1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản trị tài chính khi hình thành thị trường điện ứng dụng trong tổng công ty điện lực tp hồ chí minh

68 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 914,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Tìm hiểu về những đơn vị tham gia thị trường điện và cơ chế vận hành thị trường điện cạnh tranh, hoạt động bán buôn và bán lẻ điện; 2 Sản phẩm tài chính được hình thành khi thị trường

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

TRƯỜNG ĐIỆN - ỨNG DỤNG TRONG TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC TP HỒ CHÍ MINH ” là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu phân tích và kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, đáng tin cậy và được công bố rộng rãi trên các Website

Tác giả

NGUYỄN THỊ KHÁNH HÀ

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Sự cần thiết của nội dung nghiên cứu 1

1.2 Ý nghĩa nghiên cứu 2

1.3 Các giai đoạn hình thành thị trường điện tại Việt Nam 3

1.3.1 Mục tiêu 3

1.3.2 Các cấp độ phát triển tại thị trường điện Việt Nam: 4

1.3.3 Những chuẩn bị của công tác tài chính của EVNHCMC trong giai đoạn hình thành thị trường bán buôn điện cạnh tranh 8

1.4 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, tiếp cận nguồn dữ liệu 9

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: 9

1.4.2 Phạm vi, phương pháp nghiên cứu 10

CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 11

2.1 Định nghĩa quản trị tài chính doanh nghiệp 11

2.2 Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp 11

2.3 Khái niệm thị trường tài chính 13

2.4 Cấu trúc thị trường tài chính 13

2.5 Vai trò của thị trường tài chính 16

2.6 Tìm hiểu các công cụ tài chính phái sinh 17

2.6.1 Hợp đồng kỳ hạn 18

2.6.2 Hợp đồng giao sau 19

2.6.3 Quyền chọn 20

2.6.4 Hoán đổi 21

2.7 Vai trò của các công cụ tài chính phái sinh 21

2.8 Tìm hiểu thị trường điện Úc 23

2.8.3 Một số kinh nghiệm thực tiễn 24

2.8.4 Hoạt động bán lẻ điện 26

2.8.5 Chiến lược kinh doanh trong thị trường điện 28

2.8.6 Các dạng hợp đồng trên thị trường Úc 31

2.8.7 Thanh toán 32

2.9 Tìm hiểu về thị trường điện Nauy 33

Trang 5

2.9.1 Các đơn vị tham gia thị trường điện tại Nauy 33

2.9.2 Các đặc điểm của thị trường điện và điều tiết điện lực tại Na Uy và khu vực Bắc Âu 34

2.9.3 Các sản phẩm tài chính mà Nasdaq Commodities cung cấp trong thị trường phái sinh gồm: 40

CHƯƠNG 3: SỰ THAY ĐỔI QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH KHI HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG ĐIỆN TẠI TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC TP HỒ CHÍ MINH 42

3.1 Giới thiệu tổng quan về Tổng công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh 42

3.1.1 Chức năng 43

3.1.2 Nhiệm vụ 43

3.1.3 Mục tiêu kinh doanh 43

3.1.4 Quá trình hình thành và phát triển 44

3.1.5 Cơ cấu tổ chức 46

3.1.6 Quản trị tài chính tại EVNHCMC 46

3.2 Giới thiệu về Thị trường điện khi hình thành 47

3.2.1 Phạm vi hoạt động phân phối điện và hoạt động kinh doanh bán lẻ điện trong các Tổng công ty điện lực theo qui định EVN 47

a) Hoạt động phân phối điện 47

b) Hoạt động kinh doanh bán lẻ điện 47

3.2.2 Vai trò chính của PC trong thị trường VWEM 47

a) Vai trò bán lẻ điện 47

b) Vai trò phân phối điện 47

3.2.3 Chức năng của PC trong thị trường VWEM 48

a) Chức năng bán lẻ điện 48

b) Chức năng phân phối điện 48

3.3 Sự thay đổi quản lý tài chính khi hình thành Thị trường điện 48

3.4 Giai đoạn chuẩn bị tại EVNHCMC hiện nay 49

3.5 So sánh tỷ trọng các yếu tố chi phí với thị trường Úc 51

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ GHI NHẬN & KIẾN NGHỊ 52

4.1 Kết quả nghiên cứu 52

4.1.1 Hoạt động kế toán sau khi hạch toán chi phí để tách bạch khâu phân phối điện và khâu bán lẻ điện, các yêu tố chi phí đang cấu thành hiện nay tại từng khâu và những kết quả ghi nhận được 52

4.1.2 Sự cần thiết quản trị rủi ro hoạt động tài chính 53

4.2 Kiến nghị: 53

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH, CÁC BẢNG

Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh 46

Hình 2.1 Tổng quan về cấu trúc Thị trường bán buôn điện cạnh tranh 5

Bảng 3.1: Báo cáo chi phí sản xuất kinh doanh điện 50

theo yếu tố từng khâu, từng cấp điện áp 50

Trang 8

TÓM TẮT

Thị trường bán buôn điện Việt Nam (VWEM), hiện nay đang tập trung vào 05 Tổng công ty Điện lực (PC) tại Việt Nam, trong đó có TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bài nghiên cứu cung cấp thông tin và dữ liệu cập nhật về tình trạng hiện tại của họ, cũng như sự chuẩn bị để vận hành hiệu quả và thực hiện tốt các vai trò của đơn vị trong VWEM

Tách bạch về tài chính là yêu cầu quan trọng và nên được thực hiện sớm nhất

cơ thể, nó sẽ tạo điều kiện cho việc tính phí phân phối và chuẩn bị cho cấp độ thị trường điện tiếp theo – Thị trường bán lẻ cạnh tranh Để thực hiện được, cần phải phân bổ các hoạt động kinh doanh theo từng lĩnh vực

Một số nội dung chi tiết hơn của nghiên cứu này được nghiên cứu trong báo cáo này, thông qua tìm hiểu thị trường điện ở Úc, Na Uy và các nghiên cứu ban đầu tại Việt Nam theo yêu cầu của VWEM

(1) Tìm hiểu về những đơn vị tham gia thị trường điện và cơ chế vận hành thị trường điện cạnh tranh, hoạt động bán buôn và bán lẻ điện;

(2) Sản phẩm tài chính được hình thành khi thị trường điện được hình thành; (3) Do không yêu cầu tách (giai đoạn phân phối và giai đoạn bán lẻ), công ty điện lực cần tách các chức năng riêng biệt của công việc tài chính;

Trang 9

ABSTRACT

Vietnam electricity wholesale market (VWEM), currently, focuses on the Electricity of Vietnam (PC) in Vietnam, including HO CHI MINH CITY ELECTRIC JOINT STOCK COMPANY The research panel provides up-to-date information and data on their current status, as well as the availability of effective operations and their performance after VWEM is implemented

Accounting separation is an important requirement and should be fully implemented as soon as possible as it will facilitate network charging and the preparations for the next stage of market development - the Vietnam Retail Energy Market (VREM)

Some of the more detailed contents of this study are studied in this report, through understanding the electricity market in Australia, Norway and early studies

in Vietnam at VWEM's request

(1) Learn about the electricity market participants and the competitive electricity market operation mechanism, wholesale and retail electricity activities;

(2) Financial products are formed when the electricity market is formed; (3) Since the separation is not required (distribution stage and retail stage), the power company needs to separate the separate functions of financial work;

(4) Determining components of electricity retail and density;

(5) Financial products when establishing electricity market and financial management

Keywords:

Vietnam electricity wholesale market (VWEM), Electricity distribution cost, Electricity retail cost

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Sự cần thiết của nội dung nghiên cứu

Ngày tháng 10 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã triển khai công văn số 63/2013/QĐ-TTg quy định về kế hoạch triển khai các trình tự chuẩn bị cho sự ra đời và phát triển từng giai đoạn của thị trường điện lực tại Việt Nam

Theo đó, thị trường điện tại Việt Nam được ra đời và phát triển dự kiến qua

03 giai đoạn: Thị trường phát triện cạnh tranh (đến hết năm 2014); thị trường bán buôn điện cạnh tranh (thí điểm từ năm 2015 - 2016 và hoàn chỉnh từ năm 2017 - 2021) và thị trường bán lẻ điện cạnh tranh thí điểm (từ năm 2021 – 2023) và thị trường bán lẻ điện cạnh tranh chính thức (sau năm 2023)

Trong đó, để hình thành thị trường bán buôn điện cạnh tranh, tại giai đoạn thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm, các đơn vị tham gia như đơn vị điều độ

hệ thống điện quốc gia, đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện phải là đơn vị độc lập, tách bách quyền lợi với các đơn vị tham gia thị trường điện; Tổng công ty phát điện, các nhà máy điện thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (trừ các nhà máy điện lớn do Nhà nước độc quyền quản lý) phải tách thành đơn vị phát điện độc lập, không có chung lợi ích với đơn vị bán buôn điện, đơn vị truyền tải điện, đơn vị điều

độ hệ thống điện quốc gia và đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện lực; tổng công suất đặt của một đơn vị phát điện không vượt quá 25% tổng công suất đặt của các đơn vị phát điện tham gia thị trường điện, v.v…

Ngay từ giai đoạn thị trường bán buôn điện cạnh tranh, các công ty điện lực trực thuộc Tổng công ty điện lực phải tổ chức thành đơn vị hạch toán độc lập, bước đầu tiên cho sự chuẩn bị là phải thực hiện tách bạch về tổ chức bộ máy và hạch toán của các khâu phối điện và bán lẻ điện

Tác giải nghiên cứu các vần đề trên để cùng với ngành điện có những bước chuẩn bị và đóng góp cho trong quá trình thực hiện theo đúng chủ trương và chính sách của Chính phủ đã ban hành Bản thân tự chuẩn bị cho mình những kiến thức cần thiết theo theo kịp sự phát triển của ngành, nghề và mong muốn có những đóng góp đóng góp thiết thực cho lĩnh vực đang công tác

Trang 11

1.2 Ý nghĩa nghiên cứu

Việc tách bạch các hoạt động kinh doanh có thể được thực hiện theo nhiều cấp độ khác nhau – từ cấp độ tách bạch về tài chính, trong đó đơn thuần chỉ tách bạch về sổ sách tài chính và ít (hoặc không có) ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức; đến cấp độ tách bạch về mặt sở hữu – trong đó chủ sở hữu của các hoạt động kinh doanh mang tính cạnh tranh và hoạt động cung cấp dịch vụ là khác nhau Yêu cầu về tách bạch hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào mức độ cạnh tranh Trong trường hợp của các PC, mức độ cạnh tranh bán lẻ là nhân tố quan trọng để xem xét vì PC nắm giữ chức năng phân phối điện và quản lý số liệu đo đếm

Thị trường VWEM dẫn đến tác động tương đối nhỏ về cạnh tranh bán lẻ giữa các PC (vì cạnh tranh bán lẻ chủ yếu giữa các khách hàng đấu nối trực tiếp vào lưới truyền tải điện trực tiếp tham gia VWEM) Do vậy việc tách bạch hoàn toàn về pháp lý và chủ sở hữu là chưa cần thiết trong giai đoạn này (và không nhất thiết phải tách độc lập về mặt pháp lý trong bất kỳ giai đoạn nào) Tuy nhiên, có một số yếu tố pháp lý – từ các quy định của Chính phủ và dự thảo quy định thị trường bán buôn điện – quy định về việc thực hiện tách bạch này và cần được xem xét đến Kết luận là các yêu cầu về mặt pháp lý có thể đáp ứng được khi:

• Thực hiện tách bạch về mặt tài chính (tài khoản);

• Sắp xếp các nhóm nhân sự riêng cho các hoạt động kinh doanh khách nhau như có xét đến cơ cấu tổ chức hiện tại;

• Tách bạch các dữ liệu bảo mật để đảm bảo các dữ liệu này chỉ được khai thác bởi nhân viên thuộc các mảng kinh doanh có liên quan

Tách bạch về tài chính là yêu cầu quan trọng và nên được thực hiện sớm nhất

cơ thể, nó sẽ tạo điều kiện cho việc tính phí phân phối và chuẩn bị cho cấp độ thị trường điện tiếp theo – Thị trường bán lẻ cạnh tranh Để thực hiện được, cần phải phân bổ các hoạt động kinh doanh theo từng lĩnh vực EVN đã có một số hướng dẫn

về vấn đề này tại văn bản 414/EVN-TCKT “Hướng dẫn tách bạch chi phí phân phối điện và bán lẻ diện trong Tổng công ty điện lực” Một số nội dung cơ bản về việc này được nghiên cứu thông qua việc tìm hiểu thị trường điện tại Úc, Nauy và các nghiên cứu ban đầu ở Việt Nam theo yêu cầu của VWEM cần để làm rõ mục tiêu nghiên cứu:

Trang 12

(1) Tìm hiểu về các thành phần tham gia thị trường điện và cơ chế hoạt động thị trường điện cạnh tranh, hoạt động bán buôn và bán lẻ điện;

(2) Sự xuất hiện của các sản phẩm tài chính hình thành khi hình thành thị trường điện và vấn đề quản trị tài chính

(3) Xác định các thành phần chi phí phân phối và bán lẻ điện, tỷ trọng giữa chi phí phân phối và bán lẻ so với các nước;

(4) Các công ty điện lực cần/đã phải chuẩn bị như thế nào về công tác tài chính; kiến nghị

1.3 Các giai đoạn hình thành thị trường điện tại Việt Nam

2013 phê duyệt lộ trình, các điều kiện và cơ cấu ngành điện để hình thành và phát triển các cấp độ thị trường điện lực tại Việt Nam (thay thế Quyết định số 26/2006/QĐ-TTg ngày 26 tháng 01 năm 2006)

- Công khai, công bằng, cạnh tranh lành mạnh, có sự điều tiết của Nhà nước

để nâng cao hiệu quả hoạt động điện lực

- Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đơn vị điện lực và khách hàng

Trang 13

1.3.2 Các cấp độ phát triển tại thị trường điện Việt Nam:

a) Giai đoạn 1: Thị trường phát điện cạnh tranh (VCGM) thực hiện thí điểm

vào năm 2011-2012 và chính thức năm 2012-2015

Sau hơn 6 năm đi vào hoạt động chính thức, thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam đã thu được những thành công nhất định như sau:

- Hệ thống điện đã được vận hành an toàn tin cậy, cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế xã hội, không có sự cố có nguyên nhân từ việc vận hành thị trường điện đảm bảo cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia;

- Việc vận hành thị trường phát điện cạnh tranh đã tăng tính minh bạch, công bằng trong việc huy động các nguồn điện, thông qua bản chào giá của nhà máy để đưa ra lịch huy động, các nhà máy có giá chào thấp sẽ được huy động trước sau đó đến các nhà máy có giá chào cao hơn cho đến khi đáp ứng được nhu cầu của phụ tải Các thông tin về kế hoạch vận hành thị trường điện năm/tháng/tuần, vận hành thị trường điện thời gian thực, các can thiệp thị trường, tình hình vận hành hệ thống điện đã được công bố đầy đủ cho các thành viên tham gia thị trường điện trên trang thông tin điện tử thị trường điện theo đúng quy định, điều này cũng góp phần giúp các đơn vị hiểu rõ hơn nguyên tắc trong công tác vận hành, tối ưu toàn hệ thống;

- Các đơn vị phát điện đã nhận thức được tầm quan trọng, chủ động hơn trong công tác vận hành, rút ngắn thời gian sửa chữa bảo dưỡng, cắt giảm chi phí vận hành, chủ động trong chào giá nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của đơn vị, góp phần nâng cao hiệu quả chung của toàn hệ thống Cơ chế thanh toán mới của thị trường điện cũng góp phần làm cho các đơn vị phát điện có xu hướng tuân thủ chặt chẽ mệnh lệnh điều độ hơn trước đây

Tuy nhiên, sau hơn 06 năm vận hành chính thức thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam vẫn đang còn các tồn tại, hạn chế sau:

- Tỷ lệ các nhà máy trực tiếp tham gia thị trường điện tăng nhanh, tuy nhiên thị phần các nhà máy điện gián tiếp tham gia thị trường điện vẫn còn cao Khoảng gần 50% công suất lắp đặt không tham gia thị trường và không tham gia xác định giá thị trường Do vậy, giá thị trường chưa phản ánh chính xác chi phí biên của toàn

Trang 14

hệ thống điện

- Hạ tầng công nghệ thông tin hiện nay mới ở mức đáp ứng yêu cầu, hệ thống SCADA/EMS đang từng bước hoàn thiện, hệ thống phần mềm mô phỏng thị trường điện chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu về vận hành thị trường điện

- Tính minh bạch của thị trường còn một số hạn chế: Tính độc lập của Đơn

vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện còn chưa đảm bảo vì hiện vẫn là đơn vị hạch toán phụ thuộc EVN;

b) Giai đoạn 2: Thị trường bán buôn điện cạnh tranh (VWEM) thực hiện thí

điểm năm 2015-2017 và chính thức năm 2017-2021

Theo Thiết kế chi tiết được phê duyệt tại Quyết định 8266/QĐ-BCT ngày 10 tháng 8 năm 2015 của Bộ Công Thương, mô hình Thị trường bán buôn điện cạnh tranh được minh họa trong hình vẽ sau:

Hình 2.1 Tổng quan về cấu trúc Thị trường bán buôn điện cạnh tranh

(Nguồn tài liệu nghiên cứu về thị trường điện của Bộ công thương)

Các cơ chế vận hành, giao dịch trong Thị trường bán buôn điện cạnh tranh bao gồm:

- Quy định về các đơn vị thành viên tham gia thị trường: Bên bán điện, bên

mua điện và các đơn vị cung cấp dịch vụ phụ trợ;

- Thị trường giao ngay: Áp dụng mô hình thị trường tập trung toàn phần

Trang 15

(Gross Pool) với các đặc điểm chính sau:

+ Cơ chế chào giá kết hợp (hybrid) giữa mô hình CBP và PBP, tương tự như Thị trường phát điện cạnh tranh; sau đó chuyển dần sang mô hình chào giá tự do (PBP) khi đáp ứng đủ điều kiện;

+ Lập lịch huy động, điều độ có xét đến các ràng buộc hệ thống;

+ Đồng tối ưu giữa điện năng và dịch vụ dự phòng;

+ Định giá thị trường theo vùng/nút khi đáp ứng đủ điều kiện hạ tầng;

+ Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện thực hiện tính toán, thanh toán trên thị trường giao ngay;

+ Vận hành thị trường công khai, minh bạch; đảm bảo công bố thông tin thị trường đầy đủ

- Các cơ chế hợp đồng:

+ Hợp đồng song phương: Bên bán điện và bên mua điện đàm phán ký kết

hợp đồng song phương, giá và sản lượng hợp đồng được thống nhất thông qua đàm phán;

+ Hợp đồng vesting (vesting contract): Phân bổ và chuyển tiếp các hợp đồng

CfD đã ký giữa các đơn vị phát điện với EPTC sang cho các Tổng Công ty/Công ty điện lực kể từ khi bắt đầu vận hành Thị trường bán buôn điện cạnh tranh hoàn chỉnh, nhằm đảm bảo cả sản lượng phát cần bán và lượng tiêu thụ cần mua đều được quản lý rủi ro;

+ Cơ chế giao dịch hợp đồng tập trung: Giúp các đơn vị phát điện và đơn vị mua buôn điện (các Tổng công ty Điện lực, khách hàng lớn tham gia Thị trường bán buôn điện cạnh tranh) tham gia giao dịch hợp đồng tập trung

- Cơ chế mua và huy động các dịch vụ phụ trợ: Bao gồm các dịch vụ phụ trợ

điều chỉnh tần số, dịch vụ phụ trợ điều khiển lưới điện và dịch vụ khởi động đen

- Cơ chế thanh toán trong Thị trường bán buôn điện cạnh tranh: vai trò của

Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, tính toán, thanh toán điện năng

Trang 16

trong thị trường giao ngay, thanh toán hợp đồng CfD, thanh toán các dịch vụ phụ trợ

- Các cơ chế khác: Cơ chế bù chéo giữa các Tổng công ty Điện lực, công bố

thông tin thị trường…

c) Giai đoạn 3: Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (VREM) thực hiện thí

điểm năm 2021-2023 và chính thức từ 2023

VREM là cấp độ phát triển cao nhất của thị trường điện Theo lộ trình, thị trường bán lẻ điện tại Việt Nam sẽ vận hành thí điểm từ 2021 và chính thức từ

2023 Một số nguyên tắc cơ bản của thị trường bán lẻ như sau:

- Thị trường bán lẻ điện sẽ trao quyền lựa chọn cho khách hàng sử dụng điện cuối cùng, cũng như tạo động lực để các đơn vị bán lẻ điện cạnh tranh với nhau để tìm kiếm và bán điện cho các khách hàng sử dụng điện Các khách hàng sử dụng điện sẽ được phép lựa chọn đơn vị cung cấp điện (thay vì chỉ mua điện từ 01 đơn vị bán lẻ điện như hiện tại)

- Trong thị trường bán lẻ điện, các đơn vị bán lẻ điện sẽ mua điện trên thị trường bán buôn điện cạnh tranh từ các đơn vị phát điện (thông qua thị trường giao ngay và hợp đồng song phương) để bán lại cho các khách hàng sử dụng điện cuối cùng Điểm khác biệt lớn nhất là sẽ không còn tình trạng độc quyền bán lẻ điện trong 01 khu vực địa lý nhất định như hiện nay (mỗi khu vực địa lý chỉ có 01 đơn vị bán lẻ điện duy nhất) Thay vào đó, tại mỗi khu vực, nhiều đơn vị bán lẻ điện sẽ phải cạnh tranh với nhau để giành quyền bán điện cho khách hàng; qua đó khách hàng sử dụng điện có thể lựa chọn đơn vị bán lẻ điện với mức giá và chất lượng dịch vụ phù hợp, đáp ứng đúng nhu cầu

- Đơn vị truyền tải điện, đơn vị phân phối điện cung cấp dịch vụ truyền tải điện và phân phối điện (đây là các dịch vụ mang tính độc quyền tự nhiên trong hệ thống điện, nhằm đảm bảo truyền tải và phân phối điện năng từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ) Phí truyền tải và phân phối sẽ do nhà nước quy định và áp dụng bình đẳng cho tất cả các đơn vị bán lẻ điện;

Thị trường bán lẻ sẽ tác động lớn đến các Tổng công ty Điện lực hiện nay do phải chia tách hoàn toàn về tổ chức, tài sản, nhân sự giữa khâu phân phối và khâu

Trang 17

bán lẻ:

- Khâu phân phối: sở hữu và vận hành toàn bộ lưới điện (kể cả hệ thống đo đếm) Phân phối điện là hoạt động độc quyền tự nhiên, phí phân phối sẽ bị điều tiết bởi nhà nước Phí phân phối sẽ áp dụng bình đẳng cho tất cả các đơn vị bán lẻ có nhu cầu và được thu hồi từ các đơn vị bán lẻ

- Khâu bán lẻ: không sở hữu lưới điện, chỉ đơn thuần mua điện từ thị trường

và bán lẻ điện lại cho khách hàng Công ty bán lẻ sẽ có quyền điều chỉnh giá bán lẻ điện để bảo đảm có lợi nhuận và cạnh tranh với các đơn vị khác

1.3.3 Những chuẩn bị của công tác tài chính của EVNHCMC trong giai đoạn hình thành thị trường bán buôn điện cạnh tranh

a) Tách bạch chi phí các khâu bán lẻ điện và phân phối điện tác Tổng công

ty điện lực:

EVNHCMC cần thực hiện tách bạch nhiều chức năng trong VWEM, bao gồm tách bạch: chi phí khâu bán lẻ điện, khâu phân phối điện (trong đó bao gồm khâu thu thập và quản lý số liệu đo đếm điện năng)

Thực hiện theo yêu cầu của Tập đoàn Điện lực Việt nam về việc “hướng dẫn tách bạch chi phí khâu phân phối và khâu bán lẻ điện trong tổng công ty Điện lực”, hiện nay công tác tài chính của EVNHCM đã hoàn tất việc tách bạch hạch toán chi phí khâu phân phối và khâu bán lẻ để chuẩn bị cho công tác tách bạch về mặt tổ chức

b) Yêu cầu khác:

Bên cạnh đó công tác tách bạch chi phí để quản trị, EVNHCMC cần xác định một số vai trò mới, chẳng hạn như: quản lý rủi ro, đàm phán hợp đồng, tham gia thị trường giao ngay, tính toán chi phí lưới điện và tuân thủ quy định về tách bạch hoạt động kinh doanh Các nhiệm vụ khác (như: dự báo phụ tải, thanh toán…) cần được cải tiến sâu rộng và bố trí nhân sự, thành lập các bộ phận tương ứng nhiệm vụ

Tuy nhiên, quá trình chuẩn bị cho việc đảm nhận các vai trò trên dường như tương đối hạn chế trong giai đoạn này vì các Tổng công ty nói chung và EVNHCMC nói riêng đều đợi chỉ đạo từ EVN

Trang 18

1.4 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, tiếp cận nguồn dữ liệu 1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Thị trường điện khi hình thành tại Tổng công ty Điện lực Tp Hồ Chí Minh và đặc trưng của ngành điện là:

Ngành điện là một trong những ngành quan trọng nhất của bất cứ quốc gia nào vì vấn đề an ninh năng lượng, an ninh quốc phòng Do tính chất quan trọng đó, ngành điện Việt Nam vẫn đang là một ngành độc quyền và chịu sự quản lý điều hành trực tiếp của Nhà nước

Ngành điện có mối liên hệ chặt chẽ với tất cả các ngành sản xuất khác Điện

là một trong những đầu vào của tất cả các ngành sản xuất lớn nhỏ, góp phần đáng

kể vào việc hình thành giá thành sản phẩm trong xã hội Mặt khác, những sai sót, chất lượng kém của ngành điện không chỉ gây tác động xấu cho ngành mà còn gây nhiều hậu quả không thể lường trước cho toàn xã hội Do đó, yêu cầu đặt ra đối với ngành điện là phải đảm bảo cung cấp điện ổn định, an toàn, liên tục, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh quốc phòng

Sản phẩm của ngành điện là một loại sản phẩm đặc biệt không thể sản xuất

dư thừa, tồn kho, cất trữ dự phòng, đồng thời cũng không thể chuyên chở và phân phối như những hàng hóa thông thường Điện là một sản phẩm có tính hai mặt, ngoài tính năng sử dụng rất hữu hiệu phục vụ cho đời sống hàng ngày, nó còn là một sản phẩm đặc biệt nguy hiểm gây ảnh hưởng đến tính mạng con người Hoạt động của ngành điện là một chu trình khép kín, tuân theo những nguyên tắc nhất định từ khâu sản xuất cho đến nơi tiêu thụ

Nhu cầu về điện không ổn định, thay đổi tùy theo mùa (mùa lạnh, mùa nóng, mùa mưa, ), thay đổi tuỳ theo những biến cố xảy ra trong đời sống xã hội (mùa lễ, Tết, ), và tốc độ phát triển kinh tế – xã hội Nhìn chung, nhu cầu về sử dụng điện tăng nhanh theo từng năm do các nguyên nhân: đời sống xã hội ngày càng nâng cao, các trang thiết bị điện trong gia đình ngày càng nhiều hơn, xuất hiện các khu dân cư

- đô thị mới, khu công nghiệp, tăng dân số,

Trang 19

Ngành điện là một trong những ngành thu hút lực lượng lao động cao do công việc ổn định, tuy nhiên, thu nhập còn thấp so với mặt bằng chung của các doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh các lĩnh vực khác như xăng, dầu, viễn thông…

Mọi hoạt động trong ngành điện có thể quy về một số nhóm công việc được phân công rõ ràng, nhất là đối với những công việc trực tiếp tiếp xúc với hệ thống điện, trên cơ sở đó có thể thực hiện bảng mô tả phân tích công việc để chuẩn hóa công việc một cách cụ thể Việc quản trị sẽ chú trọng hướng nhân viên thực hiện công việc theo bảng mô tả công việc và các quy trình, quy định đã ban hành để tránh sự nhầm lẫn và những sơ suất đưa đến sự cố ảnh huởng đến tính mạng con người, tính an ninh và chính trị xã hội

1.4.2 Phạm vi, phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lĩnh vực trong quản trị tài chính dựa trên sự nghiên cứu quá trình hình thành thị trường điện ở các nước và các văn bản, chỉ đạo của các cấp tại Việt Nam

- Sử dụng phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh để làm rõ sự thay đổi trong

công tác quản trị tài chính khi thị trường điện hình thành tại Việt Nam, áp dụng trong Tổng công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh

- Tiếp cận số liệu tài chính năm 2018 của EVNHCMC

Trang 20

CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

THỰC NGHIỆM

2.1 Định nghĩa quản trị tài chính doanh nghiệp

Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp, đó là tối đa hoá giá trị cho chủ doanh nghiệp hay là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

Quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm các hoạt động liên quan đến đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản theo mục tiêu chung của công ty Vì vậy, chức năng quyết định của quản trị tài chính có thể chia thành ba nhóm: quyết định đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản, trong đó quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất trong ba quyết định căn bản theo mục tiêu tạo giá trị cho các cổ đông

Như vậy, “Quản trị tài chính doanh nghiệp là các hoạt động nhằm phối trí

các dòng tiền tệ trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Quản trị tài chính bao gồm các hoạt động làm cho luồng tiền tệ của công ty phù hợp trực tiếp với các kế hoạch.”

2.2 Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp

Quản trị tài chính là sự tác động của nhà quản trị đến các hoạt động tài chính trong doanh nghiệp Trong các quyết định của doanh nghiệp, vấn đề cần được nhà quản trị tài chính quan tâm giải quyết không chỉ là lợi ích của cổ đông và nhà quản

lý mà còn cả lợi ích của nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và Chính phủ Đó là nhóm người có nhu cầu tiềm năng về các dòng tiền của doanh nghiệp Do vậy, nhà quản trị tài chính, mặc dù có trách nhiệm nặng nề về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp vẫn phải lưu ý đến sự nhìn nhận, đánh giá của người ngoài doanh nghiệp như cổ đông, chủ nợ, khách hàng, Nhà nước…

Quản trị tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của doanh nghiệp Quản trị tài chính tốt có thể khắc phục những khiếm khuyết trong các lĩnh vực khác Một quyết định tài chính không được cân nhắc, hoạch định

Trang 21

kĩ lưỡng có thể gây nên những tổn thất lớn cho doanh nghiệp và cho nền kinh tế Hơn nữa, do doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường nhất định nên các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Bởi vậy, quản trị tài chính doanh nghiệp tốt có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính quốc gia

Quản trị tài chính luôn giữ một vai trò trọng yếu trong hoạt động quản lý doanh nghiệp Quản trị tài chính quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, quản trị tài chính doanh nghiệp giữ những vai trò chủ yếu sau:

- Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các

nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp cũng như cho đầu tư phát triển Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ và tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp huy động nguồn vốn từ bên trong và bên ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã nảy sinh nhiều hình thức mới cho phép các doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài Do vậy, vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp ngày càng quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp

- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả: Quản trị tài chính doanh nghiệp

đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án từ đó góp phần chọn ra dự

án đầu tư tối ưu Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp có thể nắm bắt được các cơ hội kinh doanh Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp, cùng với việc sử dụng các hình thức thưởng, phạt vật chất hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy cán bộ công nhân viên

Trang 22

gắn liền với doanh nghiệp từ đó nâng cao năng suất lao động, góp phần cải tiến sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn

- Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Thông qua các tình hình tài chính và việc thực hiện các chỉ tiêu tài

chính, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tại vướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh

2.3 Khái niệm thị trường tài chính

Thị trường tài chính là nơi diễn ra các giao dịch mua, bán các loại tích sản tài chính hay các công cụ vốn hoặc vốn

2.4 Cấu trúc thị trường tài chính

2.4.1 Căn cứ theo thời hạn thanh toán của các công cụ tài chính

Theo cách phân chia này, thị trường tài chính được cấu trúc bởi thị trường tiền tệ và thị trường vốn

a) Thị trường tiền tệ

Thị trường tiền tệ là thị trường mua và bán các chứng khoán nhà nước và chứng khoán công ty có thời gian đáo hạn dưới một năm Thị trường tiền tệ bao gồm 4 thị trường bộ phận chủ yếu: thị trường tín dụng ngắn hạn; thị trường hối đoái (vàng và ngoại tệ); thị trường liên ngân hàng; thị trường mở

- Thị trường tín dụng ngắn hạn: là một cơ chế diễn ra các hoạt động giao dịch giữa các ngân hàng thương mại với công chúng và các doanh nghiệp Chủ thể của thị trường tín dụng ngắn hạn là các trung gian tài chính, các trung gian tài chính là nơi cung cấp cho doanh nghiệp những khoản tín dụng ngắn hạn dưới các hình thức cho vay, chiết khấu, cầm cố Và là nơi để doanh nghiệp gửi vốn tạm thời nhàn rỗi, cung cấp các dịch vụ thanh toán, ngân quĩ cho doanh nghiệp

- Thị trường hối đoái chuyên giao dịch, trao đổi các loại ngoại tệ Chủ thể của thị trường hối đoái là người được phép kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc (trong đó chủ yếu là ngân hàng thương mại), các doanh nghiệp tham gia giao dịch hối đoái, ngân hàng trung ương tham gia thị trường để thực hiện chính sách tiền tệ và các cá

Trang 23

nhân được phép giao dịch hối đoái có nhu cầu Các doanh nghiệp có thể mở tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại ngân hàng thương mại để thực hiện giao dịch thanh toán, mua bán ngoại tệ phục vụ mục đích kinh doanh

- Thị trường liên ngân hàng: là một cơ chế diễn ra các giao dịch giữa các ngân hàng thương mại với nhau và ngân hàng nhà nước Tại thị trường này hình thành lãi suất cơ bản của các thị trường tài chính: lãi suất cho vay của thị trường liên ngân hàng

- Thị trường mở: là thị trường mua bán các loại chứng khoán nhà nước ngắn

hạn như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, nhằm điều tiết cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế Tức thông qua thị trường mở, ngân hàng Trung Ương có thể làm cho“tiền dự trữ” của các ngân hàng thương mại tăng lên hoặc giảm xuống, từ đó tác động đến khả năng cung cấp tín dụng của ngân hàng thương mại làm ảnh hưởng đến khối lượng tiền tệ của nền kinh tế

b) Thị trường vốn

Thị trường vốn là thị trường trong đó bao gồm các giao dịch mua bán các công cụ tài chính có thời hạn thanh toán trên một năm Thị trường vốn hoạt động với các công cụ thuộc về vốn chủ và vốn vay dài hạn có thời gian đáo hạn trên một năm: trái phiếu, cổ phiếu

Thị trường vốn có 4 thị trường bộ phận là: thị trường chứng khoán; thị trường tín dụng trung và dài hạn, thị trường cho thuê tài chính và thị trường cầm cố bất động sản

- Thị trường cầm cố bất động sản là một cơ chế chuyên cung cấp những khoản tài trợ dài hạn được đảm bảo bằng việc cầm cố, thế chấp, các loại giấy chứng nhận quyền sở hữu hay các loại bất động sản

- Thị trường chứng khoán là một cơ chế chuyên giao dịch các loại chứng khoán, đó là thị trường sử dụng các loại thông tin dữ liệu có liên quan đến mức sinh lời tiềm năng và coi đó như một chuẩn mực đầu tư Các loại công cụ vốn, trái khoán, được sử dụng giao dịch trên thị trường chứng khoán bao gồm cổ phiểu, trái phiếu công ty, công trái quốc gia và nhiều loại giấy tờ có giá khác

Trang 24

- Thị trường tín dụng trung và dài hạn: là thị trường diễn ra các giao dịch tín dụng nhằm tài trợ cho các doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh khác thuê dài hạn hay thuê mua trả góp các loại máy móc thiết bị hay các loại bất động sản

- Thị trường cho thuê tài chính: là thị trường diễn ra các hoạt động tín dụng trung hạn và dài hạn thông qua việc cho thuê các máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các bất động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên thuê và bên cho thuê

2.4.2 Căn cứ trên phương diện cơ chế giao dịch

a) Thị trường sơ cấp

Thị trường sơ cấp là thị trường mới phát hành, trong đó những công cụ tài chính chỉ mới bán ra lần đầu Ở đây, nguồn vốn thông qua việc bán các chứng khoán mới, dịch chuyển từ người tiết kiệm đến những người đầu tư

Thị trường sơ cấp là loại thị trường không có địa điểm cố định, người bán công cụ tài chính cho người đầu tư hoặc trực tiếp tại phòng của tổ chức huy động vốn, hoặc thông qua tổ chức đại lý Đối với nhà đầu tư, thị trường sơ cấp là nơi để thực hiện đầu tư vốn vào các công cụ tài chính Do các công cụ tài chính được bán trên thị trường sơ cấp thường không thông qua đấu giá nên việc định giá công cụ tài chính lúc bán ra hết sức quan trọng Riêng đối với việc bán cổ phiếu ra lần đầu, việc định giá để bán có hai phương thức chính, đó là:

- Phương thức định giá cố định: người bảo lãnh phát hành và người phát hành thoả thuận ấn định giá sao cho bảo đảm quyền lợi của người phát hành, lợi ích của người bảo lãnh phát hành

- Phương thức lập sổ (book building): người bảo lãnh phát hành đề ra một phương án sơ bộ và tổ chức thăm dò các nhà đầu tư tiềm tàng về số lượng, giá cả cổ phiếu mà họ có thể đặt mua, sau đó thống kê lại số lượng phát với những mức giá khác nhau để cùng người phát hành chọn ra những phương án tối ưu

b) Thị trường thứ cấp

Thị trường thứ cấp là thị trường tài chính mà các công cụ tài chính đã mua bán lần đầu trên thị trường sơ cấp được mua đi bán lại Trên thị trường thứ cấp, các

Trang 25

chứng khoán này được mua và bán Các giao dịch của các chứng khoán trên thị trường thứ cấp không làm tăng thêm vốn để tài trợ cho hoạt động đầu tư

Thị trường thứ cấp có hai chức năng chủ yếu:

- Tạo tính "lỏng" cho các công cụ tài chính ở thị trường sơ cấp, vì vậy làm cho các công cụ tài chính trên thị trường sơ cấp có sức hấp dẫn hơn Không có thị trường thứ cấp thì hoạt động của thị trường sơ cấp sẽ khó khăn, hạn chế

- Xác định giá các công cụ tài chính đã được bán trên thị trường sơ cấp Giá

ở thị trường thứ cấp được hình thành chủ yếu dựa theo quan hệ cung - cầu và thông qua đấu giá hoặc thương lượng giá trên thị trường một cách công khai hóa

Ngoài ra, trong thị trường tài chính phải kể đến các tổ chức tham gia giao dịch như các trung gian tài chính, các tổ chức tiền gởi, công ty bảo hiểm, các trung gian tài chính khác

2.5 Vai trò của thị trường tài chính

Thị trường tài chính trong nền kinh tế là nơi phân bổ vốn tiết kiệm một cách hiệu quả cho người sử dụng cuối cùng Tính hiệu quả là yếu tố đưa người đầu tư cuối cùng và người tiết kiệm cuối cùng gặp nhau với chi phí thấp nhất và sự thuận lợi nhất có thể

Thị trường tài chính không phải là một không gian vật lý mà đó là một cơ chế đưa tiền tiết kiệm đến với người đầu tư cuối cùng Chúng ta có thể thấy được vị trí thống trị của các tổ chức tài chính trong việc dịch chuyển dòng vốn trong nền kinh tế Thị trường thứ cấp, trung gian tài chính và môi giới tài chính là những tổ chức thúc đẩy sự lưu thông của các dòng vốn Do đó, thị trường tài chính có vai trò quan trọng đối với tất cả các chủ thể tham gia thị trường tài chính:

- Đối với cá nhân: giúp các cá nhân có những cơ hội đầu tư những khoản tiền nhàn rỗi; tạo điều kiện cho các cá nhân có thể luân chuyển vốn đầu tư dễ dàng vì thị trường tài chính sẽ tạo ra tính thanh khoản cho cả các công cụ vốn và các công cụ nợ; cho phép các cá nhân đa dạng hóa đầu tư, phân tán rủi ro

- Đối với các doanh nghiệp: tạo điều kiện cho doanh nghiệp tạo vốn và tăng vốn; cho phéo doanh nghiệp xác định giá trị liên tục các tài sản của nó qua sự đánh

Trang 26

giá của thị trường Từ đó thúc đẩy công ty không ngừng hoàn thiện các phương thức kinh doanh để đạt hiệu quả cao hơn

- Đối với Nhà nước: giúp Nhà nước huy động vốn để tài trợ cho các dự án đầu tư của Nhà nước trong thời kì thiếu vốn đầu tư; tạo điều kiện cho Nhà nước thực hiện chính sách tài chính-tiền tệ thông qua việc phát hành trái phiếu hay các công cụ nợ khác để điều chỉnh khối lượng tiền trong lưu thông

- Đối với nền kinh tế: thị trường tài chính đa dạng hóa phương thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho nền kinh tế, qua đó sẽ thu hút những công nghệ mới cho nền kinh tế; điều hòa lãi suất tài trợ cho nền kinh tế thông qua cơ chế cạnh tranh giữa các phương thức huy động vốn; giữ vai trò như một loại cơ sở hạ tầng về mặt tài chính của nền kinh tế, có tác dụng hỗ trợ sự phát triển thông qua cơ chế thu hút vốn, định hướng, điều hòa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu hay từ nơi sử dụng vốn có hiệu quả thấp sang nơi có hiệu quả sử dụng cao

2.6 Tìm hiểu các công cụ tài chính phái sinh

Công cụ tài chính phái sinh là những công cụ được hình thành trên nền những công cụ tài chính đã có nhằm phục vụ các yêu cầu khác nhau như chia sẻ rủi ro, bảo vệ thu nhập hoặc tạo ra thu nhập Giá trị thực của công cụ phái sinh hình thành từ vài công

cụ cơ sở khác nhau, như tỷ giá hối đoái, giá trị cổ phiếu, giá trị trái phiếu, các chứng khoán, lãi suất,… Công cụ tài chính phái sinh ra đời ban đầu nhằm tối thiểu hoặc xóa

bỏ hoàn toàn rủi ro, ứng dụng cho nhiều nhất cho hợp đồng kỳ hạn (forward contracts), hợp đồng tương lai (future contracts) Các công cụ trên còn được kết hợp với nhau, kết hợp những khoản vay/ những loại chứng khoán phổ thông

Tuy mới xuất hiện lần đầu tiên nhằm mục đích là 01 công cụ phòng chống rủi ro, nhưng khi thị trường tài chính ngày càng lớn mạnh và phức tạp thì các công

cụ tài chính phái sinh đã được ứng dụng nhiều để sinh lợi và được thực hiện như một hoạt động đầu cơ Chính vì sự đa dạng như vậy nên không phải lúc nào chúng

ta thấy việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp cũng đem lại hiệu quả

Trong các thị trường hàng hóa, hoạt động mua bán đòi hỏi phải có hàng hoá/chứng khoán (tài sản cơ sở) có thực, phải được giao nhận ngay lập tức hoặc sau

Trang 27

đó (ngắn hạn) Hoạt động thanh toán cũng được thực hiện ngay dù lâu lâu cũng có trường hợp sử dụng 01 số thoả thuận mang tính chất tín dụng Vì đặc điểm như vậy nên người ta còn gọi là thị trường tiền mặt hoặc thị trường giao ngay (spot market) Doanh số khi thực hiện giao dịch, các khoản thanh toán phải được hoàn trả và tài sản cơ sở phải được trao đổi Trong trường hợp khác, tài sản cơ sở vẫn được trao đổi vào một thời điểm sau đó, kèm các thoả thuận giúp cho bên bán/bên mua được lựa chọn có thực hiện hay không thực hiện các thoả thuận này và nghiệp vụ này được diễn ra trong thị trường phái sinh

Thị trường phái sinh là thị trường dành cho các công cụ tài chính phái sinh, các công cụ mang tính hợp đồng, kết quả của chúng được xác định dựa trên 01 hoặc một số công cụ tài sản khác Khi các công cụ phái sinh được xem là các hợp đồng, khi đó chúng được thỏa thuận giữa hai bên mua và bán, theo qui định mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ nhất định cho bên còn lại Giá cả các hợp đồng này và bên mua sẽ mua với giá thấp và bên bán mong muốn bán với giá cao nhất có thể Có nhiều loại công cụ phái sinh như: Hợp đồng kỳ hạn, Hợp đồng giao sau, Hợp đồng quyền chọn, Hợp đồng hoán đổi,…

2.6.1 Hợp đồng kỳ hạn

“Hợp đồng kỳ hạn” là công cụ ra đồi lâu nhất và ít phức tạp nhất, được ký giữa 2 bên Bên mua và bên bán nhằm trao đổi tài sản vào một thời điểm trong tương lai với giá cả được thoả thuận vào ngày hôm nay Trường hợp khi đến ngày đáo hạn, giá thực tế trên thị trường cao hơn nhiều giá thực tế đã ký hợp đồng thì bên

sở hữu hợp đồng sẽ kiếm được thu nhập và ngược lại thì bên sở hữu hợp đồng sẽ chịu một khoản tổn thất

Hợp đồng kỳ hạn tồn tại trong mình ba loại rủi ro:

+ Thứ nhất: nếu giá thực tế thị trường vào ngày đáo hạn cao hơn giá dự tính

th rủi ro vốn có của doanh nghiệp sẽ làm giảm giá trị doanh nghiệp và sự sụt giảm này sẽ được đền bù bằng thu nhập của hợp đồng kỳ hạn Cho nên, người ta nói, hợp đồng kỳ hạn là một công cụ phòng ngừa rủi ro hoàn hảo

Trang 28

+ Thứ hai, rủi ro tín dụng hay rủi ro không có khả năng thanh toán của hợp đồng Đây là loại rủi ro có hai chiều, bên sở hữu hợp đồng hoặc là bên nhận được hoặc là bên phải chi trả, việc này phụ thuộc vào biến động giá cả thị trường tại thời điểm của tài sản cơ sở

+ Thứ ba, giá trị của hợp đồng kỳ hạn được xác định vào ngày đáo hạn của hợp đồng, có nghĩa là trong thời gia thực hiện hợp đồng không phát sinh khoản thanh toán vào ngày ký kết và trong thời hạn của thực hiện hợp đồng Đây là hợp đồng kỳ hạn ẩn rất nhiều rủi ro cao trong số các công cụ phái sinh

2.6.2 Hợp đồng giao sau

- “Hợp đồng giao sau” đây cũng là một hợp đồng giữa hai bên mua bán, để

trao đổi tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thống nhất từ ngày hôm nay Hợp đồng giao sau phát triển từ hợp đồng kỳ hạn nên có những điểm giống với hợp đồng kỳ hạn Chúng giống nhau ở tính thanh khoản Khác với hợp đồng kỳ hạn, thị trường gio dịch của hợp đồng giao sau có tính tổ chức, hay còn gọi là sàn giao dịch giao sau Người mua hợp đồng giao sau có nghĩa vụ mua hàng vào một thời điểm trong tương lai và cũng có thể sẽ mua lại hợp đồng giao sau trên thị trường giao sau Như vậy, họ thoát khỏi nghĩa vụ thanh toán Tương tự, bên bán hợp đồng giao sau vào một ngày trong tương lai sẽ mua lại hợp đồng trên thị trường giao sau,

họ thoát khỏi nghĩa vụ giao hàng Đặc điểm này giúp các bên tham gia mua bán công cụ tài chính phái sinh tránh được những thiệt hại kinh tế đáng kể nếu trong thời hạn thực hiện hợp đồng giá cả của tài sản cơ sở có sự biến động không đem lại lợi ích cho từng bên

- Giống như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau cũng có rủi ro hai chiều là rủi ro tín dụng, là khi bên sở hữu hợp đồng hoặc bên được nhận hoặc là bên phải thanh toán Khác biệt cơ bản nhất với thị trường kỳ hạn là thị trường giao sau sẽ sử dụng cả hai công cụ này nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình hoạt động Cụ thể

+ Thứ nhất, thay vì giao nhận giá trị hợp đồng vào một ngày, thì thông qua mua bán giản đơn, vào ngày đáo hạn, thay đổi trong giá trị hợp đồng giao sau sẽ thực hiện thanh toán vào cuối ngày giao dịch Như vậy có nghĩa là hợp đồng giao

Trang 29

sau có tính chất thanh toán tiền mặt hay điều chỉnh theo ngày, được hiểu là thời hạn giao sau đã rút ngắn, qua đó rủi ro trong thanh toán được giảm thiểu đáng kể

+ Thứ hai, hợp đồng giao sau yêu cầu tất cả các thành viên tham gia thị trường, bên bán và bên mua giống nhau, đều phải thực hiện ký quỹ Khi hợp đồng giao sau tăng giá trị trong tương lai, thì mức tăng này cộng vào tài khoản ký quỹ cuối ngày Ngược lại, nếu giảm giá trị, thua lỗ sẽ được khấu trừ Khi số dư tài khoản

ký quỹ giảm xuống mức thấp so với thống nhất trước đó thì họ sẽ phải nộp một khoản ký gửi bổ sung như cũ hoặc là có thể vị thế bị đóng nếu không nộp ký quỹ kịp thời

+ Hợp đồng giao sau rất giống với một danh mục các hợp đồng kỳ hạn Nhưng hợp đồng giao sau chỉ giống một danh mục các hợp đồng kỳ hạn khi lãi suất được xác định trước Thời điểm đóng cửa cuối ngày, các hợp đồng giao sau mang tính kỳ hạn đang tồn tại sẽ được thanh toán cũng như một hợp đồng mới được ký kết Việc thanh toán hàng ngày với yêu cầu ký quỹ giúp giảm thiểu đáng kể rủi ro tín dụng vốn có của hợp đồng kỳ hạn

2.6.3 Quyền chọn

“Quyền chọn” cũng là một dạng hợp đồng giữa hai bên, bên mua và bên bán,

trong đó bên mua có quyền nhưng chứ không phải nghĩa vụ, để mua/ bán một tài sản vào mộ thời điểm trong tương lai với giá cả thống nhất vào hôm nay Bên mua quyền chọn trả cho bên bán một khoản tiền- phí quyền chọn Bên bán quyền chọn sẵn sàng bán không bán tài sản theo qui định của hợp đồng nếu bên mua muốn Quyền chọn để mua tài sản gọi là quyền chọn mua (call), một quỳên chọn bán một tài sản gọi là quyền chọn bán (put) Tuy các quyền chọn được giao dịch trong một thị trường có tổ chức nhưng các giao dịch quyền chọn phần lớn cũng được quản lý riêng biệt giữa các bên Họ tự tìm đến nhau, và loại thị trường này gọi là thị trường OTC- thị trường quyền chọn ra đời đầu tiên Các quyền chọn hầu hết là mua bán các loại tài sản tài chính, như: cổ phiếu, trái phiếu…, bên cạnh còn có các quyền chọn về tài chính khác như: đảm bảo khoản vay, hạn mức tín dụng và bảo hiểm cũng là một hình thức của quyền chọn Bản thân cổ phiếu cũng là quyền chọn trên tài sản công ty Quyền chọn cũng giống với một hợp đồng kỳ hạn nhưng quyền

Trang 30

chọn không bắt buộc phải thực hiện trao đổi, còn bên sở hữu hợp đồng kỳ hạn thì bắt buộc phải thực hiện trao đổi Các bên trong hợp đồng kỳ hạn đều có trách nhiệm phải mua/bán hàng hoá, nhưng bên nắm giữ quyền chọn có thể quyết định mua/bán tài sản với giá cố định nếu giá trị biến đổi

2.6.4 Hoán đổi

“Hoán đổi” là một hợp đồng trong đó các bên đồng ý hoán đổi dòng tiền, các

bên đồng ý thanh toán cho nhau một chuỗi các dòng tiền trong một thời điểm định trước Thí dụ: một bên đối tác nhận được một dòng tiền từ một khoản đầu tư, nhưng lại muốn đầu tư vào dòng tiền khác với dòng tiền hiện có Lúc này, bên đối tác này sẽ liên lạc với dealer hoán đổi (OTC) để thực hiện vị thế đối nghịch trong trao đổi Tuỳ vào lãi suất hay giá cả biến đổi như thế nào mà một bên sẽ thu nhập hay không có thu nhập hoặc bị lỗ Thu nhập của bên này chính là khoản thổn thất của bên kia Có bốn loại hoán đôỉ là hoán đổi tiền tệ, hoán đổi chứng khoán, hoán đổi lãi suất và hoán đổi hàng hoá Như các hợp đồng kỳ hạn thì các hoán đổi cũng chứa rủi ro khi một bên vỡ nợ Hoán đổi được xem như là công cụ kết hợp giữa các hợp đồng kỳ hạn, nó là công cụ tài chính mới nhất và không phức tạp hơn một danh mục các hợp đồng kỳ hạn Rủi ro tín dụng của hoán đổi thấp hơn so với rủi ro tín dụng của hợp đồng kỳ hạn có cùng kỳ hạn

2.7 Vai trò của các công cụ tài chính phái sinh

Những nhà đầu thư tham gia vào thị trường sản phẩm phái sinh với mong muốn giảm rủi ro của mình, “chia sẻ” rủi ro cho những người sẵn sàng chấp nhận nó,

là những nhà đầu cơ Đây là thị trường rất có hiệu quả trong việc phân phối lại rủi ro giữa các nhà đầu tư, công bằng với tất cả các bên khi tham gia vào thị trường Vì thế các nhà đầu cơ luôn sẵn lòng đáp ứng như cầu vốn nhiều cho thị trường tài chính hơn, góp phần phát triển nền kinh tế, tăng khả năng huy động vốn và thối thiểu chi phí sử dụng vốn Vì thế người ta gọi thị trường các sản phẩm phái sinh là một công cụ hiệu quả cho hoạt động đầu cơ Bên muốn phòng ngừa rủi ro phải tìm được bên có nhu cầu đối ngược với mình, nghĩa là rủi ro của bên muốn phòng ngừa rủi ro phải “che mắt” được các nhà đầu cơ Có ai hỏi sao các giao dịch này lại có thể thực hiện khi mà thực tế một bên có lợi thì bên kia sẽ không thể tránh khỏi tổn thất? Đó là do mỗi nhà

Trang 31

đầu cơ có một “khẩu vị rủi ro” khác nhau nên khả năng chấp nhận rủi ro cũng khác nhau Và ai cũng tính toán để là giữ cho mình một mức rủi ro chấp nhận, khi đó họ gặp nhau và việc chuyển giao một phần rủi ro của mình cho bên kia Bên kia cũng đang thực hiện một hoạt động đầu tư mong muốn kết quả tương tự

Tuy nhiên thị trường phái sinh không đưa vốn trong nền kinh tế với những toan tính đầu cơ tiêu cực, đầy tham vọng, bởi nhà đầu cơ không phải đang đánh bạc

Họ chỉ đang đa dạng hóa danh mục đầu tư, thay vì giao dịch cổ phiếu, họ giao dịch các sản phẩm phái sinh Chính việc đầu tư vào các công cụ tài chính phái sinh giúp cho việc phòng ngừa các rủi ro ít tốn kém hơn và hiệu quả hơn Chúng ta cần hiểu chắc chắn rằng, thị trường phái sinh không tạo ra và cũng không phá huỷ được tài sản, chúng chỉ là những phương tiện chuyển giao rủi ro trên thị trường, những rủi ro tiềm ẩn của thị trường tài sản, chuyển giao những khoản rủi ro đó từ nơi không đủ khả năng chấp nhận nó sang nơi sẵn sàng tiếp nhận nó, ta gọi là đầu cơ Trên thị trường này không có thêm bất kỳ một rủi ro nào được sinh ra và lợi ích từ thị trường lan toả ra toàn xã hội, không chỉ bó hẹp trong lợi ích của những nhà đầu cơ

“Thông tin chính xác, thiết thực đem lại hiệu quả hình thành giá cả” Các thị

trường kỳ hạn và tương lai là nguồn thông tin quan trọng đối với việc xách định giá

cả Và thị trường tương lai được xem là công cụ cơ bản để xác định giá giao ngay của tài sản, vì có rất nhiều hàng hoá được giao dịch trên thị trường tương lai trong khi thị trường giao ngay của nó thì lại to lớn nên khó xác định được giá giao ngay của tài sản cơ sở

Giá cả tương lai của những trao đổi sớm là giá giao ngay Trên thế giới, thị trường giao sau thường sinh động, nhộn nhịp hơn nên nó cung cấp thông tin có tính hiệu quả hơn Và những thông tin này trực tiếp hay gián tiếp đều góp phần cung cấp cho nhà đầu tư hình thành cơ sở để xác định giá cả trong tương lai một cách có hiệu quả theo từng bên tham gia thị trường có thể chấp nhận trong giới hạn của mình

Trang 32

2.8 Tìm hiểu thị trường điện Úc

2.8.1 Giới thiệu

- Thị trường điện quốc gia Úc vận hành trên một trong những hệ thống điện liên kết lớn nhất thế giới, tổng chiều dài 4,500km trải dài từ cảng Lincoln ở phía Tây, Brisbane ở phía Đông, Hobart ở phía Nam và Cairns ở phía Bắc

- Hiện có 9 triệu khách hàng; sản lượng điện thương phẩm 196 TWh (billion kWh)/ năm; công suất cực đại 35,500 MW

- Sản lượng điện phân theo loại năng lượng (với 196 TWh vào năm 2016, 2017): than chiếm tỷ trọng cao nhất (77%), tiếp đến là khí (9%), thủy điện (8%), gió (5%), phần còn lại là năng lượng mặt trời và năng lượng khác

- Có khoảng 270 đơn vị phát điện

- 05 công ty truyền tải độc lập (3 công ty thuộc sở hữu nhà nước, 2 công ty thuộc sở hữu tư nhân)

- 13 công ty phân phối độc lập quản lý 13 hệ thống lưới điện phân phối riêng biệt (1 số thuộc sở hữu nhà nước, 1 số thuộc sở hữu tư nhân nhưng chi phí do nhà nước quản lý)

- Các đơn vị bán lẻ không cần sở hữu tài sản vật lý: không cần nhưng có quyền sở hữu nhà máy điện; không được quyền sở hữu lưới phân phối vì sẽ không công bằng trong cạnh tranh với các nhà bán lẻ khác

- Đơn vị AEMO (The Australian Energy Market Operator) là đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện của Úc

- Thị trường điện Úc không có giai đoạn chuyển tiếp từ bán buôn sang bán lẻ,

mà triển khai thị trường điện theo hướng giảm việc điều tiết và mở cửa cạnh tranh,

từ từ cho các nhóm khách hàng từ lớn đển nhỏ và chính sách khác nhau phù hợp cho từng bang

Ví dụ: quá trình phát triển thị trường điện tại New South Wales diễn ra khá

chậm (năm 2002 khách hàng bắt đầu được lựa chọn giá nhà nước điều tiết hoặc giá cạnh tranh của các công ty bán lẻ - đến 2011 mới bỏ hoàn toàn giá nhà nước điều tiết):

+ 1998 Bắt đầu hình thành thị trường điện quốc gia

Trang 33

+ 2002 Cạnh tranh bán lẻ đến hộ tiêu thụ (khách hàng được chọn mua giá nhà nước điều tiết hoặc giá cạnh tranh)

+ 2011 Nhà nước bán hết các đơn vị bán lẻ (bỏ giá điều tiết nhưng vẫn còn giá trần), bán 1 phần các đơn vị phát điện

+ 2014 Bỏ giá trần, bán các đơn vị phát điện còn lại

+ 2015 Tư nhân hóa các công ty truyền tải thông qua cho thuê dài hạn

+ 2016 Tư nhân hóa một phần các công ty phân phối

2.8.2 Cơ chế vận hành thị trường điện Úc

- Mô hình điều độ tập trung, chỉ có chào giá phía nguồn và dự báo phụ tải

- Đơn vị phát điện chào giá trên thị trường (chào giá tự do) với công suất và giá cụ thể cho khoảng thời gian chào giá

- Từ các bản chào được gửi, Đơn vị vận hành thị trường năng lượng (AEMO) quyết định tổ máy được huy động để phát điện, với nguyên tắc tổ máy rẻ được huy động trước Giá chào cao nhất được chọn là giá chung cho thị trường

- Tính toán điều độ 5 phút, tính giá vùng nửa giờ

- Trong quá trình giao nhận điện, giá điều độ được xác định từng 5 phút Giá thị trường giao ngay của từng vùng là giá bình quân của nửa giờ (6 giá điều độ)

- AEMO sử dụng giá thị trường giao ngay làm nguyên tắc tính toán thanh toán tiền điện cho toàn bộ giao dịch trên thị trường NEM

2.8.3 Một số kinh nghiệm thực tiễn

Về biến động giá, nhu cầu phụ tải, nguồn điện,… của Úc từ khi triển khai thị

trường điện (từ khoảng năm 2000 đến nay):

a) Biến động giá bán buôn: Giá tăng cao đột biến tại một số thời điểm có các

sự kiện đặc biệt: 2007 (hạn hán), 2012 - 2013 (bắt đầu áp dụng chính sách giá cacbon, 2017 (nhà máy điện than dừng phát, giá nhiên liệu tăng)

b) Biến động nhu cầu phụ tải:

- Nhu cầu phụ tải tăng dần cho đến 2007 bắt đầu giảm do: giá điện tăng nên khách hàng tiết kiệm; công nghệ mới tiết kiệm điện; các hộ gia đình sử dụng năng lượng mặt trời áp mái (rooftop PV) làm giảm nhu cầu sử dụng điện lưới

Trang 34

- Nhu cầu bắt đầu tăng lại từ năm 2014 do: các hợp đồng dài hạn góp phần giúp giá ổn định lại; công nghệ mới tiết kiệm điện sẽ tác động trong một thời gian, sau đó bão hòa vì người dân đã thay dần các thiết bị này; giá bán lẻ được nhà nước điều tiết giảm từ năm 2014

c) Biến động về nguồn phát:

- Nhà máy than giảm nhiều trong những năm gần đây do những nhà máy cũ

từ những năm 1970, 1980 bị đóng cửa; riêng năm 2017 có 1 nhà máy lớn của tư nhân đóng cửa đột ngột (điều này đã làm giá điện tăng cao đột biến) Số nhà máy điện than tiếp tục ngừng hoạt động theo kế hoạch khá nhiều (giảm 20.000MW trong vòng 30 năm tới - từ khoảng 23.000 MW vào năm 2018 sẽ giảm xuống còn khoảng 3.000 MW vào năm 2050)

- Phát triển thêm nhiều nhà máy năng lượng tái tạo (điện gió và mặt trời):

+ Thị trường điện năng lượng tái tạo phát triển mạnh tại Australia, đặc biệt là

điện mặt trời ở phía Bắc và điện gió ở phía Nam

+ Các nhà đầu tư thực hiện đầu tư nhiều thậm chí không cần các hợp đồng

dài hạn (do thị trường giao dịch hợp đồng tại Úc có tính thanh khoản cao, chính sách áp dụng phí cacbon khuyến khích nhà đầu tư năng lượng tái tạo)

+ Công nghệ mới về năng lượng mặt trời áp mái với giá rẻ hơn giúp khách hàng dễ tiếp cận, hiện đã có 1,5 triệu/ 9 triệu khách hàng có năng lượng mặt trời

áp mái

d) Tác động của năng lượng sạch đến vận hành hệ thống điện:

- Việc sử dụng năng lượng mặt trời áp mái (Rooftop PV) năm 2017 đã tác động rõ rệt đến biểu đồ phụ tải với sự tăng nhiều Rooftop PV đã làm giảm nhu cầu phụ tải hệ thống vào buổi trưa so với các năm trước

- Hoạt động dự báo phụ tải phụ thuộc nhiều hơn vào yếu tố thời tiết do năng lượng gió và mặt trời đã chiếm 1 tỷ trọng lớn (ví dụ ngày có mây thì năng lượng mặt trời chỉ bằng chưa đến 60% so với ngày nắng hoặc không có mây)

- Với những ngày thời tiết thuận lợi tại miền Nam Australia, vào buổi trưa năng lượng gió và mặt trời đã dư nhu cầu sử dụng Tuy nhiên, điều này không an toàn cho hệ thống vì khi nắng và gió giảm đột ngột, thì lúc đó cần huy động một

Ngày đăng: 04/11/2019, 00:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w