Nghiên cứu đặc điểm bệnh hen phế quản ở trẻ dưới 5 tuổi” nhằm 2 mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị bệnh hen phế quản ở trẻ dưới 5 tuổi 2. Tìm các yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh hen phế quản ở trẻ dưới 5 tuổi
Trang 1BỆNH VIỆN ĐA KHOA MIỀN NÚI
PHÍA BẮC QUẢNG NAM
Đề tài Nghiên cứu khoa học:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH HEN PHẾ
QUẢN Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI
Thực hiện: Trần Bá Trí
Đại lộc, Năm 2019
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Hen phế quản là một bệnh lý mang tính toàn cầu Khi không kiểm soát được sẽ gây ra những giới hạn nghiêm trọng đến cuộc sống hàng ngày cũng như gây ra tử vong Tỷ lệ mắc bệnh hen phế quản ngày càng gia tăng ở các nước, đủ mọi lứa tuổi và đặc biệt là ở trẻ em Theo ước tính của Tổ Chức Y Tế Thế Giới có khoảng 300 triệu người mắc hen phế quản năm 2005 và sẽ tăng lên 400 triệu người vào năm 2025.
Hen phế quản đã ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, học tập, hoạt động thể lực, tài chính và chất lượng cuộc sống của gia đình bệnh nhi Tại Hoa
Kỳ, đã có 59% số trẻ em phải nghỉ học (trung bình 4 ngày) và 33% số người lớn nghỉ làm (trung bình 5 ngày) vì hen phế quản trong năm 2008.
Số tiền chi phí cho mỗi người hen mỗi năm lên tới 3.300 USD và các chi phí y tế liên quan đến hen tăng từ 48,6 tỷ USD (2002) lên 50,1 tỷ USD (2007) [16] Cơn hen cấp nặng cũng là nguyên nhân thường gặp của suy
hô hấp cấp ở trẻ em vào khoa cấp cứu và đã ghi nhận có tử vong Vì vậy hen phế quản đã và đang nhận được mối quan tâm của y học cũng như toàn thể người dân trong xã hội [16].
Đứng trước cơn hen phế quản cấp thì việc đánh giá, phân độ nặng của bệnh để xử trí kịp thời là điều cần thiết của mỗi thầy thuốc Tuy nhiên việc chẩn đoán xác định hen phế quản ở trẻ dưới 5 tuổi gặp rất
Trang 3phế quản ở trẻ em dưới 5 tuổi Hen phế quản ở trẻ dưới 5 tuổi đang trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng cần có nhiều giải pháp đồng bộ về quản lý y tế, giáo dục truyền thông và kỷ thuật chuyên môn.
Chính vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm bệnh hen phế quản ở trẻ dưới 5 tuổi” nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị bệnh hen phế quản ở trẻ dưới 5 tuổi
2. Tìm các yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh hen phế quản ở trẻ dưới 5 tuổi
Trang 4TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ HEN PHẾ QUẢN
1.1.1 Vài nét lịch sử về hen phế quản
Hen phế quản là một bệnh đã biết từ lâu đời nay Cách đây khoảng 5000
năm, các nhà y học cổ đại Trung Quốc, Hy Lạp, Ai Cập đã nói đến bệnh hen
Từ năm 2700 trước Công nguyên, người ta đã sử dụng ma hoàng(Ephdra) để chữa cơn khó thở Sau này Hippocrat (năm 400 trước côngnguyên) đề xuất và giải thích từ “Asthma” (thở vội vã) để mô tả một cơn khóthở kịch phát, có biểu hiện khò khè Đến thế kỷ thứ II sau Công nguyên, HPQmới được Aretanus mô tả chi tiết hơn Ông cho rằng hen là bệnh mạn tính cóchu kỳ, có ảnh hưởng của thay đổi thời tiết và làm việc gắng sức
Năm 1615, Van Helmont thông báo các trường hợp hen do ảnh hưởngcủa phấn hoa; năm 1698, John Floyer giải thích nguyên nhân khó thở là do cothắt phế quản; J Cullen (1977) chú ý đến cơn khó thở về đêm, có liên quanđến thời tiết và di truyền
Năm 1914, Widal đưa ra thuyết dị ứng về hen phế quản và đến năm 1932mới có Hội nghị lần thứ nhất về hen phế quản Sau hội nghị này, nhiều tác giả
đã nghiên cứu sâu hơn về hen: tìm ra serotonin, vai trò của acetylcholin,nghiên cứu các loại thuốc điều trị hen phế quản, thuốc kháng histamin
Từ năm 1962-1972, các công trình nghiên cứu sâu hơn về cơ chế bệnhsinh như Burnet, Miller Roitt nghiên cứu vai trò của tuyến ức, các tế bào T và
B trong hen phế quản
Trang 5Năm 1992, Chương trình khởi động toàn cầu Phòng chống hen phế quản (Global Initiative for Asthma) gọi tắt là GINA ra đời nhằm mục đích đề ra chiến lược quản lý, khống chế và kiểm soát bệnh hen GINA là kết quả
của sự hợp tác giữa WHO và Viện quốc gia Tim - Phổi và Huyết học Hoa Kỳ vàchuyên gia nhiều nước trên thế giới, là cơ sở cho chương trình phòng chống hen ở trên 100 nước Từ đó đến nay việc khống chế hen phế quản có sự tiến bộ vượt bậc và đã đạt được những hiệu quả quan trọng[7]
1.1.2 Một số định nghĩa về hen phế quản
Định nghĩa hen phế quản được Hội nghị Quốc tế năm 1958 và sau nàyđược bổ sung thêm và thống nhất lại bởi nhóm nghiên cứu CM Fletcher, SBLHowell, S Pepys và SG Scodding (1971): “Hen phế quản là tình trạng tăngphản ứng của phế quản khi tiếp xúc với các dị nguyên và các chất kích thíchkhác nhau làm co thắt phù nề và tăng tiết phế quản, gây tắc hẹp đường thở,biểu hiện trên lâm sàng bởi những cơn khó thở kịch phát chủ yếu là khó thở ra.Cơn khó thở đó thường tái phát nhiều lần, có thể giảm nhẹ tự nhiên hoặc dodùng thuốc”
Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (1974) “ Hen phế quản là một bệnh co thắtphế quản”
Theo Viện quốc gia Tim – Phổi – Huyết học Mỹ và Tổ Chức Y Tế ThếGiới (2002): hen phế quản là bệnh lý viêm đường hô hấp với sự tham gia củanhiều tế bào viêm mạn tính gây tăng tính phản ứng phế quản dẫn đến khó thở,tức ngực và ho tái phát nhất là buổi tối hoặc sáng sớm Những đợt này thường
có tắc nghẽn lưu lượng thở lan tỏa, thay đổi và hồi phục tự phát hoặc do điềutrị [16],
Theo GINA 2015: “Hen là một bệnh lý đa dạng, thường có đặc điểm làviêm đường thở mãn tính Hen được định nghĩa bởi sự hiện diện của bệnh sử
có các triệu chứng hô hấp như khò khè, khó thở, nặng ngực và ho, các triệuchứng này thay đổi theo thời gian và về cường độ cùng với sự giới hạn luồnkhí thở ra dao động”[5]
Trang 61.1.3 Dịch tễ học hen phế quản trẻ em
1.1.3.1 Trên thế giới
Hen phế quản ngày nay đã trở thành vấn đề toàn cầu, có thể gặp ở bất kìlứa tuổi nào, tỷ lệ mắc ngày càng tăng lên trong 2 thập niên gần đây, cho dù cơchế bệnh sinh cũng như biện pháp điều trị được hiểu rõ và hoàn thiện hơn Đếnnay số trường hợp mắc bệnh trên toàn thế giới đã lên tới 300 triệu người và con
số tử vong hàng năm do hen phế quản là 250.000 người Tỷ lệ bệnh dao động
từ 1 – 18% dân số ở các quốc gia khác nhau, trong đó trẻ em chiếm đa số, một
số nước như Úc, New Zealand và Anh có tỷ lệ mắc cao nhất [9]
Tại Hoa Kỳ tính từ năm 2001 đến 2009 số trường hợp mắc bệnh hen phếquản đã tăng từ 20 triệu người lên 25 triệu người Trong đó trẻ em (10%)chiếm nhiều hơn người lớn (8%), phụ nữ nhiều hơn nam giới và trẻ trai hơn trẻgái, chỉ riêng năm 2007 đã có 185 trẻ em và 3.262 người lớn chết do hen phếquản, năm 2008 hơn ½ số trẻ em (59%) phải nghỉ học trung bình 4 ngày và 1/3
số người lớn (33%) phải nghỉ làm trung bình 5 ngày Ngoài ra số tiền chi phícho mỗi người hen mỗi năm lên tới 3.300 USD và các chi phí y tế liên quanđến hen tăng từ 48,6 tỷ USD (2002) lên 50,1 tỷ USD (2007) [6]
Ở Đông Nam Á, tỷ lệ hiện mắc hen phế quản trung bình là 3,3%, thấpnhất ở Indonesia và Việt Nam, cao nhất ở Thái Lan, Philippin và Singapore.Tại Việt Nam đến năm 1995 là 11,6%; Thái Lan 12%; Malaixia 18%; Philippin18,5%; Indonesia 9,8%; Singapore 20% [3]
Trang 7± 1,39%; ở thành phố Huế năm 2000 là 4,58 ± 1,12% [2] Nghiên cứu củatrung tâm lao và bệnh phổi Phạm Ngọc Thạch, tỷ lệ hen phế quản ở trẻ em ởthành phố Hồ Chí Minh là 3,3%.
Nhiều nghiên cứu cho thấy hen phế quản thường gặp và nặng hơn ở trẻtrai so với trẻ gái Tùy theo tác giả, tỷ lệ giới tính thay đổi từ 1,5 đến 3,3nam/nữ Tuy nhiên, bất lợi giới tính sẽ mất trong tuổi dậy thì Sau 20 tuổingược lại phụ nữ mắc bệnh nhiều hơn nam giới
1.1.4 Các yếu tố làm khởi phát cơn hen
Trang 81.1.5 Lâm sàng hen phế quản
Bảng 1 Các yếu tố gợi ý khả năng hen[6]
Bất cứ dấu hiệu nào dưới đây:
Triệu chứng tái phát thường xuyên
Nặng hơn về đêm và sáng sớm
Xảy ra khi gắng sức, cười, khóc hay tiếp xúc
với khói
thuốc lá, không khí lạnh, thú nuôi…
Xảy ra khi không có bằng chứng nhiễm
Có ran rít/ngáy khi nghe phổi
Đáp ứng với điều trị hen
Các triệu chứng chỉ có khi cảmlạnh
Ho đơn thuần không kèm khòkhè, khó thở
Nhiều lần nghe phổi bìnhthường dù bệnh nhi có triệuchứng
Có dấu hiệu/triệu chứng gợi ýchẩn đoán khác
Không đáp ứng với điều trị henthử (thuốc giãn phế quản, cácthuốc phòng ngừa hen)
1.1.6 Cận Lâm sàng hen phế quản[6]
X-quang ngực
Không khuyến cáo thực hiện thường quy
Chỉ định trong trường hợp hen nặng hay có dấu hiệu lâmsàng gợi ý chẩn đoán khác
Những thăm dò có thể thực hiện nếu có điều kiện
Trang 9Dao động xung ký (IOS) Đo kháng lực đường thở chuyên biệt, góp phần vào việc đánh giá giới hạn luồng khí
Đo FeNO Đánh giá tình trạng viêm đường thở, không khuyến cáothực hiện thường quy
tố di truyền Tuy nhiên, cơ chế ảnh hưởng đến quá trình hình thành và biểuhiện hen rất phức tạp và có tác động qua lại lẫn nhau
1.1.6.1 Yếu tố chủ thể
- Yếu tố di truyền: hen phế quản có yếu tố di truyền nhưng yếu tố nàykhá phức tạp Các dữ kiện hiện nay cho thấy có nhiều gen liên quan đến cơ chếbệnh sinh của hen và các liên quan này khác nhau theo từng chủng tộc Nghiêncứu các gen liên quan đến sự hình thành HPQ tập trung vào 4 lĩnh vực chính:sản xuất các IgE đặc hiệu với kháng nguyên (cơ địa dị ứng); biểu hiện tăngphản ứng đường thở; hình thành các chất trung gian gây viêm (cytokines,chemokines, yếu tố tăng trưởng) và xác định đáp ứng miễn dịch qua Th1 vàTh2 (phù hợp giả thuyết vệ sinh của hen) Các nghiên cứu gia đình kết hợp vớinghiên cứu bệnh chứng đã xác định được một số vùng nhiễm sắc thể có liênquan đến khả năng mắc bệnh hen Tuy nhiên, các nghiên cứu xác định gen haynhóm gen đặc hiệu cho cơ địa dị ứng hay hen cho đến nay vẫn chưa có kết quả
cụ thể Ngoài các gen gây bệnh còn có các gen liên quan đến đáp ứng điều trị
Trang 10hen Các gen khác được lưu ý là gen thay đổi đáp ứng của cơ thể vớiglucocorticosteroids và thuốc ức chế leukotriene Các dấu ấn di truyền quantrọng này không chỉ là yếu tố nguy cơ trong cơ chế bệnh sinh của hen phế quản
mà còn là những yếu tố quyết định đến việc đáp ứng với điều trị
- Béo phì: béo phì cũng đã được chứng minh là một yếu tố nguy cơ củahen phế quản Một số chất trung gian như leptons có thể ảnh hưởng đến chứcnăng đường thở và tăng nguy cơ hình thành hen phế quản
- Giới: trẻ trai có nguy cơ cao bị hen phế quản so với trẻ gái Trước 14tuổi tỷ lệ hiện mắc hen phế quản ở trẻ trai cao gần gấp đôi so với trẻ gái Khitrẻ lớn dần sự khác biệt giữa hai giới hẹp dần và ở người lớn tỷ lệ mắc hen phếquản ở nữ cao hơn nam [7]
1.1.6.2 Yếu tố môi trường
- Dị nguyên: mặc dù người ta biết rõ dị nguyên trong nhà, ngoài ngõ cóthể làm khởi phát cơn hen nhưng vai trò đặc hiệu của chúng trong việc hìnhthành bệnh hen thế nào vẫn chưa rõ Nghiên cứu thuần tập từ lúc sinh cho thấy
dị ứng với mạt bụi nhà, lông chó mèo và nấm mốc aspergillus là các yếu tốnguy cơ độc lập gây triệu chứng giống hen ở trẻ < 3 tuổi Tuy nhiên mối liênquan tiếp xúc giữa dị nguyên và dị ứng của trẻ thì không luôn tuyến tính Điềunày tùy thuộc vào dị nguyên, liều lượng, thời gian tiếp xúc, tuổi của trẻ và có
lẽ cả yếu tố di truyền nữa
- Nhiễm trùng: trong thời kì nhũ nhi có nhiều loại virus được biết có liênquan đến việc khởi phát kiểu hình hen phế quản Virus hợp bào hô hấp (RSV)
và parainfluenza virus có thể gây ra triệu chứng như viêm tiểu phế quản rất
Trang 11- Ô nhiễm không khí trong nhà và môi trường sống: vẫn còn nhiều tranhcãi về vai trò của ô nhiễm môi trường trong cơ chế sinh bệnh hen phế quản.Trẻ em lớn lên trong môi trường không khí ô nhiễm sẽ có chức năng hô hấpgiảm nhưng mối liên hệ giữa giảm chức năng hô hấp này với quá trình hìnhthành HPQ vẫn chưa rõ.
- Chế độ ăn: vai trò của chế độ ăn đặc biệt là sữa mẹ, trong mối liên hệhình thành hen phế quản đã được nghiên cứu rất nhiều và nhìn chung, các dữkiện đều cho thấy trẻ được nuôi bằng sữa bò hoặc sữa đậu nành bị khò khètrong những năm tháng đầu đời nhiều hơn trẻ được bú sữa mẹ [7]
1.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.2.1 Một số nghiên cứu trong nước
Bạch Văn Cam nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng
và điều trị cơn suyễn cấp trên 289 trẻ nhập khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng
1 ghi nhận: nhịp tim nhanh (87,5%), thở nhanh (99%), co lõm ngực (88,6%), trong khi các triệu chứng rối loạn tri giác (47,1%), tím tái (3,8%), ngồi cúi đầu
ra trước (52,2%), co kéo cơ ức đòn chũm (10,4%), phập phồng cánh mũi (8,3%) ít gặp hơn, số trẻ có tình trạng tăng bạch cầu chiếm 59,9% Tỷ lệ trẻ sử dụng kháng sinh cao 86,9%[7]
Trong nghiên cứu “một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng hen phế quản trẻ em” Nguyễn Tiến Dũng ghi nhận 96,1% trẻ trong cơn hen phế quản
sử dụng kháng sinh và thời gian sử dụng kháng sinh 7±2 ngày[9]
Nghiên cứu của Lê Hồng Phong “Đặc điểm và xử trí cơn hen Phế Quản Cấp Ở Bệnh Nhi Từ 2 Đến 60 Tháng Tuổi Tại Khoa Nhi Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Kon Tum Từ Tháng 3-9/2016” cho kết quả Các triệu chứng lâm sàng
thường gặp nhất là: khò khè 100%, ran rít 96,9%, ran ngáy 93,8%, ho 84,4%,
tần số thở tăng 75,0% Mức độ nặng của cơn hen cấp chủ yếu là mức độ nhẹ 65,5%, mức độ trung bình 34,5% Số lượng bạch cầu tăng chiếm tỉ lệ thấp 46,9%, bạch cầu ái toan tăng 53,1% 100% trẻ đều được sử dụng thuốc giãn
Trang 12phế quản lúc nhập viện, trong đó đa số là phối hợp phun khí dung và thuốc uống 71,9% 100% trẻ đều sử dụng corticoid, trong đó thuốc uống chiếm ưu thế 62,5% Tỷ lệ trẻ còn sử dụng kháng sinh cao 90,6%, đặc biệt trẻ không có biểu hiện nhiễm trùng sử dụng kháng sinh chiếm 88,9%[12].
1.2.2 Một số nghiên cứu trên thế giới
Theo nghiên cứu của K Bröms và cộng sự trên 1000 bệnh nhân bị hen phế quản dị ứng năm 2009 cho kết quả là nam chiếm 54,5%, nghiên cứu của
SL McGhan và cộng sự trên 153 trẻ bị hen phế quản tại Canada cũng cho kết quả tương tự Nghiên cứu của tác giả Joanna Kasznia-Kocot trên 1130 trẻ, trong độ tuổi 13 – 15 tuổi ở Phần Lan cho thấy tỷ lệ trẻ nam chiếm 44,8%, nữ 55,2% [17]
Theo nghiên cứu của Theresa A Bingemann và cộng sự 689 bệnh nhi
từ 2-5 tuổi tại Mỹ năm 2009 cho thấy có 196 bệnh nhân có ≥ 1 cơn hen suyển xảy ra trong suôt thời gian nghiên cứu, nghiên cứu chỉ ra rằng tình trạng hen suyển dự đoán được khi kết hợp các triệu chứng ho, khò khè, đáp ứng với thuốc giản phế quản [16]
Trang 13Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng
Nghiên cứu được thực hiện trên tất cả các bệnh nhi được chẩn
đoán hen phế quản theo tiêu chuẩn về hướng dẫn chẩn đoán và điều trị
hen trẻ em dưới 5 tuổi của Bộ Y Tế và phân độ mức độ nặng bệnh hen
dựa trên các tiêu chí lâm sàng của GINA năm 2015
Thời gian nghiên cứu : từ tháng 4/2019 dến tháng 10/2019
Địa điểm nghiên cứu: khoa nhi bệnh viện đa khoa khu vực miền
núi phía bắc Quảng Nam
Tiêu chuẩn chẩn đoán hen phế quản cấp theo quyết định số
4888/ QĐ-BYT về hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hen trẻ em dưới 5
tuổi ban hành ngày 12/09/2016
- Khò kè ± ho tái đi tái lại
- Hội chứng tắc nghẽn đường thở: lâm sàng có ran rít, ran ngáy ( ±
dao động xung ký)
- Có đáp ứng với thuốc giãn phế quản và hoặc điều trị thử (4-8
tuần) và xấu đi khi ngưng thuốc
- Có tiền sử bản thân hay gia đình dị ứng ± yếu tố khởi
phát
- Đã loại trừ các nguyên nhân gây khò khè khác
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa nhi Bệnh viện Đa khoa MNPB
Quảng Nam
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
Trang 142.2.2 Cở mẫu
Lấy mẫu thuận tiện, lấy tất cả bệnh nhân thuộc đối tượng nghiên cứu trong thời gian từ tháng 4 năm 2019 đến tháng 10 năm 2019
2.2.3 Cách tiến hành
2.2.3.1 Lập phiếu nghiên cứu
Tiến hành lập phiếu nghiên cứu, mỗi bệnh nhân có một phiếu nghiên cứu
riêng trong đó ghi đầy đủ các phần hành chính, bệnh sử, tiền sử, các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng
2.2.3.2 Định Nghĩa Một Số Biến Nghiên Cứu
* Tiêu chuẩn gợi ý nhiễm trùng
có 2 trong số 4 tiêu chuẩn sau, trong đó có ít nhất 1 dấu hiệu về nhiệt độ hay sốlượng bạch cầu:
- Nhiệt độ trung tâm > 38,5 0C hay < 36 0C
- Nhịp tim nhanh, được định nghĩa là nhịp tim 2SD giới hạn trên so vớituổi khi không có các kích thích bên ngoài, thuốc hay kích thích đau hay nhịptim nhanh kéo dài trong thời gian 0,5 – 4 giờ mà không giải thích được Hoặcnhịp tim chậm ở trẻ dưới 1 tuổi, được định nghĩa là nhịp tim <10 percentilesovới tuổi khi không có kích thích phó giao cảm, thuốc ức chế β, bệnh tim bẩmsinh, hoặc nhịp tim chậm không rõ nguyên nhân trong thời gian 30 phút
- Nhịp thở nhanh, định nghĩa là nhịp thở >2SD so với tuổi, hay thông khí
cơ học do bệnh lý cấp và không do bệnh lý thần kinh cơ hay gây mê, hoặcPaCO2 <32 mmHg
- Bạch cầu tăng hay giảm theo tuổi: Bạch cầu >12.000 hoặc <4.000/mm3(giảm bạch cầu không do điều trị bằng hóa trị) hay bạch cầu non (bandneutrophil, immature bands) >10%
Trang 15- Đối với biến định tính: tính tỷ lệ %.
- Đối với biến định lượng tính trị số trung bình, trung vị, phương sai, độ lệch chuẩn, tỷ lệ %
2.2.4.2 Thống kê so sánh
- Kiểm định phi tham số với kiểm định Mann- Whitney nếu có 2 nhóm so sánh
và test Kruskal-Wallis nếu có 3 nhóm so sánh để so sánh trung vị giữa các biến địnhlượng không tuân theo quy luật chuẩn
2.2.4.3.Kết quả mối tương quan
Kiểm định tương quan Spearman xác định mối tương quan của biến
phi tham số:
Trang 16Tính hệ số tương quan r:
/r/ > 0,8 Tương quan chặt chẽ/r/ = 0,4 – 0,8 Tương quan vừa/r/ < 0,4 Tương quan yếu
/r/ càng lớn thì tương quan giữa X và Y càng chặt
0< r ≤ 1: gọi là tương quan tuyến tính thuận
-1≤ r ≤ 0: gọi là tương quan tuyến tính ngược
Trang 193.1.5 Yếu tố dinh dưỡng
Bảng 3.5 Phân bố theo yếu tố dinh dưỡng trong 6 tháng đầu
Trang 203.2.1 Triệu chứng cơ năng
Bảng 3.7 Triệu chứng cơ năng hen phế quản theo nhóm tuổi
Trang 213.2.4 Đặc điểm co kéo cơ hô hấp theo mức độ nặng cơn hen phế quản cấp
Bảng 3.10 Đặc điểm co kéo cơ hô hấp theo mức độ nặng cơn hen phế
Trang 22
Nhận xét: Ở trẻ bị hen phế quản trong nhóm nghiên cứu có số lượng bạch cầu tăng là
50,9%, bạch cầu đa nhân tăng là 41,5, bạch cầu ái toan là 15,1, crp tăng là 35,8, x quang