1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn dạy đoạn TRÍCH “lời TIỄN dặn” (TRÍCH “TIỄN dặn NGƯỜI yêu” của dân tộc THÁI) THEO HƯỚNG đổi mới PHƯƠNG PHÁP dạy học

21 268 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 131 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cở sở lý luận và thực tiễn tôi nhận thấy rằng việc đổi mới phương pháp dạy học môn ngữ văn là một việc làm cấp thiết vì muốn các em học sinh chủ động cảm nhận cái hay, cái đẹp một t

Trang 1

I LỜI NÓI ĐẦU

Trong nhà trường phổ thông việc dạy và học văn là những hoạt động không thể thiếu

ở đó học sinh được tiếp xúc với những tác phẩm văn chương tiến bộ nhất của dân tộc và nhân loại Mối giờ dạy - học văn mở ra trước mắt các em một thế giới Chân - thiện - mỹ kèm theo những rung động thẩm mỹ sâu sắc và mãnh liệt Từ đó các em trở về hoàn thiệnnhân cách của chính mình Đúng như Macxim Gorky đã từng khẳng định: “Văn học là nhân học”

Dạy học văn trong nhà trường không tách rời đặc trưng của văn học Văn học là môn nghệ thuật độc đáo và có sức hấp dẫn lớn Mỗi tác phẩm văn học là sự tái hiện cuộc sống bằng hình tượng thông qua các ngôn từ nghệ thuật tinh tế và biểu cảm Quá trình học văn

là quá trình người học sinh khám phá, phát hiện sứ hấp dẫn tác phẩm văn học ở ngôn từ, hình tượng, ở các lớp ý nghĩa và tư tưởng tác phẩm Muốn vậy người thầy chúng ta không thể dạy văn theo lối sáo mòn của phương pháp cũ: thuyết giảng, khô khan, cứng nhắc, áp đặt không phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh

Vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học môn ngữ văn nói riêng là một việc làm thiết thực và hữu ích Trong một giờ dạy văn người thầy chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn học sinh là người chủ động lĩnh hội kiến thức, giờ học văn sẽ trở nên sôi nổi và hứng thú

Trang 2

Tuy nhiên việc đổi mới phương pháp dạy học sẽ trở nên hoàn toàn lý thuyết nếu chúng

ta không bắt đầu từ một bài giảng cụ thể Dạy tốt mỗi giờ văn cụ thể là phương hướng, là mục tiêu đối với mỗi người thầy đứng trên bục giảng

Qua quá trình giảng dạy bộ môn ngữ văn THPT tôi đã thấy rõ sự khác biệt giữa cách dạy văn cũ với cách dạy văn theo hướng phương pháp đổi mới

Ở cách dạy và học văn theo phương pháp cũ: người thầy nói nhiều, học sinh thụ động tiếp nhận kiến thức, vì vậy giờ văn trở nên đơn điệu tẻ nhạt, học sinh không hứng thú, trơ

lỳ cảm xúc, dẫn đến việc chán học môn văn

Còn cách dạy và học văn theo phương pháp mới: người thầy phát huy tính chủ thể củahọc sinh bằng hệ thống các câu hỏi gợi mở Học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức bằng cách đọc văn bản (tác phẩm văn học) nghe và trả lời, thảo luận các câu hỏi trong sách do thầy và học sinh tự đưa ra… Vì thế giờ văn trở nên sôi động hơn, hấp dẫn hơn, từ đó các

em sẽ yêu thích học văn hơn

Trên cở sở lý luận và thực tiễn tôi nhận thấy rằng việc đổi mới phương pháp dạy học môn ngữ văn là một việc làm cấp thiết vì muốn các em học sinh chủ động cảm nhận cái hay, cái đẹp một tác phẩm văn học thì người thầy phải dạy môn văn theo hướng phương pháp đổi mới phương pháp dạy học để phát huy tính chủ thể của học sinh với từng bài học cụ thể

Trong khuôn khổ sáng kiến này tôi xin được trình bày ý kiến của mình về việc dạy đoạn trích: “Lời tiễn dặn” - (trích “Tiễn dặn người yêu” của dân tộc Thái) theo hướng đổi mới phương pháp dạy học

II THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.

1 Phạm vi đề tài:

Trang 3

Trong phạm vi đề tài này tôi xin đưa ra ý kiến của mình về cách dạy và thiết kế bài dạy đoạn trích: “Lời tiễn dặn” (trích “Tiễn dặn người yêu” truyện thơ dân tộc Thái) Là tiết thứ 30 trong chương trình sách ngữ văn lớp 10 - ban cơ bản.

2 Thời gian thực hiện:

- Đề tài này được tôi thực hiện trong thời gian 2 năm học:

+ Trong năm học 2009- 2010 được tôi thực hiện trong 2 lớp : 10 C3 - 10 C7

+ Trong năm học 2010 - 2011 được tôi thực hiện trên 2 lớp : 10C9 - 10 C10

-Thời gian thực hiện đề tài mới chỉ trong 2 năm học, tuy chưa nhiều nhưng đủ để tôi nhận thấy sự khác biệt giữa phương pháp dạy học cũ và phương pháp dạy học văn

“mới ” Việc đổi mới phương pháp dạy văn là một tất yếu

3.Tình trạng thực tế chưa thực hiện đề tài

a Đối với giáo viên: đoạn trích “Lời tiễn dặn ” - (trích “Lời tiễn dặn người yêu”

truyện thơ dân tộc Thái) là kiến thức mới đưa vào chương trình ngữ văn 10 ban cơ bản vàngữ văn nâng cao năm học 2006 - 2007 Vì thế con đường tìm hiểu đoạn trích chưa rộng

mở Hơn nữa đoạn trích tương đối dài - tìm hiểu trong tiết học sẽ rất hạn chế về thời gian Và đây là một đoạn trích nằm trong tác phẩm dân gian của dân tộc Thái (một dân tộc thiểu số của dân tộc Việt Nam), mà người Thái có phong tục tập quán và cách thể hiệntình cảm riêng Vì vậy khi hướng dẫn học sinh đọc và tìm hiểu đoạn trích “Lời tiễn dặn”, bản thân giáo viên phải hiểu những phong tục tập quán và bày tỏ tình cảm của chàng trai người Thái trong đoạn trích: như phong tục ở rể ngoài, phong tục hoả thiêu hoặc đến chơingười yêu cũ…

Đối với giáo viên vùng cao thuộc các dân tộc thiểu số thì việc tìm hiểu những phong tục tập quán đó không khó khăn gì Nhưng với những giáo viên ở đồng bằng thì việc tìm hiểu phong tục tập quán và đời sống tình cảm người Thái gặp những khó khăn nhất định

Trang 4

b Đối với học sinh (đặc biệt những học sinh đồng bằng): Đoạn trích “Lời tiễn dặn” là

văn bản hay nhưng khó vì trong đoạn trích các em gặp những từ ngữ, hình ảnh mang đậmmàu sắc núi rừng, nhưng phong tục tập quán xa lạ đối với các em như: cách nói “người đẹp em yêu”, hoặc hình ảnh rừng ớt, rừng cà, rừng lá ngón,… chim Tăng ló, mùa nước đỏ, và tình Lú-Ủa mặn nồng, lửa xác đượm hơi…

Trước thực tế đó tôi đã tiến hành khảo sát thực tế và thực hiện đề tài sáng kiến; hướng dẫn học sinh đọc hiểu đoạn trích trong thời gian 1 tiết theo phân phối chương trình

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Trước khi thực hiện đề tài sáng kiến tôi đã hướng dẫn học sinh lớp 10C7 ban cơ bản (năm học 2009- 2010), đọc hiểu văn bản theo cơ chế dạy văn “cũ”: Tôi luôn chủ động giảng giải cho các em những từ ngữ khó, nêu và phân tích tâm trạng của chàng trai ngưòi Thái khi tiễn người yêu đi lấy chồng và khi chứng kiến cảnh cô gái bị nhà chồng đánh đập hành hạ, để từ đó các em hiểu tình yêu của chàng trai rất tha thiết và vô cùng mãnh liệt Trong quá trình dạy tôi cúng giới thiệu cho các em hiểu phong tục tập quán của người Thái

Sau khi tôi thực hiện xong, tôi tiến hành kiểm tra kiến thức cơ bản của các em bằng câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi gợi mở để các em thảo luận

Cụ thể:

Câu 1: Qua đoạn trích “Lời tiễn dặn” anh (chị) hình dung nhân vật trữ tình là người thế nào?

Học sinh thảo luận đưa ra ý kiến

Câu 2: Ngôn ngữ miêu tả trong đoạn trích được sử dụng như thế nào?

A Mộc mạc, giản dị, gần gũi

Trang 5

B Chau chuốt, mượt mà, tinh luyện

C Ước lệ, tượng trưng

Đáp án: A

Sau khi thảo luận:

Học sinh phát biểu ý kiến ở câu 1 có khoảng 70% học sinh trong lớp trả lời đúng

và 30% trả lời chưa đầy đủ

Câu 2 có 90% đáp án đúng (đáp án A) và 10% đáp án sai (đáp án B và C)

Câu 3: Bài tập làm văn.

Viết một đoạn văn ngắn nêu cảm nhận của anh chị về chàng trai người Thái trong đoạn trích.

Khi thu bài và chấm bài tôi thấy có khoảng 70% đáp ứng yêu cầu còn 30% không đạt yêu cầu

Như vậy nếu cứ tiếp tục dạy học theo phương pháp cũ học sinh sẽ không thể tiếp thu hết những giá trị văn học Các em sẽ không có niềm say mê văn chương

Trên cơ sở khảo sát thực tế ở bài dạy cụ thể - hướng dẫn học sinh tìm hiểu đoạn trích “Lời tiễn dặn” - trích “Tiễn dặn người yêu” - truyện thơ dân tộc Thái Tôi nhận thấy rằng cần phải đổi mới phương pháp dạy học môn ngữ văn để phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh, đồng thời khơi gợi niềm đam mê học môn ngữ văn của các em trong chính các giờ học

Sau đây là một vài ý kiến nhỏ của tôi về việc dạy đoạn trích “Lời tiễn dặn” - trích “ Tiễn dặn người yêu” truyện thơ dân tộc Thái.

Trước khi tiến hành bài " Lời tiễn dặn" tôi luôn xác định rõ mục tiêu bài học và

phương pháp thực hiện

1 Mục tiêu bài học:

Trang 6

Sau khi học xong bài, học sinh cần đạt được những yêu cầu sau:

Biết cách phân tích, tìm hiểu truyện thơ dân gian

Vận dụng những kiến thức đã học vào bài làm văn: Phân tích một đoạn thơ tự sự, trữ tình (hoặc bài phát biểu cảm nghĩ về nhân vật trong truyện thơ)

Thái độ – hành vi:

- Cảm thông với nỗi khổ của chàng trai và cô gái Thái trong truyện

- Biết chân trọng và yêu quý cuộc sống mới

Trang 7

- Đối với học sinh tôi yêu cầu chủ động chuẩn bị bài và trả lời đầy đủ các câu hỏi trong sách giáo khoa ngữ văn 10 ban cơ bản.

4 Tiến trình tổ chức dạy học:

 ổn định tổ chức lớp

 Kiểm tra bài cũ

+ Câu hỏi: Anh (chị) nêu đặc điểm của thể loại truyện thơ dân gian?

+ HS: trả lời

+ GV: Nhận xét- khái quát: Truyện thơ dân gian có sự kết hợp hai yếu tố trữ tình và

tự sự

Giới thiệu bài mới:

Để làm nên một nền văn học dân gian Việt Nam phong phú - đa dạng, là sự đóng góp không nhỏ của nền văn học của nhiều dân tộc trên đất nước Việt Nam Ta đã được học một sử thi Đam San của dân tộc Ê - Đê, một sử thi “Đẻ đất, đẻ nước” của dân tộc Mường,truyện cổ tích “ Tám Cám” của dân tộc Kinh

Hôm nay chúng ta tìm hiểu thể loại truyện thơ qua đoạn trích " Lời tiễn dặn" - Trích " Tiễn dặn người yêu" của dân tộc Thái

Tiến trình giờ học:

Hoạt động của giáo viên và học

- Trên cơ sở học sinh đã chuẩn bị

Trang 8

tiểu dẫn phần giới thiệu tác phẩm.

- HS: Trả lời

- GV: Nhận xét và hướng dẫn học

sinh tóm tắt cốt truyện theo SGK

(Lưu ý học sinh đọc phần giải

nghĩa từ khó)

- GV: Sau khi đã hướng dẫn học

sinh tóm tắt cốt truyện, giáo viên

khái quát giá trị của tác phẩm

 " Tiễn dặn người yêu" là

niềm say mê của người Thái

- Thể loại: Truyện thơ dân gian

- Dung lượng: gồm 1846 câu, trong đó 400 câu là lời tiễn dặn

Trang 9

buồn thương, tha thiết.

II Đọc – hiểu văn bản:

Trang 10

- GV: dẫn dắt toàn bộ đoạn trích "

Lời tiễn dặn" là lời kể của chàng

trai kể lại tâm trạng của mình khi

tiễn cô gái về nhà chồng

- GV: Tâm trạng của chàng trai

được biểu hiện như thế nào trong

2 câu đầu?

- HS: suy nghĩ, trả lời

- GV: Gợi mở: Chàng trai là người

yêu cô gái và chàng trai quyết chí

đi làm ăn xa để lấy tiền cưới cô

gái, nhưng khi trở về cô gái hết

thời hạn ở rể ngoài, cô phải về nhà

chồng Vậy chàng trai rơi vào

- Cảnh ngộ của chàng trai: người yêu đi lấy chồng

 Tình cảnh trớ trêu, éo le

- Tâm trạng : đau khổ (Vì chàng trai vẫn còn yêu cô gái được biểu hiện qua cách nói

mà chàng trai giành cho cô gái: Người đẹp

em yêu)

Trang 12

- GV: Từ cảnh ngộ của mình

chàng trai đã cảm nhận cảnh ngộ

của cô gái và tâm trạng của cô gái

Vậy hình ảnh cô gái hiện lên qua

động thái nào?

- HS: Trả lời

- GV: Nhận xét và khái quát lại

tâm trạng của cô gái được chàng

trai cảm nhận qua cử chỉ của cô

gái Cô gái bịn rịn, lưu luyến

không muốn đi Tâm trạng đó còn

được biểu hiện qua hình ảnh thiên

nhiên: rừng cà, rừng ớt, rừng lá

ngón  Hình ảnh quen thuộc 

diễn tả những đắng cay chua chát

đang chồng chất trong lòng cô gái

- Cảnh ngộ của cô gái: cô phải về nhà chồng, phải lấy người mình không yêu

 Tâm trạng: đau khổ, không muốn đi

- Hình ảnh cô gái:

+ Ngoảnh lại, ngoái trông

+ Ngắt lá ớt, lá cà, lá ngón

+ Ngồi chờ, ngồi đợi

 Tâm trạng bịn rịn, lưu luyến tiếc thương, nhớ mong, chờ đợi

- Hình ảnh thiên nhiên: Rừng ớt, rừng cà, rừng lá ngón

- GV: Lưu ý học sinh phần giải

nghĩa từ khó để hiểu phong tục

hoả thiêu của người Thái

- Chàng trai muốn nhắn nhủ, dặn dò cô gái:

“Được nhủ … mới đành lòng quay lạiĐược dặn … mới chịu quay đi”

- Chàng trai muốn âu yếm, gần gũi cô gái:

“ Xin hãy cho anh kề vóc mảnh

Trang 13

- GV: Chàng trai coi con cô gái là

con mình, âu yếm sẻ chia -> Tình

yêu của chàng trai chân thành tha

thiết

- GV: Qua hành động và thái độ ta

thấy tâm trạng gì của chàng trai?

- HS: trả lời

- GV: Nhận xét và khái quát: Như

vậy chàng trai và cô gái có chung

một tâm trạng Cô gái không

muốn về nhà chồng, chàng trai

không muốn rời xa cô gái

Cho mai sau lửa đượm hơi

Một lát bên em thay lời tiễn dặn”

-> Không muốn chia xa cô gái

- Chàng trai chia sẻ an ủi cô gái:

“ Con nhỏ hãy đưa anh ẵm

… Cho anh bế con dòng đừng ngượngNựng con rồng, con phượng đừng buồn”

-> Tấm lòng vị tha nhân hậu

=> Tâm trạng quyến luyến, bịn rịn, rối bời

=> Tình yêu của 2 người trong sáng, tha thiết

- GV: Gợi mở: trong giây phút

chia tay - chàng trai đã dặn dò cô

Trang 14

Không lấy nhau… ta sẽ lấy…”

 Thời gian chờ đợi không chỉ tính bằng tháng năm mà cả đời người

 Khát vọng được gắn bó với người mà mình yêu thương

- GV: Qua lời hẹn ước trên ta thấy

chàng trai là người như thế nào?

- HS: thảo luận - đưa ra ý kiến

- GV: nhận xét và gợi mở: Cảnh

vật miêu tả nhân vật có gì đặc

biệt?

- GV: Qua lời tiễn dặn hãy tưởng

tượng một bức tranh về cảnh chia

tay

- HS: Thảo luận - đưa ra ý kiến

- GV: Đưa tranh cho học sinh

- GV: Dẫn dắt: Người thái có

phong tục rất nhân văn Trai gái

2 Tâm trạng của chàng trai khi chứng kiến cảnh cô gái bị nhà chồng đánh đập

Trang 15

yêu nhau không lấy được nhau

nhưng vẫn coi là bạn và thường

xuyên đến thăm hỏi Chàng trai

không lấy được cô gái nhưng vẫn

coi là bạn và đến thăm cô gái

nhưng chớ trêu khi đến thăm

chàng trai chứng kiến cảnh cô gái

 Sự chăm sóc ân cần

- Lời lẽ: dịu dàng, tha thiết

+ “Dậy đi, dậy đi em ơi”

+ Chàng trai gọi cô gái: “ Hỡi gốc dưa yêu”…

+ “ Tơ rối đôi ta cùng gỡ…

Trang 16

- GV: Từ thái độ cử chỉ của chàng

trai ta thấy chàng trai có tâm trạng

gì khi chứng kiến cảnh cô gái bị

hành hạ

- HS: Trả lời

- GV: Nhận xét

- GV: Trước cảnh ngộ của cô gái

chàng trai đã dặn dò cô gái điều

gì? Tình yêu lứa đôi đã được so

sánh với từ ngữ, hình ảnh nào?

- HS: trả lời

- GV: Hãy nêu ý nghĩa biểu cảm

Tơ vò ta vuốt lại cán thuôn…”

 Chàng trai đã chia xẻ với cô gái cả nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần

 Từ thái độ, cử chỉ của chàng trai với cô gái ta thấy chàng trai đau xót khi chứng kiếncảnh người yêu bị đánh đập

* Chàng trai động viên an ủi cô gái:

“ Nước ngập gốc đáng lụi đừng lụiNước ngập rễ đáng bềnh, đừng bềnh”

- Chàng trai còn khẳng định tình yêu của mình:

* Từ “ Chết” - lặp sáu lần  không gợi sự

bi lụy, là sự hoá thân thể hiện sự gắn bó với người mình yêu:

“ Chết thành bèo ta trôi nổi ao trongChết thành muôi ta múc xuống cùng một bátChết thành hồn chung một mái song song”

* Tình yêu được so sánh:

+Tình Lú - Ủa+ Sự vật đá, vàng, gỗ  những sự vật bền

Trang 17

- HS: Trả lời

- GV: Khái quát

- GV: Qua những chi tiết trên ta

thấy chàng trai là người như thế

- Yêu nhau yêu trọn đời

- Yêu nhau yêu trọn kiếp

- Ta yêu nhau tàn đời gió… không rung không chuyển, không ngoảnh, không nghe

=> Chàng trai là người có nghị lực đã khẳngđịnh tình yêu của mình sẽ trường tồn vĩnh cửu

=> Đoạn trích thể hiện tình yêu trong sáng mãnh liệt của chàng trai

 Tiểu kết:

- Đoạn thơ thể hiện tình yêu trong sángmãnh liệt của chàng trai

- Ngôn ngữ mộc mạc, nghệ thuật trùng điệp, hình ảnh so sánh gần gũi

III Tổng kết

1 Giá trị nội dung:

- Ca ngợi tình yêu thuỷ chung trong sáng của tình yêu của chàng trai và cô gái

- Thể hiện khát vọng tự do hôn nhân và hạnh phúc

2 Giá trị nghệ thuật:

Trang 18

hẹn ước đến khẳng định tình yêu.

- GV: Đoạn trích đã thể hiện giá trị

nội dung và nghệ thuật gì?

- HS: Trả lời

- GV: Nhận xét và khái quát

- GV: liên hệ thực tế: Ngày nay

trong xã hội mới các chàng trai và

cô gái thái có thể tự do hôn nhân-

luyến ái Qua bài học này chúng ta

cảm thông với những cuộc đời số

phận trong xã hội cũ và càng tin

yêu cuộc sống mới

- Kết hợp yếu tố tự sự và trữ tình

- Ngôn ngữ giản dị , tự nhiên

- Hình ảnh: Cụ thể gần gũi với thiên nhiên miền núi

- Nghệ thuật: trùng điệp

Sau khi tiến hành tổ chức dạy học tôi tiến hành kiểm tra và đánh giá để củng cố kiến thức:

4 Kiểm tra, đánh giá:

Câu 1: Qua đoạn trích: "Lời tiễn dặn" anh chị hãy hình dung nhân vật trữ tình (chàng trai) là người như thế nào?

Đáp án:

- Là người có tình yêu trong sáng

- Là người có tấm lòng nhân hậu

Ngày đăng: 03/11/2019, 01:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w