Đáp án câu hỏi tự luận thi sát hạch đấu thầu | Tổng hợp 60 Câu hỏi và đáp án phần thi tự luận đấu thầu theo cục quản lý đấu thầu, Bộ kế hoạch và đầu tưCâu 1: Tại trang bìa của hồ sơ mời thầu xây lắp phát hành cho các nhà thầu chỉ có chữ ký của Giám đốc ban quản lý dự án chuyên ngành giao thông tỉnh A (đại diện hợp pháp của bên mời thầu) mà không được đóng dấu của Ban quản lý dự án chuyên ngành giao thông tỉnh A.Hỏi: Hồ sơ mời thầu nêu trên có hợp lệ hay không, phân tích lý do hợp lệkhông hợp lệ?Trả lời:1. Căn cứĐiểm b khoản 1 điều 7 Luật đấu thầuKhoản 5 điều 3 Thông tư 032015TTBKHĐT ngày 0552015 về Quy định chi tiết lập hồ sơ mời thầu xây lắp2. Nhận xét Theo khoản 5 điều 3 Thông tư 032015TTBKHĐT “Khi lập, thẩm định, phê duyệt hồ sơ mời thầu gói thầu xây lắp, tổ chức, cá nhân phải áp dụng Mẫu hồ sơ mời thầu xây lắp ban hành kèm theo Thông tư này và căn cứ vào quy mô, tính chất của từng gói thầu cụ thể để đưa ra các yêu cầu phù hợp trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế; không được đưa ra các điều kiện nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng…”Theo đó hồ sơ mời thầu của Ban quản lý dự án chuyên ngành giao thông tỉnh A phải áp dụng theo mẫu trên. Tại điểm b, khoản 1, điều 7 Luật đấu thầu quy định một trong các điều kiện phát hành hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu là Hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu được phê duyệt Và theo mẫu hồ sơ mời thầu kèm theo Thông tư 032015TTBKHĐT có nội dung là tư vấn lập hồ sơ mời thầu (nếu có) và Bên mời thầu ký tên, đóng dấu. Theo như trên thì hồ sơ mời thầu phải được phê duyệt và tại mẫu hồ sơ mời thầu yêu cầu đại diện hợp pháp của bên mời thầu ký tên, ghi tên và đóng dấu.3. Kết luậnTại trang bìa của hồ sơ mời thầu xây lắp phát hành cho các nhà thầu chỉ có chữ kỹ của Giám đốc ban quản lý dự án chuyên ngành giao thông tỉnh A (đại diện hợp pháp của bên mời thầu) mà không được đóng dấu của Ban quản lý dự án chuyên ngành giao thông tỉnh A là không hợp lệ.Câu 2: Trong phần đánh giá về tư cách hợp lệ nêu trong hồ sơ mời thầu gói thầu xây lắp tại địa bàn tỉnh A có đưa ra tiêu chí đánh giá “nhà thầu tham dự thầu phải có năng lực phù hợp và đã đăng tải trên hệ thống trang thông tin điện tử của Sở Xây dựng tỉnh A, hoặc trên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng”.Hỏi: Hồ sơ mời thầu nêu trên có phù hợp hay không, phân tích lý do phù hợpkhông phù hợp?Trả lời:1. Căn cứ:Điều 5 Luật đấu thầuKhoản 1 điều 159 Luật xây dựngĐiều 69 Nghị định số 592015NĐCP Điều 2 Nghị định số 422014NĐCPKhoản 5 điều 3 Thông tư số 032015TTBKHĐT2. Nhận xét Theo quy định tại điều 5 Luật đấu thầu quy định về tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tư chỉ có 1 yêu cầu liên quan đến đăng tải trên hệ thống trang thông tin tại điểm d khoản 1 như sau “Đẫ đăng ký trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia”Có nghĩa là về tư cách hợp lệ của Nhà thầu tham gia dự thầu trong Luật đấu thầu không quy định nhà thầu tham dự thầu phải có năng lực phù hợp và đã đăng tải trên hệ thống trang thông tin ddienj tử của Sở Xây dựng tỉnh, hoặc trên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng.Về năng lực của nhà thầu Theo quy định tại khoản 1 điều 159 Luật xây dựng và điều 69 Nghị định số 592015NĐCP thì các tổ chức tham gia hoạt động xây dựng có trách nhiệm cung cấp thong tin về năng lực hoạt động của mình tới cơ quan chuyên môn về xây dựng để đăng tải công khai trên Trang thông tin điện tử do cơ quan này quản lý.Tuy nhiên, tại điều 2 Nghị định số 422017NĐCP đã bãi bỏ quy định tại khoản 3 Điều 69 Nghị định số 592015NĐCPDo đó việc đăng tải thông tin về năng lực hoạt động xây dựng là cơ sở để lựa chọn tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng đã không còn được áp dụng. Theo khoản 5 điều 3 Thông tư số 032015TTBKHĐT quy định khi lập, thẩm định, phê duyệt hồ sơ mời thầu gói thầu xây lắp, tổ chức, cá nhân không được đưa ra các điều kiện nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng.Theo như trên thì hồ sơ mời thầu không được đưa ra điều kiện hạn chế sự tham gia của nhà thầu. Trong khi đó việc đăng tải thông tin về năng lực hoạt động xây dựng đã được bãi bỏ, nên hồ sơ mời thầu đưa ra tiêu chí đánh giá về năng lực nhà thầu của Sở Xây dựng tỉnh A là đã gây hạn chế tham gia của Nhà thầu. Điều này là vi phạm quy định về tính cạnh tranh bình đẳng.3. Kết luậnHồ sơ mời thầu gói thầu xây lắp tại địa bàn tỉnh A đưa ra tiêu chí đánh giá “nhà thầu tham dự thầu phải có năng lực phù hợp và đã đăng tải trên hệ thống trang thôn tin điện tử của Sở Xây dựng tỉnh A, hoặc trên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng” là không phù hợp với quy định của pháp luật đấu thầu.Câu 3: Sở xây dựng X được giao làm chủ đầu tư dự án xây dựng công trình Y, trong đó gói thầu tư vấn, khảo sát lập hồ sơ thiết kế, dự toán công trình Y (gói thầu A). Trong số các nhà thầu tham dự thầu gói thầu A có Trung tâm Z (là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Giao thông vận tải X) do UBND tỉnh X quyết định thành lập.Hỏi: Trung tâm Z có được đánh giá là đáp ứng yêu cầu về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu theo quy định tải khoản 4 điều 2 Nghị định 632014NĐCP khi tham dự gói thầu A hay không.Trả lời:1. Căn cứ: Khoản 1, 2 và 3 Điều 6 của Luật đấu thầu Khoản 4, điều 2 Nghị định số 632014NĐCP2. Nhận xétTheo khoản 4, điều 2 Nghị định số 632014NĐCP Nhà thầu được đánh giá độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính với nhà thầu khác; với nhà thầu tư vấn; với chủ đầu tư, bên mời thầu quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 6 của Luật đấu thầu khi đáp ứng các điều kiện sau đây: Không cùng thuộc một cơ quan hoặc tổ chức trực tiếp quản lý đối với đơn vị sự nghiệp; Nhà thầu với chủ đầu tư, bên mời thầu không có cổ phần hoặc góp vốn trên 30% của nhau; Nhà thầu không có cổ phần hoặc góp vốn trên 20% của nhau khi cùng tham dự thầu trong một gói thầu đối với đấu thầu hạn chế; Nhà thầu tham dự thầu với nhà thầu tư vấn cho gói thầu đó không có cổ phần hoặc góp vốn của nhau; không cùng có cổ phần hoặc vốn góp trên 20% của một tổ chức, cá nhân khác với từng bên.Theo như trên thì trung tâm Z là đơn vị sự nghiệp nên chỉ ràng buộc bởi 1 trường hợp tại mục a Khoản 4, điều 2 (Không cùng thuộc một cơ quan hoặc tổ chức trực tiếp quản lý đối với đơn vị sự nghiệp)Với tình huống này Trung tâm Z thuộc quyền quản lý trực tiếp của sở Giao thông vận tải tỉnh Z. Trong khi đó, Sở giao thông vận tải tỉnh X không phải là cơ quan quản lý Sở Xây dựng tỉnh X (là chủ đầu tư) dó đó giữa chủ đầu tư (Sở xây dựng tỉnh X) và Trung tâm Z không thuộc cùng cơ quan một hoặc tổ chức trực tiếp quản lý.3. Kết luận:Trung tâm Z được đánh giá là Nhà thầu độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính với chủ đầu tư nên đáp ứng yêu cầu về về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu theo quy định tải khoản 4 điều 2 Nghị định 632014NĐCP khi tham dự gói thầu A.
Trang 1Câu 1: Tại trang bìa của hồ sơ mời thầu xây lắp phát hành cho các nhà thầu chỉ
có chữ ký của Giám đốc ban quản lý dự án chuyên ngành giao thông tỉnh A (đại diện hợp pháp của bên mời thầu) mà không được đóng dấu của Ban quản lý dự án chuyên ngành giao thông tỉnh A.
Hỏi: Hồ sơ mời thầu nêu trên có hợp lệ hay không, phân tích lý do hợp lệ/không hợplệ?
Trả lời:
1 Căn cứ
Điểm b khoản 1 điều 7 Luật đấu thầu
Khoản 5 điều 3 Thông tư 03/2015/TT-BKHĐT ngày 05/5/2015 về Quy định chi tiếtlập hồ sơ mời thầu xây lắp
2 Nhận xét
- Theo khoản 5 điều 3 Thông tư 03/2015/TT-BKHĐT “Khi lập, thẩm định, phê duyệt
hồ sơ mời thầu gói thầu xây lắp, tổ chức, cá nhân phải áp dụng Mẫu hồ sơ mời thầu xây lắp ban hành kèm theo Thông tư này và căn cứ vào quy mô, tính chất của từng gói thầu cụ thể
để đưa ra các yêu cầu phù hợp trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế; không được đưa ra các điều kiện nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng…”
Theo đó hồ sơ mời thầu của Ban quản lý dự án chuyên ngành giao thông tỉnh A phải
áp dụng theo mẫu trên
- Tại điểm b, khoản 1, điều 7 Luật đấu thầu quy định một trong các điều kiện pháthành hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu là Hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu được phê duyệt Vàtheo mẫu hồ sơ mời thầu kèm theo Thông tư 03/2015/TT-BKHĐT có nội dung là tư vấn lập
hồ sơ mời thầu (nếu có) và Bên mời thầu ký tên, đóng dấu
Theo như trên thì hồ sơ mời thầu phải được phê duyệt và tại mẫu hồ sơ mời thầu yêucầu đại diện hợp pháp của bên mời thầu ký tên, ghi tên và đóng dấu
3 Kết luận
Tại trang bìa của hồ sơ mời thầu xây lắp phát hành cho các nhà thầu chỉ có chữ kỹ củaGiám đốc ban quản lý dự án chuyên ngành giao thông tỉnh A (đại diện hợp pháp của bênmời thầu) mà không được đóng dấu của Ban quản lý dự án chuyên ngành giao thông tỉnh A
là không hợp lệ
-Câu 2: Trong phần đánh giá về tư cách hợp lệ nêu trong hồ sơ mời thầu gói thầu xây lắp tại địa bàn tỉnh A có đưa ra tiêu chí đánh giá “nhà thầu tham dự thầu phải có năng lực phù hợp và đã đăng tải trên hệ thống trang thông tin điện tử của Sở Xây dựng tỉnh A, hoặc trên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng”.
Hỏi: Hồ sơ mời thầu nêu trên có phù hợp hay không, phân tích lý do phù hợp/khôngphù hợp?
Trả lời:
1 Căn cứ:
Điều 5 Luật đấu thầu
Khoản 1 điều 159 Luật xây dựng
Điều 69 Nghị định số 59/2015/NĐ-CP
Điều 2 Nghị định số 42/2014/NĐ-CP
Trang 2Khoản 5 điều 3 Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT
2 Nhận xét
- Theo quy định tại điều 5 Luật đấu thầu quy định về tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhàđầu tư chỉ có 1 yêu cầu liên quan đến đăng tải trên hệ thống trang thông tin tại điểm d khoản
1 như sau “Đẫ đăng ký trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia”
Có nghĩa là về tư cách hợp lệ của Nhà thầu tham gia dự thầu trong Luật đấu thầukhông quy định nhà thầu tham dự thầu phải có năng lực phù hợp và đã đăng tải trên hệthống trang thông tin ddienj tử của Sở Xây dựng tỉnh, hoặc trên trang thông tin điện tử của
Bộ Xây dựng
Về năng lực của nhà thầu Theo quy định tại khoản 1 điều 159 Luật xây dựng và điều
69 Nghị định số 59/2015/NĐ-CP thì các tổ chức tham gia hoạt động xây dựng có tráchnhiệm cung cấp thong tin về năng lực hoạt động của mình tới cơ quan chuyên môn về xâydựng để đăng tải công khai trên Trang thông tin điện tử do cơ quan này quản lý
Tuy nhiên, tại điều 2 Nghị định số 42/2017/NĐ-CP đã bãi bỏ quy định tại khoản 3Điều 69 Nghị định số 59/2015/NĐ-CP
Do đó việc đăng tải thông tin về năng lực hoạt động xây dựng là cơ sở để lựa chọn tổchức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng đã không còn được áp dụng
- Theo khoản 5 điều 3 Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT quy định khi lập, thẩm định,phê duyệt hồ sơ mời thầu gói thầu xây lắp, tổ chức, cá nhân không được đưa ra các điềukiện nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhàthầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng
Theo như trên thì hồ sơ mời thầu không được đưa ra điều kiện hạn chế sự tham gia củanhà thầu Trong khi đó việc đăng tải thông tin về năng lực hoạt động xây dựng đã được bãi
bỏ, nên hồ sơ mời thầu đưa ra tiêu chí đánh giá về năng lực nhà thầu của Sở Xây dựng tỉnh
A là đã gây hạn chế tham gia của Nhà thầu Điều này là vi phạm quy định về tính cạnh tranhbình đẳng
3 Kết luận
Hồ sơ mời thầu gói thầu xây lắp tại địa bàn tỉnh A đưa ra tiêu chí đánh giá “nhà thầutham dự thầu phải có năng lực phù hợp và đã đăng tải trên hệ thống trang thôn tin điện tửcủa Sở Xây dựng tỉnh A, hoặc trên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng” là không phùhợp với quy định của pháp luật đấu thầu
-Câu 3: Sở xây dựng X được giao làm chủ đầu tư dự án xây dựng công trình Y, trong đó gói thầu tư vấn, khảo sát lập hồ sơ thiết kế, dự toán công trình Y (gói thầu A) Trong số các nhà thầu tham dự thầu gói thầu A có Trung tâm Z (là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Giao thông vận tải X) do UBND tỉnh X quyết định thành lập.
Hỏi: Trung tâm Z có được đánh giá là đáp ứng yêu cầu về bảo đảm cạnh tranh trongđấu thầu theo quy định tải khoản 4 điều 2 Nghị định 63/2014/NĐ-CP khi tham dự gói thầu
Trang 3Nhà thầu được đánh giá độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính với nhà thầu khác;với nhà thầu tư vấn; với chủ đầu tư, bên mời thầu quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 6của Luật đấu thầu khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Không cùng thuộc một cơ quan hoặc tổ chức trực tiếp quản lý đối với đơn vị sựnghiệp;
- Nhà thầu với chủ đầu tư, bên mời thầu không có cổ phần hoặc góp vốn trên 30% củanhau;
- Nhà thầu không có cổ phần hoặc góp vốn trên 20% của nhau khi cùng tham dự thầutrong một gói thầu đối với đấu thầu hạn chế;
- Nhà thầu tham dự thầu với nhà thầu tư vấn cho gói thầu đó không có cổ phần hoặcgóp vốn của nhau; không cùng có cổ phần hoặc vốn góp trên 20% của một tổ chức, cá nhânkhác với từng bên
Theo như trên thì trung tâm Z là đơn vị sự nghiệp nên chỉ ràng buộc bởi 1 trường hợptại mục a Khoản 4, điều 2 (Không cùng thuộc một cơ quan hoặc tổ chức trực tiếp quản lýđối với đơn vị sự nghiệp)
Với tình huống này Trung tâm Z thuộc quyền quản lý trực tiếp của sở Giao thông vậntải tỉnh Z Trong khi đó, Sở giao thông vận tải tỉnh X không phải là cơ quan quản lý Sở Xâydựng tỉnh X (là chủ đầu tư) dó đó giữa chủ đầu tư (Sở xây dựng tỉnh X) và Trung tâm Zkhông thuộc cùng cơ quan một hoặc tổ chức trực tiếp quản lý
3 Kết luận:
Trung tâm Z được đánh giá là Nhà thầu độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính vớichủ đầu tư nên đáp ứng yêu cầu về về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu theo quy định tảikhoản 4 điều 2 Nghị định 63/2014/NĐ-CP khi tham dự gói thầu A
-Câu 4: Ngân hàng thương mại X có sự tham gia góp vốn của Nhà nước chiếm 95% Ngân hàng X đã tài trợ cho huyện Y thực hiện dự án xây dựng trường học cho học sinh trên địa bàn huyện, trong đó Ngân hàng X đóng góp 25% cán bộ nhân viên của ngân hàng quyên góp, đóng góp 75% vào dự án Huyện Y là chủ đầu tư của dự án xây dựng trường học này.
Hỏi: Việc lựa chọn nhà thầu thuộc dự án nêu trên có thuộc phạm vi điều chỉnh củaLuật đấu thầu hay không?
Trả lời:
1 Căn cứ
- Khoản 1, Điều 1 Luật đấu thầu 2013
- Khoản 44 Điều 4 của Luật Đấu thầu 2013
2 Nhận xét
Theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 1 Luật đấu thầu 2013 dự án đầu tư phát triển
sử dụng vốn nhà nước của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổchức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vịthuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi điều chỉnh củaLuật này
Theo khoản 44 Điều 4 của Luật Đấu thầu 2013 quy định:
Vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước; công trái quốc gia, trái phiếu chínhphủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi củacác nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của
Trang 4Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm bằng tài sản củaNhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất.Đối với trường hợp của Ngân hàng thương mại X, mặc dù Ngân hàng thương mại Xkhông phải là doanh nghiệp nhà nước và nguồn vốn trong trường hợp đang xét 95%x25% =23,75% nhỏ hơn 30% nhưng huyện Y lại là chủ đầu tư (cơ quan nhà nước), nên việc lựachọn nhà thầu thực hiện các gói thầu của Dự án này thuộc phạm vi điều chỉnh quy định tạiĐiểm a Khoản 1 Điều 1 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13.
Hỏi: Nhà thầu A (có tổng nguồn vốn là 55 tỷ đồng vào năm 2016, 50 tỷ đồng vào năm
2015 và số lao động bình quân năm là 150 người) có được coi là đáp ứng yêu cầu về tư cáchhợp lệ nêu trên hay không, tại sao?
Việc xác định cấp doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp đượcthực hiện theo Khoản 1, điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ-CP
Doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng là doanh nghiệp:
- Có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống
- Hoặc có tổng số lao động từ 10 người đến 200 người
Theo như quy định trên, nhà thầu chỉ cần đáp ứng một trong hai tiêu chí tổng nguồnvốn hoặc tổng số lao động bình quân năm đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ thì được coi
là đáp ứng điều kiện về cấp doanh nghiệp khi tham dự gói thầu xây lắp có giá không quá 5
tỷ đồng
Theo như tình huống
Nhà thầu A có:
- Tổng nguồn vốn là 55 tỷ đồng vào năm 2016, 50 tỷ đồng vào năm 2015
- Và số lao động bình quân năm là 150 người
Nhà thầu A tuy không đáp ứng tiêu chí tổng nguồn vốn nhưng lại đáp ứng tiêu chí vềlao động bình quân năm Do đó Nhà thầu A vẫn thuộc doanh nhiệp cấp nhỏ
3 Kết luận
Nhà thầu A là doanh nhiệp cấp nhỏ nên được coi là đáp ứng yêu cầu về tư cách hợp lệtheo quy định của Hồ sơ mời thầu: “nhà thầu tham dự là doanh nghiệp cấp nhỏ, siêu nhỏtheo quy định của pháp luật về doanh nghiệp”
Trang 5Câu 6: Tổng công ty A là chủ đầu tư dự án X, trong đó có gói thầu xây lắp Y có giá gói thầu 900 triệu đồng Tổng công ty A dự kiến chỉ định thầu cho Công ty cổ phần
B (là công ty con của tổng công ty A, do tổng công ty A góp vốn 80%) thực hiện gói thầu Y Công ty cổ phần B có tổng số lao động bình quân trong năm là 220 người và hiện có tổng nguồn vốn 50 tỷ đồng.
Anh/chị hãy bình luận về việc Tổng công ty A chỉ định thầu cho công ty B thực hiệngói thầu Y
Trường hợp công ty B có tổng số lao động bình quân trong năm là 160 người và hiện
có tổng nguồn vốn 50 tỷ đồng thì việc tổng công ty A chỉ định thầu cho công ty B thực hiệngói thầu Y có phù hợp với quy định của pháp luật đấu thầu hay không?
Trả lời:
1 Căn cứ:
- Điều 5, Điều 22, điều 55, điều 56 Luật Đấu thầu
- Khoản 3, điều 6 và điều 54 Nghị định 63/2014/NĐ-CP
- Khoản 1, điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ-CP
2 Nhận xét
Theo quy định tại điều 54 Nghị định 63/2014/NĐ-CP về hạn mức chỉ định thầu
Và Khoản 1, Điều 55 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, nhà thầu được xác định để nhận
hồ sơ yêu cầu khi có tư cách hợp lệ theo quy định tại các Điểm a, b, c, d, e và h, Khoản 1Điều 5 của Luật Đấu thầu (không bao gồm Điểm đ về bảo đảm cạnh tranh) và có đủ nănglực, kinh nghiệm thực hiện gói thầu
Theo các quy định nêu trên việc áp dụng hình thức chỉ định thầu cho công ty B thựchiện gói thầu Y là phù hợp
Tuy nhiên tại Khoản 3, điều 6 Nghị định 63/2014/NĐ-CP thì “Đối với gói thầu xây lắp
có giá trị gói thầu không quá 05 tỷ đồng chỉ cho phép nhà thầu là doanh nghiệp cấp nhỏ vàsiêu nhỏ theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp tham gia đấu thầu”
Công ty cổ phần B có tổng số lao động bình quân trong năm là 220 người và hiện cótổng nguồn vốn 50 tỷ đồng Không phải là doanh nghiệp cấp nhỏ và siêu nhỏ theo Khoản 1,điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ-CP
Doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng là doanh nghiệp:
- Có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống
- Hoặc có tổng số lao động từ 10 người đến 200 người
Trường hợp công ty B có tổng số lao động bình quân trong năm là 160 người và hiện
có tổng nguồn vốn 50 tỷ đồng Công ty B tuy không đáp ứng tiêu chí tổng nguồn vốn nhưnglại đáp ứng tiêu chí về lao động bình quân năm Do đó Công ty B vẫn thuộc doanh nhiệpcấp nhỏ
Ghi chú: Trường hợp Nghị định 39/2018/NĐ-CP có hiệu lực ngày 11/3/2018 thì Công ty B Không phải là doanh nghiệp cấp nhỏ và siêu nhỏ theo Khoản 2, Điều 6Nghị định 39/2018/NĐ-CP
"Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20
tỷ đồng"
3 Kết luận
Trang 6Tổng công ty A áp dụng hình thức chỉ định thầu cho công ty B thực hiện gói thầu Y làphù hợp tuy nhiên do công ty B không phải là doanh nghiệp cấp nhỏ và siêu nhỏ.
Vì vậy việc Tổng công ty A chỉ định thầu cho công ty B thực hiện gói thầu Y là khôngphù hợp theo quy định về pháp luật đấu thầu
Với trường hợp thứ hai công ty B có tổng số lao động bình quân trong năm là 160người và hiện có tổng nguồn vốn 50 tỷ đồng thì việc tổng công ty A chỉ định thầu cho công
ty B thực hiện gói thầu Y là phù hợp với quy định của pháp luật đấu thầu
Câu 7: Khi thẩm định kế hoạch lựa chọn nhà thầu cho gói thầu mua máy vi tính phục vụ công tác (là hàng hoá thông dụng, phổ biến trên thị trường), đơn vị thẩm định yêu cầu chủ đầu tư phải cung cấp chứng thư thẩm định giá đối với mặt hàng máy vi tính để làm cơ sở thẩm định về giá gói thầu.
Anh/ chị hãy bình luận về yêu cầu nêu trên của đơn vị thẩm định
Trả lời:
1 Căn cứ
- Điểm đ, khoản 2, điều 34 Luật đấu thầu
2 Nhận xét
Thứ nhất: Để thẩm định về giá gói thầu cần căn cứ theo Theo Điểm đ, khoản 2, điều
34 Luật đấu thầu quy định một trong các căn cứ để lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối vớimua sắm thường xuyên là “kết quả thẩm định giá của cơ quan, tổ chức có chức năng cungcấp dịch vụ thẩm định giá hoặc báo giá (nếu có)”;
Theo quy định trên có 2 cơ sở để thẩm định về giá gói thầu là
- Kết quả thẩm định giá của cơ quan, tổ chức có chức năng cung cấp dịch vụ thẩm địnhgiá hoặc
Việc chứng minh giá cả phù hợp với thị trường tại thời điểm thương thảo hợp đồng cóthể thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau như cataloge, báo giá… và đáp ứng yêucầu của chủ đầu tư khi thương thảo hợp đồng
3 Kết luận:
Việc đơn vị thẩm định yêu cầu chủ đầu tư phải cung cấp chứng thư thẩm định đối vớimặt hàng máy vi tính để làm cơ sở thẩm định về giá gói thầu là không phù hợp với quy địnhcủa pháp luật đấu thầu
-Câu 8: Chủ đầu tư X hiện đang triển khai dự án “Đầu tư mới toa xe khách” và đang trong giai đoạn lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu cho toàn bộ dự án, trong đó có gói thầu cung cấp mới toa xe khách Đặc tính của toa xe khách chạy trên đường sắt quốc gia phải đồng bộ từ khâu thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, cung cấp thiết bị, sản xuất, lắp ráp và kiểm định chất lượng, an toàn kỹ thuật bảo vệ môi trường Do đó, chủ đầu tư X dự kiến xây dựng gói thầu toa xe khách thành gói thầu hỗn hợp thiết kế và cung cấp hàng hoá (EP) nhưng trong phần cung cấp hàng hoá gói thầu chia thành nhiều phần: cung cấp thiết bị nội thất; cung cấp thiết bị vệ sinh; cung cấp phần vỏ toa xe.
Trang 7Anh/chị hãy bình luận về việc phân chia gói thầu nêu trên.
Có nghĩa là theo quy định một trong số nguyên tắc phân chia dự án thành các gói thầuphải bảo đảm tính chất đồng bộ của dự án
Theo tình huống yêu cầu “Toa xe khách chạy trên đường sắt quốc gia phải đồng bộ từkhâu thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, cung cấp thiết bị, sản xuất, lắp ráp và kiểmđịnh chất lượng, an toàn kỹ thuật bảo vệ môi trường” nên việc Chủ đầu tư X dự kiến xâydựng gói thầu toa xe khách thành gói thầu hỗn hợp thiết kế và cung cấp hàng hoá (EP) làhoàn toàn phù hợp đảm bảo tính đồng bộ
Đối với phần cung cấp hàng hoá, gói thầu được chia thành nhiều phần: cung cấp thiết
bị nội thất; cung cấp thiết bị vệ sinh; cung cấp phần vỏ toa xe sẽ dẫn đến kết quả là có thểthiết kế là 1 nhà thầu, nhưng sẽ có nhiều nhà thầu cùng tham gia cung cấp thiết bị Như vậytính đồng bộ dự án sẽ khó đảm bảo, không phù hợp với nguyên tắc trên và mục tiêu dự án
Câu 9: Gói thầu xây lắp được thực hiện theo phương thức một giai đoạn hai túi
hồ sơ Khi tham dự thầu, nhà thầu M đã sơ suất đóng gói phong bì đựng thư bảo lãnh
dự thầu vào chung túi hồ sơ đựng đề xuất về tài chính nên khi mở hồ sơ đề xuất về kỹ thuật không có thư bảo lãnh dự thầu của nhà thầu.
Các thông tin trong lễ mở thầu được ghi vào biên bản mở thầu, bao gồm cả việc đại diện nhà thầu M xác nhận không có bảo lãnh dự thầu trong túi hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và khẳng định bảo lãnh dự thầu được đóng trong túi hồ sơ đề xuất về tài chính.
Hỏi: Bên mời thầu cần xử lý như thế nào đối với trường hợp đóng nhầm thư bảo lãnh
dự thầu trong túi hồ sơ đề xuất về tài chính của nhà thầu M?
Trả lời:
1 Căn cứ pháp lý
- Khoản 2, Điều 28, Luật đấu thầu năm 2013
- Khoản 2, Điều 86, Luật đấu thầu năm 2013
- Khoản 1, Điều 15, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014
- Khoản 4, Điều 26, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014
- Điều 117, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014
2 Nhận xét
Theo quy định tại khoản 2, Điều 28 Luật đấu thầu nhà thầu phải nộp hồ sơ đề xuất kỹthuật và hồ sơ đề xuất tài chính thành 02 túi riêng biệt và theo quy định tại điểm d, Khoản 4,điều 26 Nghị định 63/2014/NĐ-CP hồ sơ đề xuất về tài chính của tất cả các nhà thầu phải
Trang 8được bên mời thầu niêm phong trong một túi riêng biệt và được đại diện của bên mời thầu,nhà thầu tham dự lễ mở thầu ký niêm phong.
Trong tình huống này thư bảo lãnh của nhà thầu để lẫn trong hồ sơ đề xuất tài chínhkhông theo quy định tại các căn cứ nêu trên cũng không thuộc một trong các trường hợp hồ
sơ đề xuất tài chính không hợp lệ, tình huống này nằm ngoài tình huống đã quy định tại điều
117 nghị định 63/2014/NĐ-CP, theo quy định tại điểm b, khoản 2 điều 86 Luật đấu thầu thìbên mời thầu phải xin ý kiến của người có thẩm quyền
- Nếu lễ mở thầu đã kết thúc, đang trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu thì coi nhưcho nhà thầu nợ việc đánh giá về bảo đảm dự thầu Trường hợp nhà thầu vượt qua bướcđánh giá về kỹ thuật thì sẽ được mở HSĐXTC và lúc đó sẽ đánh giá bảo đảm dự thầu củanhà thầu này
Trong trường hợp nhà thầu vượt qua bước đánh giá về kỹ thuật, mở HSĐXTC màkhông có bảo đảm dự thầu thì HSDT của nhà thầu bị loại và có thể xem xét hành vi gian lậncủa nhà thầu
-Câu 10: Nhà thầu A đã đăng ký thông tin trên hệ thống mạng đấu thầu Quốc gia
và được cấp chứng thư số theo quy định từ tháng 3 năm 2015 Tuy nhiên, thời điểm tháng 7 năm 2017 khi nhà thầu A tham dự thầu gói thầu xây lắp Y thì chứng thư số của nhà thầu hết hiệu lực trước thời điểm đóng thầu do nhà thầu A chưa nộp chi phí duy trì.
Hỏi: Nhà thầu A có đáp ứng yêu cầu về tư cách hợp lệ hay không và giải thích?
Trả lời:
1 Căn cứ
- Điểm d, khoản 1, điều 5 Luật đấu thầu
- Điểm a, Khoản 1, điều 31 Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC
- Khoản 1, điều 37 Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC
2 Nhận xét
- Tư cách hợp lệ của nhà thầu tham gia dự thầu liên qua đến đăng ký thông tin trên hệthống mạng đấu thầu quốc gia được quy định tại điểm d, khoản 1, điều 5 Luật đấu thầu “Đãđăng ký trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia”
- Và theo quy định tại Khoản 1, điều 37 Thông tư liên tịch số BTC Bắt đầu từ ngày 01/7/2016, trước thời điểm đóng thầu 02 ngày làm việc, nhà thầu, nhàđầu tư chưa có xác nhận đăng ký thông tin trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia khôngđược tham dự thầu đối với các gói thầu, dự án có hình thực lựa chọn nhà thầu theo quy địnhtại các điều 20,21,22,23,24,25 và 26 của Luật đấu thầu
07/2015/TTLT-BKHĐT-Theo như trên một trong số các điều kiện về tư cách hợp lệ của nhà thầu khi tham dựthầu là phải bảo đảm: trước thời điểm đóng thầu 02 ngày làm việc, nhà thầu đã đăng ký trên
hệ thống mạng đấu thầu quốc gia mới được tham gia dự thầu
Trang 9Nhà thầu A đã đăng ký thông tin trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và được cấpchứng thư số theo quy định từ tháng 3/2015 tức nhà đã có tên trên hệ thống trước thời gianđóng thầu vào 07/2017.
Trường hợp nhà thầu chưa nộp phí duy trì thì phải thực hiện nộp phí theo quy định,không liên quan đến tư cách hợp lệ của Nhà thầu tham gia dự thầu
3 Kết luận
Vì vậy đối với tiêu chí đăng ký thông tin trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia nhàthầu A đảm bảo tiêu chí về tư cách hợp lệ nêu tại điểm d, khoản 1, Điều 5 Luật đấu thầu ởtrên
Câu 11: Trong quá trình tổ chức đánh giá hồ sơ dự thầu, bên mời thầu phát hiện trong hồ sơ dự thầu của nhà thầu A có đính kèm theo 01 thư giảm giá với tỷ lệ giảm giá là 5% giá dự thầu của nhà thầu này Thư giảm giá và nội dung giảm giá của nhà thầu A không được công khai trong lễ mở thầu Hồ sơ dự thầu của nhà thầu A đã được đánh giá đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật Bên mời thầu đã bó cáo chủ đầu tư xem xét, giải quyết xử lý tình huống theo hướng chấp thuận thư giảm giá của nhà thầu A với lý do mạng lại hiệu quả kinh tế cho gói thầu
Hỏi: Việc chấp nhận thư giảm giá của nhà thầu A như nêu trên có phù hợp với quyđịnh của pháp luật về đấu thầu hay không và giải thích?
ký xác nhận bởi đại diện của bên mời thầu và các nhà thầu tham dự lễ mở thầu”
Mục 14.3 CDNT, thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT quy định chi tiết lập hồ sơ mờithầu xây lắp có nội dụng: “ Trường hợp có thư giảm giá thì thư giảm giá có thể để cùngtrong HSDT hoặc nộp riêng song phải đảm bảo Bên mời thầu nhận được trước thời điểmđóng thầu”
Theo như 02 quy định trên, thư giảm giá (nếu có) phải được nộp trước thời điểm đóngthầu và phải được công khai tại lễ mở thầu Đồng thời thư giảm giá có hay không có cũngđược ghi rõ trong biên bản mở thầu phải được ký xác nhận bởi đại diện của bên mời thầu vàcác nhà thầu tham dự lễ mở thầu
Vì vậy, thư giảm giá được phát hiện sau lễ mở thầu là không có giá trị
3 Kết luận
Việc chấp nhận thư giảm giá của nhà thầu A như nêu trên không phù hợp với quy địnhcủa pháp luật về đấu thầu
Câu 12: Trong thoả thuận liên danh giữa công ty A và công ty B, các thành viên
đã thống nhất tên gọi của liên danh là “Liên danh A – B” và thành viên đứng đầu liên danh là Công ty A đại diện liên danh ký đơn dự thầu Tuy nhiên, trong đơn dự thầu lại chỉ thể hiện tên nhà thầu tham dự thầu là “Nhà thầu A” Tổ chuyên gia kết luận đơn
Trang 10dự thầu không hợp lệ do không ghi đúng tên nhà thầu (Liên danh A-B) và nhà thầu bị loại.
Hỏi: Việc đánh giá như nêu trên của tổ chuyên gia có phù hợp với quy định của phápluật đấu thầu hay không?
Trả lời
1 Căn cứ
Khoản 35, Điều 4 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13
2 Nhận xét
Theo quy định tại Khoản 35, Điều 4 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 nhà thầu chính
là nhà thầu chịu trách nhiệm tham dự thầu, đứng tên dự thầu và trực tiếp ký, thực hiện hợpđồng nếu được lựa chọn Nhà thầu chính có thể là nhà thầu độc lập hoặc thành viên của nhàthầu liên danh
Trong tình huống đề bài: Trong thoả thuận liên danh giữa công ty A và công ty B, cácthành viên đã thống nhất tên gọi của liên danh là “Liên danh A – B” thì đơn dự thầu phải donhà thầu liên danh đứng tên tham dự thầu
Theo đó, việc đơn dự thầu của nhà thầu liên danh chỉ do một thành viên liên danhđứng tên tham dự thầu là không phù hợp do tên của nhà thầu không phù hợp với thoả thuậnliên danh, không bảo đảm được trách nhiệm của nhà thầu liên danh đối với những cam kếtnêu trong đơn dự thầu
3 Kết luận
Với tình huống nêu trên Tổ chuyên gia kết luận đơn dự thầu không hợp lệ do khôngghi đúng tên nhà thầu (Liên danh A-B) và nhà thầu bị loại là phù hợp với quy định của phápluật đấu thầu
Câu 13: Trong đơn dự thầu thuộc hồ sơ đề xuất tài chính của nhà thầu ghi:
“Cùng với hồ sơ đề xuất về kỹ thuật, chúng tôi gửi kèm đơn này đề xuất về tài chính với tổng số tiền là 38.415.888.000 VND (Bằng chữ: Ba mươi tám tỷ, bốn trăm mười lăm triệu, tám trăm tám mươi tám triệu đồng chẵn).
Giá dự thầu ghi trong bảng tổng hợp giá dự thầu là: 38.415.888.000 VND (Bằng chữ: Ba mươi tám tỷ, bốn trăm mười lăm triệu, tám trăm tám mươi tám nghìn đồng chẵn).
Hỏi: Đơn dự thầu trong hồ sơ đề xuất tài chính nêu trên có được coi là hợp lệ haykhông, tại sao?
Căn cứ - Điểm b, khoản 2, điều 30 Nghị định 63/2014/NĐ-CP quy định tính hợp lệ của
hồ sơ đề xuất tài chính “ có đơn dự thầu thuộc hồ sơ đề xuất về tài chính được đại diện hợppháp của nhà thầu ký tên, đóng dấu (nếu có) theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu; giá dự thầughi trong đơn dự thầu phải cụ thể; cố định bằng số, bằng chữ và phải phù hợp, logic với
Trang 11tổng giá dự thầu ghi trong biểu giá tổng hợp, không đề xuất các giá dự thầu khác nhau hoặc
có kem theo điều kiện gây bất lợi cho chủ đầu tư, bên mời thầu”
Đối với tình huống nêu trên, trừ sai ót nêu trên thì vẫn bảo đảm sự hợp lệ “ giá dự thầughi trong đơn dự thầu phải cụ thể, cố định bằng số, bằng chữ và phải phù hợp, logic vớitổng giá dự thầu ghi trong biểu giá tổng hợp”
Theo mục 30 Sai sót không nghiêm trọng, CDNT Thông tư 03/2015/TT-BKHĐT vớiđiều HSDT đáp ứng co bnar yêu cầu nêu trong HSMT thì bên mời thầu có thể chấp nhậncác sai sót mà không phải là những sai khác, đặt điều kiện hay bỏ sót nội dung cơ bản trongHSDT
Theo tình huống trên thì giá dự thầu bằng số ghi trong đơn dự thầu và ghi trong bảngtổng hợp giá dự thầu đều là 38.415.888.000 VND Đồng thời, giá trị dự thầu bằng chữ ghitrong bảng tổng hợp giá dự thầu khớp với giá dự thầu ghi bằng số trong cả đơn dự thầu vàtrong bảng tổng hợp Do đó, sai sót bằng chữ ghi trong đơn dự thầu là sai sót không ảnhhưởng thay đổi bản chất giá dự thầu, không gây bất lợi cho chủ đầu tư Vì vậy xem đó là saisót chấp nhận được
3 Kết luận
Đơn dự thầu trong hồ sơ đề xuất tài chính nêu như trên được coi là hợp lệ
Câu 14: Chủ đầu tư tổ chức đấu thầu rộng rãi gói thầu mua ống thép, trong đó có nhiều kích cỡ khác nhau Đối với hạng mục ống thép X (đường kính 113,5mm, dày 3mm, dài 6m), khối lượng mời thầu là 10 tấn Nhà thầu A cháo giá cho hạng mục ống thép X như sau: 3 tấn ống thép X giá 8.000.000 đồng/tấn, 7 tán ống thép X giá 12.300.000 đồng/tấn Bên mời thầu đã yêu cầu nhà thầu làm rõ việc chào giá này Nhà thầu giả thích rằng do còn một lượng thép tồn kho nên quyết định chào giá thép cũ (lúc chưa tăng giá) đồng thời cam kết sẽ đảm bảo đúng chất lượng thép như yêu cầu của hồ sơ mời thầu Tổ chuyên gia hiệu chỉnh sai lệch theo hướng đua về cùng một đơn giá cho cả 10 tấn thép là 12.300.000 đồng/tấn.
Hãy bình luận về việc đánh giá hồ sơ dự thầu nêu trên của tổ chuyên gia.
Có nghĩa là: Khi tham gia dự thầu, việc tính toán giá dự thầu trong HSDT là do nhàthầu tự quyết định để đảm bảo cạnh tranh về giá với các nhà thầu khác, đồng thời đảm bảothực hiện gói thầu hiệu quả, chất lượng theo yêu cầu
Theo Khoản 6, điều 117 Nghị định 63/2014/NĐ-CP thì “Trường hợp hồ sơ dự thầu, hồ
sơ đề xuất có đơn giá thấp khác thường, ảnh hưởng đến chất lượng gói thầu thì bên mời thầuyêu cầu nhà thầu giải thích, làm rõ bằng văn bản về tính khả thi của đơn giá khác thường đó.Nếu sự giải thích của nhà thầu không đủ rõ, không có tính thuyết phục thì không chấp nhậnđơn giá chào thầu đó, đồng thời coi đây là sai lệch và thực hiện hiệu chỉnh sai lệch theo quyđịnh như đối với nội dung chào thiếu của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất so với yêu cầu của hồ
sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu theo quy định tại Điều 17 của Nghị định này
Trang 12Có nghĩa là: Nhà thầu được quyền quyết định việc tính toán giá dự thầu trong HSDTnhưng cùng 1 chủng loại vật liệu lại có 2 đơn giá khác nhau bất thường ( 1 đơn giá thấp bấtthường 8.000.000 đồng/tấn so với đơn giá còn lại là 12.300.000 đồng/tấn) Bên mời thầu đãyêu cầu nhà thầu làm rõ là phù hợp với quy định nêu trên.
Khi nhà thầu A đã giải thích đối với đơn giá thép là 8.000.000 đồng/tấn là do tồn khotheo giá cũ trước đây và cam kết đảm bảo chất lượng; nếu bên mời thầu nhận thấy việc giảithích của nhà thầu A là chưa hợp lý thì yêu cầu nhà thầu A cung cấp chứng từ liên quan đểchứng minh lượng thép tồn kho (có thể đến kho xem nếu xét thấy thật sự cần thiết):
+ Trường hợp các chứng từ mà thầu thầu A cung cấp đáp ứng yêu cầu của bên mờithầu thì bên mời thầu phải chấp nhận đơn giá đã đề xuất của nhà thầu A
+ Trường hợp các chứng từ do nhà thầu A cung cấp không đáp ứng yêu cầu của Bênmời thầu, không đủ rõ, không có tính thuyết phục thì tổ chuyên gia được phép hiệu chỉnh sailệch theo hướng đua về cùng một đơn giá cho cả 10 tấn thép là 12.300.000 đồng/tấn
3 Kết luận
Việc đánh giá hồ sơ dự thầu nêu trên của tổ chuyên gia là nóng vội Để chặt chẽ hơn,cần yêu cầu nhà thầu cung cấp các chứng từ liên quan để chứng minh lượng thép tồn kho.Nếu chứng từ do nhà thầu A cung cấp không đáp ứng yêu cầu của bên mời thầu, không đủ
rõ, không có tính thuyết phục thì lúc đó việc hiệu chỉnh của tổ chuyên gia mới đảm bảo chặtchẽ, khách quan hơn
Câu 15: Nhà thầu A tham gia đấu thầu gói thầu cung cấp thiết bị cho dự án của chủ đầu tư B Giá dự thầu nêu trong đơn dự thầu là 30.000.000.000 đồng (ba mươi tỷ đồng chẵn) Nhà thầu A có đính kèm thư giảm giá với mức giảm giá 10% trên giá dự thầu, giá dự thầu sau giảm giá là 27.000.000.000 đồng Tuy nhiên trong quá trình đánh giá về tài chính, thương mại, giá trị sai lệch thiếu của hồ sơ dự thầu là 1.500.000.000 đồng.
Hỏi: Việc xác định tỷ lệ phần trăm của sai lệch thiếu được tính như thế nào?
Trả lời:
1 Căn cứ
- Điểm c, khoản 2, điều 17 Nghị định 63/2014/NĐ-CP: “Trường hợp nhà thầu có thư giảm giá, việc hiệu chỉnh sai lệch được thực hiện trên cơ sở giá dự thầu chưa trừ đi giá trị giảm giá Tỷ lệ % của sai lệch được xác định trên cơ sở so với giá dự thầu ghi trong đơn dự thầu”.
Như vậy: Tỷ lệ % của sai lệch thiếu = (giá trị sai lệch thiếu x 100/Giá dự thầu ghitrong đơn dự thầu)
Trong đó:
- Giá trị sai lệch thiếu: 1.500.000.000 đồng
- Giá dự thầu ghi trong đơn dự thầu (giá dự thầu chưa trừ đi giá trị giảm giá):30.000.000.000 đồng
Trang 13Nhà thầu X tham dự đồng thời hai gói thầu nêu trên và trong cả hồ sơ dự thầu gói thầu số 1 và gói thầu số 2, nhà thầu này đều đề xuất huy động Ông Nguyễn Văn A đảm nhiệm vị trí chỉ huy trưởng công trường.
Hỏi: Bên mời thầu phải đánh giá về đề xuất huy động Chỉ huy trưởng công trường củanhà thầu X như thế nào?
Theo quy định trên thì việc lựa chọn nhân sự chủ chốt cho các gói thầu phải đáp ứnghai nguyên tắc:
+ Nhân sự chủ chốt có năng lực phù hợp đáp ứng các yêu cầu của HSMT
+ Có thể sẵn sàng huy động cho gói thầu (không được kê khai những nhân sự đã huyđộng cho gói thầu khác có thời gian làm việc trùng với thời gian thực hiện gói thầu này)Việc nhà thầu X đề xuất huy động Ông Nguyễn Văn A đảm nhiệm vị trí Chỉ huytrưởng công trường đồng thời hai gói thầu nêu trên có phù hợp hay không
Do 02 gói thầu có nội dung, quy mô, tính chất giống nhau nên việc đề xuất nhân sựgiống nhu là hợp lý và không vi phạm nguyên tắc kê khai nhân sự đã đề cập Hơn nữa 02gói tổ chức chọn nhà thầu cùng thời điểm nên nhà thầu không biết được khả năng có trúng
cả 2 gói thầu hay không
Tuy nhiên, đối với mọi gói thầu thì việc đánh giá năng lực đáp ứng yêu cầu của HSMTcủa nhân sự chủ chốt mới chỉ là bước đầu Để bảo đảm tiến độ, chất lượng gói thầu thì điềuquan trọng là cần làm rõ khả năng huy động nhân sự đó trong bước thương thảo hợp đồng(nếu nhà thầu được xếp hạng thứ nhất)
3 Kết luận
Đối với các gói thầu trên, trường hợp nhà thầu X được xếp hạng thứ nhất trong cả haigói thầu với đề xuất về nhân sự chủ chốt giống nha, trong quá trình thương thảo hợp đồng,bên mời thầu cần yêu cầu nhà thầu làm rõ về khả năng huy động nhân sự cùng lúc thực hiện
cả hai gói thầu Theo đó:
- Nếu thời gian làm việc của ông Nguyễn Văn A cho hai gói thầu không trùng lặp, bảođảm việc huy động đầy đủ nhân sự chủ chốt để thực hiện cả hai gói thầu theo tiến độ thì nhàthầu được đề xuất trúng cả hai gói thầu
- Nếu thời gian làm việc của ông Nguyễn Văn A cho hai gói thầu có sự trùng lặp, dẫntới không huy động được đầy đủ nhân sự chủ chốt để thực hiện hai gói thầu theo đúng tiến
độ thì nhà thầu chỉ được lựa chọn trúng thầu một trong hai gói thầu
Câu 17: Ban quản lý dự án các công trình thuỷ lợi tỉnh A là chủ đầu tư gói thầu
Tư vấn khảo sát, lập thiết kế bản vẽ thi công và dự toán công trình hệ thống thoát lũ: gói thầu được tổ chức lựa chọn nhà thầu theo hình thức đấu thầu rộng rãi trong nước.
Trang 14- Tại thời điểm đóng thầu chỉ có 02 nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu Chủ đầu tư đã quyết định xử lý tình huống theo hướng dẫn cho phép bên mời thầu ngay để đánh giá.
- Sau khi đánh giá về kỹ thuật, chỉ có một nhà thầu vượt qua bước đánh giá về kỹ thuật và giá dự thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch của nhà thầu này vượt giá gói thầu được duyệt Theo đó, chủ đầu tư đã quyết định huỷ thầu để tổ chức đấu thầu lại.
Hỏi: Anh/ chị hãy bình luận về cách xử lý nêu trên của chủ đầu tư
Trả lời
1 Căn cứ
- Điều 42 Luật đấu thầu
- Mục a, khoản 2 điều 86 Luật đấu thầu
- Khi chỉ có một nhà thầu vượt qua bước đánh giá về kỹ thuật và giá dự thầu sau sửalỗi, hiệu chỉnh sai lệc của nhà thầu này vượt giá gói thầu được duyệt theo quy định tại điều
42 Luật đấu thầu, một trong các điều kiện để nhà thầu tư vấn được xem xét, đề nghị trúngthầu là có giá đề nghị trúng thầu không vượt giá gói thầu được phê duyệt vì vậy gói thầunày không có nhà thầu nào được xem xét, đề nghị trúng thầu
Tại khoản 8, điều 117 Nghị định 63/2014/NĐ-CP quy định cụ thể xử lý tình huống đốivới trường hợp “giá dự thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch, trừ đi giá trị giảm giá (nếu có)của tất cả các nhà thầu đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật và năm trong danh sách sếp hạng đềuvượt giá gói thầu đã duyệt” Trong đó không có trường hợp huỷ thầu tổ chức đấu thầu lại
Vì vậy việc chủ đầu tư quyết định huỷ thầu để tổ chức đấu thầu lại do nhà thầu vượtqua bước đánh giá về kỹ thuật có giá dự thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch vượt giá góithầu được duyệt là sai quy định Đúng ra phải áp đụng xử lý tình huống đấu thầu
3 Kết luận
- Việc chủ đầu tư đã quyết định xử lý tình huống theo hướng cho phép bên mời thầu
mở thầu ngay để đánh giá là phù hợp với điểm b, khoản 4, điều 117 Nghị định CP
63/2014/NĐ Về việc huỷ thầu; Chủ đầu tư đã quyết định huỷ thầu để tổ chức đấu thầu lại là khôngphù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu Theo đó, chủ đầu tư phải tiến hành xử lýtình huống đấu thầu theo quy định tại khoản 8, điều 117 Nghị định 63/2014/NĐ-CP
Câu 18: Trong hồ sơ dự thầu gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn X, nhà thầu A đề xuất huy động ông B là một trong những nhân sự chủ chốt tham gia thực hiện gói thầu Trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu, bên mời thầu nhận được đơn kiến nghị của ông B về việc nhà thầu A đã tự ý đề xuất tên mình vào trong hồ sơ dự thầu mà không hề biết về việc này
Hỏi: trong trường hợp nêu trên, bên mời thầu xử lý như thế nào?
Trả lời
1 Căn cứ
Trang 15- Điểm c, khoản 4, Điều 89 Luật đấu thầu
2 Nhận xét
Nhận định về kiến nghị của ông B để đảm bảo khách quan sẽ có hai khả năng:
- Ông B không thuộc nhân sự hợp đồng của nhà thầu A: tức là nhà thầu A kê khaikhông trung thực
- Hoặc ông B thuộc nhân sự hợp đồng chịu sự quản lý phân công công việc của nhàthầu A: ông B cung cấp thông tin không trung thực Nhà thầu A có quyền điều động ông Bthực hiện công việc của nhà thầu theo hợp đồng lao động
Để nhận định rơi vào trường hợp nào, bên mời thầu cần yêu cầu nhà thầu A và ông Bcung cấp làm rõ chứng minh cụ thể: hợp đồng lao động, chấm dứt hợp đồng lao động, bảohiểm xã hội của ông B (nếu có)…
Dựa vào các căn cứ chứng minh làm rõ, nếu phản ánh của ông B là đúng thì nhà thầu
A gian lận Nếu phản ánh của ông B không đúng thì hoặc ông B tiếp tục phải làm việc chonhà thầu A theo sự phân công, hoặc ông B sẽ tự đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.Trường hợp thứ nhất: Nhà thầu cung cấp thông tin không trung thực Theo điểm c,khoản 4, điều 89 Luật đấu thầu 2013 về hành vi bị cấm trong đấu thầu thì nhà thầu bị loại và
vì lý do bất khả kháng mà các vị trí nhân sự chủ chốt do nhà thầu đã đề xuất không thể thamgia thực hiện hợp đồng Trong trường hợp đó nhà thầu được quyền thay đổi nhân sự khác…Theo quy định trên trường hợp trong hợp động giữa nhà thầu A và ông B có điềukhoản cho phép nhà thầu A sử dụng ông B để tham gia dự thầu theo năng lực của ông B thì
hồ sơ dự thầu này là hợp lệ Như vậy nếu ông B có đơn kiens nghị và bên mời thầu xét thấyđay là lý do bất khả kháng của nhà thầu A thì bên mời thầu cho phép nhà thầu đề xuất thayđổi nhân sự nhưng phải đảm bảo nhân sự dự kiến thay thế có trình độ, kinh nghiệm và nănglcuwj tương đương hoặc cao hơn ông B Đồng thời bên mời thầu kiến nghị nhà thầu A xemxét lại hợp đồng với ông B để có biện pháp xử lý theo quy định
Trường hợp giữa nhà thầu A và ông B không có hợp đồng về việc sử dụng ông B đểtham gia dự thầu gói thầu nêu trên thì hồ sơ dự thầu của nhà thầu A bị loại và nhà thầu A đã
vi phạm điểm c, khoản 4, điều 89 Luật đấu thầu 2013 sẽ bị xử lý theo quy định
Trang 16Câu 19: Chủ đầu tư X tổ chức đấu thầu rộng rãi gói thầu xây lắp công trình X Trong hồ sơ dự thầu của nhà thầu A đề xuất huy động ông Nguyễn Văn B đảm nhận vị trí chỉ huy trưởng công trường Tuy nhiên sau thời điểm đóng thầu 5 ngày, nhà thầu
có công văn xin rút ông Nguyễn Văn B khỏi danh sách nhân sự chủ chốt do ông nguyễn Văn B hiện không còn thuộc biên chế của nhà thầu và xin bổ sung nhân sự khác thay thế.
Hỏi: Trong trường hợp này, việc đánh giá về nhân sự chủ chốt (chỉ huy trưởng côngtrường) của nhà thầu A được thực hiện như thế nào?
- Bước 2: Nếu nhà thầu A được xếp hạng thứ nhất, Bên mời thầu mời nhà thầu A đến
để thương thảo hợp đồng, làm rõ việc xin rút ông B khỏi danh sách nhân sự chỉ huy trưởng.Lúc này Bên mời thầu cần yêu cầu nhà thầu cung cấp hồ sơ chứng minh làm rõ ông NguyễnVăn B hiện không còn thuộc biên chế của nhà thầu như: đơn xin chấm dứt hợp đồng laođộng, chấm dứt nộp bảo hiểm xã hội (nếu có)…
+ Nếu việc làm rõ được xác định hợp lý thuộc trường hợp bất khả kháng thì cho phépnhà thầu A được bổ sung nhân sự khác thay thế nhưng phải đảm bảo nhân sự dự kiến thaythế có trình độ, kinh nghiệm và năng lực tương đương hoặc cao hơn với nhân sự đã đề xuất
và nhà thầu không được thay đổi giá dự thầu
+ Trường hợp không chứng minh được ông B không còn biên chế của nhà thầu thì bênmời thầu không chấp nhận việc nhà thầu A xin rút ông B khỏi danh sách nhân sự chủ chốt.Nếu nhà thầu A không đồng ý thì HSDT này bị loại vì việc thay thế nhân sự chỉ được chấpnhận trong trường hợp bất khả kháng
Cầu 20: Bên mời thầu A tổ chức đấu thầu rộng rãi gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn thiết kế kỹ thuật thuộc dự án xây dựng nhà máy Y Do thời gian đánh giá hồ sơ dự thầu kéo dài hơn một năm nên trong bước thương thảo hợp đồng, nhà thầu X ( là nhà thầu xếp hạng thứ nhất, được mời vào thương thảo hợp đồng) đề nghị thay đổi một số nhân sự chủ chốt với lý do nhân sự này hiện không còn công tác tại công ty.
Hỏi: Trong trường hợp này, Bên mời thầu phải xem xét, giải quyết đề nghị thay đổinhân sự nêu trên của nhà thầu X như thế nào?
Trả lời
1 Căn cứ
- Điểm g, điều 12, Luật đấu thầu 2013
- Điểm c, khoản 3, điều 40 Nghị định 63/2014/NĐ-CP
2 Nhận xét
Trang 17Tại Điểm c, khoản 3, điều 40 Nghị định 63/2014/NĐ-CP về nội dung thương thảo hợpđồng đối với nhân sự gói thầu tư vấn hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế quy định.trường hợp do thời gian đánh giá hồ sơ dự thầu kéo dài hơn so với quy định hoặc vì lý dobất khả kháng mà các vị trí nhân sự chủ chốt do nhà thầu đã đề xuất không thể tham giathực hiện hợp đồng thì nhà thầu mời được thay đổi nhân sự khác…
Theo quy định trên thì việc thay đổi nhân sự chủ chốt là được phép nếu do thời gianđánh giá hồ sơ dự thầu kéo dài hơn so với quy định
Theo quy định tại Điểm g, điều 12, Luật đấu thầu 2013 thì thời gian đánh giá HSDTtheo quy định tối đa là 45 ngày + 20 ngày = 65 ngày Trường hợp tình huống thời gian đánhgiá hồ sơ dự thầu kéo dài hơn một năm nên đã quá thời gian quy định
+ Nếu việc làm rõ được xác định hợp lý thì cho phép nhà thầu X được thay thế nhân sựkhác nhưng phải đảm bảo nhân sự dự kiến thay thế có trình độ, kinh nghiệm và năng lựctương đương hoặc cao hơn với nhân sự đã đề xuất và nhà thầu không được thay đổi giá dựthầu
+ Trường hợp không chứng minh được nhân sự chủ chốt trong hồ sơ dự thầu hiệnkhông còn công tác tại công ty thì Bên mời thầu không chấp nhận việc nhà thầu X thay thếnhân sự chủ chốt Nếu nhà thầu A không đồng ý thì HSDT này bị loại
Câu 22: Công ty A trước kia làm nhà thầu phụ của nhà thầu thực hiện gói thầu thiết kế kỹ thuật tổng thể (FEED) của dự án đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện X.
Hỏi: Trường hợp công ty A liên danh với công ty B tham dự gói thầu hỗn hợp “Thiết
kế bản vẽ thi công, lập dự toán, mua sắm thiết bị, thi công xây lắp, chạy thử” dự án xâydựng nhà máy nhiệt điện X thì có vi phạm quy định về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầuhay không?
Trang 183 Kết luận
Trong trường hợp này, công ty A đã là nhà thầu phụ tham dự gói thầu thiết kế FEED(không phải là nhà thầu chính) thì công ty A liên danh với công ty B tham dự gói thầu hỗnhợp… thì không bị coi là vi phạm quy định nêu trên Tuy nhiên, công ty A phải đáp ứng cácquy định khác về bảo đảm cạnh tranh quy định tại điều 6 Luật đấu thầu và Điều 2 Nghị định63/2014/NĐ-CP
Cầu 23: Doanh nghiệp nhà nước X là chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà máy chế biến gỗ ván ép, trong đó có gói thầu X: mua sắm dây chuyền máy móc, thiết bị ép ván gỗ Theo kế hoạch lựa chọn nhà thầu được phê duyệt, gói thầu X được tổ chức lựa chọn theo hình thức đấu thầu rộng rãi quốc tế.
Sau khi thông báo mời thầu theo quy định, đến thời điểm đóng thầu chỉ có ba nhà thầunộp hồ sơ dự thầu và sau khi đánh giá, chủ đầu tư kết luận không có nhà thầu nào đáp ứngyêu cầu của hồ sơ mời thầu (cả ba nhà thầu đều được đánh giá không đáp ứng yêu cầu vềnăng lực, kinh nghiệm) Do đó, để bảo đảm tiến độ xây dựng nhà máy, chủ đầu tư đã quyếtđịnh áp dụng hình thức chỉ định thầu để chỉ định cho nhà thầu A (là một trong ba nhà thầu
đã tham gia dự thầu gói thầu trước đó) thực hiện gói thầu
Hỏi: Anh/chị hãy bình luận về cách xử lý nêu trên của chủ đầu tư
3 Kết luận
Chủ đầu tư quyết định áp dụng hình thức chỉ định thầu cho nhà thầu A vừa bị đánh giá
là không đạt về năng lực kinh nghệm khi tham gia đấu thầu rộng rãi là không phù hợp vớiquy định của pháp luật về đấu thầu
Trong trường hợp chỉ định thầu cần căn cứ theo quy định tại điểm b, khoản 3 Điều 55Nghị định 63/2014/NĐ-CP, chọn 1 nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm,
Câu 24: Theo kế hoạch lựa chọn nhà thầu được duyệt, gói thầu mua sắm xe ô tô chuyên dụng được áp dụng hình thức mua sắm trực tiếp (gói thầu A) Chủ đầu tư dự kiến áp dụng kết quả đấu thầu rộng rãi gói thầu mua sắm xe ô tô chuyên dụng trước
đó (gói thầu B) cho gói thầu A Nhà thầu Y là nhà thầu đã trúng thầu gói thầu B và đã hoàn thành xong hợp đồng của gói thầu B, đáp ứng về chất lượng, thời gian giao hàng
và các nội dung khác của hợp đồng, thời điểm hiện tại có đủ năng lực, kinh nghiệm và vẫn mong muốn được tham gia thực hiện gói thầu A Tuy nhiên, chủ đầu tư mời nhà
Trang 19thầu khác (nhà thầu Z) đến nhận hồ sơ yêu cầu của gói thầu A mà không phải là nhà thầu Y.
Anh/chị hãy bình luận về trường hợp nêu trên
Trả lời:
1 Căn cứ
Điều 24 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13
2 Nhận xét
Bản chất của hình thức mua sắm trực tiếp là mở rộng phạm vi cung cấp của hợp đồng
đã ký kết trước đó Sở dĩ việc áp dụng mua sắm trực tiếp với nhà thầu trúng thầu trước đó là
do chủ đầu tư đã kiểm chứng được năng lực, kinh nghiệm và khả năng thực hiện hợp đồngtương tự trước đó của nhà thầu này Việc tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thực hiệngói thầu tương tự mà trước đó đã lựa chọn được nhà thầu thông qua đấu thầu rộng rãi, hạnchế sẽ mất thời gian, trong nhiều trường hợp đơn giá trúng thầu lại cao hơn đơn giá của hợpđồng đã ký kết Vì vậy, việc áp dụng hình thức mua sắm trực tiếp sẽ giúp tiết kiệm thời gianlựa chọn nhà thầu đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cho gói thầu
Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 24 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, mộttrong những điều kiện để áp dụng hình thức mua sắm trực tiếp là nhà thầu đã trúng thầuthông qua đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế và đã ký hợp đồng thực hiện gói thầutrước đó
Vì vậy gói thầu A áp dụng hình thức mua sắm trực tiếp là phù hợp
Tại Khoản 3 Điều 24 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 Trường hợp nhà thầu thực hiệnhợp đồng trước đó không có khả năng tiếp tục thực hiện gói thầu mua sắm trực tiếp thì được
áp dụng mua sắm trực tiếp đối với nhà thầu khác nếu đáp ứng các yêu cầu về năng lực, kinhnghiệm, kỹ thuật và giá theo hồ sơ mời thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu trước đó
3 Kết luận
Trong trường hợp này Nhà thầu Y là nhà thầu đã trúng thầu gói thầu B và đã hoànthành xong hợp đồng của gói thầu B, đáp ứng về chất lượng, thời gian giao hàng và các nộidung khác của hợp đồng, thời điểm hiện tại có đủ năng lực, kinh nghiệm và vẫn mong muốnđược tham gia thực hiện gói thầu A vì vậy việc chủ đầu tư mời nhà thầu khác (nhà thầu Z)đến nhận hồ sơ yêu cầu của gói thầu A mà không phải là nhà thầu Y là không phù hợp theoquy định của pháp luật về đấu thầu
Câu 25: Trong thỏa thuận liên danh giũa công ty A và công ty B, việc các thành viên đã thống nhất tên gọi của liên danh là “Liên danh A-B” và các thành viên đúng đầu liên danh là công ty A đại diện liên danh ký đơn dự thầu.
Tuy nhiên, trong đơn dự thầu lại chỉ thể hiện tên nhà thầu tham dự thầu là “Nhà thầuA” Tổ chuyên gia kết luận đơn dự thầu không hợp lệ do không ghi đúng tên nhà thầu (Liêndanh A-B) và nhà thầu bị loại
Hỏi: Việc đánh giá như trên của tổ chuyên gia có phù hợp với quy định của pháp luậtđấu thầu hay không?
Trang 20thành viên liên danh thay mặt liên danh ký tên, đóng dấu (nếu có) hoặc thành viên đứng đầuliên danh thay mặt liên danh ký đơn dự thầu theo phân công trách nhiệm trong văn bản thỏathuận liên danh.
Trong trường hợp trong đề bài tổ chuyên gia cần xem xét 2 trường hợp:
- Trường hợp 1: Nếu các thông tin trong biên bản mở thầu đã thống nhất ghi thông tin
là nhà thầu liên danh A-B thì đơn dự thầu của nhà thầu này sẽ bị đánh giá không hợp lệ
- Trương hợp 2: Nếu các thông tin trong biên bản mở thầu thống nhất ghi thông tin lànhà thầu A chứ không phải là nhà thầu liên danh A-B thì đơn dự thầu của nhà thầu này đượcđánh giá là hợp lệ Lúc đó tổ chuyên gia sẽ chỉ đánh giá đối với phần công việc mà nhà thầu
A đảm nhận, không đánh giá phần công việc của nhà thầu B và kể cả trong trường hợp nàynhà thầu A cũng sẽ bị loại vì sẽ không đáp ứng được đầy đủ công việc của gói thầu
3 Kết luận
Trong trường hợp 1 nêu trên Tổ chuyên gia kết luận đơn dự thầu không hợp lệ dokhông ghi đúng tên nhà thầu (Liên danh A-B) và nhà thầu bị loại là phù hợp với quy địnhcủa pháp luật đấu thầu
Còn đối với trường hợp 2 Tổ chuyên gia kết luận đơn dự thầu không hợp lệ do khôngghi đúng tên nhà thầu (Liên danh A-B) và nhà thầu bị loại là không phù hợp với quy địnhcủa pháp luật đấu thầu
Câu 26: Trong hồ sơ mời thầu gói thầu xây lắp Y tổ chức lựa chọn nhà thầu năm
2017, tại mục yêu cầu về năng lực, kinh nghiệp có quy định:
“Từ năm 2014 đến nay, nhà thầu phải đã hoàn thành tối thiểu 03 hợp đồng thi xây dựng công trình có tính chất và quy mô tương tự gói thầu này với tư cách là nhà thầu chính, nhà thầu phụ hoặc thành viên của liên danh; mỗi hợp đồng có giá trị tối thiểu 8 tỷ đồng”.
Công ty A và công ty B cùng tham dự gói thầu này Công ty B đã từng là công ty con của công ty Z (Công ty B thành lập ngày 06/01/2010) Tháng 01/2016, công ty A rút hoàn toàn vốn ra khỏi công ty B (từ đó Công ty B không còn là công ty con của công ty A và hoàn toàn độc lập với công ty A).
Năm 2014, khi tham dự thầu gói thầu xây lắp công trình X, nhà thầu A đề xuất trong hồ sơ dự thầu: Công ty B đảm nhận thực hiện 90% giá trị hợp đồng, Công ty A đảm nhiệm thực hiện 10% giá trị hợp đồng Sau khi trúng thầu, nhà thầu đã thực hiện theo đúng đề xuất trong hồ sơ dự thầu; giá trị hợp đồng là 10 tỷ đồng Công trình X đã được nghiệm thu bảo đảm tiến độ, chất lượng (công trình này có tính chất tương tự công trình Y)
Khi tham dự thầu gói thầu Y, trong hồ sơ dự thầu của công ty A và công ty B đều
kê khai mình đã thực hiện công trình X và đáp ứng về quy mô của hợp đồng tương tự.
Hỏi: Trong trường hợp này, kinh nghiệm thực hiện hợp đồng tương tự của nhà thầu A
và nhà thầu B được xác định như thế nào?