1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiểm soát hành vi khai sai thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện thanh bình, tỉnh đồng tháp

99 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Tên đề tài: Kiểm soát hành vi khai sai thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp Lý do chọn đề tài: thuế thu

Trang 3

Tôi xin cam đoan đề tài “Kiểm soát hành vi khai sai thu nhập tính thuế

thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp” là công trình nghiên cứu của chính tôi dưới sự hướng dẫn

của PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Ngày 10 tháng 10 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Phúc Nguyên

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

TÓM TẮT

ABSTRACT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 SỰCẦNTHIẾTCỦAVẤNĐỀNGHIÊNCỨU 1

2 MỤCTIÊUNGHIÊNCỨU 2

3 CÂUHỎIGIẢIPHÁP 2

4 ĐỐITƯỢNGVÀPHẠMVINGHIÊNCỨU 2

4.1 Đối tượng nghiên cứu 2

4.2 Phạm vi thu thập dữ liệu 3

5 KHUNGPHÂNTÍCH 3

6 CÁCH TIẾP CẬN THỰC HIỆN MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 3

6.1 Dữ liệu nghiên cứu 3

6.2 Cách tiếp cận 4

7 BỐCỤCCỦALUẬNVĂN 4

Chương 1 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ 6

1.1 LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ 6

1.1.1 Khái quát về lý thuyết hành vi dự định 6

1.1.2 Quan hệ giữa thái độ, ý định hành vi và tuân thủ thuế 7

1.1.3 Quan hệ giữa chuẩn mực chủ quan, ý định hành vi và tuân thủ thuế 8

1.1.4 Nhận thức xã hội, ý định hành vi và tuân thủ thuế 8

1.1.5 Nhận thức xã hội và tuân thủ thuế 9

Trang 5

1.2.2 Các hành vi gian lận thuế TNDN thông qua kê khai sai thu nhập tính thuế

TNDN 11

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ Ở KHÂU KÊ KHAI THUẾ 16

1.3.1 Các nhân tố liên quan đến chính sách thuế 16

1.3.2 Các nhân tố liên quan đến quản lý thuế 17

1.3.3 Các nhân tố liên quan đến người nộp thuế 19

1.4 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 21

1.4.1 Nghiên cứu nước ngoài 21

1.4.2 Nghiên cứu trong nước 22

1.5 KINH NGHIỆM KIỂM SOÁT HÀNH VI KHAI SAI THU NHẬP TÍNH THUẾ THU NHẬP DN Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG 24

1.5.1 Kinh nghiệm của Cục Thuế tỉnh Nghệ An 24

1.5.2 Kinh nghiệm của Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh trong việc kiểm tra phát hiện các vi phạm đối với hoạt động bốc xúc, vận chuyển 27

1.5.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp 28

Chương 2 THỰC TRẠNG KHAI SAI THU NHẬP TÍNH THUẾ TNDN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP 30

2.1 GIỚI THIỆU CHI CỤC THUẾ HUYỆN THANH BÌNH 30

2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ 30

2.1.1.1 Chức năng 30

2.1.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn 30

2.1.2 Cơ cấu tổ chức Chi cục thuế huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp 32

2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức, nhân sự 32

2.1.3 Thu thuế TNDN trên địa bàn huyện Thanh Bình giai đoạn 2014 - 2018 34

Trang 6

2.2.1 Quy trình kiểm soát khai sai thu nhập tính thuế TNDN 36

2.2.1.1 Tổ chức kiểm soát ở khâu đăng ký, kê khai thuế TNDN 36

2.2.1.2 Kiểm tra, kiểm soát số thuế TNDN do DN kê khai 36

2.2.2 Các hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN 38

2.2.2.1 Kê khai doanh thu bán hàng thấp hơn thu doanh thu thực tế 38

2.2.2.2 Khai tăng khoản chi phí để giảm bớt thu nhập tính thuế TNDN 39

2.2.3 Một số trường hợp điển hình về khai sai thu nhập tính thuế TNDN trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2014 - 2018 40

2.2.3.1 Trường hợp gian lận thuế TNDN thông qua mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp 40

2.2.3.2 Trường hợp gian lận thông qua việc kê khai doanh thu bán hàng thấp hơn thực tế 42 2.2.3.3 Trường hợp gian lận thuế TNDN thông qua việc hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ không đúng quy định 42

2.2.3.4 Trường hợp gian lận thuế TNDN trong việc kê khai chuyển lỗ sai quy định 43

2.2.4 Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN của DN 45 2.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT HÀNH VI KHAI SAI THU THẬP TÍNH THUẾ TNDN TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN THANH BÌNH 46

2.3.1 Công tác kiểm soát hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN của các DN tại Chi cục Thuế huyện Thanh Bình 46

2.3.1.1 Kiểm soát qua công tác kê khai 46

2.3.1.2 Kiểm soát kê khai thuế qua kiểm tra tại Chi cục thuế 48

2.3.1.3 Kiểm soát kê khai thuế qua kiểm tra trực tiếp tại DN 48

2.3.2 Đánh giá kết quả đạt được trong kiểm soát hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN tại Chi cục Thuế huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp 54

Trang 7

2.3.2.3 Đối với công tác kiểm tra nội bộ của cơ quan thuế 55

2.3.3 Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong kiểm soát hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN tại Chi cục Thuế huyện Thanh Bình 55

2.3.3.1 Hạn chế 55

2.3.3.2 Nguyên nhân của hạn chế 58

Chương 3 GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT HÀNH VI KHAI SAI THU THẬP TÍNH THUẾ TNDN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP 60 3.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT GIAN LẬN THUẾ TNDN QUA KÊ KHAI SAI THU NHẬP TÍNH THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP 60

3.1.1 Định hướng chung của ngành thuế 60

3.1.2 Hạn chế trong công tác kiểm soát thuế TNDN hiện nay 61

3.2 CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT HÀNH VI KHAI SAI THU NHẬP TÍNH THUẾ TNDN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP 62

3.2.1 Kiểm soát hoạt động đăng ký, thay đổi thông tin đăng ký thuế 62

3.2.2 Kiểm soát kê khai thuế TNDN 63

3.2.3 Kiểm soát thuế TNDN ở khâu kiểm tra thuế 63

3.2.3.1 Về kỹ thuật kiểm tra tại cơ quan thuế 63

3.2.3.2 Về kỹ thuật kiểm tra tại trụ sở NNT 64

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 65

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

KẾT LUẬN 66

KIẾN NGHỊ 66

Đối với Bộ Tài chính 66

Đối với Tổng cục Thuế 67

Đối với Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp 67

Trang 8

PHỤ LỤC 1: DÀN BÀI PHỎNG VẤN SÂU DOANH NGHIỆP VÀ CÁN BỘ QUẢN LÝ THUẾ

PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH PHỎNG VẤN SÂU

Trang 10

Bảng 2.2: Thống kê số lƣợng DN trên địa bàn huyện Thanh Bình giai đoạn 2014 -

2018 35Bảng 2.3: Thu thuế TNDN trên địa bàn huyện Thanh Bình giai đoạn 2014 - 2018 35Bảng 2.4: Quy trình kiểm tra thuế tại cơ sở NNT 37Bảng 2.5: Xác định thuế TNDN của Cty TNHH Tƣ vấn xây dựng Hoàng Kiệt qua kiểm tra tại trụ sở DN 41Bảng 2.6: Xác định thuế TNDN của Công ty cổ phần sản xuất chăn nuôi Hòa Bình qua kiểm tra tại trụ sở DN 43Bảng 2.7: Xác định giảm lỗ đối với Công ty TNHH Nam Thành Thanh Bình qua kiểm tra tại trụ sở DN 44Bảng 2.8: Tình hình nộp hồ sơ khai thuế TNDN trên địa bàn huyện Thanh Bình giai đoạn 2014 - 2018 47Bảng 2.9: Kiểm tra kê khai thuế tại cơ quan thuế giai đoạn 2014 - 2018 48Bảng 2.10: Tình hình kiểm tra thuế TNDN trực tiếp tại DN ở huyện Thanh Bình giai đoạn 2014 - 2018 50Bảng 2.11: Đánh giá của cán bộ thuế về công tác kiểm tra, thanh tra thuế TNDN trong giai đoạn 2014 - 2018 53

Trang 11

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa tuân thủ thuế và phúc lợi xã hội 7

Hình 1.2: Mối quan hệ giữa doanh nghiệp nộp thuế, chính phủ và xã hội 9

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Chi cục Thuế huyện Thanh Bình 32

Hình 2.2: Thời gian của một cuộc kiểm tra 51

Trang 12

TÓM TẮT Tên đề tài: Kiểm soát hành vi khai sai thu nhập tính thuế thu nhập doanh

nghiệp đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp

Lý do chọn đề tài: thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là nguồn thu quan

trọng của ngân sách nhà nước

Vấn đề: Thuế TNDN ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp nên

thuế TNDN là một trong những mục tiêu gian lận của doanh nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp Phổ biến là hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN để làm giảm số thuế TNDN phải nộp

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh,

phương pháp chuyên gia

Kết quả nghiên cứu: Quá trình tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng

gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp qua kê khai thuế tại Chi cục Thuế huyện Thanh Bình, luận văn đã trình bày kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến việc gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp qua hành vi khai sai thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp

Kết luận và khuyến nghị: Các giải pháp nhằm góp phần hạn chế gian lận

thuế thu nhập doanh nghiệp qua kê khai thuế gồm: Kiểm soát hoạt động đăng ký, thay đổi thông tin đăng ký thuế; Kiểm soát kê khai thuế thuế thu nhập doanh nghiệp; Kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp ở khâu kiểm tra thuế

Từ khóa: Khai sai thu nhập, thuế thu nhập doanh nghiệp, huyện Thanh Bình

Trang 13

ABSTRACT Title: Behavior control of false declaration of company income tax for

enterprises in Thanh Binh district, Dong Thap province

Reason for writing: Company income tax (CIT) is an important source of

state budget revenue

Problem: CIT directly affects the profitability of enterprises, so it is one of the

fraud targets of enterprises in Thanh Binh district, Dong Thap province Popularity

is the false declaration of CIT to reduce the payable CIT

Methods: Statistical methods, comparison methods, expert methods

Results: Through the process of understanding, analyzing and assessing the

status of company income tax fraud through tax declaration at the Tax Department

of Thanh Binh district, the dissertation presents the achieved results, shortcomings, limitations and the cause of fraud in company income tax through false declaration

of company income

Conclusions and implications: Solutions are to contribute to limiting

company income tax fraud through tax declaration include: Controlling registration, changing of tax registration information; Controlling company income tax declaration; Controlling the company income tax at the stage of tax inspection

Keywords: Declaring false income, company income tax, Thanh Binh district

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Nền kinh tế của nước ta hiện nay đang trong giai đoạn hoàn thiện để phát triển thành nền kinh tế thị trường nhưng được định hướng theo xã hội chủ nghĩa Thuế là công cụ tạo nguồn thu ngân sách rất lớn cho Nhà nước, đặc biệt trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước, thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội, góp phần khuyến khích các thành phần kinh tế tăng gia sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện của nhà nước Tuy nhiên, hệ thống các quy định và chính sách pháp luật của nước ta vẫn chưa hoàn thiện, nhất là pháp luật thuế nên làm cho nhiệm vụ thu ngân sách này ngày càng trở nên nặng nề Đồng thời, tình hình các doanh nghiệp (DN) thành lập mới gia tăng rất nhanh chóng, lĩnh vực hoạt động rất rộng với nhiều quy mô khác nhau trong khi đội ngũ cán bộ công chức thuế

và cơ sở vật chất của ngành thuế thì có hạn Do đó, việc đảm bảo công tác quản lý thuế là vô cùng khó khăn, đây không chỉ là vấn đề nan giải đối với ngành thuế nói riêng mà còn đối với lãnh đạo của toàn thể các DN nói chung

Trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp thời gian qua tình hình kinh

tế xã hội phát triển tốt, cộng với chính sách thu hút đầu tư của địa phương thì tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN ngày càng lớn mạnh và quy mô DN ngày càng mở rộng Bên cạnh những DN thực hiện tốt những quy định về việc kê khai, nộp thuế, thì vẫn có không ít DN còn sai sót trong việc kê khai thuế Việc kê khai sai thuế cũng có thể xuất phát từ nguyên nhân khách quan, DN không cố ý gian lận nhưng cũng có thể xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, cố ý của DN Điều này,

có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận khả dụng của DN và gây thất thoát, thiệt hại rất lớn cho ngành thuế Tại chi cục thuế huyện Thanh Bình thì hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN để làm giảm số thuế TNDN phải nộp là hành vi phổ biến nhất

Trang 15

Cụ thể, trong giai đoạn 2014 - 2018, kết quả kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế huyện Thanh Bình có 65 DN vi phạm về thuế trên tổng số 113 DN được kiểm tra; Tổng số thuế truy thu, phạt qua kiểm tra là 2,9 tỷ đồng Trong đó: Có 51 DN có hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN dẫn đến tiền thuế TNDN bị truy thu 2,1

tỷ đồng, chiếm 72,4% trên tổng số tiền truy thu, phạt thuế (Chi cục thuế huyện Thanh Bình, 2018)

Từ thực tế nêu trên, đề tài: “Kiểm soát hành vi khai sai thu nhập tính thuế

thu nhập DN đối với các DN trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp”

đã được tác giả lựa chọn làm luận văn của mình Tác giả kỳ vọng nghiên cứu này sẽ giúp chi cục thuế huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp có cái nhìn toàn diện về tình hình kiểm soát thuế tại địa phương, xác định được những điểm hạn chế và nguyên nhân của công tác kiểm tra, kiểm soát hành vi khai sai thu nhập tính thuế thu nhập

DN Từ đó, có thể đề xuất những giải pháp hiệu quả khắc phục tình trạng này

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:

Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng kiểm soát hành vi khai sai thu nhập tính thuế

của các DN tại Chi cục Thuế huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp

Mục tiêu 2: Đề xuất những hàm ý chính sách để kiểm soát hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN của các DN trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp

3 CÂU HỎI GIẢI PHÁP

Nguyên nhân nào dẫn đến hành vi khai sai thu nhập tính thuế của các DN trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp?

Giải pháp nào để kiểm soát tốt hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN của các DN trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp?

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là thực trạng gian lận thuế TNDN của các DN đang hoạt động trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp

Trang 16

Đối tượng khảo sát: là các DN đang hoạt động trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp

5 KHUNG PHÂN TÍCH

Để trả lời câu hỏi nghiên cứu, tác giả sử dụng: (1) Lý thuyết về hành vi của người nộp thuế; (2) lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN của các DN; (3) Khung pháp lý hiện hành của Việt Nam về quản lý thuế thu nhập DN; Tác giả sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả để minh chứng cho các nhận định được đưa ra trong luận văn, đồng thời tác giả sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu (thảo luận tay đôi) với các đối tượng liên quan (các DN, các cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế…) để tìm hiểu nguyên nhân của những hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN của các DN Từ đó đề xuất giải pháp kiểm soát các hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN của các DN trên địa bàn huyện Thanh Bình

6 CÁCH TIẾP CẬN THỰC HIỆN MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

6.1 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu từ các nguồn tài liệu, báo cáo của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Chi cục Thuế huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp; Thông tin báo cáo từ Cục thống kê tỉnh Đồng Tháp; Đề tài có tiếp thu và kế thừa có chọn lọc kết quả của các đề tài nghiên cứu trước trong và ngoài nước có liên quan đã được công bố

Dữ liệu sơ cấp: Thu thập dữ liệu từ các hồ sơ khai thuế, quyết toán thuế TNDN và kết quả kiểm tra thuế TNDN của Chi cục Thuế huyện Thanh Bình; Thu thập từ các cuộc phỏng vấn sâu

Trang 17

6.2 Cách tiếp cận

Để thực hiện mục tiêu đề tài tác giả sử dụng các kỹ thuật như sau:

Kỹ thuật thống kê: Thống kê mô tả là kỹ thuật thường được sử dụng để phân tích các vấn đề kinh tế - xã hội bằng việc mô tả thông qua các số liệu thu thập được Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật này để phân tích thực trạng gian lận trong khai báo thuế TNDN của các DN đang hoạt động trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn 2014 - 2018

Kỹ thuật so sánh: Kỹ thuật so sánh được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu kinh tế - xã hội, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng để xác định mức độ thay đổi, biến động của nguồn thuế TNDN của các DN đang hoạt động trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn 2014 - 2018

Kỹ thuật phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu doanh nghiệp và cán bộ thuế để tìm hiểu nguyên nhân của hành vi khai sai thuể TNDN, chi tiết về quy trình quản lý, phương thức quản lý thuế TNDN trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp Yêu cầu đối với người tham gia trả lời phỏng vấn: (1) Đối với doanh nghiệp: Chủ doanh nghiệp hoặc người phụ trách kế toán thuế; (2) Đối với cán bộ thuế: Phải có kinh nghiệm công tác trong ngành thuế tối thiểu là 5 năm; Có sự hiểu biết căn bản

về phương thức, quy trình quản lý thuế TNDN Dựa trên các tiêu chuẩn đó, tác giả

đã quyết định phỏng vấn 5 doanh nghiệp và 7 cán bộ thuế tại Chi cục Thuế huyện Thanh Bình gồm: Chi cục trưởng/ Chi cục phó; 4 kiểm tra viên về thuế và một số cán bộ công chức và chuyên viên có liên quan đến công tác quản lý thuế TNDN

Kỹ thuật tổng hợp: Đối chiếu kết quả phỏng vấn chuyên gia với thực trạng kê khai sau thuế, để rút ra những điểm hạn chế và nguyên nhân các hạn chế đó, là căn

cứ đề xuất các hàm ý chính sách nhằm kiểm soát hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Phần mở đầu: Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và kỹ thuật nghiên cứu

Trang 18

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Trình bày các khái niệm về thuế và tuân thủ thuế; Các nhân tố ảnh hưởng đến việc khai sai thu nhập tính thuế của các DN và tình hình các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài

Chương 2: Thực trạng gian lận trong khai báo thuế TNDN của các DN trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp

Chương 3: Đề xuất giải pháp Trình bày những khuyến nghị nhằm kiểm soát hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN của các DN trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp

Phần kết luận: Kết luận và khuyến nghị chính sách Những hạn chế của đề tài

và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 19

Chương 1 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NGƯỜI

NỘP THUẾ

1.1 LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ

1.1.1 Khái quát về lý thuyết hành vi dự định

Lý thuyết về hành vi dự định được phát triển bởi Ajzen (1991), cho thấy hành

vi của một người được khuyến khích bởi ba yếu tố Yếu tố đầu tiên là niềm tin hành

vi, đây là niềm tin vào kết quả và đánh giá kết quả Sự tự tin và đánh giá kết quả sẽ hình thành một thái độ bất định đối với một hành vi nhất định Thứ hai là niềm tin chuẩn mực, đây là một niềm tin cá nhân vào những kỳ vọng chuẩn mực của những người khác như gia đình, bạn bè, lãnh đạo công ty, cán bộ thuế và tư vấn thuế Kỳ vọng chuẩn mực hình thành một chuẩn mực chủ quan của một hành vi Thứ ba là niềm tin kiểm soát, đây là niềm tin cá nhân về sự tồn tại của những thứ khuyến khích hành vi và nhận thức của họ về việc hai điều đó ảnh hưởng đến hành vi của

họ mạnh mẽ như thế nào Kiểm soát niềm tin hình thành một kiểm soát hành vi nhận thức Về lý thuyết hành vi dự định, ai đó sẽ xem xét những thái độ, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức trong việc xây dựng ý định tuân thủ quy tắc (Ajzen, 1991)

Lý thuyết về hành vi dự định đã thâm nhập vào các lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả thuế Một số nhà nghiên cứu chứng minh rằng về mặt thực nghiệm, thái độ tuân thủ thuế, chuẩn mực chủ quan, hành vi nhận thức và nhận thức của người nộp thuế đối với chính phủ có ảnh hưởng nhất định đến ý định tuân thủ nghĩa vụ thuế (Damayanti và cộng sự, 2015) Nhận thức về kiểm soát hành vi có tác động trực tiếp nhưng không đáng kể đến việc tuân thủ thuế, nhưng nhận thức về kiểm soát hành vi

có tác động tích cực đáng kể đến ý định

Nghiên cứu thực nghiệm của Aryati (2012) khẳng định rằng thái độ lạc quan của người nộp thuế có tác động tích cực đến việc tuân thủ thuế Nghiên cứu được thực hiện bởi Bobek và Hatfield (2003), chứng minh bằng thực nghiệm rằng sự chủ

Trang 20

quan và kiểm soát hành vi nhận thức là các biến số ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế Trong khi đó, Benk và cộng sự (2012) không thể chứng minh bằng thực nghiệm rằng thái độ có ảnh hưởng tích cực đến việc tuân thủ thuế Trivei và Shehata (2005), Langham và cộng sự (2012) cũng không có khả năng chứng minh bằng thực nghiệm rằng kiểm soát hành vi nhận thức có tác động tích cực đến việc tuân thủ thuế

Nhận thức xã hội của doanh nghiệp trong việc nộp thuế sẽ ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế Các nghiên cứu trước đây liên quan đến nhận thức xã hội đã được Gangl và cộng sự (2015), Jimenez và Iyer (2016), cũng như Calvet và Alm (2014), chứng minh bằng thực nghiệm rằng sự hiểu biết trong hợp tác trong xã hội có thể là một cách để một công ty khuyến khích hợp tác tự nguyện và cam kết đảm bảo nguồn cung cấp công cộng Jimenez và Iyer (2016) giải thích ảnh hưởng của chuẩn mực xã hội đối với việc tuân thủ thuế thông qua nội bộ hóa cá nhân Sự xuất hiện của sự cảm thông, cũng như sự đồng cảm, cũng có thể khuyến khích tuân thủ thuế (Calvet và Alm, 2014)

1.1.2 Quan hệ giữa thái độ, ý định hành vi và tuân thủ thuế

Ajzen (2005) coi thái độ là những khuynh hướng thuận lợi hoặc bất lợi cho các đối tượng, con người, tổ chức hoặc sự kiện Theo lý thuyết về hành vi dự định, thái độ cá nhân đối với hành vi bắt nguồn từ niềm tin về hậu quả của hành vi nói trên, cụ thể là niềm tin hành vi Tuân thủ thuế rất quan trọng đối với phúc lợi xã hội (Hình 1.1)

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa tuân thủ thuế và phúc lợi xã hội

Tiền thuế của chính phủ

Tiền thuế của địa phương

Chi tiêu của địa phương Phúc lợi xã hội

Trang 21

hành vi cá nhân (Hartono, 2008) Nghiên cứu được thực hiện bởi Ozer và Yilmaz (2011) cho thấy thái độ có khả năng dự đoán tốt hơn so với tiêu chuẩn chủ quan và kiểm soát nhận thức

Hidayat và Nugroho (2010), Aryati (2012) đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng thái độ tích cực có ảnh hưởng tốt đến ý định tích cực Thái độ tích cực giúp cho người nộp thuế nhận thấy phải tuân thủ các nghĩa vụ thuế, ý định thúc đẩy họ càng lớn Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Mustikasari (2008) chỉ ra rằng nếu thái độ của không tuân thủ càng lớn thì ý định không tuân thủ sẽ cao Như vậy, thái độ tích cực sẽ làm gia tăng ý định tuân thủ thuế

1.1.3 Quan hệ giữa chuẩn mực chủ quan, ý định hành vi và tuân thủ thuế

Ajzen và Fishbein (1980) cho rằng chuẩn mực chủ quan khơi dậy ý định dựa trên áp lực xã hội để tham gia hoặc không tham gia vào hành vi Chuẩn mực chủ quan là một chức năng của những kỳ vọng được tạo ra bởi các cá nhân trong đó một hoặc nhiều người xung quanh họ (anh chị em, đồng nghiệp) chấp thuận một hành vi nhất định và thúc đẩy cá nhân tuân thủ (Ajzen, 1991)

Chuẩn mực chủ quan được xây dựng thông qua sự ảnh hưởng của những người xung quanh, của bạn bè, của các chuyên gia tư vấn thuế, của những người khai thuế, của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Khi các chuẩn mực chủ quan lớn hơn

sẽ làm tăng những người không tuân thủ thuế (Mustikasari, 2008) Bobek và Hatield (2003) cho thấy rằng tiêu chuẩn chủ quan có ảnh hưởng cùng chiều đối với các ý định không tuân thủ thuế

Trong thực tế, một nhân viên của doanh nghiệp có thái độ tuân thủ thuế, hướng tới ý định tuân thủ thuế, nhưng lãnh đạo của doanh nghiệp không ủng hộ thái

độ của người nhân viên, sau đó, ý định tuân thủ thuế của người nhân viên có thể thay đổi hoàn toàn theo cách ngược lại (Bobek và Hatield, 2003; Mustikasari, 2008) Như vậy, các chuẩn mực chủ quan có tác động cùng chiều đến ý định hành

vi của người nộp thuế

1.1.4 Nhận thức xã hội, ý định hành vi và tuân thủ thuế

Trang 22

Vai trò của người nộp thuế nên được phát triển bằng cách tăng nhận thức cộng đồng về nghĩa vụ nộp thuế Thông số thành công của một công ty theo quan điểm nhận thức xã hội là ưu tiên các nguyên tắc đạo đức, cụ thể là đạt được kết quả tốt nhất mà không gây tổn hại cho các nhóm người khác Các công ty làm việc bằng cách đưa ra các nguyên tắc đạo đức và đạo đức sẽ cung cấp các lợi ích lớn nhất cho

xã hội Nhận thức xã hội của công ty trong việc nộp thuế sẽ có tác động đến việc tuân thủ thuế

Freeman và McVea (2001) đã đề xuất rằng một nhóm hoặc một cá nhân có thể đối mặt những điều không may của tổ chức trong việc thực hiện các mục tiêu Quan hệ hợp đồng giữa người nộp thuế và chính phủ trong việc nộp thuế đã gián tiếp giúp ích cho xã hội Vì vậy, nhận thức xã hội của người nộp thuế cao hơn

sẽ làm tăng ý định của các chuyên gia thuế để hành xử tuân thủ

1.1.5 Nhận thức xã hội và tuân thủ thuế

Freeman và McVea (2001) cho rằng các cổ đông, như một nhóm hoặc cá nhân, có thể ảnh hưởng hoặc chịu ảnh hưởng nỗ lực của tổ chức trong việc thực hiện những mục tiêu của họ Các cổ đông là những người có mối quan hệ hợp đồng với doanh nghiệp thậm chí có thể bị ảnh hưởng mạnh bởi các hành động của những

tổ chức khác, mặc dù những tổ chức này không có mối quan hệ hợp đồng với doanh nghiệp mà cổ đông này đang tham gia Hợp đồng giữa một doanh nghiệp nộp thuế với chính phủ, xã hội được thể hiện ở Hình 1.2

Hình 1.2: Mối quan hệ giữa doanh nghiệp nộp thuế, chính phủ và xã hội

Nguồn: Gudono (2016)

Môi trường thân thiện mang lại ảnh hưởng sống còn cho việc xác định mức độ

Xã hội Chính phủ Doanh nghiệp

Trang 23

nhận thức xã hội Môi trường xã hội là nơi tổ chức phát triển Điều này xảy ra bởi vì

có những giá trị về nhận thức xã hội trong môi trường Giá trị cộng sinh sẽ khiến người nộp thuế phải luôn luôn giúp đỡ và hỗ trợ người khác

Gangl và Kirchler (2015) đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng sự hiểu biết hợp tác trong các tình huống khó xử xã hội có thể được cơ quan có thẩm quyền sử dụng để khuyến khích hợp tác tự nguyện và cam kết đảm bảo cung cấp hàng hóa công cộng Ngoài ra, sự hiện diện của sự cảm thông và đồng cảm có một tác động tích cực về tuân thủ thuế (Calvet và Alm, 2014) Vì thế, nhận thức xã hội của người nộp thuế có tác động tích cực đến việc tuân thủ thuế

1.2 LÝ THUYẾT VỀ GIAN LẬN THUẾ TNDN

1.2.1 Các khái niệm

1.2.1.1 Thuế và quản lý thuế

Thuế là một bộ phận của cải xã hội được tập trung vào ngân sách nhà nước (NSNN), theo đó tất cả các pháp nhân và thể nhân bắt buộc phải chuyển giao một phần của cải của bản thân cho nhà nước mà không có quyền gắn bất kỳ sự ràng buộc nào về việc hoàn trả lợi ích tương quan với số thuế đã nộp nhằm mục đích để trang trải các chi phí duy trì sự tồn tại, hoạt động của nhà nước và các nguồn kinh phí công, đem lại lợi ích chung cho cộng đồng (Tổng Cục thuế, 2009) Quản lý thuế

là nhiệm vụ thực thi các chức năng liên quan đến các nội dung như đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, ấn định mức thuế, quản lý các trường hợp hoàn trả thuế, miễn giảm thuế; quản lý xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về NNT, kiểm tra, thanh tra, cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật thuế và giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế (Luật quản lý thuế Việt Nam, 2006) Hiện nay, hầu hết các quốc gia tiên tiến đều đã chuyển đổi cơ chế quản lý thuế

là tự kê khai thuế và tự nộp thuế Đặc điểm của cơ chế này là NNT phải tự xác nhận

số tiền thuế phải nộp và tự động nộp số tiền thuế đó đồng thời, NNT phải có nghĩa

vụ kê khai và nộp thuế của mình Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tiến hành kiểm tra, thanh tra việc kê khai của NNT

Trang 24

1.2.1.2 Thuế TNDN

Ở Việt Nam, phạm trù TNDN được công khai phổ biến rộng rãi kể từ khi ban hành Luật thuế TNDN vào năm 1997, có hiệu lực thi hành từ năm 1999 nhằm thay thế cho Luật thuế lợi tức đã lỗi thời Trước đây, các vấn đề liên quan đến thuế thì căn cứ theo Luật thuế lợi tức đã được ban hành cùng với công cuộc cải cách thuế bước I năm 1990 Nhưng trải qua 8 năm thực hiện thì Luật thuế lợi tức này đã dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm, nhiều điểm bất cập không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới Chính vì vậy, Luật thuế TNDN đã được ban hành kịp thời nhằm mục đích đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn mới Theo cách hiểu thông thường thì thuế TNDN là một hình thức thuế trực thu đánh trực tiếp vào lợi nhuận của các DN Hay có nghĩa là nó được tính trực tiếp vào nguồn thu nhập chịu thuế của các cơ sở SXKD sau khi họ đã thực hiện khấu trừ tất cả các khoản chi phí có liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập chịu thuế của cơ sở SXKD đó

1.2.1.3 Gian lận thuế TNDN

Gian lận thuế là hành vi sai trái, được xem là vi phạm pháp luật luôn tồn tại song hành với hoạt động thuế của Nhà nước, nó gây ảnh hưởng và làm tổn thất rất lớn đến hoạt động, kết quả thu Ngân sách của Nhà nước Có thể nói, Nhà nước còn đánh thuế thì sẽ còn tồn tại hành vi này do động cơ luôn muốn giảm và trốn nghĩa

vụ thuế của NNT Như vậy có thể khái niệm gian lận thuế TNDN là hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về thuế, cố ý làm sai lệch dẫn đến làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được miễn, giảm của DN

1.2.2 Các hành vi gian lận thuế TNDN thông qua kê khai sai thu nhập tính thuế TNDN

Theo Tổng Cục thuế (2010), các hành vi khai sai thu nhập tính thuế TNDN thường xảy ra như sau:

1.2.2.1 Kê khai doanh thu nộp thuế thấp hơn thực tế

Trang 25

Thuế biểu hiện cho sự mâu thuẫn về quyền lợi giữa Nhà nước và DN, khi mà Nhà nước luôn muốn tăng nguồn thu NSNN trong khi DN lại muốn giảm tối đa số thuế phải nộp, vì thuế cũng là một nguồn vốn tái đầu tư quan trọng của DN Căn cứ

để xác định thuế TNDN là doanh thu tính thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh của

DN sau khi trừ đi các khoản chi phí Vì vây, DN thường khai sai doanh thu hoặc giấu bớt doanh thu để giảm bớt lợi nhuận trước thuế Hiện nay, người dân khi mua hàng lại thường không có thói quen yêu cầu người bán xuất hóa đơn, như vây người bán vẫn thu tiền về nhưng do không ghi hóa đơn nên doanh thu trên sổ sách kế toán

bị giảm bớt, làm cho mức lợi nhuận trước thuế của DN ít hơn hoặc bị lỗ, gây ảnh hưởng lớn đến thuế TNDN phải nộp

Một trường hợp khác, trong hoạt động sản xuất kinh doanh các mặt hàng tiêu dùng có giá trị lớn như hàng điện tử, điện máy, vật liệu xây dựng, thực phẩm, DN thường “hạ giá bán”, hay hình thức bán hàng giảm giá, khuyến mãi, bán hàng cho khách với giá thấp hơn giá DN mua hàng vào, với mục đích để lãi gộp thấp, không

bù đắp được chi phí đầu vào, chi phí hoạt động kinh doanh (các khoản chi phí này đều có hóa đơn hợp pháp), dẫn đến cuối năm kê khai lãi ít hơn hoặc lỗ hợp lý trên báo cáo quyết toán thuế Theo điều 16 Luật thuế TNDN 2008, “ DN có lỗ được chuyển lỗ sang năm sau, số lỗ này được trừ vào thu nhập tính thuế, thời gian chuyển

lỗ không quá 5 năm kể từ năm tiếp theo năm phát sinh lỗ ”, tuy nhiên theo kinh nghiệm của cơ quan thuế thì một DN kinh doanh bị thua lỗ 3 năm liên tục là đã có dấu hiệu phá sản hoặc giải thể do không trang trãi được các chi phí cố định, do vây các DN này sẽ phải ấn định thuế hoặc kiểm tra quyết toán Để “né” sự kiểm tra, giám sát của cơ quan thuế, các DN thường tìm cách kê khai lỗ cách năm hoặc kê khai lãi ít đi so với thực tế để nhằm làm giảm số thuế TNDN phải nộp dẫn đến tình trạng chiếm dụng thuế đáng lẽ ra phải nộp cho Nhà nước

1.2.2.2 Khai tăng chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế

Đối với DN thì chi phí hợp lý đóng vai trò vô cùng quan trọng vì nó là một thành phần để tính toán mức thu nhập chịu thuế của DN, từ đó tính ra số thuế

Trang 26

TNDN mà DN phải nộp cho nhà nước Do bị giới hạn về tỷ lệ chi phí hợp lý được phép kê khai, do đó DN thường kê khai khống các chi phí hợp lý để làm giảm bớt

số thuế TNDN phải nộp

Hiện nay vẫn còn một số DN nhỏ thực hiện phương thức kinh doanh trao đổi qua điện thoại hoặc thỏa thuận miệng, người bán lấy hàng tận gốc giao cho người mua không ghi sổ kế toán, khiến cho việc kiểm tra thuế gặp nhiều khó khăn, vì lúc này tại địa điểm kinh doanh của DN, lượng hàng tồn kho ít, giá trị thấp, khó xác định thuế hoặc ấn định thuế Điển hình là những DN kinh doanh ăn uống, mua bán hàng hóa là nhu yếu phẩm

Đối với DN kinh doanh có khách hàng là tổ chức kinh tế có nhu cầu lấy hóa đơn, để bán được nhiều hàng và tạo mối quan hệ buôn bán, nhiều khi DN ghi giá bán trên hóa đơn cao hơn số tiền thực tế thu vào, và lượng hóa đơn bán ra được sử dụng nhiều với giá cả không đồng nhất giữa hóa đơn và thực tế phát sinh Nhìn về mặt lý thuyết thì có thể thấy doanh thu trên sổ sách kế toán của DN rất cao, và khả năng trốn thuế là rất khó, tuy nhiên DN vẫn có thể trốn thuế qua kỹ thuật kê khai lỗ hoặc lãi ít, bằng cách hạch toán dưới giá vốn một số mặt hàng người mua không lấy hóa đơn (thường là khách lẻ), hoặc ghi giảm giá trên một số hóa đơn đã thỏa thuận được với người mua là những tổ chức kinh tế Điều này thường xảy ra ở các DN kinh doanh máy móc, linh kiện điện tử, phụ tùng cho ngành nộng lâm ngư nghiệp, máy móc thiết bị lớn và độc quyền

Một số DN kinh doanh ngành nghề nhạy cảm như karaoke, massage, thường không xuất hóa đơn cho khách mà chỉ lập bảng kê theo dõi hàng ngày hoặc hàng tuần, cuối đợt thực hiện cân đối chi phí đầu vào mới lập hóa đơn một lần Do kinh doanh trong lĩnh vực này nhu cầu về điện, nước, ánh sáng khá lớn, hàng hóa tồn kho hầu như là không có, khó xác định được giá vốn hàng bàn nên DN đôi khi sử dụng hóa đơn mua vào bất hợp pháp để hợp thức hóa cho một số khoản chi phí vượt quá định mức, nhằm đối phó với cơ quan thuế khi bị kiểm tra Đối với những DN này,

cơ quan thuế thường phải ấn định thuế do khó xác định chính xác doanh thu, chi phí

Trang 27

của DN

DN trong giai đoạn mới bắt đầu đi vào hoạt động, đặc biệt là các DN sản xuất, xây dựng, phải đầu tư nhiều hệ thống máy móc và các dây chuyền sản xuất với giá trị lớn, do đó họ thường tìm cách kê khai khống cả những tài sản không thuộc quyền

sở hữu của DN cùng với giá trị khấu hao tài sản vào phần chi phí được trừ để giảm bớt số thuế TNDN phải nộp DN thường kê khai không đúng nguyên tắc, khi khấu hao đủ lại khấu hao tiếp để tăng chi phí, những trường hợp mua sắm các tài sản đủ điều kiện để xác định là TSCĐ nhưng DN lại không hạch toán tăng TSCĐ mà lại đem hạch toán thẳng vào chi phí kinh doanh

Đối với các DN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất với quy mô lớn, phải sử dụng một khối lượng lớn nguyên, nhiên, vật liệu, điện, nước, Dựa trên định mức tiêu hao hợp lý, cơ quan thuế có thể tính toán ra khối lượng thành phẩm mà DN làm

ra, dựa trên chi phí đầu vào để xác định giá thành sản phẩm, từ đó tính ra doanh thu

và thuế TNDN Lợi dụng điều này, một số DN đã thực hiện hành vi trốn thuế bằng cách sử dụng đồng thời từ 2 đền 3 đồng hồ điện hoặc nước cùng một lúc, trong đó 1 đồng hồ điện hoặc nước đã được DN tính toán sẵn định mức để đối phó với cơ quan thuế khi bị kiểm tra, phần lớn thời gian sản xuất sẽ sử dụng đồng hồ còn lại Bằng cách này, số lượng sản phẩm mà DN sản xuất được là rất lớn mà cơ quan thuế không thể kiểm tra được, làm thất thoát một nguồn thuế lớn của Nhà nước

Bên cạnh chi phí hoạt động sản xuất, các khoản chi phí về quản lý DN và một

số khoản chi phí khác cũng bị DN lợi dụng để trốn thuế Điển hình như chi phí về tiền lương, tiền công cho người lao động DN thường đưa ra những “hợp đồng ma”,

“công nhân ảo” để hạch toán chi phí tiền lương, tiền công rất cao, nhưng trên thực

tế lại không chi trả và không có hóa đơn, chứng từ chứng minh Ngay cả các khoản tiền thưởng không mang tính chất tiền lương của người lao động, tiền lương của ban lãnh đạo DN không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất kinh doanh cũng được DN đưa vào DN thường kê khai tốc độ tăng lương cao hơn tốc độ tăng doanh thu để làm tăng chi phí hợp lý được trừ

Trang 28

Một số DN kinh doanh nhiều chủng loại hàng hóa với giá mua vào và bán ra gồm nhiều loại khác nhau và luôn thay đổi DN đã lợi dụng việc này bằng cách kinh doanh nhiều mặt hàng cùng loại nhưng khác nhau về quy cách, phẩm chất, giá cả để

kê khai lỗ dựa trên sự lẫn lộn về giá vốn, kê khai hàng hóa giá trị cao thay thế cho hàng hóa giá trị thấp nhưng lại không thể hiện trên hóa đơn để đối chiếu

Một số trường hợp sai phạm khác của DN trong việc hạch toán chi phí được phép khấu trừ, điển hình như: kê khai các khoản chi phí quản lý DN không hợp lý hoặc vượt quá quy định; chi phí lãi vay tương ứng với các hợp đồng vay không liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế; các khoản chi phí mua hàng hóa, dịch vụ của DN có sự sai lệch giữa sổ kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

1.2.2.3 Sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp nhằm khai khống chi phí

Hóa đơn, chứng từ là bằng chứng quan trọng thể hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của DN là trung thực và hợp lý Tuy nhiên với mục đích gian lận thuế nên hóa đơn, chứng từ cũng là mục tiêu của DN Có khá nhiều hình thức gian lận về hóa đơn, chứng từ, kể cả hóa đơn mua vào, bán ra, hóa đơn giả, chứng từ khống, do hóa đơn không chỉ liên quan đến khấu trừ thuế GTGT mà còn là bằng chứng để được tính chi phí được trừ khi xác định thuế TNDN

Những lỗi thường phát hiện khi tiến hành đối chiếu, kiểm tra bảng kê hàng hóa

và hóa đơn mua bán của DN có thể kể đến như:

Mặt hàng thể hiện trên bảng kê hàng hóa mua vào nhưng không liên quan đến hàng hóa bán ra (ví dụ: một DN kinh doanh mặt hàng ăn uống có hàng hóa bán ra là thức ăn nhưng mua vào xăng, dầu, )

Sử dụng hóa đơn đã hết hạn sử dụng hoặc hóa đơn giả, hóa đơn bán ra của cơ

sở kinh doanh khác để nhằm mục đích hợp thức hóa cho hàng hóa, dịch vụ mua vào của DN khi không có hóa đơn đầu vào

Bán hàng không xuất hóa đơn cho khách hàng nên không thể kiểm soát được doanh thu bán ra của DN Giữa 3 liên của hóa đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng

Trang 29

hóa, dịch vụ, thường là chênh lệch giữa liên 2 với liên 1,3 do DN khi bán hàng chỉ ghi liên 2 để đưa cho khách hàng, còn liên 1, 3 không ghi hoặc bỏ trống ghi sau Giá bán trên hóa đơn thấp hơn gia bán thực tế cho khách hàng, điều này thường xảy ra với những DN kinh doanh xe gắn máy, vải, thuốc men, vật liệu xây dựng, Họ bán cho khách hàng giá rất cao nhưng lại ghi hóa đơn với giá thấp để trốn doanh thu Điều này có vẻ như đã trở thành “luật bất thành văn” đối với các

DN kinh doanh những mặt hàng trên Việc khách hàng (thường là khách lẻ) mua hàng không yêu cầu lấy hóa đơn cũng là một nguyên nhân giúp cho các DN có thể

dễ dàng trốn thuế

Xem xét bảng kê hóa đơn được dùng trong tháng, đôi khi có thể phát hiện ra hiện tượng số hóa đơn sử dụng không liên tục, báo hóa đơn hủy nhưng không xuất trình được tờ hóa đơn bị hủy

Dùng hóa đơn của những DN đã có thông báo bỏ trốn để kê khai khấu trừ, hợp thức hóa cho chi phí đầu vào không được phép kê khai để làm chi phí hợp lý khi

DN xác định thu nhập chịu thuế

DN bán hàng với giá trị cao nhưng không xuất hóa đơn bán ra cho người mua, thay vào đó là xuất hóa đơn cho các hộ kinh doanh cá thể thường có mối quan hệ thân thuộc với DN với giá bán rất thấp để hợp thức hóa lượng hàng hóa đã bán ra

Cơ quan thuế khi kiểm tra thường tập trung vào chứng từ, hóa đơn về các khoản chi phí phục vụ SXKD, ít xem xét giá vốn hàng bán nên kế toán thường chủ động kê khai một số khoản phí có chứng từ, hóa đơn hợp pháp nhưng lại không phục vụ SXKD nhằm đánh lạc hướng kiểm tra, kết quả là DN vẫn lỗ mặc dù đã bị xuất toán một số khoản chi phí không phục vụ mục đích SXKD

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ Ở KHÂU KÊ KHAI THUẾ

1.3.1 Các nhân tố liên quan đến chính sách thuế

1.3.1.1 Thuế suất

Tác động của thuế suất đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế đã được

Trang 30

chứng minh trong nhiều nghiên cứu Thuế suất có liên quan đến hành vi trốn thuế (Clotfelter, 1983) Tăng thuế suất có thể khuyến khích người nộp thuế trốn thuế nhiều hơn (Ali và Cộng sự, 2001; Torgler, 2007) nhưng giảm thuế suất không nhất thiết sẽ làm tăng sự tuân thủ thuế (Trivedi và cộng sự, 2004)

Các viên chức thuế ở Ấn Độ nhận thấy rằng hạ thấp mức thuế suất cùng với việc gia tăng cưỡng chế về thuế đã giúp tăng số thu thuế thêm 25% Khi thuế suất cao, lợi ích có được từ kê khai thấp thu nhập và kê khai cao các khoản chi phí sẽ lớn, nên số tiền trốn thuế sẽ lớn

1.3.1.2 Thay đổi chính sách hiện hành của chính phủ

Những thay đổi trong chính sách hiện hành của chính phủ cũng có ảnh hưởng nhất định đến tuân thủ thuế Ở Malaysia, giá xăng dầu và một số mặt hàng thiết yếu như gạo, bột mì, đường, dầu ăn do chính phủ kiểm soát Khi Giá cả các mặt hàng này thường xuyên tăng sẽ tác động tiêu cực đến việc mua sắm của người nộp thuế

và cuối cùng khuyến khích họ trốn thuế Kim (2008) nghiên cứu về hành vi trốn thuế ở 50 quốc gia mỗi năm đã minh họa cho quan điểm này và kết luận rằng hành

vi trốn thuế bị tác động bởi việc kiểm soát giá, dịch vụ công, thuế thu nhập công ty, GDP bình quân đầu người, hệ thống thuế và cơ cấu chi tiêu chính phủ (tác động theo chiều dương)

1.3.2 Các nhân tố liên quan đến quản lý thuế

1.3.2.1 Tính đơn giản của việc kê khai thuế

Hệ thống thuế ở nhiều quốc gia ngày càng được hoàn thiện, càng trở nên phức tạp Tính phức tạp của hệ thống thuế là một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến không tuân thủ (Jackson và Milliron, 1986) Tính phức tạp của hệ thống thuế thể hiện ở 2 khía cạnh: quá nhiều chi tiết trong luật thuế hoặc yêu cầu tính toán quá nhiều Người nộp thuế phải tự hiểu những quy định phức tạp này để xác định chính xác thuế phải nộp Clotfelter (1983) cho rằng tính phức tạp của hệ thống thuế có liên quan đến không khai báo thuế Richarson (2006) phát hiện mối quan hệ giữa tính phức tạp của hệ thống thuế với việc không tuân thủ thuế hoặc trốn thuế

Trang 31

OECD (2001) cho rằng pháp luật thuế ở nhiều nước chưa rõ ràng, chính là nguyên nhân khiến cho các DN dựa vào để trốn hoặc tránh thuế Điều này càng đúng ở những nước đang phát triển do công tác điều hành, quản lý thuế vẫn còn kém hiệu quả và chế độ thuế phức tạp Ở các nước phát triển, khi áp dụng cơ chế tự khai tự nộp, yêu cầu đối với tờ khai thuế là phải có nội dung đơn giản, dễ hiểu bởi

vì người nộp thuế thuộc nhiều thành phần, trình độ giáo dục và mức độ am hiểu về thuế là khác nhau

Theo Silvani và Baer (1997), tờ khai thuế đơn giản sẽ tạo điều kiện để người nộp thuế có thể tự mình hoàn thành tờ khai thay vì phải sử dụng các dịch vụ từ đại

lý thuế, nhờ đó tiết kiệm chi phí Tương tự, Slemrod (1989) cho rằng tờ khai thuế cùng với các quy định về thuế đơn giản sẽ giúp tăng tính tuân thủ, người nộp thuế không phải mất nhiều thời gian chứng thực tính chính xác của thu nhập chịu thuế Việc đơn giản hóa các thủ tục thực hiện kê khai thuế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý về thuế, cắt giảm chi phí quản lý, tăng hiệu quả quản lý thuế (Bird, 1998)

1.3.2.2 Công tác kiểm tra thuế

Theo Torgler và Schneider (2005), người nộp thuế nỗ lực tối thiểu hóa nghĩa

vụ thuế bằng cách khai báo thấp thu nhập chịu thuế và hưởng phần tiết kiệm thuế tương ứng nếu cơ quan quản lý thuế không phát hiện ra những hành vi của họ Ngoài ra, họ sẽ sẵn sàng thanh toán nhiều hơn, kể cả khoản tiền phạt nếu bị phát hiện

Nhiệm vụ kiểm tra thuế là nhiệm vụ quan trọng, cơ quan thuế phải thực hiện thường xuyên, liên tục Witte và Woodbury (1985) phát hiện mối quan hệ giữa kiểm tra thuế với tỷ lệ tuân thủ thuế Việc kiểm tra thuế có ảnh hưởng đến hành vi trốn thuế, nghĩa là, nếu người nộp thuế đã được kiểm tra thuế bởi các cơ quan thuế sẽ tuân thủ thuế tốt hơn, việc kiểm tra thuế rất quan trọng, đóng vai trò trung tâm làm gia tăng tính tuân thủ (Dubin, 2004)

Kiểm tra thuế làm thay đổi hành vi tuân thủ thuế từ tiêu cực sang tích cực

Trang 32

(Butler, 1993) Các cuộc kiểm tra thuế sẽ khuyến khích người nộp thuế thận trọng trong việc hoàn thành tờ khai thuế, báo cáo đầy đủ thu nhập, khai báo đúng những khoản giảm trừ để xác định thu nhập chịu thuế Ngược lại, người nộp thuế chưa từng được kiểm tra thuế có thể tiếp tục lặp lại hành vi khai báo thấp thu nhập hoặc

kê khai sai các khoản giảm trừ

Andreoni và cộng sự (1998) cho rằng kinh nghiệm có được từ những lần bị kiểm tra thuế và việc vẫn bị cơ quan thuế quản lý, giám sát có tác dụng làm gia tăng mức độ tuân thủ nghiêm túc việc nộp thuế Theo Eisenhauer (2008), kiểm tra thuế là cách thức quan trọng trong việc giảm thiểu hành vi người nộp thuế không tuân thủ thuế Các cuộc kiểm tra không chỉ có ảnh hưởng lớn bao gồm cả người nộp thuế bị kiểm tra mà còn tác động đến cả những người nộp thuế chưa bị kiểm tra

Như vậy, kiểm tra thuế giữ có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo tính tuân thủ thuế Người nộp thuế sẽ khai báo thuế chính xác nếu họ nghĩ rằng họ sẽ là một trong những người bị kiểm tra thuế trong tương lai (Richardson, 2006)

1.3.3 Các nhân tố liên quan đến người nộp thuế

1.3.3.1 Kiến thức về thuế của người nộp thuế

Ảnh hưởng của kiến thức thuế đến hành vi tuân thủ thuế qua kê khai đã được chứng minh trong thực tiễn (Mohamad Ali và cộng sự, 2007) Kiến thức và sự am hiểu về thuế của người nộp thuế chính là nền tảng và năng lực để tuân thủ thuế Kiến thức về thuế có quan hệ mật thiết đến khả năng hiểu các quy định về thuế, từ đó tuân thủ thuế tốt hơn (Singh, 2003) Eriksen và Fallan (1996) cho rằng kiến thức tài chính, sự hiểu biết tốt về thuế có ảnh hưởng đến thái độ và cải thiện hành vi tuân thủ thuế

Hệ thống tự kê khai và tự nộp thuế yêu cầu người nộp thuế phải có đủ kiến thức và năng lực để am hiểu về thuế (Jackson và Milliron, 1986) Kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực thuế cùng với những hiểu biết về các quy định thuế sẽ giúp người nộp thuế nhận thức những hậu quả gây ra từ việc trốn thuế

1.3.3.2 Nhận thức về tính công bằng

Trang 33

Đối với người nộp thuế, công bằng là mối quan tâm hàng đầu Khi hệ thống thuế đảm bảo công bằng, người nộp thuế tích cực tuân thủ thuế hơn Sự không công bằng của hệ thống thuế khiến cho người nộp thuế nghĩ rằng họ đang trả quá nhiều các loại thuế không liên quan đến giá trị những dịch vụ do chính phủ cung cấp Người nộp thuế muốn có sự công bằng giữa những người nộp thuế trong cùng một nhóm hoặc giữa các nhóm với nhau Nếu một nhóm nào đó nhận thấy nghĩa vụ thuế của họ cao hơn những nhóm khác, việc trốn thuế có thể xảy ra Sự tuân thủ thuế sẽ giảm đi khi người nộp thuế cho rằng hệ thống thuế không công bằng Khi đó trốn thuế sẽ xảy ra trên quy mô lớn (Barjoyai, 1987)

Người nộp thuế mong muốn được cung cấp đầy đủ các quy định về thuế từ cơ quan thuế để họ có thể hoàn thành chính xác việc kê khai thuế Vì vậy, việc tăng cường cung cấp thông tin về thuế giúp tăng nhận thức của người nộp thuế về tính công bằng, từ đó tuân thủ thuế tốt hơn (Wartick, 1994)

Xét ở khía cạnh xử phạt về thuế, việc kiểm tra thuế không hợp lý cùng với hình phạt không công bằng sẽ gây ra căng thẳng và người nộp thuế không hài lòng (Spicer và Lundsted, 1976) Khi người nộp thuế nhận thức không tốt về sự công bằng trong xử phạt thuế có thể dẫn đến không tuân thủ và làm gia tăng trốn thuế

1.3.3.3 Nhận thức về hình phạt và phạm tội

Allingham và Sandmo (1972) cho rằng hình phạt và nhận thức về việc phạm tội có ảnh hưởng mạnh đến tuân thủ thuế Tuân thủ thuế sẽ tăng khi các hình phạt dùng để xử lý hành vi không tuân thủ tăng Ý nghĩ sợ hình phạt sẽ ngăn chặn hành

vi khai sai thuế Xử lý hành vi trốn thuế là giải pháp quan trọng để tăng cường tuân thủ thuế Người nộp thuế sẽ tuân thủ thuế tốt hơn nếu hành vi không tuân thủ tất yếu

sẽ bị trừng phạt

Witte và Woodbury (1985) phát hiện mối quan hệ đáng kể giữa các biện pháp trừng phạt hình sự và tuân thủ thuế Grasmick và Scott (1982) cũng chỉ ra rằng những hành vi không tuân thủ sẽ giảm đi nếu bị phạt nặng

1.3.3.4 Tình trạng tài chính của người nộp thuế

Trang 34

Tình hình tài chính có ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế Khi đối mặt với căng thẳng về tài chính, người nộp thuế là DN sẽ phải ưu tiên chi tiêu cho những nhu cầu ngay lập tức (trả nợ vay đến hạn, lương, ) hơn là nghĩ đến trả tiền thuế Khi người nộp thuế đối diện với khó khăn về tài chính sẽ có xu hướng kê khai thuế không trung thực nhằm mục đích trốn thuế nhiều hơn so với những người ít gặp khó khăn

về tài chính (Mohani và Sheehan, 2004)

Palil (2010) cho rằng căng thẳng về tài chính là yếu tố chính tác động đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế ở Malaysia

1.4 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.4.1 Nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu của Mahmoud Moeinadin và cộng sự (2014), “Xác định các nhân

tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế” Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế tại Iran gồm có 4 nhân tố: luật pháp, xã hội, cấu trúc hệ thống thuế, nhóm nhân tố riêng của DN Nhóm nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy đa biến để phân tích số liệu khảo sát 239 DN Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 4 nhóm nhân tố đều có tác động cùng chiều đến tuân thủ thuế của DN B.Kamleitner và cộng sự (2010) đã xác định được 3 yếu tố chính ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế của DN nhỏ dựa trên nền tảng tâm lý, gồm: Nhận diện cơ hội, yêu cầu kiến thức và khuôn khổ ra quyết định về thuế

Nhận diện cơ hội: Do đặc điểm của việc tự kê khai tự nộp thuế đã làm phát sinh những cơ hội ảnh hưởng đến hành vi không tuân thủ thuế bao gồm cả hành vi

cố ý và vô ý Thứ nhất, nếu DN không cố ý tận dụng cơ hội để không tuân thủ thuế thì vẫn có thể vô tình không tuân thủ thuế thông qua việc mắc các lỗi về kê khai, xác định các khoản chi phí (được trừ hay không được trừ) hay lỗi tính toán Thứ hai, nếu DN có ý định không tuân thủ thuế, họ có thể tận dụng cơ hội phát sinh trong cơ chế tự kê khai như việc tính toán, kiểm soát dòng tiền, kiểm soát thu nhập, thông qua đó có thể kiểm soát các khoản thuế mà họ phải nộp

Yêu cầu kiến thức: Sự không tuân thủ thuế của các DN nhỏ còn phát sinh từ sự

Trang 35

thiếu hụt các kiến thức do sự phức tạp của các báo cáo tài chính cũng như quy định của từng hệ thống thuế riêng biệt Luật thuế có xu hướng thay đổi thường xuyên, phức tạp hơn và mập mờ hơn Để tuân thủ thuế đòi hỏi DN phải có kiến thức về thuế và những biện pháp tuân thủ thuế Tuy nhiên, việc tiếp thu các kiến thức về thuế lại rất tốn kém về thời gian (ví dụ như tím hiểu thông tin, lưu giữ các hồ sơ, điền các biểu mẫu,…) và tiền bạc (ví dụ như tài liệu về thuế, chi phí thuê những chuyên gia, những người hành nghề thuế) và đối với các chủ DN nhỏ chi phí tuân thủ lại rất cao trong bối cảnh thu nhập của họ vẫn còn thấp Như vậy, việc không tuân thủ thuế có thể là bắt nguồn từ sự phức tạp của hệ thống thuế Kiến thức bao gồm kiến thức giáo dục chung và kiến thức cụ thể về thuế Kiến thức chung dường như được sử dụng để thực hiện trốn thuế hơn là tuân thủ Ngược lại, kiến thức cụ thể về thuế có xu hướng dẫn đến việc gia tăng tính tuân thủ, bởi vì việc tìm hiểu kiến thức cụ thể về thuế cũng có nghĩa là tìm hiểu về sự cần thiết, tầm quan trọng của luật thuế trong xã hội cũng như biết cách làm thế nào để không vi phạm

Khuôn khổ quyết định: Ngoài việc nhận thức được cơ hội cũng như sự thiếu hụt kiến thức về thuế, khi xem xét tính tuân thủ của người nộp thuế, cần phải hiểu

rõ những khuôn khổ ra quyết định trong việc trốn thuế hay không Tùy thuộc vào từng khuôn khổ áp dụng mà người nộp thuế sẽ có những phản ứng khác nhau trong hành vi tuân thủ thuế của mình Khi chủ DN nhỏ ra quyết định về việc nộp các khoản thuế thì một sự mất mát hay việc làm giảm thu nhập cũng như sự giới hạn tự

do tài chính sẽ ảnh hưởng mạnh đến sự tuân thủ hay không của họ

1.4.2 Nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam hiện nay, nhiều nghiên cứu xoay quanh vấn đề về tuân thủ thuế

Cụ thể có một số nghiên cứu sau:

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) với đề tài: “Hoàn thiện quản lý thu thuế của nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của DN: Nghiên cứu tình huống của Hà Nội” Đề tài tập trung vào phân tích thực trạng công tác thu thuế tại

Hà Nội từ đó tác giả đề xuất các nhóm giải pháp tăng cường sự tuân thủ thuế của

Trang 36

các DN

Nguyễn Chí Dũng (2009) phân tích người nộp thuế dưới giác độ tuân thủ, nghiên cứu đã nêu rõ vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra thuế trong việc giám tuân thủ thuế của NNT Tác giả đã đưa ra nhóm giải pháp xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế như: Tỷ lệ (%) số cuộc thanh tra, kiểm tra/ số

DN trong thời gian 1 năm; tỷ lệ (%) độ chính xác trong việc phân tích hồ sơ so với kết quả thanh tra kiểm tra

Nghiên cứu của Võ Đức Chín (2011), Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của DN: Trường hợp tỉnh Bình Dương Tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến tuân thủ thuế của DN tại tỉnh Bình Dương gồm

có 6 nhóm nhân tố: (1) Đặc điểm về DN; (2) Các yếu tố về ngành kinh doanh; (3) Các yếu tố về xã hội; (4) Các yếu tố kinh tế; (5) Các yếu tố về hệ thống thuế; (6) Các yếu tố tâm lý DN Kết quả phân tích số liệu khảo sát 200 DN bằng kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy đa biến cho thấy cả 6 nhóm nhân tố đều ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của DN Trong đó, các yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến tuân thủ thuế là Yếu tố kinh tế; Hệ thống thuế và đặc điểm DN

Nguyễn Diệu Thủy (2013) phân tích các số liệu thứ cấp bằng các kỹ thuật như

kỹ thuật so sánh, đối chiếu, phân tích Nghiên cứu căn cứ các tiêu chí về quy mô hoạt động của DN, loại hình DN, cơ cấu tổ chức của DN, mức độ tuân thủ nộp thuế, hiệu quả SXKD, tình hình kê khai và tuân thủ thuế của DN , các năm đã thực hiện thanh tra, kiểm tra, DN Ngoài kết quả đạt số thu hàng năm, công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc thời gian qua đã góp phần nâng cao dần tính tuân thủ tự giác trong việc chấp hành các chính sách thuế của NNT; tạo sựcông bằng về nghĩa vụ thuế đối với tất cả DN, thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng giữa các

DN thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh

Nghiên cứu của Nguyễn Đăng Nguyên (2013) về gian lận thuế TNDN tại Chi cục Thuế quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu cho thấy, cho thấy rằng các cơ quan quản lý nhà nước nhất là các nhà ban hành chính sách cần nên lưu

Trang 37

tâm đến vấn đề tạo được niềm tin cho DN về một chính sách thuế công bằng, bình đẳng giữa các DN với nhau Các DN sẽ sẵn sàng qua mặt các nhà quản lý khi biết

có những kẽ hở pháp luật và biết rằng trình độ quản lý của các cơ quan chức năng còn hạn chế

Nghiên cứu của Phan Thị Hồng Nhung (2015) về gian lận thuế TNDN tại Cục thuế tỉnh Kiên Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy, các hình thức gian lận thuế TNDN chủ yếu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang gồm có: (i) Gian lận thông qua việc thành lập DN; (ii) Gian lận thông qua hành vi vi phạm chế độ sử dụng hóa đơn, chứng từ; và (iii) Gian lận thông qua hạch toán kế toán và kê khai thuế sai quy định Nghiên cứu của Lê Trung Dũng (2015), “Tăng cường kiểm soát thuế TNDN tại Cục thuế tỉnh Quảng Ngãi” Nghiên cứu đã nêu ra những ưu điểm và những bất cập trong công tác kiểm soát thuế TNDN tại Cục thuế tỉnh Quảng Ngãi thông qua các nội dung như: đăng ký kê khai thuế, hỗ trợ hướng dẫn cho người nộp thuế; công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại DN; kiểm soát nợ thuế và kiểm tra nội bộ giám sát việc tuân thủ Ngoài ra, nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật khảo sát cán bộ thuế để đánh giá độ tin cậy, khách quan của các hồ sơ khai thuế, mức độ chấp hành pháp luật về thuế và các hành vi vi phạm về thuế Sau cùng, nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp gắn với thực tế nhằm tăng cường hoạt động kiểm soát thuế TNDN tại Cục

Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về khai sai thuế TNDN trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, đây chính là tính mới của đề tài

1.5 KINH NGHIỆM KIỂM SOÁT HÀNH VI KHAI SAI THU NHẬP TÍNH THUẾ THU NHẬP DN Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

1.5.1 Kinh nghiệm của Cục Thuế tỉnh Nghệ An

Nghệ An là tỉnh có địa bàn tương đối rộng, số lượng DN tương đối lớn nhưng phần lớn DN có qui mô nhỏ và rất nhỏ Việc nhận thức và tuân thủ pháp luật của khối DN rất thấp, vì vậy xảy ra rất nhiều sai phạm nhất là trong lĩnh vực hóa đơn

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN trong hoạt động SXKD, đồng thời thực

Trang 38

hiện cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế Nhà nước đã trao quyền in, phát hành hóa đơn cho DN từ đầu năm 2011 theo quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ - CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ, Thông tư số 153/2010/TT - BTC ngày 14/5/2010, Thông tư số 64/2013/TT - BTC ngày 15/5/2013 của Bộ Tài chính và nay là Nghị định số 04/2014/NĐ - CP ngày 17/01/2014 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 51/2010/NĐ - CP Trong khi đó thủ tục thành lập DN lại rất đơn giản và dễ dàng Chính vì vậy, lợi dụng chính sách đó mà một số đối tượng đã thành lập DN nhằm mục đích mua, bán hóa đơn trái phép

Từ khi thực hiện quy định DN được quyền tự in ấn, phát hành hóa đơn thì tình hình vi phạm về hóa đơn tăng lên nhanh chóng và diễn biến phức tạp Đứng trước thự trạng đó, Cục Thuế tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tăng cường công tác rà soát, giám sát việc in ấn, phát hành và sử dụng hóa đơn, trong đó đặc biệt giám sát chặt chẽ các DN thành lập từ đầu năm 2011 có dấu hiệu bất thường như: vốn thấp, doanh số lớn, doanh số tăng đột biến Đặc biệt rà soát kiểm tra toàn

bộ DN mà chủ DN cư trú ở địa bàn tỉnh khác và thuê trụ sở để làm văn phòng giao dịch

Cục Thuế tỉnh Nghệ An đã phối hợp với cơ quan Công an để tiến hành kiểm tra, xác minh các trường hợp bỏ trốn mang theo hóa đơn, các DN hoạt động nhằm mục đích mua bán trái phép hóa đơn Kết quả kiểm tra, rà soát đã chuyển hồ sơ sang

cơ quan Công an điều tra xử lý các DN từ 01/01/2011 đến 31/12/2014 là 96 DN bỏ trốn mang theo hóa đơn, 2.425 lượt DN đã sử dụng hóa đơn của các DN bỏ trốn, số hóa đơn DN bỏ trốn đã xuất, kê khai doanh thu, thuế GTGT đầu ra và các đơn vị mua đã sử dụng để hạch toán chi phí, kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào là 9.562 số; Giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn bán ra của DN bỏ trốn đã kê khai đầu ra là 455,3 tỷ đồng; Thuế GTGT ghi trên hóa đơn bán ra của DN bỏ trốn là 43,5 tỷ đồng Qua kiểm tra, Cục Thuế tỉnh Nghệ An đã nhận định được những phương thức

và hành vi vi phạm hóa đơn chủ yếu xảy ra trên địa bàn tỉnh Nghệ An như sau:

Đối với đơn vị bán hóa đơn:

Trang 39

Trường hợp thành lập DN nhằm mục đích in, phát hành và mua, bán hóa đơn bất hợp pháp: Chủ DN thường dùng chứng minh thư giả mang tên của người khác

để đăng ký kinh doanh thành lập DN; Ngành nghề đăng ký kinh doanh đa ngành nghề; Thực hiện thuê địa điểm làm văn phòng giao dịch; Làm thủ tục in, phát hành hóa đơn để bán; vẫn thực hiện kê khai thuế đầu vào, đầu ra hình thường Hóa đơn đầu vào thường mua hoặc xin hóa đơn của những đơn vị bán lẻ cho khách hàng không lấy hóa đơn, vì vậy số thuế GTGT kê khai hàng tháng phát sinh rất thấp hoặc không phát sinh Khi cơ quan thuế đối chiếu hóa đơn thì vẫn khớp đúng giữa các liên 01 và 02 nên rất khó phát hiện sai phạm của đơn vị Những DN này thực hiện bán hóa đơn để thu lợi bất chính một thời gian rồi bỏ trốn Khi tiến hành kiểm tra và xác minh thì thực tế DN không có hoạt động SXKD

Trường hợp một số DN có kinh doanh, nhưng trong quá trình kinh doanh thực hiện bán hóa đơn ghi hàng hóa, dịch vụ mà DN thực tế không kinh doanh hoặc xuất hóa đơn lớn hơn hàng hóa địch vụ thực tế bán để thu lợi bất chính Đối với trường hợp này DN vẫn thực hiện kinh doanh bình thường, doanh thu bán hàng hóa, dịch

vụ rất lớn so với khả năng kinh doanh của DN Có những mặt hàng DN thực tế không kinh doanh nhưng vẫn xuất hóa đơn để bán, hoặc xuất hóa đơn lớn hơn hàng hóa, dịch vụ đơn vị thực tế bán để thu lợi bất chính Đồng thời xin hoặc mua hóa đơn và lập chứng từ giả để hợp thức hóa đầu vào của những mặt hàng đó Một số mặt hàng đơn vị thường xuất bán hóa đơn như: Đất, đá, cát sỏi, nhân công, thuê máy móc thiết bị

Trường hợp một số DN thực sự có kinh doanh nhưng trong quá trình kinh doanh, bán hàng hóa, dịch vụ người mua hàng không lấy hóa đơn DN đã sử dụng hóa đơn đó để bán cho các đơn vị cần sử dụng hóa đơn đúng các mặt hàng đó để thu lợi bất chính

Việc thanh toán tất cả các hóa đơn trên vẫn thực hiện đúng quy định, đối với hóa đơn có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên vẫn được thực hiện thanh toán qua ngân hàng bằng cách đơn vị mua hóa đơn thực hiện chuyển tiền vào tài khoản đơn vị bán

Trang 40

hóa đơn đồng thời rút tiền ra luôn Việc hạch toán kế toán vẫn thực hiện theo quy định Các chứng từ chi phí đầu vào DN lập chứng từ giả nhằm hợp thức hóa hoạt động bán hóa đơn bất hợp pháp Vì vậy gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc kiểm tra phát hiện

Đối với đơn vị mua hóa đơn:

Mua hóa đơn nhưng thực tế không có hàng hóa, dịch vụ (hóa đơn khống) để hợp thức hóa chi phí và khấu trừ thuế GTGT đầu vào; Mua hóa đơn để hợp thức hóa các chi phí không có hóa đơn; Mua hàng hóa, dịch vụ số lượng và giá trị ít nhưng lấy hóa đơn với số lượng và giá trị nhiều hơn

Việc thanh toán và hạch toán kế toán đối với các trường hợp trên vẫn thực hiện đúng quy định Vì vậy nếu chúng ta đối chiếu hóa đơn giữa các liên sẽ không có sai lệch và việc thanh toán tiền hàng vẫn đảm bảo đúng quy định

1.5.2 Kinh nghiệm của Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh trong việc kiểm tra phát hiện các vi phạm đối với hoạt động bốc xúc, vận chuyển

Đặc thù Quảng Ninh là tỉnh có hoạt động khai thác khoáng sản phát triển mạnh, đặc biệt là hoạt động bốc xúc vận chuyên đất đá, vận chuyển than của ngành than; vận chuyển xi măng; vận chuyển xăng dầu xuất khẩu; vận chuyển đất sản xuất gạch ngói, vận chuyển đất đá san lấp mặt bằng cho các dự án ;các ngành, các đơn

vị nêu trên ngoài việc tự đầu tư năng lực bốc xúc, vận chuyển còn huy động nguồn năng lực từ các DN ngoài ngành, vì vậy trong khoảng từ năm 2007 đến nay số DN ngoài quốc doanh được thành lập và hoạt động trong lĩnh vực vận chuyển, bốc xúc tăng đáng kể đặc biệt là vận chuyển (gồm vận chuyển bằng đường thuỷ, đường bộ), bốc xúc đất đá

Để tạo môi trường hoạt động kinh doanh lành mạnh, bình đẳng và công bằng giữa các DN góp phần tăng nguồn thu cho Nhà nước Chi Cục thuế tỉnh đã tập trung huy động nguồn lực đề ra các giải pháp, biện pháp nhằm tăng cường kiểm soát công tác thu thuế, chống thất thu NSNN đối với hoạt động kinh doanh vận chuyển, bốc xúc trên địa bàn toàn tỉnh

Ngày đăng: 04/11/2019, 00:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w