khoản phải thu (hay kỳ thu tiền) cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán chịu của công ty, kỳ thu tiền cao thì hiệu quả sử dụng vốn kém do vốn bị chiếm dụng nhiều, kỳ thu tiền thấp chứng tỏ tốc độ thu hồi vốn nhanh, công ty ít bị chiếm dụng vốn, tuy nhiên nếu tỷ số này quá thấp sẽ giảm sức cạnh tranh dẫn đến

Lợi nhuận ròngTổng tài sản bình quân

Tỷ suất sinh lợi trên tài sản =

Lợi nhuận ròngVốn chủ sở hữu bình quân

Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu =

Trang 38

giảm doanh thu Theo tác giả Dong và Su (2010), chỉ tiêu này được xác định bằng công thức sau:

3.5.2.2 Số ngày tồn kho (INV)

Số ngày tồn kho (hay kỳ luân chuyển hàng tồn kho) là một tiêu chuẩn đánh giá công ty sử dụng hàng tồn kho hiệu quả như thế nào, kỳ luân chuyển hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc vào đặc điểm ngành kinh doanh Theo tác giả Dong và

Su (2010), chỉ tiêu này được xác định bằng công thức sau:

3.5.2.3 Số ngày khoản phải trả (AP)

Số ngày khoản phải trả (kỳ trả tiền) cho biết thời gian bình quân mà công ty trả tiền cho các khoản mua chịu Kỳ trả tiền càng ngắn chứng tỏ tốc độ thanh toán tiền mua hàng càng nhanh, khả năng tài chính của công ty dồi dào Nếu chỉ tiêu này quá cao nghĩa là công ty chiếm dụng vốn nhiều, điều này sẽ tác động tiêu cực đến

uy tín của công ty Theo tác giả Dong và Su (2010), chỉ tiêu này được xác định bằng công thức sau:

3.5.2.4 Chu kỳ tiền mặt (CCC)

Chu kỳ tiền mặt là khoảng thời gian tính từ khi doanh nghiệp thực sự phải thanh toán cho hàng tồn kho cho đến khi thu được tiền mặt từ bán hàng Theo tác giả Dong và Su (2010), Pais và Gama (2015), Bùi Đan Thanh và Nguyễn Trần Thái

Hà (2017), chu kỳ tiền mặt được tính như sau:

Trang 39

3.5.3 Biến kiểm soát

3.5.3.1 Quy mô doanh nghiệp (SIZE)

Quy mô công ty càng lớn thì càng có khả năng cạnh tranh, có khả năng thương lượng với nhà cung cấp, dễ tiếp cận thị trường vốn, ngoài ra các công ty lớn thường có kênh phân phối rộng Do đó quy mô công ty càng lớn sẽ có lợi nhuận cao.Theo tác giả Vural và cộng sự (2012), Pais và Gama (2015), SIZE được tính theo công thức sau:

SIZE = Logarit tự nhiên (Tổng tài sản)

3.5.3.2 Tỷ lệ nợ (DEBT)

Tỷ lệ nợ đánh giá mức độ mà một công ty tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình bằng vốn vay và chiếm dụng vốn của các đơn vị khác Chỉ tiêu này giúp nhà đầu tư có cái nhìn khái quát về sức mạnh tài chính, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Chỉ số này ở mức thấp có nghĩa công ty sử dụng ít nợ Ngược lại chỉ số này cao cho thấy công ty sử dụng nhiều nợ Nguồn tài trợ từ nợ có thể được các doanh nghiệp tận dụng trong hoạt động kinh doanh để gia tăng khả năng sinh lời Các công

ty nên duy trì tỷ lệ nợ tối ưu để có thể tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Điểm tối ưu

lý thuyết đạt được khi hiện giá của khoản tiết kiệm thuế do vay nợ thêm vừa đủ bù trừ cho gia tăng trong hiện giá của chi phí kiệt quệ Tác giả Pais và Gama (2015) cũng đã sử dụng tỷ lệ nợ làm biến kiểm soát và tìm thấy mối tương quan nghịch với lợi nhuận, cách xác định DEBT như sau:

3.5.3.3 Tăng trưởng doanh thu (SGROW)

Chỉ tiêu này cho thấy tốc độ gia tăng doanh thu của kỳ này so với kỳ trước (tính theo phần trăm) Tác giả Pais và Gama (2015) đã tìm thấy mối tương quan thuận chiều giữa SGROW và tỷ suất sinh lợi, và ông đã đưa cách xác định SGROW như sau:

Tổng nợ bình quânTổng tài sản bình quân

Tỷ lệ nợ =

Trang 40

3.5.3.4 Tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm (GDPGR)

Tham khảo nghiên cứu của tác giả theo Garda-Teruel và Martmez-Solano (2007) trích trong Pais và Gama (2015), vì môi trường kinh tế có thể được phản ánh trong lợi nhuận của các công ty, thước đo tốc độ tăng GDP, ký hiệu là GDPGR là biến kiểm soát được đưa vào để tính đến tác động của chu kỳ kinh tế trong đầu tư vào vốn lưu động Những dữ liệu này được tham khảo từ các thông tin về tăng trưởng GDP hàng năm trên trang web https://viettimes.vn/

Bảng 3.1 Các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu

tham khảo Biến phụ thuộc

Hà (2017)

(2010)

Doanh thu năm t - Doanh thu năm t-1

Doanh thu năm t-1Tốc độ tăng trưởng doanh thu =

Lợi nhuận ròngTổng tài sản bình quânROA =

Lợi nhuận ròngVốn chủ sở hữu bình quânROE =

Khoản phải thu bình quân

Doanh thu

Ngày đăng: 04/11/2019, 00:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w