1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ dân tộc thiểu số có chồng độ tuổi 15 49 tuổi và một số yếu tố liên quan tại huyện lang chánh, tỉnh thanh hóa năm 2016

104 269 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 8,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt là ở đồng bào dântộc thiểu số tình trạng tảo hôn, nạo phá thai, năng lực chuyên môn của cán bộ y tế và công tác vô khuẩn dụng cụ thăm khám còn hạn chế góp phần làm cho tỷ lệ hiệ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm nhiễm đường sinh dục dưới là một bệnh phổ biến ở phụ nữ, bệnhkhông những ảnh hưởng đến sức khoẻ, khả năng lao động, sinh hoạt tình cảmlứa đôi, kế hoạch hoá gia đình mà còn có thể gây nên những biến chứng nặng

nề nếu như không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời

Trong những năm gần đây, công tác nâng cao chất lượng chăm sóc sứckhỏe sinh sản đã và đang nhận được sự quan tâm của Chính phủ các nước trênThế giới cũng như của Việt Nam Nước ta đã có “Chiến lược Dân số và Sứckhỏe sinh sản Việt Nam Giai đoạn 2011-2020”, mục tiêu ghi rõ giảm nhiễmkhuẩn đường sinh sản, nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục Năm

2009, Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sứckhỏe sinh sản, nội dung tập trung vào các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinhsản chủ yếu trong đó có các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm khuẩnđường sinh sản

Ở Việt Nam với đặc điểm là một nước có nền kinh tế nông nghiệp, hơn80% dân số sống ở các vùng nông thôn, miền núi điều kiện kinh tế có nhiềukhó khăn, nước sinh hoạt chưa đảm bảo vệ sinh Đặc biệt là ở đồng bào dântộc thiểu số tình trạng tảo hôn, nạo phá thai, năng lực chuyên môn của cán bộ

y tế và công tác vô khuẩn dụng cụ thăm khám còn hạn chế góp phần làm cho

tỷ lệ hiện mắc các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới như: viêm âm hộ,viêm âm đạo, viêm lộ tuyến cổ tử cung…, hiện khá phổ biến Ở vùng đồngbào dân tộc thiểu số người phụ nữ vẫn luôn chịu nhiều thiệt thòi do hiểu biếtcòn hạn chế, mặt khác họ còn e ngại, chịu đựng, mặc cảm, nên khi bị viêmnhiễm đường sinh dục dưới thường nên thường không đi khám định kỳ đểphát hiện và điều trị kịp thời các bệnh phụ khoa định nhất là khi bị viêmnhiễm đường sinh dục dưới

Trang 2

Lang Chánh là một huyện miền núi nằm phía tây của tỉnh Thanh Hóathành phần dân tộc gồm: Thái (53%), Mường (33%), Kinh (14%) Địa hìnhcủa huyện phức tạp đi lại rất khó khăn, đây là một trong 62 huyện nghèo của

cả nước, và là một trong 7 huyện nghèo của tỉnh Thanh Hóa Theo thống kêcủa Trung tâm Y tế huyện Lang Chánh năm 2014 là 56,0% phụ nữ có chồng15-49 tuổi bị viêm nhiễm đường sinh dục dưới Nguyên nhân của viêmnhiễm đường sinh dục dưới thường do: thiếu nước sạch, nhà tiêu không hợp

vệ sinh, phân rác không được xử lý, phong tục tập quán, điều kiện kinh tế và

sự hiểu biết kiến thức phòng chống các bệnh viêm nhiễm đường sinh dụcdưới còn nhiều bất cập khó khăn, hạn chế Hiện nay, nhiễm khuẩn đườngsinh dục dưới là một trong các bệnh của phụ nữ gây ảnh hưởng lớn đến đờisống cũng như tinh thần của người bị bệnh, đặc biệt đối với phụ nữ ở vùngnông thôn, miền núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số Do vậy, để góp phầnlàm cơ sở dữ liệu cho việc tìm ra các biện pháp nâng cao sức khỏe của phụ nữ

vùng dân tộc thiểu số chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ dân tộc thiểu số có chồng độ tuổi 15- 49 tuổi và một số yếu tố liên quan tại huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa năm 2016”, với 2 mục tiêu:

1 Nghiên cứu thực trạng viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ dân tộc thiểu số có chồng độ tuổi 15- 49 tại huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa năm 2016.

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ là đối tượng nghiên cứu

Trang 3

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Khái niệm về bệnh viêm nhiễm đường sinh dục

1.1.1 Khái niệm về viêm nhiễm đường sinh dục

Viêm nhiễm đường sinh dục (VNĐSD) là một bệnh lý do viêm nhiễmtại bộ phận sinh dục nữ, từ âm hộ, âm đạo, cổ tử cung (CTC), tử cung, phầnphụ sinh dục và tiểu khung

Khoảng 1/2 các trường hợp phụ nữ đến khám tại các phòng khám phụkhoa là vì những triệu chứng có liên quan đến bệnh lý VNĐSD Trong cácbệnh phụ khoa nói chung, gần 90% phụ nữ bị VNĐSD

1.1.2 Phân loại viêm nhiễm đường sinh dục

Dựa vào vị trí viêm nhiễm về mặt giải phẫu mà VNĐSD được chiathành 2 loại, bao gồm: VNĐSD dưới và VNĐSD trên

- Viêm nhiễm đường sinh dục dưới bao gồm: Viêm âm hộ, viêm âm đạo,viêm CTC

- Viêm nhiễm đường sinh dục trên bao gồm: viêm nhiễm ở tử cung, vòi

tử cung, buồng trứng, phúc mạc vùng chậu và tiểu khung

Dựa theo hình thái viêm nhiễm mà VNĐSD được chia thành: VNĐSDcấp tính và VNĐSD mạn tính

- VNĐSD cấp tính: với các dấu hiệu, triệu chứng ở các mức độ khác

nhau, như sưng nóng, đau, sốt, khí hư nhiều và hôi bẩn… Nếu được phát hiệnsớm, điều trị kịp thời sẽ có kết quả tốt hơn Tuy nhiên các VNĐSD cấp tính ítgặp hơn so với viêm mạn tính

- VNĐSD mạn tính: thường chỉ với các dấu hiệu nghèo nàn như ra khí

Trang 4

hư nhiều hơn bình thường và hôi, đau dấm dứt không thường xuyên…VNĐSD mạn tính ít được quan tâm thăm khám, điều trị cũng kéo dài và kếtquả hạn chế

1.1.3 Đặc điểm giải phẫu và sự liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ

Viêm nhiễm đường sinh dục (VNĐSD) do hiệp hội sức khoẻ phụ nữ thếgiới đưa ra năm 1987, nay được sử dụng rộng rãi trên thế giới là một tập hợpgồm 3 nhóm bệnh

- Các viêm nhiễm lây truyền qua đường tình dục: Giang mai, lậu,HIV/AIDS, nhiễm Chlamydia trachomatis vv

- Các viêm nhiễm nội sinh do phát triển quá mức các vi sinh vật (VSV)sống cộng sinh trong đường sinh dục: Viêm âm đạo không đặc hiệu, nhiễmnấm candida

- Các viêm nhiễm do VSV xâm nhập từ ngoài vào không qua đường tìnhdục, như thực hiện các kỹ thuật thăm khám phụ khoa, sinh đẻ hoặc KHHGĐ,

từ môi trường tự nhiên do thiếu vệ sinh vv

Như vậy, VNĐSD là các viêm nhiễm tại cơ quan sinh dục bao gồm cảviêm nhiễm do bệnh lây truyền qua đường tình dục và viêm nhiễm kháckhông lây qua quan hệ tình dục cả hai giới đều có thể bị mắc

* Phân loại:

Có nhiều cách phân loại tuỳ theo các tiêu chí lựa chọn và mục đích tiếpcận Hiện nay đang phổ biến 4 cách phân loại như sau:

- Theo cơ chế lây truyền: Gồm các viêm nhiễm lây truyền qua đường

tình dục, các viêm nhiễm nội sinh và các viêm nhiễm do VSV xâm nhập từngoài vào không qua đường tình dục Đây là cách phân loại phổ biến nhấthiện nay

Trang 5

- Theo vị trí tổn thương trên lâm sàng: Gồm viêm nhiễm đường sinh dục

dưới (từ âm hộ đến cổ tử cung) và viêm nhiễm đường sinh dục trên (từ tửcung lên buồng trứng)

- Theo căn nguyên gây bệnh: Viêm nhiễm do vi khuẩn, virus hoặc ký

sinh trùng

- Theo hình ảnh tế bào bệnh học: Viêm cấp tính và viêm mạn tính ,

* Về đặc điểm giải phẫu đường sinh dục dưới và yếu tố liên quan đến viêm nhiễm ở phụ nữ

Âm hộ có môi lớn bao phủ tiền đình, che lấp lỗ niệu đạo, nên khi đitiểu tiện, nước tiểu không bài tiết thẳng ra ngoài mà chảy xuống dưới, một

số ít chảy vào âm đạo tạo điều kiện gây viêm nhiễm Hai bên lỗ niệu đạo cótuyến Skên và âm đạo có tuyến Bartholin Các tuyến này luôn tiết dịch vàcũng là nơi cư trú tốt cho các loại vi khuẩn, khi có điều kiện thuận lợi dễgây viêm nhiễm

Âm đạo của phụ nữ như một cái ống từ tiền đình đến mặt ngoài CTC,mặt trong có các gờ và cột dọc to thành những nếp gấp, âm đạo là một khoang

ảo nhiều nếp nhăn nên rất thuận lợi cho vi sinh vật sinh sống và phát triển, lànơi tiếp xúc trực tiếp trong quan hệ tình dục, là phần cuối của ống sinh sản vàđường dẫn kinh nguyệt từ buồng tử cung ra ngoài Do vậy, bệnh lý âm đạo cóliên quan đến sự thay đổi môi trường âm đạo và các bệnh lây lan do quan hệtình dục không an toàn và những sang chấn trong sinh đẻ

Cổ tử cung bình thường có bề mặt nhẵn, màu hồng, phần trên CTC nằmtrong phúc mạc, nằm phía trên âm đạo, phần dưới ở dưới phúc mạc và trong

âm đạo Lỗ CTC hướng xuống âm đạo và đây là nơi kinh nguyệt từ buồng tửcung chảy qua âm đạo Do đó là nơi có thể dẫn đến xuất phát tình trạng viêmnhiễm và có thể viêm nhiễm sâu hơn ở đường sinh dục phụ nữ

Trang 6

Tóm lại âm hộ, âm đạo và CTC là nơi thuận lợi cho vi sinh vật tồn tạiphát triển và dễ gây ra tình trạng VNĐSDD.

1.1.4 Chẩn đoán viêm nhiễm đường sinh dục dưới

* Đặc điểm cấu tạo đường sinh dục dưới ở phụ nữ

Hình 1.1 Đặc điểm giải phẫu đường sinh dục dưới

* Lâm sàng:

Viêm sinh dục dưới là viêm đường sinh dục từ âm hộ đến cổ tử cung

dưới vòng bám âm đạo gồm: viêm cổ tử cung, viêm âm hộ, viêm âm đạo vàtuyến sinh dục Cụ thể gồm: Viêm âm hộ, âm đạo do tạp khuẩn; viêm âm hộ,

âm đạo, cổ tử cung do trichomonasvaginalis; viêm âm đạo do nấm candidaalbricans, trobicalis, krusei; viêm sinh dục do lậu; viêm tuyến Bartholein vàviêm loét cổ tử cung Viêm loét đường sinh dục dưới biểu hiện lâm sàng là

Trang 7

tình trạng tấy đỏ, ngứa và có thể loét

Các tác nhân gây viêm âm hộ, âm đạo, cổ tử cung gây ra nhiều bệnhcảnh lâm sàng khác nhau, biểu hiện qua các thời kỳ, giai đoạn khác nhau

Có tác nhân chỉ gây tổn thương ở bộ phận sinh dục, có tác nhân vừa gâybệnh ở bộ phận sinh dục vừa gây bệnh ngoài cơ quan sinh dục Tuy nhiên,biểu hiện tại bộ phận sinh dục thường gặp nhất và người bệnh cũng thườngquan tâm nhất

Cũng như hầu hết các bệnh lý sản phụ khoa khác, viêm âm hộ, viêm âmđạo, cổ tử cung biểu hiện bằng 4 triệu chứng lâm sàng chính: Khí hư, viêmloét, chảy máu bất thường và đau bụng dưới Trong đó khí hư và viêm loét làhai triệu chứng quan trọng nhất

- Khí hư: Khi bị viêm, niêm mạc đường sinh dục phản ứng lại các tácnhân gây bệnh bằng phản ứng viêm Khí hư chính là dịch viêm của đườngsinh dục Số lượng, màu sắc và mùi khí hư khác nhau phụ thuộc vào đặc điểmriêng của tác nhân và mức độ viêm

- Viêm loét ở cơ quan sinh dục: Biểu hiện viêm đường sinh dục trênlâm sàng là tình trạng tấy đỏ, ngứa và có thể loét Các triệu chứng này khácnhau tuỳ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, có tác nhân gây viêm hầu hếtcác cơ quan trong hệ thống sinh dục, có tác nhân chỉ gây viêm ở một số cơquan nhất định

Cùng với việc ứng dụng các thành tựu mới của y - sinh học hiện đại,hiện nay có thể dựa trên nhiều phương pháp chẩn đoán viêm âm hộ, viêm âmđạo, cổ tử cung Cách phổ biến nhất trong phân loại các phương pháp chẩnđoán hiện nay gồm các phương pháp chẩn đoán lâm sàng và cận lâm sàng Vềlâm sàng có 2 cách tiếp cận: Chẩn đoán theo căn nguyên và chẩn đoán theohội chứng Về cận lâm sàng có các phương pháp: Chẩn đoán VSV, chẩn đoánmiễn dịch, chẩn đoán mô tế bào, chẩn đoán hình ảnh vv Mỗi phương pháp

Trang 8

có ưu điểm và hạn chế riêng, có phạm vi ứng dụng khác nhau , ,

Phương pháp chẩn đoán lâm sàng có ưu điểm là ít tốn kém, dễ áp dụngnhưng độ chính xác thấp, chỉ đạt khoảng 40 – 60% và phụ thuộc nhiều vàokiến thức, kinh nghiệm của thầy thuốc Tuy nhiên, đối với chẩn đoán viêm âm

hộ, viêm âm đạo, cổ tử cung hiện nay ở các tuyến vẫn phải dựa vào lâm sàng

là chính

1.1.5 Nguyên nhân gây một số viêm nhiễm đường sinh dục thường gặp

Các VNĐSD gây ra bởi các vi sinh vật thường có mặt tại đường sinhsản hoặc do các vi sinh vật từ bên ngoài vào thông qua hoạt động tình dụchoặc qua các thủ thuật y tế Nguyên nhân VNĐSD ở phụ nữ nhìnchung chủ yếu liên quan tới nhiễm khuẩn sau đẻ, sau sẩy thai và nạo hút thai

do vệ sinh trong lao động không đảm bảo, vệ sinh kinh nguyệt và vệ sinh giaohợp chưa hợp lý… Nguyên nhân VNĐSD thường gặp do nhiễm trực khuẩn,cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, trực khuẩn E-coli, trực khuẩn lao, kýsinh trùng nấm, trùng roi và các tạp khuẩn khác Nếu được phát hiện và điềutrị kịp thời, được tư vấn phòng bệnh tốt, bệnh VNĐSD sẽ khỏi hoàn toàn vàkhông ảnh hưởng gì cho sức khỏe sinh sản (SKSS)

1.1.6 Đặc điểm viêm nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ

VNĐSD là một bệnh thường gặp nhất ở phụ nữ, đặc biệt là phụ nữtrong độ tuổi sinh đẻ VNĐSD ở phụ nữ gồm 3 loại: (1) Các nhiễm khuẩnLTQĐTD như nhiễm Chlamydia, bệnh Lậu, Trùng roi sinh dục, bệnh Giangmai, Herpes sinh dục, sùi mào gà sinh dục và nhiễm HIV ; (2) Nhiễm khuẩnnội sinh do tăng sinh quá mức các vi sinh vật có trong âm đạo của phụ nữ nhưviêm âm đạo do vi khuẩn và viêm âm hộ - âm đạo do nấm men; (3) Nhiễmkhuẩn y sinh là các nhiễm khuẩn do thủ thuật y tế không vô khuẩn CácVNĐSD trên có thể dự phòng hoặc có thể chữa khỏi được

Hướng dẫn quốc gia về chăm sóc SKSS đã đưa ra các chỉ dẫn cụ thể để

Trang 9

khám phát hiện bệnh , trong đó khám lâm sàng cần phải chú ý đến:

- Khám bộ phận sinh dục ngoài phát hiện dịch âm đạo: màu sắc, mùi,đặc điểm dịch (dịch nhiều hay ít, trong hay đục, vàng, xanh, có mủ, có bọt, códính vào thành âm đạo không, lẫn máu không)

- Khám trong để đánh giá tính chất khí hư (màu, số lượng, mùi) Đánhgiá dịch ở trong ống CTC: dịch trong, dịch mủ hoặc mủ có lẫn máu Phát hiệncác các tổn thương loét, hột hoặc sùi trong CTC và thành âm đạo

Về lâm sàng, khó có thể phân biệt được đâu là VNĐSD do bệnh phụkhoa thông thường, đâu là VNĐSD do bệnh LTQĐTD Muốn xác định rõ loạibệnh lý VNĐSD thì cần dựa vào các hội chứng chính gây VNĐSD Đây làphương pháp tiếp cận được Bộ y tế hướng dẫn sử dụng Phương phápnày chia các biểu hiện lâm sàng của VNĐSD thành 5 hội chứng chính Nhânviên y tế dựa vào 5 hội chứng này để chẩn đoán, điều trị sớm các VNĐSD ởphụ nữ thường gặp một cách hiệu quả nhất Các hội chứng bao gồm:

- Hội chứng tiết dịch âm đạo bao gồm: viêm âm đạo do trùng roi, nấmnem, vi khuẩn kỵ khí, viêm CTC mủ nhầy do lậu cầu khuẩn

- Bệnh sùi mào gà sinh dục ở nữ do virút gây u nhú ở người

- Hội chứng đau bụng dưới ở phụ nữ do: lậu cầu, Chlamydiatrachomatis,Gardnerella vaginalis và các vi khuẩn kỵ khí âm đạo

- Hội chứng loét sinh dục ở nữ do các tác nhân: Xoắn khuẩn giang mai,trực khuẩn hạ cam Herpes sinh dục

Trang 10

- Viêm âm đạo do nấm.

- Viêm âm đạo do vi khuẩn

- Bệnh lậu ở phụ nữ (viêm CTC và viêm niệu đạo do lậu)

- Viêm CTC và niệu đạo do Chlamydia

1.2 Tình hình mắc các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới

1.2.1 Trên thế giới

Đã có nhiều nghiên cứu khác nhau được thực hiện về tình hình VNĐSDnói chung và VNĐSDD nói riêng trên thế giới Có thể nói đây là một vấn đề

đã và đang được quan tâm trong vấn đề sức khỏe của toàn cầu và là một vấn

đề Y tế công cộng Tuy nhiên, các nghiên cứu xác định tỉ lệ mắc chung củamỗi quốc gia về các VNĐSD thường ít được báo cáo mà phổ biến là cácnghiên cứu ở một số vùng của mỗi quốc gia với các đối tượng nghiên cứucũng khác nhau, và thường cho các kết quả khác nhau Nghiên cứu ở nướcphát triển như nghiên cứu ở Italia của Boselli F và cộng sự (cs) (2004) , trên

1644 phụ nữ Italia thì tỉ lệ VNĐSD khá cao: tỉ lệ phụ nữ bị nấm âm hộ - âmđạo chiếm tới 51,3%; viêm âm đạo do vi khuẩn là 19,9%; do trùng roi chiếm6,7%; viêm âm đạo không đặc hiệu chiếm 6,1% Nghiên cứu về tình trạng

VNĐSD do Chlamydia ở các nước châu Âu cho tỉ lệ viêm nhiễm ở phụ nữ độ

tuổi sinh đẻ chiếm từ 1,1% (Norway) tới 6,9% (Estonia) Tỉ lệ này ở các nướcĐức là 2,11%; Đan Mạch là 6,7% và Thụy Điển là 2,70% Tỉ lệ VNĐSD doChlamydia ở những phụ nữ thường xuyên quan hệ tình dục chiếm thấp nhất ởTây Ban Nha với 0,2% và cao nhất ở Đan Mạch, Vương Quốc Anh với 8,0%

Ở một số nước phát triển như Italia, theo Boselli F, Chiossi G (2004)nghiên cứu với 1644 phụ nữ Italia thì tỷ lệ VNĐSD khá cao, nấm âm hộ, âmđạo chiếm tỷ lệ 51,3%; viêm âm đạo do vi khuẩn là 19,9%, do T.vaginalis là6,7% Ở Trung Quốc, nghiên cứu của Zhang X.J (2009) cho thấy tỷ lệ mắc

Trang 11

viêm âm đạo do vi khuẩn và do T.vaginalis lần lượt là 12,0% và 4,5% Theonghiên cứu của Yogiun và Zhang (2009) tại Tây Tạng, Trung Quốc, tỷ lệVNĐSDD là 30,8% tại tỉnh Anh Huy là 58,1%, có 3 loại VNĐSDD hay gặpnhất là viêm ống CTC, viêm âm đạo do tạp khuẩn và do trùng roi với tỷ lệ lầnlượt là 41,7%; 12,0% và 4,5% Savita Sharma và BP Gupta tại Ấn Độ tìmthấy tỷ lệ VNĐSDD ở nhóm đối tượng PN nông thôn tương đối cao 51,9% ,

Ở các quốc gia đang phát triển, có nhiều nghiên cứu đã được báo cáo với tỷ lệmắc cũng rất cao Theo một nghiên cứu trên 2325 phụ nữ có chồng trong độtuổi sinh đẻ tại vùng nông thôn Harryana, Ẩn độ thì có tới 61% có ít nhất mộttriệu chứng của VNĐSS, viêm âm đạo là 32%, viêm CTC 21% Một nghiêncứu khác (2007) ở phụ nữ trong độ tuổi từ 12-49 tại vùng nông thôn phía BắcBrazil cũng cho thấy tỷ lệ hiện mắc Trichomoniasis là 4,1%, Gonorrhoea là1,2%; tỷ lệ viêm âm đạo do vi khuẩn và do nấm, Candida lần lượt là 20% và12,5%

Tóm lại, VNĐSD nói chung hiện nay rất phổ biến trên thế giới với tỉ lệmắc bệnh qua các nghiên cứu đều tương đối cao , Các nguyên nhân

và hình thái VNĐSD cũng đa dạng, khác nhau tùy theo nghiên cứu; có nhữngbệnh nhân chỉ bị một hình thái viêm và có những bệnh nhân bị nhiều hình tháiviêm khác nhau (viêm CTC, viêm âm đạo, viêm âm hộ - âm đạo ) BệnhVNĐSD ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của phụ nữ, nhất là phụ nữ ở độ tuổisinh đẻ Bệnh làm tăng gánh nặng bệnh tật của mỗi quốc gia và toàn cầu, ảnhhưởng không nhỏ đến sự phát triển và an sinh xã hội của từng quốc gia

1.2.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, VNĐSD là một trong những bệnh rất hay gặp ở phụ nữ nóichung và là bệnh phụ khoa thường gặp nhất ở phụ nữ thuộc độ tuổi sinh hoạttình dục Các bệnh VNĐSD gây ra những hậu quả không tốt tới sức khỏe củangười phụ nữ, chính vì thế, bệnh VNĐSD là một vấn đề đang được quan tâm

Trang 12

trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) Theo điều tra của Vũ

Bá Thắng ở 361 phụ nữ xã Thuần Nông, huyện Yên Phong, Bắc Ninh thì tỷ lệVNĐSDD là 63,7% Nghiên cứu của Đinh Thanh Huề và Lê Văn Tế (2004) ,

về tình hình VNĐSD dưới ở phụ nữ có chồng, độ tuổi sinh đẻ ở xã QuảngThọ huyện Quảng Trạch Quảng Bình cho thấy tỉ lệ hiện mắc VNĐSDD là41,9%

Theo số liệu điều tra của Lê Thị Oanh, Trường Đại học Y Hà Nội(2011) cho thấy tỷ lệ VNĐSD của PN ở các khu vực Hà Nội, vùng núiNghệ An, đồng bằng Hải Dương và nông thôn ven biển là rất cao (42%-64%) Về VNĐSDD, năm 2011 một cuộc khảo sát có quy mô lớn trên 960

PN khám phụ khoa tại bệnh viện phụ sản Trung ương đã được tiến hành.Kết quả, tỷ lệ VNĐSDD rất cao, lên tới 83,1%, trong đó viêm âm đạochiếm tỉ lệ cao nhất Viêm âm đạo kết hợp với viêm cổ tử cung chiếm tỉ lệ33,8% Tại Hà Nội, khám sức khỏe bà mẹ trẻ em- kế hoạch hóa gia đìnhnăm 2003 xác định tỷ lệ VNĐSDD với nấm Candida, Trichomonasvaginalis, Neisseria gonorrhoeae, Chlamydia trachomatis và nhiễm khuẩn

âm đạo ở phụ nữ có triệu chứng và không có triệu chứng Tỷ lệ bị bệnh donấm Candida là 11,1%; T.vaginalis, 1,3%, không có nhiễm trùng do lậucầu, sự phổ biến của C.trachomatis là 4,4% và viêm âm đạo do vi khuẩn là3,5% VNĐSDD phổ biến ở những phụ nữ đã lập gia đình, sử dụng dụng cụ

tử cung nhiều lần có thể làm tăng nguy cơ biến chứng và nguy cơ mắcVNĐSDD Nghiên cứu cũng nhấn mạnh những thách thức của việc chẩnđoán xác định VNĐSDD là sự thiếu liên kết giữa các triệu chứng và các xétnghiệm cận lâm sàng Kết quả từ một nghiên cứu năm 2004 trên 8880 phụ

nữ trong độ tuổi sinh đẻ của 8 vùng sinh thái khác nhau trong cả nước chothấy tỷ lệ NKĐSS là 60%, trong đó chủ yếu là viêm âm đạo và viêm cổ tửcung Nghiên cứu của Trần Thị Đức và Cao Ngọc Thành (2007) trên nhómđối tượng phụ nữ thuần nông tại một số xã ở huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa

Trang 13

cho thấy tỷ lệ NKĐSS tương đối cao 47,9%, đồng thời cũng chỉ ra cănnguyên gây bệnh hay gặp nhất là nấm, tiếp đến là vi khuẩn

Nghiên cứu của Vũ Bá Hoè trên 800 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tạihuyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng năm 2008 cho thấy: Tỷ lệ mắc bệnhNKĐSDD là 62,9%, VNĐSDD có viêm âm đạo là nhiều nhất, chiếm 90,8%;viêm CTC chiếm 88,9%, do tạp khuẩn chiếm 42,0%, nấm chiếm 7,4 và trùngroi chiếm 4%

Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Hà ở 380 phụ nữ từ 18- 49 tuổi ở Hà Nộicũng nhận thấy tỷ lệ mắc NKĐSDD rất cao 62,1%, trong đó viêm âm đạo do

vi khuẩn chiếm chủ yếu: 50,0%, do C trachomatis là 45,8%, nấm C.albicans

là 31,8% và thấp nhất là T.vaginalis là 3,8%

Điều tra của Trần Thị Trung Chiến và cộng sự về các tác nhân vi sinhvật gây nhiễm khuẩn đường sinh dục ở 2875 phụ nữ độ tuổi sinh đẻ đã cóchồng tại Hà Tây (2000 – 2002) cho thấy tỷ lệ các bệnh phụ khoa thôngthường là 47,74% trong đó: viêm đường âm đạo, CTC do vi khuẩn là 46,86%,

lộ tuyến đơn thuần là 27,42%

Nghiên cứu của Khúc Chí Thông trên 102 phụ nữ có chồng tuổi từ 15– 49 xã Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên (2005) thì tỷ lệ VNĐSDD là56,9% trong đó viêm CTC là 62,06%, viêm âm đạo là 31,03%, viêm âm hộ

là 6,8% Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Quang trên những phụ

nữ bán dâm bằng kết quả xét nghiệm cũng cho thấy, tỷ lệ phụ nữ mắcVNĐSDD do nhiễm tạp khuẩn là cao nhất, chiếm 44,7%, tiếp theo là nhiễmnấm, chiếm 10,1%, Trichomonas chiếm 4,4%, giang mai chiếm 2,5% vàthấp nhất là nhiễm lậu cầu khuẩn chiếm 0,5%

Tóm lại, các nghiên cứu ở Việt Nam cho tỉ lệ VNĐSD ở phụ nữ độ tuổisinh đẻ dao động từ 40% đến 80% tùy theo vùng nghiên cứu, điều đó chứngminh rằng cần có những tác động tích cực hơn để làm giảm tỉ lệ VNĐSD ở

Trang 14

phụ nữ Bên cạnh đó, những nghiên cứu mang tính chuyên biệt hay đặc thùcho nhóm phụ nữ nông thôn miền núi ở Việt Nam còn khiêm tốn, ít được đềcập tới.

1.3 Một số yếu tố liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ

1.3.1 Nhóm các yếu tố cá nhân

- Bao gồm yếu tố về nhân khẩu học như: Tuổi, nghề nghiệp, điều kiệnkinh tế, trình độ học vấn

- Nhóm yếu tố kiến thức về bệnh, thái độ và thực hành phòng chống bệnh

- Một số yếu tố về sản khoa như: Số lần sinh, sử dụng biện pháp tránhthai, đang có thai, hay tiền sử nạo hút, tiền sử mắc các bệnh VNĐSDD Tuổi

và nghề nghiệp là những yếu tố có ảnh hưởng đến tình trạng VNĐSDD PhạmThị Khanh tìm hiểu tại bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa (2010), có đến 82% PNmắc bệnh nằm trong nhóm tuổi từ 20 – 40 Trong đó, chủ yếu mắc lại là cán

bộ (28,6%) và nông dân (24,7%) Tác giả chứng minh nghề nghiệp có mốitương quan chặt với tình trạng nhiễm khuẩn do ảnh hưởng trực tiếp đến điềukiện làm việc người PN Đặc điểm công việc phải ngồi nhiều hay tiếp xúc vớimôi trường không sạch sẽ tăng nguy cơ mắc VNĐSDD Kết luận của NguyễnDuy Ánh về mối liên quan đến VNĐSDD cũng có đề cập đến hai yếu tố này Cũng theo nghiên cứu tại Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội giai đoạn

2009 - 2011, tỷ lệ VNĐSDD ở nhóm PN mại dâm rất cao 67,1% Yếu tố nàycòn là điều kiện thuận lợi cho các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đườngtình dục gia tăng Thêm vào đó, điều kiện kinh tế cũng sẽ ảnh hưởng đến khảnăng tiếp cận dịch vụ y tế, sử dụng các sản phẩm vệ sinh cá nhân cũng nhưcải tạo nguồn nước để thực hành vệ sinh phòng bệnh Ngoài ra, nhóm yếu tốkiến thức về bệnh, thái độ và thực hành trong việc phòng chống bệnh cũng cóliên quan đến khả năng mắc bệnh Kiến thức, thực hành trong việc sử dụngcác biện pháp tránh thai liên quan đến việc mắc VNĐSD đã được chứng minh

Trang 15

qua đề tài của Đoàn Huy Hậu (2007) Nghiên cứu tiến hành trên 634 phụ nữvạn chài mắc các triệu chứng/bệnh VNĐSDD, tỷ lệ những người biết sử dụngcác biện pháp tránh thai trong nhóm phụ nữ này rất thấp Chỉ có 32,4% biếtcách sử dụng vòng tránh thai; 49,3% biết cách sử dụng bao cao su; 32,1% biết

sử dụng thuốc uống tránh thai; 2,1% biết cách tính vòng kinh Không nhữnghiểu biết về lĩnh vực này còn yếu, mà thái độ của họ chưa tích cực và hành vithực hành còn rất thấp Chính vì vậy, tỷ lệ PN vạn chài mắc các bệnhVNĐSDD là khá cao 63,7%

Đánh giá nhận thức về cách phòng chống bệnh của PN 15- 49 tuổi tạiHải Phòng về VNĐSDD có vẻ khả quan hơn khi có 70% trả lời để phòngbệnh phải vệ sinh bộ phận sinh dục, 64% trả lời dùng nước sạch, trên 54% trảlời cần khám phụ khoa định kỳ và trên 44% trả lời cần phải vệ sinh kinhnguyệt Về cơ bản, đối tượng hiểu được cách phòng mắc các bệnh VNĐSDD.Đồng thời, nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức về bệnh có mối tương quan ýnghĩa với tình trạng mắc bệnh Ngoài ra, một nghiên cứu khác còn cho thấythói quen thụt rửa âm đạo, âm hộ bằng dung dịch sát khuẩn, quan hệ tình dụckhi bị viêm âm đạo có liên quan đến thực hành phòng bệnh VAĐ TheoHoàng Minh Hằng, nghiên cứu trên 800 PN 15- 49 tuổi tại Hải Phòng cóchồng hoặc đã quan hệ tình dục, nguy cơ mắc bệnh VNĐSDD chủ yếu là dothiếu vệ sinh kinh nguyệt 65,2% nhóm viêm và 69,0% nhóm không viêm.Điều này cũng được khẳng định qua đề tài của bệnh viện Phụ sản Trungương khi kết luận thói quen vệ sinh PN có liên quan đến tình trạngVNĐSDD ở PN Điều đó càng khẳng định vệ sinh là yếu tố rất quan trọnggóp phần gây ra bệnh, nhưng cũng có thể hạn chế bệnh nếu thực hành đúng

Về sản khoa, nghiên cứu tại Trung Quốc đã chỉ ra có mối liên quan giữaNKĐSS và tình trạng nạo phá thai Nghiên cứu tại Ghana (2008) còn chỉ rayếu tố liên quan đến VNĐSD trong hoạt động tình dục của nữ thanh niên

Trang 16

bao gồm việc sử dụng bao cao su để tránh thai và thảo luận về kế hoạch hóagia đình với đối tác

Đề tài nghiên cứu của Phạm Thị Khanh về tình hình VNĐSDD trên 150bệnh nhân là PN từ 18 - 45 tại bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa cũng đã chỉ ramột số yếu tố liên quan Thứ nhất là tiền sử sinh đẻ: Số PN mắc bệnh đã sinh

từ 3 lần trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất (44,7%) gấp 4,8 lần so với số bệnh nhânchưa có con Thứ hai là tiền sử nạo hút thai: Số PN mắc bệnh đã nạo hút thai

từ 2 lần trở lên chiếm 52,7% Ngoài ra, đặt dụng cụ tử cung làm tăng nguy cơviêm nhiễm cổ tử cung - âm đạo: Số PN áp dụng biện pháp này có tỷ lệ mắcVNĐSDD cao nhất, chiếm 62,7% Kết luận này cũng trùng với nhận địnhcủa Lê Hoài Chương khi khảo sát các yếu tố liên quan đến VNĐSDD ở PNkhám phụ khoa tại Bệnh viện phụ sản TW cho thấy tiền sử nạo thai, sảy thai,sinh đẻ liên quan đến khả năng bị mắc bệnh Ngoài ra một số nghiên cứu cònchú ý đến yếu tố đang mang thai, tiền sử viêm nhiễm, uống thuốc tránh thaikéo dài,… hoặc nghề nghiệp của người chồng đối tượng có thể gây raVNĐSDD

Một số nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho thấy yếu tố nguy cơ củaVNĐSD chủ yếu là do tập quán, thói quen vệ sinh sinh dục, vệ sinh phụ nữkhông hợp lý, sự hiểu biết về bệnh VNĐSD và nạo hút thai còn hạn chế , Nghiên cứu của Lâm Đức Tâm và Nguyễn Thị Huệ (2011) , chothấy các hành vi vệ sinh có ảnh hưởng đến bệnh VNĐSD như: thụt rửa âm hộhàng ngày bằng dung dịch vệ sinh phụ nữ, đặt thuốc âm đạo khi có khí hư vàhôi, điều trị bệnh theo nguyên nhân, sử dụng bao cao su khi nghi ngờ chồng

bị bệnh LTQĐTD Một số hành vi khác có liên quan đến VNĐSD như:hành vi sử dụng băng vệ sinh trong chu kỳ kinh nguyệt; hành vi tìm kiếm dịch

vụ y tế (không điều trị sớm, tự mua thuốc về điều trị, không theo chỉ dẫn củabác sỹ và không tuân thủ theo một qui trình nào)

Trang 17

Các yếu tố kiến thức, thái độ và thực hành trong việc phòng chống bệnhcũng có liên quan đến khả năng mắc bệnh nói chung và bệnh VNĐSD nóiriêng Trên thực tế, nhiều nghiên cứu đã cho thấy kiến thức phòngchống bệnh VNĐSD và bệnh LTQĐTD của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ vùngsâu vùng xa còn chưa cao , Kiến thức, thái độ và thực hànhphòng bệnh VNĐSD chưa tốt sẽ làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh VNĐSD.Nghiên cứu ở Hải Phòng cho thấy có 70% phụ nữ trả lời để phòng bệnh phải

vệ sinh bộ phận sinh dục; 64% trả lời dùng nước sạch; trên 54% trả lời cầnkhám phụ khoa định kỳ và trên 44% trả lời cần phải vệ sinh kinh nguyệt Nghiên cứu của Yang Li Rong và cs (2006) , cho thấy có 80% phụ nữ cókiến thức yếu và thiếu kinh nghiệm về phòng chống bệnh VNĐSD, và tỉ lệVNĐSD ở nhóm phụ nữ có kiến thức yếu và thiếu kinh nghiệm này cao hơnnhóm phụ nữ có kiến thức đúng về VNĐSD Một số nghiên cứu khác trên thếgiới cũng chứng minh rõ mối liên quan giữa kiến thức với bệnh VNĐSD:nhóm phụ nữ có điểm kiến thức về bệnh VNĐSD càng cao thì càng ít có nguy

cơ mắc bệnh VNĐSD

1.3.2 Nhóm các yếu tố về môi trường xã hội

Môi trường xung quanh đã, đang và sẽ tiếp tục đóng một vai trò hết sứcquan trọng quyết định tình trạng sức khoẻ của bất cứ một cộng đồng nào Cácbáo cáo nghiên cứu về bệnh tật và tử vong đều có sự khác biệt mang tính khuvực đối với bệnh tật nói chung và SKSS của phụ nữ nói riêng Sự khácbiệt mang tính khu vực này phần lớn là do sự khác biệt về môi trường sống.Việc thực hiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh phụ nữ hàng ngày cùng với cácđiều kiện đảm bảo cho vệ sinh như nước sạch, nhà tắm, có vai trò quan trọngtrong việc phòng VNĐSD Nghiên cứu của Jespers và cs (2014) , cho kếtquả: mỗi vùng miền thì tỉ lệ mắc bệnh VNĐSD lại khác nhau, tùy thuộc vàomức độ ô nhiễm và phong tục tập quán về SKSS ở vùng đó Nghiên cứu chothấy, nhóm phụ nữ ở khu vực Nam Phi có nguy cơ mắc VNĐSD do nấm

Trang 18

Candida cao gấp 3,57 lần so với nhóm phụ nữ ở Kenya, có ý nghĩa thống kê

(95%CI: 2,08 - 6,15) Ngay kể cả khi sống trong cùng một khu vực, việc sửdụng loại nước vệ sinh bộ phận sinh dục và cách sử dụng cũng liên quan tớibệnh VNĐSD Nghiên cứu của Zhang X J và cs (2009) , cho thấynhóm phụ nữ không sử dụng chung chậu đựng nước rửa chân và chậu đựngnước vệ sinh âm đạo riêng biệt có nguy cơ mắc VNĐSD cao gấp 1,3 lần(95%CI: 1,203 - 1,301) so với nhóm phụ nữ có sử dụng chậu đựng nước rửachân và chậu đựng nước vệ sinh âm đạo riêng biệt Ở Việt Nam, phụ nữ nôngthôn Việt Nam dễ mắc VNĐSD, do thường xuyên phải lao động trên đồngruộng nước, trong điều kiện nắng, mưa và mồ hôi thấm ướt quần áo thườngxuyên, thậm chí phải ngâm người dưới nước hồ ao hay đồng chiêm trũng;trong khi đó thông thường không có bất kỳ trang thiết bị phòng hộ lao độngnào Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Bài và Võ Văn Thắng (2009) , chỉ ra một

số yếu tố nguy cơ đến VNĐSD bao gồm nguồn nước tắm, giặt: nếu dùngnước giếng tỉ lệ mắc bệnh sẽ cao hơn so với dùng nước máy Nghiên cứu của

Đỗ Mai Hoa (2009) , cho thấy bệnh liên quan với điều kiện lao động ngâm

mình dưới nước Nghiên cứu của tác giả Phạm Thu Xanh (2014) , tại khu vực

biển, đảo thành phố Hải Phòng khi cho rằng phụ nữ sử dụng nguồn nướckhông hợp vệ sinh hoặc không có nhà tắm riêng, vệ sinh có nguy cơ mắcVNĐSD cao gấp 1,4 lần so với phụ nữ được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinhhoặc có nhà tắm riêng, vệ sinh Một yếu tố khác cũng tác động đến tình trạngsức khỏe của phụ nữ đó là môi trường xã hội Những yếu tố xã hội như thunhập, trình độ học vấn cũng có tác động mạnh mẽ đến tình trạng sức khoẻ

Ở mỗi quốc gia cũng thấy có sự khác biệt về tỉ lệ VNĐSD giữa các tầng lớpdân cư Nghiên cứu của Phạm Thị Lan và cs (2008) [50], cho thấy: nhóm phụ

nữ nghèo nhất có nguy cơ mắc VNĐSD do nấm Candidas cao gấp 2,10 lần(95%CI:1,25 - 3,51) so với nhóm phụ nữ khác Nghiên cứu của Phạm ThuXanh (2014) [33], cho thấy nhóm phụ nữ nghèo có nguy cơ mắc VNĐSD cao

Trang 19

gấp 1,7 lần so với nhóm phụ nữ có điều kiện kinh tế trung bình và khá giả, có

ý nghĩa thống kê (95%CI:1,01 - 2,98)

Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Minh (2009) , cho kết quả tỉ lệ mắcVNĐSD dưới ở nhóm phụ nữ thuộc hộ nghèo là 44,0%; cao hơn ở nhómphụ nữ đủ ăn (36,2%), có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Môi trường xã hộicòn bao gồm cả các phong tục tập quán Việc bị ảnh hưởng bởi các phongtục tập quán, đặc biệt là những phong tục tập quán có liên quan đến SKSSđều có liên quan đến vấn đề VNĐSD Đã có nhiều nghiên cứu cho thấyviệc chăm sóc thai sản, VNĐSD ở nhóm phụ nữ Mông, Gia Rai, Ba Na cònnhiều hạn chế mà nguyên nhân chính là một số phong tục tập quán chămsóc SKSS cho phụ nữ còn lạc hậu Nghiên cứu của Li X D và cs (2014) ,tại Trung Quốc trên 53652 phụ nữ cho kết quả: phụ nữ dân tộc thiểu số cónguy cơ mắc viêm âm đạo cao hơn 1,805 lần (95%CI:1,270 - 2,564) so vớinhóm phụ nữ khác

1.3.3 Nhóm các yếu tố khác

Nhóm yếu tố này bao gồm các yếu tố về nhân khẩu học như tuổi, nghềnghiệp, trình độ học vấn… và một số yếu tố về sản khoa như số lầnsinh, sử dụng biện pháp tránh thai, đang có thai hay tiền sử nạo hút, tiền sửmắc các bệnh VNĐSDD đều có liên quan chặt chẽ với VNĐSD

Đối với các VNĐSD do tác nhân gây BLTQĐTD thường gặp ở người trẻtrong tuổi hoạt động tình dục hơn những đối tượng khác Tuy nhiên, trongtừng nghiên cứu, việc mô tả các yếu tố này cũng khác nhau Nghiên cứu của

Li X.D và cs (2014) , cho kết quả nhóm phụ nữ dưới 24 tuổi và từ 35 tuổi trởlên có nguy cơ mắc VNĐSD cao hơn 1,229 và 1,301 lần (theo thứ tự) so vớinhóm phụ nữ từ 25 - 34 tuổi, có ý nghĩa thống kê

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Học (2011) , đã chỉ ra rằng phụ nữ trong độtuổi sinh đẻ có tỉ lệ mắc bệnh VNĐSD cao gấp 6,2 lần so với phụ nữ nhóm

Trang 20

tuổi tiền mãn kinh hay mãn kinh Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Huệ vàLâm Đức Tâm (2011) , cho thấy tỷ lệ viêm âm đạo ở nhóm phụ nữ từ 19 - 35

là 58,0%; cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với nhóm phụ nữ có độtuổi từ 36 trở lên (42,0%) Nghề nghiệp là một trong những yếu tố có ảnhhưởng đến tình trạng VNĐSD ở phụ nữ Nghiên cứu Phạm Thị Lan (2008) ,cho thấy kết quả nhóm phụ nữ làm công chức nhà nước có nguy cơ mắc

VNĐSD do nấm Candidas thấp hơn 0,24 lần (95%CI: 0,06 - 0,91) so với

nhóm phụ nữ làm ruộng (tiếp xúc với môi trường nước) Nghiên cứu củaPhạm Thu Xanh (2014) , cho thấy nhóm phụ nữ làm nghề nuôi trồng, chếbiến và đánh bắt hải sản có nguy cơ mắc VNĐSD cao hơn 1,4 lần so vớinhóm phụ nữ làm nghề còn lại Nghiên cứu của Nguyễn Thị Huệ và Lâm ĐứcTâm (2010) , cũng cho kết quả tương tự với nhận định là nghề nghiệp có liênquan với tình trạng VNĐSD ở phụ nữ

Nghề nghiệp có mối tương quan chặt chẽ với tình trạng nhiễm khuẩn doảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện làm việc người phụ nữ Công việc phảingồi nhiều hay tiếp xúc với môi trường không sạch sẽ tăng nguy cơ mắcVNĐSD Kết luận của Nguyễn Duy Ánh (2009) về mối liên quan đếnVNĐSDD cũng có đề cập đến hai yếu tố này Trình độ học vấn là một trongnhững yếu tố liên quan rõ rệt đến VNĐSD ở phụ nữ Điều này được lý giải dotrình độ học vấn thấp thì các hành vi về phòng chống VNĐSD cũng thấp, bêncạnh đó trình độ học vấn cũng liên quan đến việc tiếp thu các thông tin TT -GDSK về VNĐSD của phụ nữ Nghiên cứu của Li X D và cs (2014) , chothấy phụ nữ có trình độ học vấn càng cao thì nguy cơ mắc VNĐSD càng thấp(OR = 0,900; 95%CI:0,875 - 0,927; p<0,05); nghiên cứu của Zhang X J và

cs (2009) , cũng cho kết quả tương tự với OR = 0,853; 95%CI: 0,837 - 0,870;p<0,05) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Huệ và Lâm Đức Tâm (2010) , cho kếtquả tỉ lệ VNĐSD ở nhóm phụ nữ có trình độ học vấn THCS trở xuống caohơn nhóm phụ nữ có trình độ học vấn THPT trở lên, có ý nghĩa thống kê

Trang 21

Điều này được chỉ rõ trong nghiên cứu của Phạm Thu Xanh (2014) , với ORgiữa nhóm phụ nữ có trình độ học vấn THCS trở xuống với nhóm phụ nữ cótrình độ học vấn THPT trở lên là 1,5 (95%CI: 1,02 - 2,13) Một số yếu tốkhác như tiền sử sản khoa, tiền sử sinh đẻ, tiền sử nạo phá thai hay tình trạnghôn nhân… cũng liên quan đến tình trạng VNĐSD ở phụ nữ Tương tự nhưvậy, số lần mang thai và số lần sinh đẻ của phụ nữ cũng liên quan đến tìnhtrạng VNĐSD: phụ nữ mang thai hoặc sinh nở từ 2 lần trở lên có nguy cơ mắcVNĐSD cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm phụ nữ chỉ mang thai hoặcsinh nở từ 1 lần trở xuống Một số nghiên cứu khác đã chỉ ra tiền sử sinh đẻ,tiền sử nạo hút thai, đặt dụng cụ tử cung cũng liên quan đến VNĐSD , Ngoài

ra còn có một số yếu tố khác cũng liên quan đến tình trạng VNĐSD ở phụ nữnhư thời gian quan hệ tình dục sau nạo hút thai, nghề nghiệp của chồng, trình

độ học vấn của chồng, tình trạng hôn nhân, việc sử dụng biện pháp tránh thai,các đặc điểm về kinh nguyệt Tuy nhiên kết quả cụ thể thì có sự khác nhau tùytừng nghiên cứu

Tóm lại các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về nguy cơ mắcbệnh VNĐSD đều tập trung vào 04 nhóm đó là yếu tố thuộc về hành viphòng chống bệnh của người phụ nữ, yếu tố môi trường sống có cả môitrường tự nhiên lẫn môi trường xã hội, yếu tố thuộc về hệ thống y tế và yếu

tố thuộc về nhân khẩu học và một số yếu tố khác…Hiểu biết về các yếu tốnguy cơ sẽ giúp chúng ta phân tích vấn đề bệnh VNĐSD của phụ nữ ở cộngđồng để lựa chọn

Trang 23

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Phụ nữ dân tộc thiểu số có chồng độ tuổi từ 15- 49 đang sinh sống, cưtrú 04 xã trên địa bàn huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Phụ nữ dân tộc thiểu số có chồng độ tuổi từ 15- 49

- Hiện đang sinh sống tại huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Đang có thai

- Đang hành kinh

- Đã sử dụng thuốc đặt âm đạo (Trong vòng 01 ngày trước khi đến khám)

- Đã sử dụng thụt rửa âm đạo trong vòng 03 ngày trước khi đến khámNhững người mắc bệnh về động kinh, tâm thần, thiểu năng trí tuệ, câm, điếc

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 12/2015– 05/2016

2.1.3 Địa bàn nghiên cứu

4 xã thuộc huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa gồm: xã Lâm Phú,

xã Yên Thắng, xã Đồng Lương và xã Quang Hiến

Thanh Hóa là tỉnh chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Trung với tổng

Trang 24

diện tích 11.130,2 km2 phía bắc giáp các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bìnhphía nam và tây nam giáp tỉnh Nghệ An, phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn nướccộng hòa Dân chủ nhân nhân Lào với đường biên giới 192 km, phía đông giápvịnh Bắc Bộ với bờ biển dài 102 km Thanh Hóa gồm 27 huyện, thị, thànhphố với 637 xã, phường, thị trấn, được chia thành 03 vùng là vùng đồng bằngven biển, vùng trung du và miền núi, tổng số dân hơn 3.412.600 người với 07dân tộc Việt, Thái, Mường, Thổ, Dao, Hơ Mông, Khơ - Mú sinh sống.

Về hệ thống y tế của Thanh Hóa, tuyến tỉnh có các Bệnh viện và Trungtâm chuyên khoa như Bệnh viện đa khoa tỉnh, bệnh viện Phụ Sản, bệnh việnNhi, Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản và hệ thống y tế tư nhân hoạtđộng Tuyến huyện có các Bệnh viện đa khoa, Trung tâm Y tế, Trung tâmDân số kế hoạch hóa gia đình Các xã, phường đều có trạm y tế, nhân viên y

tế thôn, bản, cô đỡ hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân

Lang Chánh là một huyện miền núi phía tây Thanh Hóa diện tích tự

nhiên của huyện là 58.659,18 ha, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa gần

100 km, phía Bắc giáp huyện Bá Thước, Phía Nam giáp huyện Thường Xuân,Phía Đông giáp huyện Ngọc Lạc, Phía Tây giáp huyện Quan Sơn và có đườngbiên giới giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn nước Cộng hòa dân chủ nhândân Lào

Huyện có 10 xã và một Thị Trấn trong đó có một xã biên giới, là mộttrong 62 huyện nghèo của cả nước, một trong 07 huyện nghèo của tỉnh ThanhHóa với tỷ lệ hộ nghèo là 38,03 % Địa hình phức tạp đi lại rất khó khăn.Lang Chánh có các dân tộc: Thái (53%), Mường (33%), Kinh (14%) Dân cưphân bố không đồng đều giữa các vùng, các xã trên địa bàn huyện, địa hình tựnhiên bị chia cắt bởi nhiều sông, suối Điều kiện kinh tế chậm phát triển, sảnxuất chủ yếu là nông, lâm nghiệp chưa có ngành kinh tế mũi nhọn

Về nguồn nước sử dụng chính tại địa bàn là nước suối máng lần tự chảy,giếng đào, và một số ít là giếng khoan Tỷ lệ sử dụng nước máng lần tự chảy

Trang 25

chiếm 70 %, nước máng lần tự chảy cơ bản là sạch nếu được bảo vệ tốt từ nơiđầu nguồn, nhưng có các yếu tố ảnh hưởng như vi sinh vật thoái hóa, lá câyrừng, động vật như trâu, bò phóng uế chất thải, tắm ở đầu nguồn, thời tiếtmưa, lũ cuốn theo nhiều tác nhân gây bệnh khi sử dụng Về giếng đào chỉ cómột số giếng đảm bảo tiêu chuẩn như có cống giếng, thành, sân, hệ thốngthoát nước nên cũng ảnh hưởng không nhỏ về tiêu chuẩn vệ sinh Phong tụctập quán, nhận thức, kiến thức về VNĐSD đồng bào dân tộc thiểu số cònnhiều hạn chế nên có lúc vẫn sử dụng sử dụng cả nước sông, ao hồ để vệ sinh

cá nhân

Về hệ thống y tế toàn huyện hiện có 1 Bệnh viện đa khoa, 1 Trung tâm y

tế, 1 Trung tâm dân số, 1 Phòng y tế, 11 trạm y tế xã, thị trấn Mỗi trạm y tế

có từ 5 - 7 cán bộ, trong đó 11/11 Trạm y tế xã, thị trấn có Bác sỹ, 100% cácthôn, bản đều có nhân viên y tế thôn, bản có trình độ từ sơ cấp trở lên Cáchoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân được thực hiện đồng bộ

từ huyện tới cơ sở, các chương trình Tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khoẻsinh sản, phòng chống dịch bệnh, phòng chống các bệnh sốt rét, bướu cổ,phòng chống lao, được triển khai và đạt kết quả cao Mạng lưới y tế pháttriển, rộng khắp từ huyện đến xã và thôn, bản Tuy nhiên đội ngũ cán bộ y tế

có trình độ chuyên môn cao lại tập trung chủ yếu tại các bệnh viện và cáctrung tâm của tỉnh, thành phố

Hàng tháng trong năm Khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản của Trung tâm

Y tế huyện đều tổ chức thực hiện tuyên truyền, khám và điều trị VNĐSD tạicác trạm Y tế xã Tuy nhiên sự hiểu biết của người dân về phòng VNĐSD cònhạn chế, tổng số phụ nữ 15-49 tuổi có chồng là 10.022 người, một số thường

đi làm ăn xa Hàng năm theo thống kê của khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sảnTrung tâm tâm Y tế huyện đã tổ chức khám phụ khoa cho phụ nữ 15-49 tuổi

có chồng, tỷ lệ NKĐSDD năm 2014 là 56% [42]

Trang 26

Xã Lâm Phú là xã vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện Lang Chánh

cách trung tâm huyện hơn 30 km Địa hình đồi núi, đi lại khó khăn, điều kiệnkinh tế chậm phát triển chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo còncao (45,36%), trình độ dân trí thấp Xã có hơn 5.123 nhân khẩu với 09 làngbản gồm có dân tộc Thái chiếm hơn 96% còn lại là dân tộc Việt và Mườngsinh sống Tổng số phụ nữ có chồng độ tuổi 15 - 49 tuổi là 1087 người,vẫncòn tình trạng tảo hôn Công tác vệ sinh môi trường còn nhiều bất cập, cònnuôi, nhốt gia súc, gia cầm dưới gầm sàn, thiếu nguồn nước hợp vệ sinh để sửdụng nguồn nước sử dụng chính là nước suối, tình trạng xử lý phân rác, chấtthải chưa tốt, các công trình vệ sinh chưa đảm bảo vệ sinh

Xã Yên Thắng nằm ở phái tây của huyện Lang Chánh cách trung tâm

huyện 30 km Địa hình đồi núi, chia cắt bởi nhiều khe suối, đi lại khó khănđiều kiện kinh tế chậm phát triển chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ hộnghèo còn cao (49,1%), trình độ dân trí thấp Xã có hơn 6.213 nhân khẩu với

10 làng, bản gồm có dân tộc Thái chiếm hơn 97% còn lại là dân tộc Việt vàMường sinh sống Số phụ nữ có chồng độ tuổi 15 - 49 là 1060 người, còn tìnhtrạng tảo hôn Tình trạng vệ sinh môi trường còn nhiều bất cập, thiếu nguồnnước hợp vệ sinh để sử dụng, nguồn nước sử dụng chính là nước suối, xử lýphân rác, chất thải chưa tốt, còn nuôi nhốt gia súc, gia cầm dưới gầm sàn Cáccông trình vệ sinh chưa đảm bảo hợp vệ sinh

Xã Quang Hiến cách trung tâm huyện khoảng 3 km Điều kiện giao

thông đi lại thuận lợi, điều kiện kinh tế phát triển vẫn còn chậm, tỷ lệ hộnghèo (38,8%), trình độ dân trí thấp Xã có 6.150 nhân khẩu với 11 thôn, bản,gồm dân tộc Mường chiếm hơn 60% Tổng số phụ nữ có chồng độ tuổi 15 -49

là 1045 người Công tác vệ sinh môi trường tuy được cải thiện nhưng tỷ lệ cáccông trình vệ sinh đạt còn thấp Nguồn nước sử dụng là nước giếng đào, nướcsuông, suối Nguồn nước vẫn bị ô nhiễm do tình trạng xử lý phân, rác chưađúng và đảm bảo vệ sinh

Trang 27

Xã Đồng Lương cách trung tâm huyện khoảng 5 km Điều kiện giao

thông đi lại thuận lợi nhưng vẫn có làng, bản rất khó khăn về giao thông, điềukiện kinh tế phát triển không đồng bộ, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ

hộ nghèo (40,4%), trình độ dân trí thấp Xã có 5.540 nhân khẩu với 11 thônbản, trong đó dân tộc Mường chiếm hơn 67% Tổng số phụ nữ có chồng độtuổi 15 -49 là 1012 người Công tác vệ sinh môi trường không được cải thiện

rõ nét, nhân dân còn nuôi, nhốt gia súc, gia cầm dưới gầm sàn, tỷ lệ các côngtrình vệ sinh đảm bảo vệ sinh đạt còn thấp Nguồn nước sử dụng là nướcgiếng đào, nước suối Nguồn nước vẫn bị ô nhiễm do tình trạng xử lý phân,rác không đảm bảo vệ sinh

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1.Thiết kế nghiên cứu

Áp dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang vớinghiên cứu định lượng để tìm hiểu thực trạng viêm nhiễm đường sinh dụcdưới phụ nữ dân tộc thiểu số có chồng độ tuổi 15- 49 tại địa bàn nghiên cứu

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

p Z

Trong đó:

n: Cỡ mẫu tối thiểu

Z(1- α / 2)= 1,96: Là giá trị tương ứng của hệ số giới hạn tin cậy, với hệ sốtin cậy là 95%

p = 0,56 ước tính tỷ lệ mắc VNĐSDD của huyện Lang Chánh (số liệubáo cáo của khoa CSSKSS năm 2014)

Trang 28

d: độ sai lệch tuyệt đối giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ thực của quầnthể được lấy là 0,05

Thay vào công thức, ta tính được mẫu của nghiên cứu n = 379 phụ nữ.Thực tế, chúng tôi điều tra được n=400 phụ nữ chia đều cho 04 xã

- Chọn thôn, bản: Chọn ngẫu nhiên bằng phương pháp bốc thăm mỗi xã

4 thôn, bản để điều tra

- Chọn hộ gia đình:

Sau khi chọn được các thôn, bản chọn hộ gia đình và đối tượng Dùngphương pháp "quay cổ chai "để chọn hộ đầu tiên Các hộ gia đình thứ 2, 3 vàtiếp theo được lựa chọn theo phương pháp “Cổng liền cổng” Khái niệm

“Cổng liền cổng” được hiểu là các nhà có cự ly gần nhất tính theo đườngchim bay

- Chọn đối tượng phỏng vấn:

Tại mỗi hộ được chọn, chọn phụ nữ dân tộc thiểu số có chồng độ tuổi15-49 của hộ gia đình đó để phỏng vấn Tại hộ gia đình chỉ chọn một đốitượng để phỏng vấn Nếu hộ gia đình nào có 2 người trở lên đủ điều kiện điềutra thì sẽ bắt thăm ngẫu nhiên để chọn một đối tượng phỏng vấn, nếu có hộ

Trang 29

gia đình từ chối, không có đối tượng hoặc phụ nữ đó nằm trong đối tượng loạitrừ tham gia thì mời hộ gia đình liền kề tiếp theo cho đến khi đủ số lượng phụ

nữ để nghiên cứu tại từng xã

2.3 Phương pháp thu thập số liệu và kỹ thuật trong nghiên cứu

- Thu thập số liệu bằng phỏng vấn bộ câu hỏi, khám phụ khoa, xét nghiệm

- Điều tra viên tham gia phỏng vấn được tập huấn về bộ câu hỏi, cáchhỏi và điền số liệu Điều tra viên được lựa chọn là cán bộ y tế của Trung tâm

Y tế, nhân viên y tế thôn, bản, cộng tác viên dân số, người địa phương thôngthạo tiếng dân tộc thiểu số có chuyên môn đáp ứng để thực hiện

- Cán bộ y tế khám phụ khoa, xét nghiệm được tập huấn thống nhất cáchkhám, lấy mẫu xét nghiệm

* Phỏng vấn đối tượng nghiên cứu:

Phỏng vấn đối tượng tại hộ gia đình để thu thập số liệu về kiến thức, thái

độ, thực hành liên qua đến viêm nhiễm đường sinh dục dưới theo bộ câu hỏi

đã được thiết kế sẵn Sau đó gửi giấy mời đối tượng hẹn khám phụ khoa tạiTrạm Y tế xã

* Khám phụ khoa và xét nghiệm:

- Khám phụ khoa:

Đối tượng được khám phụ khoa để phát hiện viêm nhiễm đường sinh dụcdưới với các biểu hiện:

+ Biểu hiện ở âm hộ: Sẩn, ngứa, loét, sùi

+ Biểu hiện ở âm đạo: Tính chất khí hư, viêm đỏ

+ Biểu hiện ở Cổ tử cung: Khí hư ở cổ tử cung, loét, trợt, u sùi, lộ tuyến

cổ tử cung

- Cận lâm sàng

Trang 30

Các đối tượng nghi ngờ mắc bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới saukhám phụ khoa được lấy bệnh phẩm ở cùng đồ sau âm đạo và cổ tử cung để xétnghiệm xác định nguyên nhân Quy trình xét nghiệm được thực hiện như sau:+ Dùng tăm bông lấy bệnh phẩm bệnh nhân dàn cố định trên tiêu bản đểnhuộm Gram để tìm hình thể và tính chất bắt màu của nấm Candida, vi khuẩn,

tế bào trong bệnh phẩm của bệnh nhân

+ Dùng tăm bông làm test Sniff: Dàn khí hư trên lam kính, nhỏ dungdịch KOH 10% trộn đều, ngửi có mùi cá ươn là dương tính để phát hiệnGardnerella vaginalis

+ Dùng tăm bông lấy khí hư dàn trên lam kính, nhỏ dung dịch NaCL0,9%, soi tươi để phát hiện hình ảnh T.vaginalis, nấm

+ Dùng tăm bông lấy khí hư làm xét nghiệm tìm Chlamydia bằng quethử nhanh

+ Dùng tăm bông lấy dịch ở tuyến Skene, tuyến Bartholin nhuôm Gramtìm hình ảnh lậu cầu

* Tiêu chuẩn để chẩn đoán một số bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới trong nghiên cứu:

- Nấm Candida: Ngứa âm hộ, âm đạo, rát, ra khí hư trắng, đục như váng

sữa bám thành âm đạo Soi tươi với dung dịch KOH thấy sợi nấm, bào tửnấm, nhuộm Gram, cấy có sợi nấm

- Gardnerella vaginalis: Người khó chịu, hôi sau khi giao hợp, khí hư

nhiều, lỏng, có màu vàng xám, mùi hôi, tanh, niêm mạc âm đạo đỏ Test Sniff

có mùi cá thối

- Trichomonas: Ngứa rát âm hộ, âm đạo, đau khi giao hợp, ra khí hư

nhiều vàng, trắng có bọt, mùi tanh, niêm mạc âm đạo đỏ, bôi dung dịch lugol

có hình ảnh đêm sao Soi tươi có trùng roi di động

Trang 31

- Chlamydia: Bệnh nhân thường không thấy triệu chứng điển hình, có

thể ra khí hư, viêm âm hộ, âm đạo, viêm phần phụ cấp hoặc bán cấp Test thửnhanh phát hiện Chlamydia

- Lậu cầu: Triệu chứng thường không điển hình, khí hư ra màu vàng,

xanh, đặc ra từ cổ tử cung, mùi hôi, niêm mạc âm đạo phù nề Nhuộm Gramthấy hình ảnh song cầu hạt cà phê Gram âm

2.4 Các tiêu chuẩn đánh giá, phân loại

* Đánh giá về các đặc điểm chung

- Họ và tên, tuổi

- Trình độ học vấn

- Nghề nghiệp

- Tình trạng hôn nhân

- Thu nhập của gia đình trung bình/ tháng

* Đánh giá kiến thức của đối tượng

- Hiểu biết về các yếu tố nguy cơ liên quan đến viêm nhiễm đường sinhdục dưới

+ Không có nước sạch để làm vệ sinh hàng ngày

+ Không giữ vệ sinh bộ phận sinh dục

+ Thường xuyên ngâm mình dưới nước

+ Vệ sinh kinh nguyệt kém

+ Vệ sinh khi quan hệ vợ chồng kém

+ Quan hệ tình dục với nhiều người mà không dùng bao cao su

Tốt: Trả lời được từ 50% trở lên các ý trong nội dung đánh giá

Chưa tốt: Trả lời được dưới 50% các ý trong nội dung đánh giá

Trang 32

- Hiểu biết về phòng chống viêm nhiễm đường sinh dục dưới

+ Phải có nước sạch để vệ sinh hàng ngày

+ Vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục hàng ngày

+ Vệ sinh kinh nguyệt sạch sẽ

+ Khám phụ khoa định kỳ để phát hiện bệnh sớm

+ Khi nghi ngờ mắc bệnh cần đi khám, điều trị sớm

+ Tuân thủ theo hướng dẫn điều trị của Thầy thuốc khi mắc bệnh

+ Sống chung thuỷ một vợ một chồng

+ Vệ sinh sạch sẽ khi quan hệ vợ chồng

+ Khi QHTD với bạn tình hoặc với nhiều người phải dùng bao cao su Tốt: Trả lời được từ 50% trở lên các ý trong nội dung đánh giá

Chưa tốt: Trả lời được dưới 50% các ý trong nội dung đánh giá

* Đánh giá về thái độ đối với bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới

- Thái độ đánh giá về ảnh hưởng của VNĐSDD đối với sức khoẻ

Tốt: Cần thiết, cần đi khám và điều trị kịp thời

Chưa tốt: Chưa cần thiết, có ảnh hưởng đến sức khoẻ nhưng chưa cần đikhám và điều trị sớm

- Thái độ việc đi khám và điều trị khi nghi ngờ hoặc mắc bệnh

Tốt: Cần đi khám sớm khi nghi ngờ mắc bệnh VNĐSDD và điều trị cho

cả vợ và chồng khi bị mắc bệnh kịp thời

Chưa tốt: Chỉ đi khám khi mắc bệnh và điều trị cho người mắc bệnh

- Thực hiện khi điều trị bệnh

Tốt: Điều trị đầy đủ và liên tục theo hướng dẫn của thầy thuốc

Chưa tốt: Tự mua thuốc điều trị, dừng thuốc khi thấy đỡ, không thực

Trang 33

hiện hướng dẫn của thầy thuốc.

* Đánh giá về thực hành phòng chống bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới

- Đánh giá thực hành vệ sinh phụ nữ hàng ngày

Đúng cách: Rửa bên ngoài âm hộ bằng nước sạch, rửa từ trước ra sau sau

đó lau khô bằng khăn vải sạch

Không đúng cách: Dùng tay ngoáy sâu vào trong âm đạo, rửa từ sau ratrước hoặc ngâm âm hộ và mông vào chậu nước để rửa

- Đánh giá thực hành vệ sinh kinh nguyệt

Tốt: Khi hành kinh mỗi ngày thay băng vệ sinh từ 3 lần trở lên, sử dụngbăng vệ sinh sạch với điều kiện sẵn có đảm bảo vô khuẩn

Chưa tốt: Khi hành kinh mỗi ngày thay băng vệ sinh từ 2 lần trở xuống, sửdụng băng vệ sinh không đảm bảo vệ sinh

- Đánh giá thực hành vệ sinh giao hợp

Tốt: Vợ, chồng vệ sinh trước và sau khi giao hợp

Chưa tốt: Vợ, chồng không thực hiện theo quy trình trên

- Đánh giá thực hiện khám phụ khoa định kỳ

Tốt: Đi khám phụ khoa năm ít nhất 2 lần trở lên, điều trị kịp thời khi mắcbệnh

Chưa tốt: Mỗi năm đi khám phụ khoa 1 lần, khi nghi ngờ mắc bệnhkhông đi khám, tự mua thuốc điều trị

- Đánh giá nguồn nước sử dụng

Hợp vệ sinh: Bao gồm nước máy, nước giếng khoan, giếng đào xây vànước có xử lý bằng phương pháp lọc

Không hợp vệ sinh: Dùng nước giếng đất đào không xây, nước sông

Trang 34

suối, ao, hồ

* Đánh giá điều kiện kinh tế gia đình

Trong nghiên cứu này hộ nghèo và hộ cận nghèo được dựa vào “Chuẩn

hộ nghèo và hộ cận nghèo giai đoạn 2016-2020” của Chính phủ ban hành

2.5 Công cụ thu thập số liệu

Bao gồm 2 loại:

- Bộ câu hỏi phỏng vấn đối tượng nghiên cứu

- Phiếu ghi kết quả lâm sàng và xét nghiệm

2.6 Nguồn lực cho nghiên cứu

Công tác chuẩn bị:

+ Nhân lực: Bác sỹ, nữ hộ sinh: 05 người

Xét nghiệm viên: 01 người

Điều tra viên: 10 cán bộ các khoa, phòng Trung tâm Y tế huyện, có sự

hỗ trợ của nhân viên y tế, cộng tác viên dân số thôn, bản

Trang 35

- Số liệu được phân tích, tính toán và lập thành các bảng số liệu thôngqua sử dụng phần mềm SPSS 21.0 Các kết quả được trình bày dưới dạng cácbảng và biểu đồ.

2.8 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

- Tập huấn đội ngũ điều tra viên về công tác phỏng vấn ĐTNC/ bộ câuhỏi đã được thiết kế sẵn Trong quá trình tập huấn, bộ phiếu điều tra đượcđiều tra thử tại thực địa (10 bộ phiếu) và sửa đổi đảm bảo các câu hỏi đơngiản, dễ hiểu đối với đối tượng phỏng vấn

- Tập huấn nhân viên y tế về công tác khám lâm sàng và lấy bệnh phẩmxét nghiệm

- Gửi giấy mời đến đối tượng phụ nữ dân tộc thiểu số có chồng độ tuổi

15 - 49 tại địa bàn nghiên cứu

Trang 36

- Việc thu thập thông tin chủ yếu qua bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn vàtương đối dài nên có thể gặp sai số do kỹ năng phỏng vấn của điều tra viêncũng như thái độ hợp tác của đối tượng khi tham gia nghiên cứu.

- Với điều kiện hiện tại ở địa phương thì khám lâm sàng vẫn là cách chẩnđoán VNĐSDD là chủ yếu Tuy nhiên kết quả còn dựa trên kinh nghiệm lâmsàng của Bác sỹ Điều này có thể khắc phục bằng cách hỗ trợ tối đa về các xétnghiệm và điều kiện chẩn đoán

- Sai số do từ chối trả lời, khống chế bằng cách phối hợp với CBYT làmtốt công tác vận động, tuyên truyền đối với PN trên địa bàn trước khi tiến hànhđiều tra

- Sai số do thông tin trả lời không đúng vì đối tượng ngại nói đến vấn đề này

- Do đó trước khi phỏng vấn phải tạo niềm tin và trình bày rõ cho người

PN hiểu rằng thông tin chỉ phục vụ cho nghiên cứu, đối tượng sẽ được giữ kíntất cả các thông tin cá nhân và những thông tin này sẽ bị hủy sau khi mã hóaxong thông tin

2.9 Đạo đức trong nghiên cứu

- Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đã được giải thích về mụcđích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn Việc thamgia điều tra là hoàn toàn tự nguyện

- Mọi thông tin cá nhân được giữ kín và được hủy sau khi mã hóa xongthông tin

- Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiêncứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

Trang 37

Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi (n=400)

Kết quả ở bảng 3.1, cho thấy trong nhóm các đối tượng tham gia nghiên

cứu phụ nữ ở nhóm tuổi 21–25 chiếm tỷ lệ cao nhất (20,5%), trong khi đóphụ nữ từ 46 – 49 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất chiếm 5,8%

Trang 38

Biểu đồ 3.1 cho thấy, đa số đối tượng nghiên cứu là nông dân chiếm93,0%, số đối tượng nghiên cứu còn lại là buôn bán (3,3%) và công chức,viên chức (3,7%).

Bảng 3.2 Trình độ học vấn của phụ nữ điều tra (n=400)

tỷ lệ thấp chỉ có 3,8%

Bảng 3.3 Tình trạng hôn nhân của phụ nữ điều tra (n=400)

Tình trạng hôn nhân Số lượng Tỷ lệ %

Trang 39

Biểu đồ 3.2 Tiền sử sảy thai của phụ nữ

Qua biểu đồ 3.2 cho thấy, phần lớn đối tượng nghiên cứu không có tiền

sử sảy thai (85,0%) Số phụ nữ có 1 lần sảy thai chiếm tỷ lệ 13,0%, 2 lần và

có 3 lần sảy thai trở lên chiếm tỷ lệ thấp (1,0%)

Bảng 3.4 Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai của phụ nữ (n=400)

Trang 40

Biểu đồ 3.3 Phân bố tỷ lệ kiến thức vệ sinh phòng viêm nhiễm đường

sinh dục dưới ở phụ nữ

Biểu đồ 3.3 biểu thị, đa số phụ nữ biết vệ sinh khi có kinh (79%), chiếm

tỷ lệ thấp nhất là những kiến thức về vệ sinh khi giao hợp, phát hiện bệnh sớm

và điều trị kịp thời (46%, 48,3% và 48,8%)

Biểu đồ 3.4 Phân bố tỷ lệ nguồn nước vệ sinh được sử dụng

Ngày đăng: 03/11/2019, 16:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w