Từ thực tế điều trị tại khoa Da liễu, Bệnh viện Y học cổ truyền TrungƯơng, chúng tôi nhận thấy điều trị bệnh vẩy nến thể thông thường bằng thuốcY học cổ truyền có hiệu quả rõ rệt.. Vì vậ
Trang 2ALT Alanin amino tranferase
AST Aspartat amino tranferase
DLQI Dematology life quality index
Trang 3“Psoriasis” rút ra từ chữ Hy Lạp là “Psora” Ở Việt Nam, giáo sư Đặng Vũ
Hỷ là người đầu tiên đặt tên cho bệnh này là “Vẩy nến” Đầu thế kỷ XIX,bệnh được làm sáng tỏ dần, lúc đầu chỉ là những mô tả về đặc điểm lâm sàng,rồi đến hình ảnh mô bệnh học đặc trưng và các phương pháp điều trị Nhưngqua một thời gian dài các nhà khoa học vẫn chưa tìm được phương pháp điềutrị đặc hiệu cho bệnh này
Theo quan điểm của Y học hiện đại, căn nguyên của bệnh chưa đượcbiết rõ Một số giả thiết cho rằng bệnh do yếu tố di truyền, rối loạn miễn dịch,chuyển hóa có tác động đến hình thành bệnh vẩy nến Tuy nhiên nhiều tác giảhiện nay cho rằng bệnh vẩy nến là bệnh da viêm có liên quan đến tế bàolympho T ở da Các biểu hiện lâm sàng của bệnh là hậu quả của việc sản xuấtcác cytokin và chemokin của quá trình miễn dịch của da gây nên Chiến lượcđiều trị bao gồm giai đoạn tấn công (làm sạch tổn thương) và giai đoạn duy trì(duy trì sự làm sạch đó) với sự kết hợp điều trị các yếu tố khởi động và thuốc.Thuốc điều trị vẩy nến gồm thuốc dùng toàn thân và thuốc bôi ngoài Tuynhiên vì là một bệnh mạn tính nên các thuốc phải dùng kéo dài, khi dùngthuốc toàn thân kéo dài có thể xảy ra một số tác dụng không mong muốnthậm chí nguy hiểm đến tính mạng
Theo Y học cổ truyền, bệnh vẩy nến có tên là Bạch sang hay Tùng bìtiễn, có nhiều nguyên nhân gây nên bệnh nhưng cuối cùng đều dẫn đến tìnhtrạng huyết hư phong táo Điều trị bệnh vẩy nến trong Y học cổ truyền cũng
Trang 4dùng thuốc uống trong và thuốc ngoài (tắm, bôi) Mặc dù đã có nhiều đề tàinghiên cứu ở nước ngoài về điều trị vẩy nến bằng Y học cổ truyền, tuy nhiêntại Việt Nam hiện có rất ít đề tài nghiên cứu về điều trị vẩy nến bằng Y học cổtruyền Từ thực tế điều trị tại khoa Da liễu, Bệnh viện Y học cổ truyền TrungƯơng, chúng tôi nhận thấy điều trị bệnh vẩy nến thể thông thường bằng thuốc
Y học cổ truyền có hiệu quả rõ rệt Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá tác dụng điều trị bệnh vẩy nến thể thông thường thể huyết hư phong táo của bài thuốc Tiêu phong tán kết hợp bôi Vazelin ” với hai mục tiêu:
1 Đánh giá tác dụng điều trị bệnh vẩy nến thể thông thường của bài thuốc Tiêu phong tán kết hợp bôi Vaselin.
2 Khảo sát tác dụng không mong muốn của bài thuốc Tiêu phong tán kết hợp bôi Vaselin trên một số chỉ tiêu lâm sàng và cận lâm sàng
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình bệnh vẩy nến hiện nay
Vẩy nến là một trong những bệnh về da thường gặp nhất, chiếm từ 2 –3% dân số thế giới [2] Ở Trung Quốc, tỷ lệ này là 0,37% Crocker thấy ởAnh bệnh vẩy nến chiếm 7% trong số các bệnh ngoài da, White thấy ở Mỹ có3,28% dân số bị vẩy nến [1] Theo Gelfand và cộng sự, bệnh vẩy nến chiếm
tỷ lệ khoảng 1,5% tổng số bệnh nhân đến khám [3]
Ở Việt Nam, theo thống kê tại Bệnh viện Da liễu Trung Ương năm
2010, tỷ lệ bệnh nhân vẩy nến chiếm khoảng 2,2% tổng số bệnh nhân đếnkhám bệnh Theo Nguyễn Xuân Hiền và cộng sự, bệnh vẩy nến chiếm 6,44%bệnh nhân da liễu tại Bệnh viện Quân y 108 [4]
Tỷ lệ mắc bệnh của hai giới nam và nữ là tương đương nhau Bệnh cóthể gặp bất kỳ lứa tuổi nào
1.2 Quan điểm của Y học hiện đại về bệnh vẩy nến
1.2.1 Bệnh sinh của bệnh vẩy nến
Cơ chế bệnh sinh của bệnh vẩy nến còn nhiều vấn đề chưa được làmsáng tỏ, nhưng nhờ những tiến bộ về mặt khoa học kỹ thuật và sinh học phân
tử, đến nay đa số tác giả đều thống nhất: Vẩy nến là một bệnh da có yếu tố ditruyền và cơ chế miễn dịch (chủ yếu liên quan tới tế bào lympho T) [1], [5],[6], [7] Sự hình thành tổn thương vẩy nến được giải thích trong các giaiđoạn sau:
- Sự hoạt hóa của tế bào trình diện kháng nguyên mà ở da là tế bàoLangerhans Các kháng nguyên bên ngoài (yếu tố kích hoạt: Vi khuẩn, virút…) được các tế bào trình diện kháng nguyên (ở da là tế bào Langerhans và
tế bào đuôi gai) xử lý và di chuyển đến các hạch bạch huyết lân cận gây hoạt
Trang 6hóa các tế bào lympho T CD445RA+ (T naive) Sau khi được hoạt hóa tế bàolympho T di chuyển vào vùng hạch lân cận: CD54 trên bề mặt tế bào APC sẽtương tác với LFA-1 trên tế bào T, tiếp theo đó, kháng nguyên đã gắn vớiMHC (phức hợp phù hợp tổ chức chủ yếu) trên APC sẽ gắn vào thụ cảm thể
và đồng thụ cảm thể CD4/CD8 trên tế bào T sinh ra “tín hiệu 1” Bên cạnh đó,quá trình tương tác còn được tạo bởi sự gắn kết giữa các phần tử CD28 vàCD80, CD28 và CD86, CD40 là CD40L, LFA3 và CD2 của hai tế bào tạo ra
“tín hiệu 2” Qua quá trình trên, tế bào lympho T sẽ được hoạt hóa
Các tế bào lympho T hướng da sẽ di chuyển lại tổ chức da: lympho Thoạt hóa sẽ tạo ra nhiều cytokin bao gồm IL-12, TNF-alpha, INF-gamma vàIL-2 Từ đó lympho T phát triển và biệt hóa thành T CD45RO+ (T nhớ)
Tái hoạt hóa tế bào lympho T CD4 và CD8 tại trung bì da và sản xuấtcác chất hóa học trung gian tế bào như IL2, IL8, IL10, TNF – α…: Lympho Tnhớ sẽ bộc lộ CLA ra bề mặt tế bào để gắn với tế bào nội mô lòng mạch ,cùng với sự gắn kết LFA-1 với ICAM -1 giúp cho các tế bào T thoát khỏilòng mạch và di chuyển đến da Ngoài ra các cytokin do tế bào sừng tiết ra cóvai trò lôi kéo các tế bào T nhớ đi chính xác đến các vị trí viêm
Các hóa chất này sẽ kích thích tăng trưởng thượng bì và hình thành tổnthương vày nến: tại vùng viêm, lympho T tiếp xúc với tế bào trình diện khángnguyên APC, sẽ được hoạt hóa lại và tiết ra các cytokin như TNFα, INFγ làmkích thích các tế bào sừng phát triển, quá sản, rối loạn biệt hóa gây ra cáctriệu chứng lâm sàng vẩy nến
Trang 7Hình 1.1: Sinh bệnh học của vẩy nến [7]
1.2.2 Phân loại bệnh vẩy nến
Vẩy nến là một bệnh da có biểu biểu hiện rất đa dạng, có nhiều thể lâmsàng khác nhau Phổ biến nhất là vẩy nến thông thường, các thể vẩy nến khác
ít gặp hơn [1], [8], [4]
1.2.2.1 Vẩy nến thể thông thường
Tổn thương da đặc trưng của bệnh có đặc điểm: Là mảng đỏ ranh giới
rõ, trên bề mặt có nhiều vảy trắng dễ bong; khi cạo vảy theo phương phápBrocq thì thấy các dấu hiệu vết nến, màng bong, hạt sương máu
Số lượng và hình thái tổn thương da rất đa dạng Bệnh có thể có mộthoặc nhiều tổn thương, hình tròn, bầu dục, hoặc đa cung Vị trí thường gặpcủa tổn thương là những vùng da tỳ đè, chịu áp lực, sang chấn (khuỷu tay, đầugối, mặt duỗi chi…) Có khi tổn thương tạo thành dải theo những vị trí sang
Trang 8chấn: Đó là hiện tượng Koebner Một số ít trường hợp tổn thương vẩy nếngặp ở vùng nếp gấp: Gọi là vẩy nến đảo ngược.
Kích thước tổn thương cũng rất thay đổi, có khi chỉ là những chấm nhỏvài mm, có khi chiếm diện tích lớn Dựa vào kích thước của tổn thương, cóthể chia vẩy nến thông thường thành các thể sau:
- Thể giọt: Tổn thương dưới 1cm, thường gặp ở vẩy nến mới pháthiện, trẻ em, thiếu niên
- Thể đồng tiền: Kích thước 1-2cm, trung tâm nhạt màu, bờ ngoài
đỏ thẫm
- Thể mảng: Thể mạn tính, từ vài năm trở lên, có tính chất cố thủ daidẳng Thường là các đám mảng lớn trên 2cm, có khi 5-10cm đường kính hoặclớn hơn, khu trú ở các vùng tỳ đè
80% bệnh nhân có tổn thương móng tay, 35% có tổn thương móngchân Móng tổn thương ở những mức độ khác nhau: Lõm móng (do rối loạnkeratin hóa ở gốc móng, móng dày vàng đục, và loạn dưỡng móng (mủn,bong móng ở bờ tự do, dày sừng dưới móng)
1.2.2.2 Vẩy nến thể đặc biệt
- Thể mụn mủ
+ Thể mủ khu trú: Ở lòng bàn tay, bàn chân là thể của Barber; thể khutrú ở các đầu ngón tay, ngón chân còn gọi là viêm da đầu chi liên tục củaHallopeau
+ Thể lan tỏa, điển hình là thể lan tỏa nặng của Zumbusch Bệnh bắtđầu xảy ra đột ngột sốt 40 độ C, xuất hiện những dát đỏ trên da lành hoặcchuyển dạng từ những mảng vẩy nến cũ Kích thước lớn, đôi khi lan tỏa, màu
đỏ tươi, căng phù nhẹ, ít hoặc không có vảy, tạo ra hình ảnh đỏ da toàn thân.Trên những dát đỏ xuất hiện mụn mủ nhỏ bằng đầu đinh ghim, trắng đục nằm
ở nông dưới lớp sừng, dẹt, hiếm khi đứng riêng rẽ, thường nhóm lại Xét
Trang 9nghiệm mủ không tìm thấy vi khuẩn Ba giai đoạn dát đỏ, mụn mủ và bongvảy da xuất hiện xen kẽ trên cùng một bệnh nhân do các đợt phát bệnh xảy raliên tiếp.
- Thể đỏ da toàn thân: Thường là biến chứng của vẩy nến thông thường,đặc biệt là do dùng Corticoid toàn thân, đôi khi là biểu hiện đầu tiên của bệnhvẩy nến Có hai hình thái: Dạng khô, không thâm nhiễm tương ứng với thểvẩy nến toàn thân hoặc vẩy nến lan tỏa; Dạng ướt và phù nề gọi là đỏ da toànthân vẩy nến Hình thái khô và ướt có thể chỉ là hai giai đoạn tiến triển củabệnh, lúc đầu khô sau phù nề nứt nẻ, tiết dịch, bội nhiễm
- Thể trẻ em: Tất cả vẩy nến thông thường ở người lớn có thể gặp ở trẻ
em, tuy nhiên vẩy nến ở trẻ em có thể gặp một số hình thái đặc biệt: Vẩy nếncấp thể giọt thường gặp sau một nhiễm trùng mũi họng, đôi khi sau tiêmvaccin; Vẩy nến trẻ sơ sinh
1.2.3 Mô bệnh học của bệnh vẩy nến
Hình ảnh mô bệnh học của thương tổn vẩy nến có ba đặc điểm chủyếu là: biệt hóa bất thường của tế bào sừng, quá sản tế bào sừng và thâmnhiễm viêm[1], [8]
- Lớp sừng: Có hiện tượng dày sừng và á sừng Những tế bào sừng vẫncòn nhân tụ tập thành lá mỏng, không đều nhau và nằm ngang
- Lớp hạt: Mất lớp hạt
- Lớp gai: Quá sản, độ dày tùy theo vị trí Ở vị trí trên nhú trung bì thìmỏng, chỉ có 2-3 hàng tế bào Ở giữa các nhú trung bì tăng gai mạnh làm màothượng bì kéo dài xuống, phần dưới phình to như dùi trống, đôi khi chianhánh và có thể được nối lại với nhau làm mào liên nhú dài ra Có vi áp xecủa Munro – Sabouraud trong lớp gai
- Lớp đáy: Tăng sinh, bình thường chỉ có một hàng tế bào, bệnh vẩynến có thể đến 3 hàng
Trang 10Hình 1.2: Mô bệnh học của bệnh vẩy nến [7]
1.2.4 Các phương pháp điều trị bệnh vẩy nến
Điều trị vẩy nến gồm hai giai đoạn [4], [1], [9]:
- Giai đoạn tấn công: Có thể lựa chọn các phương pháp điều trị tạichỗ, toàn thân hoặc phối hợp các phương pháp điều trị nhằm xoá sạchthương tổn
- Giai đoạn duy trì: Giữ ổn định bệnh, không cho bệnh bùng phát Tưvấn cho bệnh nhân hiểu rõ về bệnh vẩy nến, phối hợp với thầy thuốc khi điềutrị cũng như dự phòng bệnh bùng phát
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu để chữa khỏi hoàn toàn bệnhvẩy nến Nếu vận dụng và phối hợp tốt các phương pháp điều trị có thể duy trìđược sự ổn định của bệnh, hạn chế được các đợt bùng phát, cải thiện đượcchất lượng cuộc sống người bệnh
Trang 111.2.4.1 Các thuốc điều trị tại chỗ
- Lựa chọn trong số các loại thuốc bôi sau:
+ Dithranol, anthralin: Bôi ngày 1 lần, điều trị tấn công hoặc điều trịcủng cố, rất có hiệu quả đối với bệnh vẩy nến thể mảng, đặc biệt ở nhữngtrường hợp chỉ có một vài mảng thương tổn lớn Chống chỉ định với nhữngtrường hợp đỏ da toàn thân, vẩy nến thể mủ Tránh để thuốc dây vào da bìnhthường, rửa tay sau khi dùng thuốc Tác dụng không mong muốn gặp ở mộtvài trường hợp, chủ yếu là gây kích ứng da
+ Salicylic axit đơn thuần hay được sử dụng ở Việt Nam, thuốc có tácdụng bạt sừng, bong vảy, bôi ngày 1-2 lần; không bôi toàn thân vì có thể gâyđộc, tăng men gan Salicylic axit kết hợp với corticoid vừa có tác dụng bạtsừng vừa chống viêm, bôi ngày 2 lần
+ Calcipotriol là một dẫn chất của vitamin D3, dạng thuốc mỡ, điều trịbệnh vẩy nến thể thông thường, bôi ngày 2 lần, liều tối đa không quá100mg/tuần, bôi dưới 40% diện tích da cơ thể Calcipotriol kết hợp vớicorticoid, bôi ngày 1 lần, dùng điều trị tấn công, dạng gel dùng điều trị vẩynến da đầu, dạng mỡ dùng điều trị vẩy nến ở thân mình
+ Vitamin A axít dùng tại chỗ, dạng đơn thuần hoặc dạng kết hợp vớicorticoid Trong điều trị vẩy nến thể mảng, thuốc được bôi ngày 1 lần Có thể
có các tác dụng phụ như kích ứng, đỏ da, bong da nhẹ
+ Kẽm oxýt tác dụng làm dịu da, giảm kích ứng, sử dụng kết hợp vớicác thuốc bạt sừng bong vảy mạnh Corticoid tại chỗ được bôi ngày 1 đến 2lần, dùng điều trị tấn công, tác dụng điều trị nhanh nhưng dễ tái phát saungừng thuốc, dùng kéo dài có thể gặp các tác dụng không mong muốn, cầnphải giảm liều
- Quang trị liệu (phototherapy)
Trang 12+ UVA (320-400nm), tuần chiếu 3 lần hoặc 2 ngày chiếu 1 lần
+ UVB (290-320nm) ngày nay ít sử dụng, được thay thế dần bằng UVBdải hẹp (UVB-311nm, UVB-Narrow Band), có hiệu quả điều trị hơn và hạnchế được tác dụng không mong muốn
+ PUVA (Psoralen phối hợp UVA): Meladinin 0,6 mg/kg uống 2 giờtrước khi chiếu UVA, liều UVA tăng dần từ 0,5 đến 1 J/cm2
1.2.4.2 Thuốc uống toàn thân
- Methotrexat: Tác dụng chống chuyển hóa do ức chế quá trình khử axitfolic cần thiết cho tổng hợp axít nucleic và axít amin ở tế bào, điều trị đỏ datoàn thân do vẩy nến, vẩy nến thể mủ toàn thân, vẩy nến thể mảng lan rộng.Liều mỗi tuần 7,5mg uống chia làm 3 lần cách nhau 12 giờ hoặc tiêm bắp thịt
1 lần 10mg/tuần Cần theo dõi chức năng gan khi dùng thuốc kéo dài
- Acitretin, dẫn chất của vitamin A axít, tác dụng điều hòa quá trìnhsừng hóa, điều trị các thể vẩy nến nặng Người lớn dùng liều khởi đầu 25 mg/ngày, sau 1-2 tuần, tùy theo kết quả và dung nạp thuốc sẽ điều chỉnh (tănghoặc giảm liều) cho phù hợp
- Cyclosporin: Tác dụng ức chế miễn dịch, điều trị những thể vẩy nếnnặng, liều khởi đầu 2,5-5 mg/kg/ngày chia làm 2 lần, sau 1 tháng có thể tăngliều nhưng không quá 5mg/kg/ngày Sau 6 tuần dùng liều cao mà không thấyhiệu quả thì ngừng thuốc
Các thuốc trên có nhiều tác dụng phụ như gây quái thai, rối loạn chứcnăng gan, thận, giảm bạch cầu, Vì vậy, phải thận trọng khi chỉ định và phảitheo dõi nghiêm ngặt trong quá trình điều trị
Trang 13- Corticoid: Sử dụng khi thật sự cần thiết và phải cân nhắc lợi, hại.Không nên lạm dụng và dùng kéo dài vì sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm,đặc biệt gây đỏ da toàn thân, vẩy nến thể mủ.
- Thuốc sinh học: Etanercept, Alefacept, Infliximab những nămgần đây đang được áp dụng để điều trị bệnh và cũng đạt được hiệu quả.Thường được chỉ định cho những vẩy nến thể nặng (thể đỏ da toàn thân,thể mủ, thể khớp, thể móng) hoặc trường hợp bệnh nhân không đáp ứng vớiđiều trị cổ điển
1.3 Quan điểm của Y học cổ truyền về bệnh vẩy nến
1.3.1 Định nghĩa và cơ chế bệnh nguyên, bệnh sinh
Bệnh vẩy nến trong y học cổ truyền có tên gọi là Bạch sang hay Tùng
bì tiễn Nguyên nhân gây bệnh theo quan niệm của YHCT gồm [10], [11]:
- Ngoại cảm phong tà ở bì phu, lâu ngày hóa nhiệt gây nên trạng tháidinh vệ bất hòa, khí huyết không thông mà sinh bệnh
- Thấp nhiệt uất trệ tại cơ bì, lâu ngày gây tổn thương khí huyết, huyết
hư phong táo, cơ bì mất dinh dưỡng mà sinh bệnh
- Can thận âm huyết bất túc, hai mạch xung nhân thiếu dinh dưỡnggây tổn thương dinh huyết
- Do trị bệnh không đúng, kiêm cảm phải độc tà hóa nhiệt hóa táo, táonhiệt sinh độc, độc đi vào dinh huyết tạo thành chứng khí huyết hư
Bệnh do nhiều nguyên nhân gây nên dinh huyết tổn thất sinh phong táo,
cơ bì thiếu nuôi dưỡng mà sinh bệnh
Trang 14- Phương dược: Tê giác địa hoàng thang gia giảm.
Thể thấp nhiệt
- Triệu chứng lâm sàng: Da đỏ, loét, lòng bàn chân có mụn mủ, ngựcđầy, chán ăn, mệt mỏi, chân tay nặng nề, nữ thì khí hư sắc vàng lượng nhiều,rêu vàng nhớt, mạch nhu
- Pháp điều trị: Thanh nhiệt lợi thấp, hòa dinh thông lạc
- Phương dược: Tỳ giải thẩm thấp thang gia giảm
Thể huyết hư phong táo
- Triệu chứng lâm sàng: Bệnh ổn định, da khô tróc vảy, khớp da có nếpnhăn, kèm váng đầu hoa mắt, sắc mặt tái nhợt, rêu lưỡi mỏng, mạch hư tế
- Pháp điều trị: Dưỡng huyết khư phong nhuận táo
- Phương dược: Tứ vật thang hợp Tiêu phong tán gia giảm
Tứ vật thang
Tiêu phong tán
Trang 15Khổ sâm 12 gram Cam thảo 06 gram
Hồ ma nhân 12 gram
Trang 16 Thể hỏa độc thịnh
- Triệu chứng lâm sàng: Toàn thân mụn đỏ rải rác, hoặc đỏ thâm, nặng
có thể sưng phù, cảm giác nóng bỏng, sốt cao, miệng khát, chất lưỡi đỏ thẫm,rêu vàng, mạch huyền sác
- Pháp điều trị: Lương huyết thanh nhiệt giải độc
- Phương dược: Thanh dinh thang gia giảm
Kim ngân hoa 12 gram
1.3.3 Một số nghiên cứu về điều trị bệnh vẩy nến theo Y học cổ truyền
1.3.3.1 Nghiên cứu tại Việt Nam
- Bùi Thị Vân (2012) tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một sốthành phần hóa học cuta thạch lô hội và hiệu quả điều trị hỗ trợ bệnh vẩy nếnthông thường bằng kem lô hội AL-04” Nhóm nghiên cứu gồm 40 bệnh nhânđược điều trị bằng Methotrexat và bôi kem Lô hội AL-04, nhóm đối chứnggồm 37 bệnh nhân được điều trị bằng Methotrexat và bôi mỡ Salicylic Kếtquả nghiên cứu sau 4 tuần cho thấy kem Lô hội AL-04 có hiệu quả điều trị hỗtrợ bệnh vẩy nến thông thường rõ rệt và cho kết quả tốt hơn mỡ Salicylic [12]
Trang 17- Nguyễn Thị Minh (2007) tiến hành nghiên cứu “Nghiên cứu hiệuquả điều trị bổ trợ bệnh vẩy nến thông thường bằng tắm nước khoáng MỹLâm – Tuyên Quang” cũng cho thấy được hiệu quả điều trị hỗ trợ bệnh vẩynến [13].
1.3.3.2 Nghiên cứu tại nước ngoài
- Vương Hải Trân và cộng sự (2015) tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnhhưởng của viên Đương quy ẩm tử phối phương trên chức năng da của bệnhnhân vẩy nến thể huyết hư phong táo”, tiến hành trên 60 bệnh nhân vẩy nếnthể huyết hư phong táo được chia thành 2 nhóm: nhóm nghiên cứu và nhómđối chứng Nhóm nghiên cứu được uống viên Đương quy ẩm tử và bôi nhũcao urea, nhóm đối chứng được bôi nhũ cao urea, sau 4 tuần đánh giá kết quả.Nhóm nghiên cứu đạt 93,3%, nhóm đối chứng đạt hiệu quả điều trị 46,7%, sựkhác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 [14]
- Hác Bình Sinh (2011) nghiên cứu đề tài “Quan sát hiệu quả điều trịcủa bài thuốc Gia vị lương huyết tiêu phong tán trên 30 bệnh nhân vẩy nếnthông thường thể huyết nhiệt” 60 bệnh nhân được chia thành 2 nhóm: nhómnghiên cứu dùng bài thuốc Gia vị lương huyết tiêu phong tán, nhóm đốichứng uống viên nang Phức phương thanh đại trong 4 tuần và quan sát kếtquả Kết quả nhóm dùng Gia vị lương huyết tiêu phong tán đạt hiệu quả điềutrị là 96,67% [15]
- Từ Dung và cộng sự (2012) nghiên cứu đề “Quan sát hiệu quả điều trịcủa bài Gia vị cầm châu lương huyết và biện chứng gia giảm đối với bệnh vẩynến thông thường thể huyết nhiệt” trên 105 bệnh nhân vẩy nến thông thườngthể huyết nhiệt được chia ngẫu nhiên vào 3 nhóm Nhóm điều trị 1 gồm 39bệnh nhân được dùng bài thuốc Gia vị cầm châu lương huyết gia giảm theobiện chứng luận trị, nhóm điều trị 2 gồm 36 bệnh nhân chỉ được dùng bài
Trang 18thuốc Cầm châu lương huyết, và nhóm đối chứng uống viên nang hợp chấtcủa cây Chàm Quan sát sau 2, 4, 8, 12 tuần thấy hiệu quả điều trị của 2 nhómđiều trị lần lượt là 77,8% và 61,29% so với nhóm đối chứng là 46,37% với sựkhác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05 [16].
- Hong Yu Sha và cộng sự (2016) tiến hành nghiên cứu “ Phối hợpthuốc sắc Qinzhu Liangxue và Acitretin trong điều trị vẩy nến thông thường:Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng” tiến hành trên 72 bệnh nhân đượcchia ngẫu nhiên vào 2 nhóm Nhóm nghiên cứu gồm 37 bệnh nhân được điềutrị bằng thuốc sắc Qinzhu Liangxue và Acitretin, nhóm đối chứng gồm 35bệnh nhân điều trị bằng thuốc Acitretin Đánh giá hiệu quả điều trị bằng 2thang điểm PASI (Psoriais area and severity index) và DLQI (Dermatologylife quality index) sau 4 và 8 tuần, thấy đều có sự cải thiện đáng kể của 2 chỉ
số sau khi điều trị, tuy nhiên nhóm nghiên cứu có sự cải thiện tốt hơn nhómđối chứng [17]
Như vậy, điều trị bệnh vẩy nến bằng thuốc Y học cổ truyền đã đượcnhiều tác giả nước ngoài nghiên cứu và chứng minh được hiệu quả điều trị.Tuy nhiên tại Việt Nam, những nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở hỗ trợ điều trịbên cạnh thuốc Y học hiện đại mà chưa có nghiên cứu cụ thể nào đánh giáhiệu quả điều trị bệnh vẩy nến chỉ bằng thuốc Y học cổ tryền
1.4 Bài thuốc “Tiêu phong tán”
1.4.1 Nguồn gốc, xuất xứ
Bài thuốc “Tiêu phong tán” có nguồn gốc trong cuốn “Ngoại khoachính tông” tập 4 của tác giả Trần Thực Công, là một lương y đời nhà Minh,Trung Quốc, viết vào năm 1617 Đây được coi là một trong những cuốn sáchNgoại khoa đầu tiên của Trung Quốc và hiện vẫn còn giá trị lớn [11]
Trang 191.4.2 Phân tích bài thuốc và ứng dụng
1.4.2.1 Tác dụng
Khu phong, trừ thấp, thanh nhiệt, dưỡng huyết
Chủ trị: Phong chẩn, thấp chẩn Ngứa da, mụn đỏ hoặc nám da, mụn mước,rêu lưỡi vàng hoặc trắng, mạch phù sác
1.4.2.2 Phân tích bài thuốc
Kinh giới, phòng phong là Quân Kinh giới vị tân tính ấm, trừ phongtrong huyết Phòng phong phát biểu trừ phong, thắng thấp Hai vị thuốc phốihợp có tác dụng khu phong trừ ngứa Khổ sâm, Thương truật là Thần Khổsâm tính hàn, thanh nhiệt táo thấp trừ ngứa Thương truật táo thấp, phát hãn,kiện tỳ Hai vị phối hợp tính táo mạnh, có thể táo thấp để trị ngứa, lại có thểtán phong trừ nhiệt Ngưu bàng tử, Thuyền thoái, Thạch cao, Tri mẫu, Mộcthông, Ma tử nhân, Sinh địa, Đương quy là Tá Ngưu bàng tử có tác dụng khután phong nhiệt, thấu chẩn, giải độc Thuyền thoái tán phong nhiệt, thấu chẩn.Hai vị này không chỉ tăng cường tác dụng trừ phong của Kinh giới, Phòngphong mà còn khu tán phong nhiệt, thấu chẩn Thạch cao, Tri mẫu thanhnhiệt, tả hỏa Mộc thông lợi thấp nhiệt Ma tử nhân, Sinh địa, Đương quy tư
âm dưỡng huyết nhuận táo, Sinh địa thanh huyết nhiệt kết hợp với Thạch cao,Tri mẫu trừ nội nhiệt, thanh khí phận Đương quy hành huyết trị phong, huyếthành phong tự diệt Cam thảo là Sứ, thanh nhiệt, giải độc, còn có khả năngđiều hòa các vị thuốc Các vị thuốc phối hợp với nhau có tác dụng trừ thấpthanh nhiệt, dưỡng huyết, khứ phong, điều hòa huyết mạch làm hết ngứa
Trang 201.4.3 Thành phần dược liệu bài thuốc
Đương quy (Radix Angeniae Sinensis)
* Bộ phận dùng: Rễ phơi khô của cây Đương quy Angeniae Sinensis, họ Hoatán (Apiacerae)
* Tính vị, quy kinh: Vị ngọt, cay, tính ấm Quy vào kinh tâm, can, tỳ
- Chữa xung huyết, tụ huyết do sang chấn
- Chữa cơn đau dạ dày, đau các dây thần kinh, đau cơ do lạnh
- Nhuận tràng, thông tiện do huyết ứ gây táo bón
- Giải độc, tiêu viêm: Chữa mụn nhọt, vết thương có mủ do có tác dụng giảiđộc, hoạt huyết, tiêu trừ huyết ứ
* Liều lượng: 6 – 12 g/ngày
* Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai và đang cho con bú Người có tỳ vị thấp nhiệt, đạitiện lỏng, khi dùng nên sao để giảm tính hoạt trường
Trang 21tim, chống tạo thành huyết khối và ngăn chặn xơ vữa động mạch Ngăn chặn
và phòng sự giảm glycogen ở gan Phòng ngừa chứng thiếu vitamin E Ức chếkhả năng sinh kháng thể (cả miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể), bệnh tanmáu sơ sinh (miễn dịch tự miễn) Tăng tế bào thực bào, đại thực bào và tế bàolưới nội mô, làm mạnh miễn dịch không đặc hiệu Nó có thể làm tăng nhạycảm ánh sang ở người có da sẫm màu, do vậy khi uống Đương quy kéo dàinên tránh phơi nắng hoặc gần nguồn có tia cực tím
Sinh địa (Radix Rehmaniae)
* Bộ phận dùng: Củ tươi hay phơi khô của cây Địa hoàng (Rehmaniaglutinosa Gaertn), họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae)
* Tính vị, quy kinh: Vị ngọt, đắng, tính lạnh Quy vào kinh tâm, can , thận
* Tác dụng: Thanh nhiệt lương huyết
* Ứng dụng lâm sàng:
- Chữa sốt cao kéo dài dẫn tới âm hư mất nước (âm hư nội nhiệt)
- Chữa ho lâu ngày, rối loạn thần kinh thực vật do lao (phế âm hư)
- Chữa chảy máu do sốt nhiễm khuẩn: Chảy máu cam, lỵ ra máu, ho ra máu
- Chữa táo bón do tạng nhiệt, hay sốt cao gây mất nước táo bón
- Giải độc cơ thể, chữa viêm họng, mụn nhọt
- An thai khi nhiễm trùng gây động thai
* Liều lượng: 8 – 16 g/ngày
* Kiêng kỵ: Những trường hợp tỳ vị hư hàn: bụng đầy, đại tiện lỏng và dương
hư, đa đàm dẫn tới thấp nhiệt
* Tác dụng dược lý:
- Sinh địa có tác dụng cầm máu do thúc đẩy sự ngưng kết của tiểu cầu, đẩymạnh quá trình đông máu
- Sinh địa có tác dụng cường tim tác động chủ yếu vào cơ tim
- Lợi tiểu do tác dụng cường tim nói trên và giãn mạch thận
Trang 22- Tác dụng hạ đường huyết do chất catapol là một trong những iridoid cótrong sinh địa.
- Sinh địa còn có tác dụng ức chế nấm ngoài da
Phòng phong (Radix Ledebouriellae)
* Bộ phận dùng: Rễ phơi khô của cây Phòng phong (Ledebouriella seseloidesWoff), họ Hoa tán (Umbelliferae)
* Tính vị, quy kinh: Vị cay, ngọt, tính ấm Quy vào kinh can, bàng quang
* Tác dụng: Phát tán giải biểu, trừ phong thấp
* Ứng dụng lâm sàng:
- Chữa ngoại cảm phong hàn, đau đầu, đau mình
- Chữa bệnh đau dây thần kinh, co cứng các cơ, đau các khớp; giải dị ứng,chữa ngứa, nổi ban đau lạnh
- Giải kinh: trị bệnh co quắp, uốn ván
- Giải độc: thạch tín, giảm độc cho phụ tử
* Liều lượng: 6 – 12 g/ngày
- Tác dụng giảm đau: Nước sắc Phòng phong uống hoặc chích dưới da đều cótác dụng nâng cao ngưỡng đau của chuột
- Dùng chất chiết từ Phong phong cho thỏ đã được gây sốt, uống thì thấy cótác dụng hạ nhiệt
Trang 23 Thuyền thoái (Periosstrachum Cicadae)
* Bộ phận dùng: xác con ve sầu lột (Cryptotympana pustulata Fabricius), họ
Ve sầu (Cicadidae)
* Tính vị, quy kinh: vị ngọt, tính lạnh Quy vào kinh can
* Tác dụng: Sơ phong nhiệt, trấn kinh, mọc ban chẩn
* Ứng dụng lâm sàng:
- Chữa cảm mạo phong nhiệt: Phối hợp với bạc hà
- Chữa co giật: do sốt cao, uốn ván
- Chữa viêm màng tiếp hợp cấp
- Chữa nôn mửa do sốt gây vị nhiệt
- Làm mọc các nốt ban chẩn, giải độc: Chữa mụn nhọt, chảy mủ tai, lở ngứa,ban dị ứng
* Liều lượng: 3 – 6 g/ngày
Tri mẫu (Rhizoma Anemarrhenae)
* Bộ phận dùng: Thân rẽ phơi khô của cây Tri mẫu (Anemarrhenaasphedeloides Bunge), họ Hành (Liliaceae)
* Tính vị, quy kinh: vị đắng, tính lạnh Quy kinh tỳ, vị, thận
* Tác dụng: Thanh nhiệt, giáng hỏa, nhuận tràng
* Ứng dụng lâm sàng:
- Chữa phiền nhiệt tiêu khát
- Chữa sốt cao kéo dài vật vã, tâm phiền, nhức xương triều nhiệt, ra mồ hôitrộm, khái thấu, khái huyết…
- Lợi niệu, táo bón do sốt cao mất nước
- Ho khan, khát nước
* Liều lượng: 4 – 6 g/ngày
* Kiêng kỵ: Người tỳ vị hư hàn, đại tiện phân nát Hoặc những trường hợpbiểu chứng chưa được giải
Trang 24* Tác dụng dược lý:
- Tác dụng hạ nhiệt Nước sắc Tri mẫu lượng vừa có thể gây tê liệt trung khu
hô hấp, hạ huyết áp; lượng lớn có thể làm tim tê liệt
- Tác dụng ức chế khá mạnh với tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, trực khuẩn đạitràng và hơn 10 loại vi khuẩn khác
Khổ sâm (Radix Sophorae)
* Bộ phận dùng: Rễ cây Bắc khổ sâm (Sophora flavescens Ait), họ Đậu(Fabaceae)
* Tính vị, quy kinh: Vị đắng, tính lạnh Quy vào tâm, tỳ, thận
* Tác dụng: Thanh nhiệt táo thấp, giải độc sát trùng
* Ứng dụng lâm sàng:
- Thanh nhiệt táo thấp: Dùng chữa lỵ, hoàng đản nhiễm trùng
- Thanh nhiệt lợi thủy: Chữa viêm bàng quang đái rắt, đái ra máu
- Sát khuẩn: Chữa ghẻ, lở, chàm, ngứa do dị ứng, phụ nữ ngứa âm hộ hoặcviêm âm đạo, đới hạ
* Liều lượng: 4 – 16 g/ngày
* Kiêng kỵ: Người tỳ hư, can thận hư
* Tác dụng dược lý:
- Alcaloid trong rễ cây Khổ sâm có tác dụng lợi tiểu
- Tác dụng ức chế tụ cầu, trực khuẩn mủ xanh, nấm ngoài da, diệt trùng roi
âm đạo
Ma tử nhân (Semen Sesami indici)
* Bộ phận dùng: Hạt phơi khô của cây vừng đen (Sesamum indicum DC), họVừng (Pedaliaceae)
* Tính vị, quy kinh: Vị ngọt, tính bình Quy kinh tỳ, vị, đại trường
* Tác dụng: Nhuận trường, bổ can thận, dưỡng huyết, lợi sữa
* Ứng dụng lâm sàng: