1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

xác định cha mẹ con theo pháp luật HN&GĐ hiện hành

69 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 405,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định khá đầy đủ về vấn đề xác địnhcha, mẹ, con trong các trường hợp cụ thể như: Xác định cha, mẹ, con trườnghợp sinh con thông thường; xác định cha, mẹ, con tr

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quan hệ cha, mẹ, con là quan hệ thiêng liêng trong cuộc đời của mỗicon người Mỗi cá nhân được sinh ra, nuôi dưỡng và lớn lên đều luôn hướng

về nguồn cội, đó là bản năng tự nhiên của con người Do đó, vấn đề xác địnhcha, mẹ, con luôn được mỗi cá nhân, gia đình và xã hội quan tâm Thông quaviệc xác định cha, mẹ, con sẽ chỉ ra ai là chủ thể mang quyền và nghĩa vụtrong quan hệ cha, mẹ, con, ai sẽ là người có trách nhiệm nuôi dạy đứa trẻ.Mặc khác, việc xác định con chung không chỉ liên quan đến mối quan hệ giữahai thế hệ mà còn liên quan đến các mối quan hệ với các thành viên kháctrong gia đình Vì vậy, xác định quan hệ cha, mẹ, con còn là cơ sở để thựchiện các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khác trong gia đình Đồng thời,xác định cha, mẹ, con là căn cứ pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyềngiải quyết các tranh chấp phát sinh

Ngày này, cùng với sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đời sốngxác hội nhiều thay đổi, quan hệ xã hội cũng trở nên phức tạp hơn Trong đó,phát sinh những vấn đề như nam nữ sống chung trước hôn nhân, vấn đề mangthai hộ không vì mục đích nhân đạo,…Điều này dẫn đến trường hợp trẻ emđược sinh ra khi bố mẹ chưa đăng ký kết hôn, trẻ không biết cha, mẹ đẻ là aihoặc chính cha, mẹ đẻ từ chối, không công nhận con của mình Khi không xácđịnh được ai là cha, mẹ của đứa trẻ thì lợi ích hợp pháp của đứa trẻ cũngkhông được đảm bảo Bên cạnh đó, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển vàpháp luật trong nước cũng ngày càng mở rộng theo hướng học tập kinhnghiệm của các nước trên thế giới dẫn đến việc xác định cha, mẹ, con cónhiều thay đổi so với truyền thống trước đây Do đó, Nhằm đảm bảo quyền lợicho trẻ em và đảm bảo các giá trị đạo đức gia đình, Luật HN&GĐ năm 2014

đã dành chương V để quy định cụ thể về quan hệ giữa cha mẹ và con, trong

đó có vấn đề xác định cha, mẹ, con

Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định khá đầy đủ về vấn đề xác địnhcha, mẹ, con trong các trường hợp cụ thể như: Xác định cha, mẹ, con trườnghợp sinh con thông thường; xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh conbằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản,…Những quy định của pháp luật đã tương đối rõràng, tuy nhiên việc áp dụng để giải quyết những vấn đề trên thực tế thì còn

Trang 2

nhiều khó khăn, vướng mắc cần được xem xét và khắc phục Bên cạnh đó, sự

ra đời của Luật Hộ tịch năm 2014, BLDS năm 2015, BLTTDS năm 2015 cùngcác văn bản hướng dẫn đã tác động nhiều đến việc xác định cha, mẹ, con

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề và nhằm tìm hiểu quan hệcha, mẹ, con được xác định trên cơ sở nào; trình tự, thủ tục pháp lý để xácđịnh cha, mẹ, con và thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến việc xácđịnh cha, mẹ, con có những hạn chế, bất cập nào Từ đó, đưa ra những giảipháp nhằm thực thi có hiệu quả quy định của pháp luật về xác định cha, mẹ,

mẹ Vì vậy, Em đã chọn đề tài “Xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của

mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu về vấn đề xác định cha, mẹ, con là một vấn đề không mớinhưng được các nhà nghiên cứu rất quan tâm bởi vì đây là một vấn đề liênquan trực tiếp đến nhân thân của con người Ở hầu hết các quốc gia trên thếgiới, đều có những công trình nghiên cứu khoa cấp trường hoặc cấp nhà nướcliên quan đến vấn đề này Điều này nhằm đáp ứng được yêu cầu nghiên cứuvấn đề xác định cha, mẹ, con một các toàn diện để áp dụng vào thực tế mộtcách chính xác

Ở Việt Nam, có rất nhiều công trình nghiên cứu, những bài viết liênquan đến vấn đề xác định cha, mẹ, có Có thể kể đến các công trình tiêu biểu

như bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Văn Cừ: “Một số suy nghĩ về nguyên tắc xác định cha, mẹ, con (trong giá thú) theo pháp luật Việt Nam” (Tạp chí Luật học

số 1/2002); Bài viết của TS Nguyễn Phương Lan: “Quyền làm mẹ của người phụ nữ theo quy định của pháp luật Việt Nam” (Tạp chí Luật học – Đặc san phụ nữ); Luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Thu Phương: “Xác định cha, mẹ, con theo pháp luật Việt Nam” (năm 2015); Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hạnh Hoa: “Xác định cha, mẹ, con và thực tiễn giải quyết tại Tòa án”; Luận văn Thạc sĩ của tác giả Vũ Ngọc Huy: “Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật Việt Nam” Những bài viết và những công trình nghiên cứu được nêu trên đã đề

cập nhiều đến vấn đề xác định cha, mẹ, con cũng như thực tiễn về áp dụng

Trang 3

pháp luật liên quan đến vấn đề này Tuy nhiên, những công trình nghiên cứutrên chưa cập nhật được những quy định mới liên quan đến vấn đề xác địnhcha, mẹ, con Do đó, trong bài nghiên cứu này, em sẽ đi sâu vào tìm hiểu cácquy định của pháp luật hiện hành về xác định cha, mẹ, con; tìm hiểu thực tiễn

áp dụng pháp luật để chỉ ra một số vấn đề còn khó khăn, vướng mắc; đưa ranhững giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xác định cha,

mẹ, con

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ những quy định của pháp luật liênquan đến vấn đề xác định cha, mẹ, con Làm rõ thực tiễn giải quyết vấn đềxác định cha, mẹ, con tại cơ quan có thẩm quyền Từ đó, tìm ra được nhữnggiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quy định của pháp luật về xác địnhcha, mẹ, con

Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài là tập trung tìm hiểu, phân tích, đánh giánhững quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề xác định cha, mẹ, con, đưa

ra thực trạng giải quyết các tranh chấp nhằm làm rõ việc áp dụng những quyđịnh của pháp luật liên quan đến việc xác định cha, mẹ, con Từ đó, đánh giáđược tính phù hợp và những điểm còn hạn chế trong quy định của pháp luật,những khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp trên thực tế và đưa ra một sốkiến nghị hoàn thiện pháp luật, một số giải pháp nhằm giải quyết những khókhăn, vướng mắc

4 Đối tượng và phạm vi của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật vềxác định cha, mẹ, con quy định tại Mục 2 Chương V Luật HN&GĐ năm2014; những vụ án tranh chấp trên thực tiễn liên quan đến vấn đề xác địnhcha, mẹ, con

Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu hai căn cứ xác địnhcha, mẹ, con là căn cứ dựa trên quan hệ huyết thống và căn cứ dựa trên quyđịnh của pháp luật Nghiên cứu về quyền yêu cầu xác định cha, mẹ con; thẩmquyền và trình tự, thủ tục xác định cha, mẹ, con trong những quy định củapháp luật HN&GĐ hiện hành

Trang 4

Phạm vi nghiên cứu về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu việc ápdụng quy định của pháp luật trong giải quyết yêu cầu xác định cha, mẹ, contrên phạm vi cả nước.

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2018

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở sử dụng phương pháp luận củaChủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lênin, quan điểm của Đảng và Nhànước ta về cải cách tư pháp

Đề tài cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu được sử dụngthường xuyên trong nghiên cứu khoa học pháp lý như: Phương pháp phân tích

để phân tích những quy định của pháp luật về xác định cha, mẹ, con; phươngpháp so sánh để tiến hành so sánh các quy định của pháp luật hiện hành vớiquy định trong các văn bản pháp luật trước Ngoài ra, đề tài còn sử dụngphương pháp nghiên cứu tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp quynạp để làm rõ và giải quyết các vấn đề đề đặt ra

6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Đề tài cung cấp những cơ sở lý luận về vấn đề xác định cha, mẹ, con,làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề xác địnhcha, mẹ, con Đưa ra những tranh chấp cụ thể trong thực tiễn để chỉ ra nhữngđiểm hợp lý trong quy định của pháp luật, những khó khăn, vướng mắc còntồn tại trong việc áp dụng pháp luật Từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằmhoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề xác định cha, mẹ, con

Ngoài ra, đề tài là cơ sở khoa học nhằm bổ sung cho những thiếu sót,hạn chế của các bài nghiên cứu trước đó, là một nền tảng lý luận cho việcnghiên cứu vấn đề xác định cha, mẹ, con sau này Đồng thời, đề tài cùng vớinhững bài nghiên cứu trước sẽ tạo ra một hệ thống kiến thức rõ ràng, chuyênsâu, hoàn chỉnh về vấn đề này

Trang 5

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,nội dung của đề tài được kết cấu thành ba chương với các nội dung cơ bảngồm:

Chương 1: Những vấn đề chung về xác định cha, mẹ, con

Chương 2: Xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật Hônnhân và gia đình hiện hành

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị, giải pháp nhằm thựcthi hiệu quả các quy định về xác định cha, mẹ, con

Trang 6

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ,

CON 1.1 Khái niệm, ý nghĩa của xác định cha, mẹ, con

1.1.1 Khái niệm cha, mẹ, con

Gia đình là tế bào của xã hội, tại đó tồn tại mối quan hệ ruột thịt và sựgắn bó các chủ thể một cách thường xuyên, lâu dài và ổn định Trong đó, mốiquan hệ giữa cha, mẹ, con với nhau được xem là nền tảng để xác định các mốiquan hệ khác trong gia đình Trong suốt chiều dài phát triển lịch sử, việc xácđịnh cha, mẹ, con đều dựa trên sự kiện sinh đẻ cho đến khi khoa học kỹ thuậtphát triển làm xuất hiện các phương thức hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha,

mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ trở nên khó khăn hơn do có sựtham gia của người thứ ba (người cho trứng, cho tinh trùng, cho phôi) Từ đó,vấn đề xác định cha, mẹ, con được đặt ra nhằm làm rõ lai lịch, nguồn gốc củamột con người Để tìm hiểu mối quan hệ cha, mẹ, con cũng như việc xác địnhcha, mẹ, con thì trước hết ta phải tìm hiểu về khái niệm cha, mẹ và con là gì?

Khái niệm cha, mẹ, con là những khái niệm luôn tồn tại cùng với nhau

vì bản chất của quan hệ giữa cha, mẹ, con là quan hệ hai chiều Khi nghiêncứu về khái niệm cha, mẹ, con thì tác giả Nguyễn Thị Lan (Trường đại họcLuật Hà Nội) nhìn nhận khái niệm cha, mẹ, con dưới hai góc độ là góc độsinh học – xã hội và góc độ pháp lý Về góc độ sinh học – xã hội thì mỗingười sinh ra đều dựa trên một quá trình người mẹ thụ thai, mang thai và sinhcon - sự kiện sinh đẻ thông thường Con khi sinh ra sẽ có quan hệ huyết thốngvới cha và mẹ, mang những đặc tính về di truyền và cấu trúc gen Tuy nhiên,trong trường hợp sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản thì con sinh ra

có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống với cha, mẹ nhưng đứa conđược sinh ra vẫn được công nhận là con đẻ của người mẹ và người cha cóquan hệ hôn nhân hợp pháp với người mẹ của đứa trẻ Do đó, dưới góc độ

sinh học – xã hội tác giả cho rằng khái niệm cha, mẹ, con như sau: “Cha, mẹ

đẻ, trong quan hệ với con là người trực tiếp sinh ra con, có thể có hoặc không

có quan hệ huyết thống với người con; Con đẻ, trong quan hệ với cha mẹ, là

Trang 7

người được cha mẹ trực tiếp sinh ra, có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống với cha, mẹ”

Dưới góc độ pháp lý, quan hệ cha, mẹ, con được xác định khi có sựchứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua việc cha, mẹhoàn tất các thủ tục pháp lý về khai sinh cho con Khi quan hệ cha, mẹ, conphát sinh thì cha, mẹ có những quyền và nghĩa vụ nhất định đối với con củamình được quy định trong các văn bản pháp luật Về cơ bản, người cha, người

mẹ về mặt sinh học sẽ trùng với người cha, người mẹ về mặt pháp lý vì việccông nhận của nhà nước cũng xuất phát từ sự kiện sinh đẻ Do đó, dưới góc

độ pháp lý tác giả Nguyễn Thị Lan cũng đưa ra khái niệm: “Cha, mẹ đẻ trong mối quan hệ với con, là người trực tiếp sinh ra người con, có quyền và nghĩa

vụ với con theo quy định của pháp luật Con đẻ, trong quan hệ với cha mẹ, là người được cha mẹ sinh ra, có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật”.

Mặc dù cả hai khái niệm trên của tác giả Nguyễn Thị Lan đưa ra về cơbản đã định nghĩa rõ ràng thế nào là cha, mẹ, con Tuy nhiên, khái niệm dựatrên quy định Luật HN&GĐ năm 2000 nên không còn phù hợp với quy địnhcủa Luật HN&GĐ hiện nay Vì khi đứa trẻ được sinh ra do cặp vợ chồng nhờmang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì người trực tiếp sinh ra đứa trẻ (ngườiđược nhờ mang thai hộ) không phải là cha, mẹ của đứa trẻ, mà cha mẹ củađứa trẻ là cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ Do đó, tổng hợp cả hai khái niệmtrên ta có thể đưa ra được một khái niệm tổng thể về cha, mẹ, con như sau:

“Cha, mẹ trong mối quan hệ với con, là người trực tiếp hoặc không trực tiếp sinh ra đứa trẻ, có quan hệ huyết thống với đứa trẻ đó hoặc được pháp luật công nhận; Con trong mối quan hệ với cha mẹ, là người được cha mẹ trực tiếp hoặc không trực tiếp sinh ra, có quan hệ huyết thống với cha, mẹ hoặc được pháp luật thừa nhận”.

Ngoài ra, dưới góc độ pháp lý, khái niệm con còn được nghiên cứu với

tư cách là con chung, con riêng, con trong giá thú và con ngoài giá thú để làm

căn cứ cho việc xác định cha, mẹ, con Theo đó, “Con trong giá thú” được

hiểu là con của những người là vợ chồng hợp pháp [23, tr 7] Tức là, đứa conđược sinh ra trong thời kỳ vợ chồng có quan hệ hôn nhân hợp pháp được đăng

Trang 8

ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc con được sinh ra trong mối quan

hệ sống chung như vợ chồng (có giá trị pháp lý) hoặc con được sinh ra trongmối quan hệ của cha mẹ được thừa nhận bằng một bản án, quyết định có hiệu

lực pháp luật của Tòa án Ngược lại, “Con ngoài giá thú” là con được sinh ra

mà giữa cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp “Con chung” là con mà vợ chồng được xác định là cha, mẹ của người con đó “Con riêng” là con của

một bên vợ hoặc chồng trong mối quan hệ với người chồng hoặc vợ của họ

1.1.2 Khái niệm của việc xác định cha, mẹ, con

Trước khi tìm hiểu về khái niệm “xác định cha, mẹ, con” thì ta phải hiểu về nghĩa của cụm từ “xác định” Theo Từ điển Tiếng Việt, “xác định” được hiểu là “qua nghiên cứu, tìm tòi, biết rõ ràng, chính xác” [23, tr 9] Từ

đó, theo cách hiểu thông thường xác định cha, mẹ, con là việc nghiên cứu, tìmtòi để làm rõ nguồn gốc xuất thân của một người với tư cách là con, trong mốiquan hệ với cha, mẹ hoặc một người với tư cách là cha hoặc mẹ trong mốiquan hệ với con, một cách rõ ràng, chính xác Ngoài ra, khi nghiên cứu vềkhái niệm xác định cha, mẹ, con ta cũng có thể nhìn nhận dước góc độ sinhhọc – xã hội và góc độ pháp lý Dưới góc độ sinh học - xã hội, xác định cha,

mẹ, con là việc nghiên cứu, tìm kiếm, nhận diện mối quan hệ huyết thốnggiữa hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ [20, tr 20] Dưới góc

độ này việc xác định cha, mẹ, con dựa trên quan hệ huyết thống giữa cha, mẹ

và con mà không phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân của cha, mẹ là quan hệ hônnhân hợp pháp hay không hợp pháp

Dưới góc độ pháp lý, xác định cha, mẹ, con được nghiên cứu: với tư

cách là một sự kiện pháp lý: “Xác định cha, mẹ, con là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con về mặt huyết thống” [20, tr.

23] Sự kiện pháp lý được cấu thành bao gồm sự biến pháp lý và hành vi pháp

lý Sự biến pháp lý là những sự kiện xảy ra trong thực tế không phụ thuộc vào

ý chí của con người nhưng pháp luật quy định làm phát sinh hậu quả pháp lý

Ví dụ: Thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh, sinh tử,…Còn hành vi pháp lý là sựkiện pháp lí xảy ra do ý chí của chủ thể quan hệ pháp luật Trong việc xácđịnh cha, mẹ, con, sự biến pháp lý là hành vi sinh con của người phụ nữ, hành

Trang 9

khi nằm ngoài sự kiểm soát của người phụ nữ Còn hành vi pháp lý là hành viđăng ký khai sinh hoặc một quyết định hay một bản án có hiệu lực của cơquan nhà nước có thẩm quyền công nhận hoặc xác định cha, mẹ, con.

Với tư cách là một quan hệ pháp luật: “Xác định cha, mẹ, con là các quan hệ xác hội phát sinh trong quá trình tìm kiếm, nhận diện tư cách cha,

mẹ, con về mặt huyết thống của các chủ thể được quy phạm pháp luật điều chỉnh” [20, tr 26] Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi

các quy phạm pháp luật, trong đó các bên tham gia có các quyền, nghĩa vụpháp lý cụ thể Quan hệ pháp luật xác định cha, mẹ, con được điều chỉnh bởicác quy phạm pháp luật HN&GĐ, khi phát sinh các bên có các quyền vànghĩa vụ pháp lý cụ thể Mặt khác, đặc điểm của quan hệ pháp luật xác địnhcha, mẹ, con là quyền nhân thân gắn với một chủ thể nhất định và không thểchuyển giao cho chủ thể khác

Khái niệm xác định cha, mẹ, con cũng được nghiên cứu với tư cách làmột chế định pháp luật Có thể hiểu, chế định pháp luật là tổng thể các quyphạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội gần gũi, có cùng tính chất

trong phạm vi mỗi ngành luật và do nhà nước ban hành Do đó, “Xác định cha, mẹ, con là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, căn cứ và thủ tục pháp lý nhằm nhận diện một người cha, một người mẹ, một người con có mối quan hệ huyết thống trực hệ” [20, tr 39] Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xác

định cha, mẹ, con quy định về quyền của các chủ thể và các nghĩa vụ tươngứng Bên cạnh đó, các chế định thường không có chế tài mà chủ yếu xuất phát

từ sự tự nguyện của các chủ thể nhằm đảm bảo lợi ích chung của các chủ thể

và của xã hội

1.1.3 Ý nghĩa của việc xác định cha, mẹ, con

Việc xác định cha, mẹ, con mang lại nhiều ý nghĩa khác nhau, trong đó

có ý nghĩa về mặt xã hội và ý nghĩa về mặt pháp lý

Về mặt xã hội

Trẻ em là những chủ nhân tương lai của đất nước Đối với trẻ, gia đình

là cầu nối của trẻ em với xã hội và môi trường bên ngoài Gia đình không chỉ

Trang 10

đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng, giáo dục và hình thành nhâncách của một đứa trẻ mà còn góp phần lớn tạo ra những thành công khi trẻtrưởng thành Hơn ai hết thì cha, mẹ là người yêu thương và chăm sóc trẻ em

vô điều kiện Sự chăm sóc của cha, mẹ giúp những đứa trẻ trưởng thành, pháttriển và trở thành người có ích cho xã hội Nếu trẻ em không có sự giáo dụccủa cha mẹ thì chúng sẽ dễ sa vào các tệ nạn xã hội, tâm lý lệch lạc và cónhững hành vi gây nguy hại đến cộng đồng Vì thế, việc xác định cha, mẹ,con tạo điều kiện cho trẻ được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trong gia đình

và nâng cao ý thức trách nhiệm của các thành viên trong gia đình

Mặc khác, với sự phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế, các vấn đề

xã hội như nam nữ sống chung với nhau trước khi kết hôn diễn ra thườngxuyên dẫn đến những tranh chấp về xác định cha, mẹ, con Khi những tranhchấp này kéo dài thì trật tự gia đình sẽ bị đảo lộn, gây sự bất ổn cho xã hội.Chính vì thế, việc xác định cha, mẹ, con sẽ giúp ổn định lại các mối quan hệtrong đời sống xã hội, duy trì các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình.Ngoài ra, xác định cha, mẹ, con nhằm xóa bỏ các quan niệm lạc hậu về trọngnam, khinh nữ, con trong giá thú và con ngoài giá thú, tạo nên sự bình đẳngcho sự phát triển của các thành viên trong gia đình

Một là, xác định cha, mẹ, con có liên quan đến các chế định khác trong

lĩnh vực dân sự như: Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do conchưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra; chếđịnh về cha, mẹ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lựchành vi dân sự; trong giao dịch dân sự, xác định cha, mẹ, con có ý nghĩa trong

Trang 11

việc yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên thựchiện.

Hai là, liên quan đến lĩnh vực tố tụng dân sự thì việc xác định cha, mẹ,

con có vai trò quan trọng trong việc xác định tư cách tố tụng của các chủ thể

Ví dụ: Trường hợp cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưathành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự trong các vụ ántranh chấp

Ba là, trong lĩnh vực hình sự thì việc xác định cha, mẹ, con là căn cứ để

Tòa án định tội danh, định khung và quyết định hình phạt Ví dụ: tội không tốgiác tội phạm, tội giết con mới đẻ Trong lĩnh vực tố tụng hình sự thì việc xácđịnh cha, mẹ, con là căn cứ để Tòa án giải quyết một số thủ tục như: Việc lấylời khai người bị hại, người làm chứng dưới 18 tuổi phải có người đại diệncủa họ tham dự; trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bảo lãnh,…

1.2 Các căn cứ xác định cha, mẹ, con

1.2.1 Xác định cha, mẹ, con dựa trên quan hệ huyết thống

Huyết thống là mối quan hệ thiêng liêng luôn được chú ý từ trước đếnnay và là cơ sở truyền thống để xác định mối quan hệ cha, mẹ, con Nếu nhưtrước đây, mối quan hệ huyết thống là cơ sở vững chắc để xác định cha, mẹ,con, thì tới ngày nay, căn cứ này không còn là cơ sở để xác định cha, mẹ, controng mọi trường hợp Tuy nhiên, mối quan hệ huyết thống giữa cha, mẹ vớicon vẫn được xem là căn cứ đầu tiên để xác định quan hệ cha, mẹ, con Mỗiđứa trẻ sinh ra đều có quan hệ huyết thống với cha ruột và mẹ ruột của chúng(trừ trường hợp sinh con bằng phương pháp khoa học) Mối quan hệ huyếtthống giữa người mẹ với con được thể hiện thông qua sự kiện người mẹ trựctiếp sinh ra đứa trẻ Còn mối quan hệ huyết thống của người cha với con đượcthể hiện thông quan sự kiện thành thai, tức là người có quan hệ tình dục vớingười mẹ dẫn đến việc người mẹ mang thai Do đó, để xác định người nào làcha, là mẹ của đứa trẻ thì phải căn cứ vào mối quan hệ huyết thống với đứatrẻ sinh ra

Việc xác định cha, mẹ, con dựa trên mối quan hệ huyết thống trải quatừng bước phát triển gắn với các kiểu gia đình Hình thức gia đình đầu tiên là

Trang 12

gia đình huyết tộc được hình thành trên cơ sở kết hôn của những người cùngthế hệ trong cùng một dòng họ Thời kỳ này, loài người quan hệ tính giao hỗntạp, do đó, không thể xác định chắc chắn ai là người cha của đứa trẻ mà chỉbiết được người mẹ Con cái được xác định theo huyết thống của người mẹ vàchế độ mẫu hệ ra đời.

“1 Loài người đầu tiên sống trong những quan hệ tính giao hỗn tạp

mà tác giả gọi bằng một từ khóa không thỏa đáng là chế độ hê-ta-ia; 2 Những quan hệ như thế làm cho không thể nào biết được chắc chắn ai là cha

đẻ, nên dòng máu chỉ tính theo nữ hệ, theo mẫu quyền – và ở tất cả các dân thời cổ đại lúc đầu, tình hình đều như thế; 3 Vì vậy, những người đàn bà, với

tư cách là những người mẹ, tức là những người chắc chắn duy nhất đã sinh

ra thế hệ trẻ, đã được tôn kính và kính trọng đến cao độ” [21, tr 31-32].

Gia đình Pu-na-lu-an được coi là bước tiến thứ hai trong tổ chức giađình Hình thức gia đình này được hình thành trên những hình thức kết hôntiến bộ hơn gia đình huyết tộc, đó là xóa bỏ hình thức kết hôn của nhữngngười cùng thế hệ Gia đình Pu-na-lu-an ngăn cấm quan hệ tính giao giữa anh

em trai và chị em gái Con cái vẫn được xác định theo quan hệ huyết thống vềđằng mẹ và đã thu hẹp được phạm vi để xác định người cha

Gia đình phối ngẫu là hình thức gia đình sau gia đình Pu-na-lu-an Cơ

sở hình thành của hình thức gia đình này là kết hôn theo từng cặp Do đó, cóthể xác định được đầy đủ mối quan hệ huyết thống giữa cha, mẹ và con Chế

độ mẫu hệ cũng dần dân lụi tàn, thay vào đó là chế độ phụ hệ được thiết lập.Người phụ nữ phải tuyệt đối tuân thủ theo những quy tắc, luật lệ, truyền thống

và phải tuyệt đối chung thủy với người chồng: “…Người phụ nữ phải triệt để chung tình trong thời gian chung sống với chồng, và tội ngoại tình của họ sẽ

bị trừng trị một cách tàn ác” [21, tr 81] Do đó, trong thời gian sống chung

với người chồng thì người phụ nữ mang thai và sinh con đích thực là con củangười chồng Vì vậy, hình thức gia đình phối ngẫu đã xác định được đầy đủmối quan hệ huyết thống giữa cha mẹ và con

Sự xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là nguyên nhân xuấthiện gia đình một vợ một chồng Mỗi gia đình là một đơn vị kinh tế độc lập,

Trang 13

không phụ thuộc vào kinh tế thị tộc, quan hệ giữa vợ chồng được gắn kết chặtchẽ hơn Ở đây, chế độ một vợ một chồng có tính chất khá đặc biệt là một vợmột chồng chỉ riêng đối với người đàn bà, chứ không phải đối với người đànông Người vợ có trách nhiệm là phải giữ trinh tiết và lòng trung thành vớingười chồng Đứa trẻ sinh ra đích thị là con của người chồng Do đó, chế độmột vợ một chồng có thể xác định chính xác mối quan hệ huyết thống giữacha mẹ và con

Theo đó, để xác định cha cho con hoặc xác định con cho cha thì cầnphải căn cứ vào thời điểm sinh con, thời gian người phụ nữ mang thai để xácđịnh tại thời điểm thụ thai hai bên nam nữ có quan hệ tình dục với nhau haykhông Còn để xác định mẹ cho con hoặc con cho mẹ thì cần phải căn cứ vào

sự kiện sinh đẻ, tức là, xem xét đứa con được xác định với đứa trẻ mà ngườiphụ nữ sinh ra có đồng nhất với nhau hay không Tuy nhiên, sự phát triển của

xã hội, các mối quan hệ nam nữ trở nên phức tạp và việc sinh con bằngphương pháp khoa học ngày càng phát triển đã làm cho việc xác định cha, mẹ,con gặp nhiều khó khăn hơn Chính vì thế, việc xác định cha, mẹ, con dựatrên quan hệ huyết thống lại càng được chú trọng và đảm bảo tính chính xáccao

1.2.2 Xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật

Pháp luật được ban hành điều chỉnh các mối quan hệ của xã hội trong

đó có vấn đề xác định cha, mẹ, con Khi mà việc xác định cha, mẹ, con dựatrên căn cứ huyết thống thường phức tạp (do có liên quan đến vấn đề di truyền

và cấu trúc gen) thì việc xác định cha, mẹ, con dựa trên các quy định của phápluật trở nên dễ dàng hơn khi chỉ căn cứ vào các quy định của pháp luật hiệnhành để xác định mối quan hệ giữa cha, mẹ với con hoặc giữa con với cha,

mẹ Từ đó có thể hiểu: “Xác định cha, mẹ, con dựa trên các căn cứ pháp lý là việc dựa vào những quy định của pháp luật nhằm làm căn cứ cho việc xác định các chủ thể trong mối quan hệ mẹ - con, cha – con” [23, tr 20].

Các quy định về xác định cha, mẹ, con được các nhà làm luật xây dựngcăn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng Bởi lẽ, khi thời kỳ hôn nhânbắt đầu thì hai bên nam, nữ phát sinh các nghĩa vụ như nghĩa vụ chung thủy,

Trang 14

yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau, tôn trọng lẫn nhau nhằm thực hiện tốtcác chức năng của gia đình, trong đó, có chức năng sinh sản Vì vậy, trongthời kỳ hôn nhân, đứa con được sinh ra thì nó đương nhiên được xác định làcon chung của cặp vợ chồng

Mặc khác, pháp luật đã đặt ra nhiều cơ chế để đảm bảo cho việc cácđịnh cha, mẹ, con được chính xác Pháp luật quy định về nguyên tắc hôn nhânmột vợ một chồng và quy định các chế tài xử lý về hành chính hoặc hình sựđối với trường hợp vi phạm Do đó, việc xác định cha, mẹ, con dựa trên căn

cứ pháp lý lại càng được củng cố và đảm bảo tính chính chính xác cao Tuynhiên, với sự phát triển của xã hội, các mối quan hệ trở nên phức tạp nên consinh ra trong thời kỳ hôn nhân có thể không phải là con chung của vợ chồng.Khi đó, việc xác định cha, mẹ, con dựa trên căn cứ pháp lý sẽ không cònchính xác mà phải dùng căn cứ về mặt huyết thống để xác định quan hệ cha,

1.3.1 Thời kỳ phong kiến

Từ thời xa xưa, pháp luật nước ta đã có những quy định cụ thể về lĩnhvực hôn nhân gia đình được ghi nhận trong các Bộ luật mà tiêu biểu trong số

đó là Bộ luật Hồng Đức (thời nhà Lê) và Bộ luật Gia Long (thời nhà Nguyễn).Theo đó, Bộ luật Hồng Đức điều chỉnh về các vấn đề như điều kiện kết hôn,các trường hợp cấm kết hôn (Điều 314, 317, 318, 319); Các trường hợp chấmdứt hôn nhân (Điều 310, 308, 333); Quan hệ giữa các thành viên trong giađình, giữa vợ chồng với nhau, giữa cha, mẹ với con (Điều 321, 308, 309, 401,405) Đây là những vấn đề cơ bản nhất trong quan hệ HN&GĐ Tương tự Bộluật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long cũng tập trung chú trọng quy định về các

Trang 15

vấn đề nêu trên Tuy nhiên, cả hai Bộ luật đều không quy định về vấn đề xácđịnh cha, mẹ, con mà vấn đề này được điều chỉnh theo phong tục tập quán.

Do sự ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo, mà thời kỳ này có những quyđịnh khắt khe đối với người phụ nữ Theo đó, trong gia đình người đàn ônglàm chủ và quyết định tất cả những vấn đề, người phụ nữ không có quyền đưa

ra ý kiến Người đàn ông có quyền cưới “năm thê, bảy thiếp” nhưng người

phụ nữ chỉ được lấy một chồng và phải tuyệt đối chung thủy với người chồngcủa mình Ngoài ra, thời kỳ phong kiến cũng có những quy định khắt khe đốivới việc ngoại tình Nếu phạm vào tội ngoại tình (một trong bảy tội lớn) thì sẽ

bị xã hội khinh rẻ, có thể bị cạo đầu bôi vôi và người chồng có thể bỏ vợ hoặc

“hành xử” vợ Người đàn ông nếu như thông gian với vợ người khác thì cóthể bị xử tội lưu đầy hoặc tội chết (Điều 401 Bộ luật Hồng Đức) Chínhnhững quy định khắt khe như thế, nên khi đứa trẻ được sinh ra thì người đànông luôn tin tưởng rằng đứa trẻ đó là con của mình Vì thế, các nhà làm luậtthời kỳ này không quy định về vấn đề xác định cha, mẹ, con và nó phù hợpvới hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ

Tuy nhiên, vấn đề xác định cha, mẹ, con lại được điều chỉnh bởi nhữngphong tục tập quán và truyền thống của địa phương Cụ thể, trong trường hợpngười chồng nghi ngờ vợ mình ngoại tình thì người chồng có thể không thừanhận đứa trẻ sinh ra là con của mình Theo phong tục tập quán thì ngườichồng phải có trách nhiệm chứng minh đứa trẻ không phải là con của mìnhtrước các chức sắc trong làng Để chứng minh thì người ta sẽ trích lấy hai giọtmáu của đứa trẻ và người chồng của mẹ đưa vào một bát nước lã, sau đókhuấy lên, nếu thấy hai giọt máu không hòa đồng về màu sắc, trước sự chứngkiến của các hương chức làng xã và gia đình, đứa trẻ đó được coi là con riêngcủa vợ có với người khác, người chồng không có trách nhiệm gì [17, tr 7-15].Việc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp cha, mẹ đã chết cũng được

đề cập đến: “Để xác định hài cốt của cha mẹ thất lạc ở nơi khác, con cái muốn nhận biết thì trích máu ở cơ thể mình nhỏ lên xương cốt; nếu là xương cốt của thân sinh thì máu ngầm vào trong xương, không phải thì máu không ngấm vào” [22, tr 285-286] Mặc dù, những phương pháp trên không được lý

giải dưới góc độ khoa học nhưng đối với xã hội phong kiến lúc bấy giờ thì

Trang 16

đây là phương pháp hiệu quả nhất nhằm hạn chế tình trạng con ngoài giá thú,giữ vững trật tự gia đình, đảm bảo tính huyết thống của dòng họ được duy trì.

Ngoài ra, trong xã hội phong kiến luôn có sự phân biệt rõ rệt giữa controng giá thú và con ngoài giá thú Đứa trẻ bị nghi ngờ là con ngoài giá thúthường không có cuộc sống tốt đẹp, thậm chí chúng được xem là nô lệ tronggia đình Pháp luật chỉ quy định hành vi tự nhận con của người cha còn ngườicon không thể nhận cha Vì thế, con sinh ra chỉ được coi là con trong giá thúkhi có sự thừa nhận của người cha Như vậy, pháp luật thời kỳ phong kiếnkhông quy định cụ thể vấn đề xác định cha, mẹ, con mà vấn đề này thuộc sựđiều chỉnh của các phong tục, tập quán Điều này phù hợp với tư tưởng củanho giáo là đề cao quyền gia trưởng của người đàn ông và sự bất bình đẳngvới người phụ nữ trong xã hội Đây được xem là một hạn chế của pháp luậtthời kỳ này

1.3.2 Thời kỳ Pháp thuộc

Ở thời kỳ này, do sự du nhập của nền văn hóa phương tây, cũng như sựxâm lược của các quốc gia như Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và đặc biệt làthực dân Pháp mà pháp luật về xác định cha, mẹ, con ở nước ta đạt được mộtbước phát triển mới Các quy định về xác định cha, mẹ, con lần đầu tiên đượcghi nhận vào trong các văn bản pháp luật Việc quy định này được giải thíchdưới góc độ khoa học không phải phụ thuộc vào các phong tục, tập quán ở địaphương như thời kỳ phong kiến

Quy định về vấn đề xác định cha, mẹ, con được thể hiện trong các vănbản pháp luật như Bộ Dân luật năm 1931 áp dụng tại Bắc Kỳ (Bộ Dân luậtBắc Kỳ), Bộ Dân luật 1936 áp dụng tại Trung kỳ (Bộ Hoàng Việt Trung kỳ)

và Bộ Dân luật giản yếu năm 1883 áp dụng tại Nam kỳ Pháp luật thời kỳ nàychỉ tập trung chủ yếu đến vấn đề xác định cha cho con mà không chú trọngđến vấn đề xác định mẹ cho con bởi lẽ quan hệ mẹ - con sẽ tất yếu xác lậpthông qua sự kiện sinh đẻ mà không cần phải quy định cụ thể

So với trước đây thì quy định về vấn đề con trong giá thú và con ngoàigiá thú của pháp luật thời kỳ này thể hiện sự hoàn thiện hơn Pháp luật đã có

sự phân biệt giữa “con hoang” và “con chính” Theo đó, “con chính” được

Trang 17

hiểu là con do có giá thú mà sinh ra “Con hoang” hay con ngoại tình là con không có giá thú chính thức mà sinh ra Việc xác định “con hoang” hay “con chính” phụ thuộc vào giá thú của người mẹ sinh ra đứa trẻ: “Phàm một đứa con nào do một người đàn bà có chính đáng hôn thú bất cứ vợ chính thức hay

vợ thứ, thụ thai trong thời kỳ vợ chồng đoàn tụ mà sinh con thời người chồng người đàn bà ấy tức là cha đứa con ấy Đứa con ấy gọi là đứa con chính” [2,

Điều 148]

Ngoài ra, khi xác định con chính thức còn dựa vào sự thụ thai của

người vợ Pháp luật thời kỳ này quy định: “Thụ thai trong thời kỳ giá thú, tức

là kể từ sau khi đã làm lễ cưới cách ngoại một trăm tám mươi ngày sinh con, hay là kể từ sau khi đã tiêu hôn mà trong khoảng 300 ngày sinh con” [1, Điều

151] Theo đó, chỉ những đứa trẻ sinh ra sau 180 ngày kể từ ngày bắt đầu hônnhân hoặc sinh ra không quá 300 ngày sau khi kết thúc hôn nhân thì đượcxem là con chính thức Quy định này căn cứ vào thời gian tối thiểu và thờigian tối đa mà người phụ nữ có thể mang thai và sinh con Nếu con sinh rakhông thuộc các trường hợp trên thì người cha có quyền không nhận con Con

chính thức khi được sinh ra sẽ có một “chứng thư khai sinh” để chứng minh

tư cách của mình là “con chính” Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định một

số trường hợp ngoại lệ như: nếu đứa trẻ sinh ra trước 180 ngày kể từ ngày hônthú bắt đầu nhưng được người chồng thừa nhận, đã chứng kiến việc khai sinh

và ký vào chứng thư khai sinh; hoặc người vợ có thai trước khi có hôn thú thì

nó đương nhiên là con chính của người chồng, người cha đó Họ không cóquyền chối cãi quan hệ cha – con này

Pháp luật thời kỳ này cũng quy định về thời hiệu khởi kiện không nhậncon của người chồng hoặc những người thừa kế của họ Theo đó, người chồng

có quyền khởi kiện không nhận con trong thời gian 02 tháng kể từ ngày người

vợ sinh con Nếu trong thời gian này, người chồng đi vắng thì thời hiệu nàyđược tính kể từ khi người chồng trở về Nếu giấu giếm về sự sinh đẻ đó thìthời hiệu được tính kể từ ngày phát hiện ra sự giấu giếm Để chứng minh đứatrẻ không phải là con chính thức thì người chồng có thể dùng cách tính ngàythụ thai hoặc người chồng có thể chứng minh trong khoảng thời gian đứa trẻđược thụ thai người chồng không hề gần gũi với vợ do đi làm ăn xa, bị tại nạn

Trang 18

hoặc nguyên nhân khác Trường hợp hết thời hạn nêu trên, người chồngkhông có quyền khởi kiện để xác định lại con của mình Quy định về thờihiệu khởi kiện không nhận con cũng là một điểm mới của pháp luật bởi lẽ nónhằm đảm bảo duy trì trật tự gia đình, tránh những tranh chấp phát sinh, tạo

sự an tâm đối với các thành viên trong gia đình về huyết thống của đứa trẻđược sinh ra

1.3.3 Giai đoạn 1945 – 1975

Giai đoạn 1945 – 1975 là thời kỳ gắn với sự ra đời của nhà nước vàcuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của các nước phương tây Trong thời kỳnày có thể chia làm hai giai đoạn gắn với hai cuộc chiến tranh là:

- Giai đoạn 1945 – 1954:

Đây là giai đoạn nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới đượcthành lập vẫn chưa xây dựng được pháp luật hôn nhân gia đình một cách cụthể Chủ trương của thời kỳ này là xóa bỏ những tư tưởng hôn nhân lạc hậucủa thời kỳ phong kiến còn tồn đọng, áp dụng những quy định của pháp luật

cũ chủ yếu là ba Bộ dân luật thời kỳ Pháp thuộc Tuy nhiên, việc áp dụng cácquy định của pháp luật không được trái với lợi ích của nhân dân, trái vớichính thể nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Chủ trương này được cụ thểhóa trong Sắc lệnh 47/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Ngoài ra, Hiếnpháp năm 1946 ra đời đã quy định về quyền bình đẳng nam nữ về mọi mặt,đây là cơ sở pháp lý để xóa bỏ chế độ HN&GĐ thời kỳ phong kiến, xây dựngchế độ HN&GĐ dân chủ, tiến bộ Như vậy, vấn đề về xác định cha, mẹ, convẫn được áp dụng theo ba Bộ dân luật thời Pháp thuộc

Ngày 22/5/1950, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hànhSắc lệnh số 97/SL nhằm sửa đổi một số quy định trong dân luật Sắc lệnh nàybao gồm 15 điều, trong đó, có 8 điều để điều chỉnh về vấn đề HN&GĐ Mộtlần nữa quan điểm về bình đẳng hôn nhân giữa vợ chồng được khẳng định:

“Chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình” [8, Điều 5] Đây là cơ sở

để xây dựng những quy định khác có liên quan, trong đó, có vấn đề xác địnhcha, mẹ, con Khác với thời kỳ phong kiến, người phụ nữ trong thời kỳ này có

quyền được phép tái giá khi người chồng chết: “Trong thời kỳ tang chế vẫn

Trang 19

có thể lấy vợ lấy chồng được Song người vợ goá chỉ có thể lấy chồng sau 10 tháng kể từ ngày chồng chết Nhưng trong thời hạn ấy, người vợ goá vẫn có thể tái giá nếu chứng rõ được rằng mình không có thai, hoặc là đã có thai với chồng trước để tránh sự lẫn lộn về con cái” [8, Điều 3] Quy định sau 10

tháng người phụ nữ mới được tái giá là căn cứ vào thời gian tối đa người phụ

nữ có thể thụ thai và sinh con Trong thời hạn này, người phụ nữ phải hạn chếtái giá nhằm tránh trường hợp tranh chấp trong việc xác định con của ngườichồng cũ với người chồng mới Đối với trường hợp người phụ nữ ly hôn, Sắc

lệnh đã quy định: “Người đàn bà ly dị có thể lấy chồng khác ngay sau khi có

án tuyên ly dị nếu chứng minh được rằng minh không có thai hoặc đang có thai” Những quy định này cũng là cơ sở để xây dựng những quy định về xác

định cha, mẹ, con sau này

- Giai đoạn 1954 – 1975:

Ở giai đoạn này, đất nước chia làm hai miền Nam – Bắc Miền Bắc tiếnlên xây dựng Chủ nghĩa xã hội còn miền Nam vẫn chịu sự xâm lược của đếquốc Mỹ dưới sự cai quản của chế độ Ngụy quyền Năm 1959, bản Hiến phápthứ hai của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ghi nhận nguyên tắc cơbản của Luật HN&GĐ như quyền bình đẳng nam nữ về mọi mặt, bảo vệquyền lợi của phụ nữ và trẻ em, Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, LuậtHN&GĐ năm 1959 được Quốc hội khóa I thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày22/12/1959 Trong đó, quan hệ cha, mẹ, con được quy định tại chương VI

Luật HN&GĐ năm 1959 một lần nữa khẳng định lại quyền bình đẳng

giữa con ngoài giá thú và con chính thức: “Con ngoài giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được Tòa án nhân dân cho nhận cha, mẹ, có quyền lợi và nghĩa vụ như con chính thức” [29, Điều 23] Việc nhận cha, mẹ, con ngoài giá thú

được tiến hành trước Ủy ban hành chính cơ sở trong trường hợp không cótranh chấp (Điều 21) hoặc kiện trước Tòa án trong trường hợp có tranh chấp(Điều 22) Tại Điều 21 cũng quy định các chủ thể có quyền khởi kiện xácđịnh cha, mẹ, con ngoài giá thú bao gồm: Người con ngoài giá thú đã thànhniên, người mẹ của người con ngoài giá thú, người thay mặt cho đứa trẻ ngoàigiá thú chưa thành niên Các quy định một lần nữa khẳng định lại sự bìnhđẳng trong quan hệ vợ chồng và bình đẳng giữa các đứa con Từ đó, tạo điều

Trang 20

kiện tốt nhất để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em Tuy nhiên, điểm hạnchế của Luật HN&GĐ năm 1959 là việc không quy định căn cứ để xác địnhcha, mẹ, con Do đó, khi giải quyết các tranh chấp về xác định cha, mẹ, conthường dựa vào ý chí chủ quan của Thẩm phán, không áp dụng một cáchthống nhất giữa các cấp Tòa án với nhau.

Ở miền Nam, việc xác định cha, mẹ, con trong thời kỳ này chủ yếuđược quy định trong các văn bản pháp luật như: Luật gia đình năm 1959 dướichế độ Ngô Đình Diệm (thiên thứ ba, gồm hai chương); Sắc lệnh số 15/64năm 1964 quy định về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng (Chương thứ bagồm hai tiết); Bộ Dân luật Sài Gòn năm 1972 của chính quyền Việt NamCông hòa (Thiên thứ sáu, gồm ba chương) Nhìn chung, những quy định vềxác định cha, mẹ, con trong những văn bản pháp luật này đều có nét tươngđồng so với các Bộ Dân luật thời kỳ Pháp thuộc

1.3.4 Giai đoạn 1975 đến nay

- Luật HN&GĐ năm 1986:

Sau thắng lợi mùa Xuân năm 1975, đất nước được thống nhất tiến hànhcông cuộc đi lên Chủ nghĩa xã hội Năm 1980, bản Hiến pháp thứ ba ra đờithay thế cho Hiến pháp năm 1959 Lúc này, Luật HN&GĐ năm 1959 khôngcòn phù hợp, bộc lộ những hạn chế Vì thế, Luật HN&GĐ năm 1986 ra đờiphù hợp với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ Trong đó, vấn đề xác định cha, mẹ,con được quy định tại chương V với sáu điều luật Đặc biệt là Luật HN&GĐnăm 1986 đã quy định về nguyên tắc suy đoán cha, mẹ, con tại Điều 28:

“Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ

đó là con chung của vợ chồng Trong trường hợp có yêu cầu xác định lại vấn

đề này thì phải có chứng cứ khác” Căn cứ suy đoán quan hệ cha, mẹ, con đối

với cha mẹ tồn tại quan hệ hôn nhân là thời kỳ hôn nhân Bên cạnh đó, LuậtHN&GĐ năm 1986 đã mở rộng quyền yêu cầu xác định quan hệ cha, mẹ, con.Theo đó, trường hợp con đã thành niên thì tự mình yêu cầu, kể cả trongtrường hợp cha mẹ đã chết Trường hợp con chưa thành niên thì người mẹ,người cha, người đỡ đầu có quyền yêu cầu thay hoặc Viện kiểm sát nhân dân,Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên Công sản Hồ Chí Minh,

Trang 21

Công đoàn Việt Nam có thể yêu cầu [30, Điều 31] Về hậu quả pháp lý của

việc xác định cha, mẹ, con thì Điều 32 quy định: “Con ngoài giá thú được cha, mẹ, nhận hoặc được Tòa án nhân dân cho cha, mẹ có mọi quyền và nghĩa vụ như con trong giá thú”.

- Luật HN&GĐ năm 2000:

Năm 1992, Hiến pháp mới ra đời, Luật HN&GĐ năm 2000 được Quốchội khóa X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 09/6/2000 có hiệu lực từ ngày01/01/2001 Luật bao gồm 13 chương, 110 điều, trong đó, vấn đề xác địnhcha, mẹ, con được quy định tại chương XII (từ Điều 63 đến Điều 66) LuậtHN&GĐ năm 2000 tiếp tục ghi nhận phương thức suy đoán pháp lý, xác địnhcon sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc người vợ có thai trong thời kỳ hônnhân là con chung của vợ chồng và quy định thêm trường hợp con sinh ratrước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của

vợ chồng Điểm nổi bật của Luật HN&GĐ năm 2000 là việc đổi tên chế định

“xác định cha, mẹ cho con” thành “xác định cha, mẹ, con” Việc thay đổi tên

chế định thể hiện một cách toàn diện và tổng thể mối quan hệ giữa cha, mẹ,con là mối quan hệ hai chiều Ngoài ra, Luật HN&GĐ năm 2000 lần đầu tiên

đề cập đến vấn đề xác định cha, mẹ, con trong trường hợp con sinh ra bằngphương pháp khoa học

- Luật HN&GĐ năm 2014:

Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 đã kế thừa cácquy định về việc xác định quan hệ cha, mẹ, con được ghi nhận tại chương V

từ Điều 88 đến Điều 102 Điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 so với LuậtHN&GĐ năm 2000 là quy định việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vàxác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

đã được quy định cụ thể trong Luật chứ không còn quy định trong các văn bảnhướng dẫn như Luật HN&GĐ năm 2000 Bên cạnh đó, Luật HN&GĐ năm

2014 đã bắt kịp thực tế cuộc sống khi chính thức ban hành quy định cho phépmang thai hộ vì mục đích nhân đạo với những quy định chặt chẽ về quyền vànghĩa vụ của người mang thai hộ cũng như người nhờ mang thai hộ đều đượcbảo vệ Từ đó, pháp luật đã mở ra nhiều cơ hội cho những cặp vợ chồng vô

Trang 22

sinh muốn có con và cũng là cơ chế pháp lý cần thiết để tránh việc mang thai

hộ biến tướng thành “đẻ thuê”

Như vậy, trong hệ thống pháp luật của nước ta từ năm 1975 đến nay,vấn đề xác định cha, mẹ, con luôn được quan tâm đáng kể Những quy địnhcủa pháp luật luôn có sự đổi mới, phát triển phù hợp với xu thế phát triểnchung của xã hội nhằm đảm bảo giải quyết tốt mối quan hệ trong việc xácđịnh cha, mẹ, con

Kết luận chương 1

Qua quá trình nghiên cứu chương 1, khóa luận đã đưa ra một số kháiniệm cơ bản liên quan đến vấn đề xác định cha, mẹ, con Trong đó, các khái

niệm được đưa ra như: “cha đẻ”, “mẹ đẻ”, “con đẻ”, “con trong giá thú”,

“con ngoài giá thú”, “con chung”, “con riêng” Những khái niệm này là nền

tảng quan trọng trong việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc xác địnhcha, mẹ, con Ngoài ra, khóa luận còn làm rõ những căn cứ là cơ sở lý luậncho việc xác định cha, mẹ, con và quá trình phát triển của hệ thống pháp luậtcủa nước ta về vấn đề xác định cha, mẹ, con Từ đó, có sự so sánh, đối chiếugiữa các trình phát triển trong lịch sử, làm cơ sở để nghiên cứu vấn đề xácđịnh cha, mẹ, con trong các chương sau

Trang 23

Chương 2: XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON THEO PHÁP LUẬT HÔN

NHÂN GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH 2.1 Xác định cha, mẹ, con dựa trên quan hệ huyết thống

Xác định cha, mẹ, con theo quan hệ huyết thống là căn cứ quan trọngnhất để xác định quan hệ cha, mẹ, con vì nó đảm bảo tính chính xác cao Căn

cứ xác định cha, mẹ, con dựa trên quan hệ huyết thống được áp dụng tronghai trường hợp là: trường hợp giữa cha, mẹ không có quan hệ hôn nhân hợppháp và trường hợp giữa cha, mẹ có hôn nhân hợp pháp nhưng cha, mẹ lạikhông nhận đứa trẻ được xác định là con của mình

Theo đó, hôn nhân là “Quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” (khoản 1 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014), còn “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” (khoản 13 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014) Thời

kỳ hôn nhân được bắt đầu kể từ ngày đăng ký kết hôn và kết thúc tại thờiđiểm quan hệ hôn nhân chấm dứt Theo thủ tục đăng ký kết hôn thì ngày đăng

ký kết hôn sẽ được tính từ ngày hai bên nam nữ ký vào giấy chứng nhận kếthôn và được cán bộ tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký kết hôn, UBND cấpgiấy chứng nhận kết hôn Quan hệ giữa hai bên nam nữ đã được đăng ký kếthôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền được gọi là quan hệ hôn nhân hợppháp Ngược lại, trong trường hợp hai bên nam nữ không tiến hành đăng kýkết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được xem là không có hônnhân hợp pháp

Việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp giữa cha, mẹ không cóhôn nhân hợp pháp không thể căn cứ vào nguyên tắc suy đoán pháp lý vì giữacha, mẹ không tồn tại hôn nhân hợp pháp mà phải căn cứ vào quan hệ huyếtthống Xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp giữa cha, mẹ không

có hôn nhân hợp pháp thường là xác định quan hệ giữa cha và đứa trẻ chứkhông phải quan hệ giữa người mẹ và đứa trẻ vì quan hệ mẹ - con đã đượcxác định thông qua sự kiện sinh đẻ Trên thực tế, một số trường hợp cần xácđịnh con ngoài giá thú bao gồm:

+ Một là, người phụ nữ không có chồng mà sinh ra theo cách tự nhiên;

Trang 24

+ Hai là, người mẹ đã có thai với người đàn ông khác và sinh con trongthời kỳ hôn nhân Sau đó, Tòa án xác định người chồng không phải là charuột của đứa trẻ đó;

+ Ba là, con của cha mẹ chung sống với nhau như vợ chồng nhưngkhông được pháp luật thừa nhận do không đăng ký kết hôn;

+ Bốn là, con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của cha mẹ bị Tòa ánhủy kết hôn trái pháp luật;

+ Năm là, người mẹ bị hiếp dâm, cưỡng dâm sau đó sinh con;

Đối với việc xác định con ngoài giá thú thì pháp luật quy định các bênphải có có yêu cầu xác định cha, mẹ, con và phải được Tòa án xác định Cácbên đương sự phải đưa ra các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là

có cơ sở Luật HN&GĐ năm 2014 không quy định chứng cứ cụ thể để xácđịnh cha, mẹ, con trong trường hợp giữa cha, mẹ không có hôn nhân hợppháp Tuy nhiên, khi xác định cha, mẹ, con ngoài giá thú có thể căn cứ vàothời điểm thụ thai, thời gian mang thai và thời điểm sinh con Đây là ba giaiđoạn của quá trình sinh đẻ và các giai đoạn này có mối liên hệ mật thiết vớinhau trong việc xác định cha, mẹ, con Khi xác định được thời điểm sinh conthì có thể xác định được thời điểm thụ thai vì thời gian từ khi người phụ nữthụ thai cho đến lúc sinh con khoảng 300 ngày Khi đã xác định được thờiđiểm thụ thai thì có thể xác định được trong khoảng thời gian trước khi thụthai người phụ nữ có quan hệ tình dục với ai Từ đó, có thể xác định đượcngười cha của đứa trẻ Ngoài ra, có thể căn cứ vào mối quan hệ thực tế củacác chủ thể như khoảng thời gian đó hai bên nam nữ có quan hệ tình cảm vớinhau hoặc có chung sống với nhau

Bên cạnh đó, trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh cácđương sự cần chú ý đến việc yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khoa họckhác như: Giám định y học, giám đinh gen,…để tăng độ chính xác trong việcgiải quyết yêu cầu xác định cha, mẹ, con Tuy nhiên, biện pháp này chưa thực

sự phổ biến do chi phí giám định cao, các đương sự khó khăn trong việc ápdụng biện pháp này để chứng minh Do đó, khi giải quyết yêu cầu xác địnhcha, mẹ, con ngoài giá thú thì Tòa án phải kết hợp xem xét, đánh giá đầy đủ

Trang 25

các chứng cứ để giải quyết một cách đúng đắn, tránh áp đặt ý chí nhằm đảmbảo quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự, đặc biệt là lợi ích của trẻem.

Tương tự đối với việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp giữa cha,

mẹ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp thì trong trường hợp giữa cha, mẹ

có quan hệ hợp pháp không thừa nhận đứa con của mình sinh ra thì việc xácđịnh quan hệ cha, mẹ, con cũng phải căn cứ vào quan hệ huyết thống của cha,

mẹ với đứa trẻ được sinh ra Khi tiến hành xác định cha, mẹ, con dựa trên căn

cứ huyết thống thì phải được giải quyết theo thủ tục tư pháp tại Tòa án Khoản

2 Điều 101 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “2 Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.

Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”.

Theo đó, Tòa án giải quyết yêu cầu xác định cha, mẹ, con trong trườnghợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chếthoặc trong trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người cóyêu cầu chết và người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xácđịnh cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết TAND cấp huyện, quận, thị xã(gọi chung là TAND cấp huyện) là Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranhchấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ theo quyđịnh tại Điều 28 và Điều 35 BLTTDS năm 2015 Người có quyền yêu cầu xácđịnh cha, mẹ, con nộp đơn yêu cầu đến TAND cấp huyện thì Tòa án sẽ tiếnhành thụ lý và xét xử theo một thủ tục tố tụng Khi tiến hành nộp đơn yêu cầuxác định cha, mẹ, con người có quyền yêu cầu phải chuẩn bị các tài liệu,chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình nộp cho Tòa án Chứng cứ đểchứng minh có thể là thư từ, giấy tờ do người bị kiện viết trong đó có thừanhận quan hệ cha, mẹ, con; trong thời gian có thể thụ thai đứa trẻ, hai bên

Trang 26

nam nữ có chung sống với nhau như vợ chồng;… Tòa án sẽ căn cứ vào nhữngchứng cứ mà người khởi kiện nộp để giải quyết yêu cầu của người khởi kiện.

Bên cạnh đó, người bị kiện cũng có thể giao nộp chứng cứ để chứngminh cho yêu cầu của người khởi kiện là không có căn cứ Ví dụ: Trường hợpngười vợ có yêu cầu xác định con cho người chồng thì người chồng có thểđưa ra chứng cứ chứng minh mình không phải là cha của đứa trẻ như: Trongthời gian có thể thụ thai đứa trẻ người chồng đi công tác, đi làm ăn xa, bị ốmđau, bệnh tật mà không có khả năng quan hệ vợ chồng hoặc người chồng bị

vô sinh Chứng cứ mà các bên đương sự cung cấp được Tòa án xem xét mộtcách tổng thể, khách quan nhằm giải quyết tranh chấp một cách đúng đắn

- Thành phần hồ sơ khởi kiện bao gồm:

+ Đơn khởi kiện yêu cầu xác định cha, mẹ, con

+ Chứng minh nhân dân của người khởi kiện và người bị kiện (bản saochứng có chứng thực)

+ Sổ hộ khẩu xác định nơi cư trú của bị đơn hoặc văn bản xác nhận nơi

cư trú của bị đơn (bản sao chứng thực)

+ Giấy khai sinh của người con cần xác định (bản sao chứng thực)+ Các tài liệu, chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con (bản sao

có chứng)

- Về hình thức nộp đơn khởi kiện: Người khởi kiện gửi đơn khởi kiệnkèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến TAND có thẩm quyền thôngqua hình thức:

+ Nộp trực tiếp tại Tòa án;

+ Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;

+ Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử củaTòa án (nếu có)

- Trình tự giải quyết vụ án:

Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy

vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo

Trang 27

ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng

án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí Trong thời hạn 07ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng ánphí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên laithu tiền tạm ứng án phí Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp choTòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí So với BLTTDS năm 2004 sửa đổi,

bổ sung năm 2011 thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí là 15 ngày, thì BLTTDSnăm 2015 thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí rút ngắn xuống còn 07 ngày Quyđịnh này nhằm giúp người khởi kiện chủ động hơn trong việc nộp tiền tạmứng án phí và rút ngắn thời gian giải quyết vụ án

Theo quy định tại Điều 203 BLTTDS năm 2015 thì thời hạn chuẩn bịxét xử đối với vụ án tranh chấp xác định cha, mẹ, con là 04 tháng, kể từ ngàythụ lý vụ án Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khảkháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thờihạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng Kết thúc thời hạn chuẩn bịxét xử, Thẩm phán ra một trong các quyết định: Công nhận sự thỏa thuận củacác đương sự; tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; đình chỉ giải quyết vụ ándân sự; đưa vụ án ra xét xử Trong trường hợp Thẩm phán ra quyết định đưa

vụ án ra xét xử thì trong thời hạn 01 tháng Tòa án phải mở phiên tòa, trườnghợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng

Liên quan đến trình tự xác định cha, mẹ, con tại Tòa án trong trườnghợp người có yêu cầu xác định cha, mẹ, con chết thì người thân thích củangười này có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con cho người có yêu cầu đãchết (Điều 92 Luật HN&GĐ năm 2014) Tuy nhiên, việc giải quyết thủ tục tốtục tố tụng dân sự lại gặp khó khăn Theo BLTTDS thì một trong những căn

cứ để Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án là “Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế” (điểm a, khoản

1 điều 217 BLTTDS năm 2015) Về mặt lý luận, quyền xác định cha, mẹ, con

là quyền nhân thân gắn liền với chủ thể mà không thể chuyển giao cho ngườikhác, tức là quyền này không được thừa kế Do đó, khi người có yêu cầu chếtthì Tòa án phải tiến hành đình chỉ vụ án Sau đó, những người thân thích củangười này sẽ khởi kiện việc xác định cha, mẹ, con cho người đã chết theo một

Trang 28

vụ án mới Tuy nhiên một số quan điểm khác cho rằng mục đích của nhà làmluật trong việc thiết kế Điều 92 Luật HN&GĐ năm 2014 là nhằm giản tiện vàtiết kiệm chi phí cũng như thời gian cho đương sự và Tòa án Do đó, đây phảicoi là một trường hợp ngoại lệ để cho người thân thích của người đã từng cóyêu cầu nhưng bị chết được tiếp tục tham gia tố tụng trong vụ án đó mà khôngnên đình chỉ sau đó lại yêu cầu khởi kiện thành một vụ án mới.

Kết thúc quá trình tố tụng, quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ,con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định củapháp luật về hộ tịch, gửi cho các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con và

cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụngdân sự

2.2 Xác định cha, mẹ, con dựa trên quy định của pháp luật

2.2.1 Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp cha, mẹ có hôn nhân hợp pháp

Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp cha, mẹ có hôn nhân hợp phápđược quy định trong Luật HN&GĐ năm 2014 và các văn bản hướng dẫn.Theo đó, tại Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định như sau:

“1 Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2 Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ

và phải được Tòa án xác định”.

Theo đó, nguyên tắc suy đoán pháp lý được áp dụng trong trường hợpcha, mẹ có hôn nhân hợp pháp Căn cứ để suy đoán quan hệ cha, mẹ, controng thời kỳ hôn nhân bao gồm: Thời kỳ hôn nhân; trên cơ sở thụ thai và sựkiện sinh đẻ của người mẹ; sự thừa nhận của cha, mẹ và con

Trang 29

Thời kỳ hôn nhân là căn cứ đầu tiên và quan trọng nhất để xác địnhcha, mẹ, con theo quy định của pháp luật bởi lẽ thời kỳ hôn nhân được phátsinh dựa trên sự công nhận của nhà nước Như đã phân tích tại mục 2.1 thìthời kỳ hôn nhân bắt đầu kể từ ngày đăng ký kết hôn và kết thúc tại thời điểmquan hệ hôn nhân chấm dứt Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp ngàyđăng ký kết hôn đều là ngày bắt đầu thời kỳ hôn nhân Đối với trường hợpnam nữ sống chung với nhau như vợ chồng theo quy định tại Nghị quyết35/2000/QH10 và Thông tư 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP nhưsau:

- Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn Sau khi quan hệ vợ chồng đã được xáclập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫnđược công nhận kể từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng chứkhông phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn

- Trong trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kếthôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng.Sau đó họ đăng ký kết hôn trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2001 đến01/01/2003 thì quan hệ của họ vẫn được công nhận là đã xác lập kể từ ngày

họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng, chứ không phải kể từ ngàyđăng ký kết hôn Như vậy, có hai khả năng xảy ra:

+ Nếu nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng đăng ký kết hôntrước ngày 01/01/2003 thì đó là hôn nhân hợp pháp, con của họ là con sinh ratrong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng

+ Nếu nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kếthôn thì mối quan hệ của họ không được pháp luật công nhận nhưng con của

họ sinh ra trước ngày 01/01/2003 thì vẫn là con trong giá thú còn con của họsinh ra sau ngày 01/01/2003 thì là con ngoài giá thú

Thời kỳ hôn nhân chấm dứt khi một trong hai bên vợ chồng chết hoặcngày quyết định tuyên bố chết của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc ngày bản

án hay quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật Trong

Trang 30

thời kỳ hôn nhân, các bên có nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫnnhau nhằm thực hiện tốt các chức năng của gia đình, trong đó, có chức năngsinh sản Hơn thế nữa, trong thời kỳ hôn nhân cặp vợ chồng sẽ phát sinh quan

hệ nam nữ với nhau và đứa trẻ sinh ra thường có mang huyết thống của cặp

vợ chồng Do đó, pháp luật suy đoán đứa trẻ sinh ra hoặc được người vợmang thai từ khi bắt đầu thời kỳ hôn nhân đến trước khi chấm dứt thời kỳ hônnhân thì được xác định là con chung của vợ chồng

Căn cứ dựa trên cơ sở thụ thai và sự kiện sinh đẻ

Căn cứ thứ hai để xác định cha, mẹ, con là dựa trên cơ sở sự thụ thai và

sự kiện sinh đẻ của người mẹ đứa trẻ Thụ thai và sinh đẻ là 2 quá trình nốitiếp nhau và kết quả của quá trình này là những đứa trẻ được sinh ra Luật

HN&GĐ năm 2014 cũng quy định: “Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân” Thời hạn 300 ngày trong quy định trên được căn cứ

dựa trên thời gian tối đa mà người phụ nữ có thể mang thai và sinh con trongtrường hợp sinh con tự nhiên Khi đứa trẻ được sinh ra tại thời điểm quan hệhôn nhân đã chấm dứt nhưng vẫn trong khoảng 300 ngày thì đứa trẻ đó đượcxác định đã thụ thai trong thời kỳ hôn nhân và là con do người vợ và ngườichồng quan hệ trong thời kỳ hôn nhân tạo ra So với Luật HN&GĐ năm 2000,thì Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định cụ thể thời hạn 300 ngày tại Điều 88

mà không phải quy định trong thông tư hướng dẫn Điều này sẽ giúp các cơquan có thẩm quyền dễ dàng áp dụng, nâng trách nhiệm bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của những người liên quan, đặc biệt là quyền và lợi ích của phụ

nữ và trẻ em

Căn cứ vào sự thừa nhận của cha, mẹ

Người mẹ là người trực tiếp sinh ra đứa con thông qua sự kiện sinh đẻcòn người cha góp phần tạo ra đứa con thông qua sự kiện thụ thai Do đó, căn

cứ trên sự thừa nhận của cha, mẹ là một căn cứ mang lại hiệu quả cao trongviệc xác định cha, mẹ, con do nó xuất phát từ sự tự nguyện của cha, mẹ trongviệc nhận con của mình Căn cứ này được áp dụng trong trường hợp con đượcsinh ra trước ngày đăng ký kết hôn Luật HN&GĐ năm 2014 quy định như

Trang 31

sau: “Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng” Theo đó, để áp dụng được căn cứ này thì đứa con

phải sinh ra trước ngày cha, mẹ đăng ký kết hôn và cả cha và mẹ đều thừanhận đứa con đó là con chung của vợ chồng Việc thừa nhận đứa trẻ là conchung của vợ chồng thường xuất phát từ sự tự nguyện của hai bên, còn phápluật không can thiệp vào vấn đề này nhằm đảm bảo ổn định trật từ gia đình vàtạo điều kiện cho trẻ em phát triển Sự thừa nhận của vợ chồng thường đượcthể hiện thông qua hành động cả hai cùng đi đăng ký giấy khai sinh cho con;người cha lấy họ của mình để làm họ cho con; cha, mẹ lấy họ tên của mình đểghi vào phần cha đẻ, mẹ đẻ trong giấy khai sinh; cha, mẹ giới thiệu đứa trẻ làcon mình trước dòng họ, hàng xóm

Từ những căn cứ nêu trên có thể xác định những trường hợp được suyđoán pháp lý là con chung của vợ chồng theo Điều 88 Luật HN&GĐ năm

2014 bao gồm: Con được sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha, mẹthừa nhận; con do người vợ thụ thai trước ngày đăng ký kết hôn và sinh ratrong thời kỳ hôn nhân; con do người vợ thụ thai và sinh ra trong thời kỳ hônnhân; con do người vợ thụ thai trong thời kỳ hôn nhân và sinh ra sau khi hônnhân chấm dứt trong thời hạn 300 ngày; con do người vợ thụ thai trước ngàyđăng ký kết hôn và sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt trong thời hạn 300ngày Nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con được đặt ra nhằm

ổn định mối quan hệ cha, mẹ, con cũng như mối quan hệ giữa các thành viênkhác trong gia đình Do vậy, mỗi khi ngươi vợ mang thai hoặc sinh con thuộctrong các trường hợp nêu trên thì người vợ không cần phải chứng minh chồngmình là cha của đứa trẻ mà pháp luật mặc nhiên thừa nhận đứa trẻ đó là conchung của vợ chồng

2.2.2 Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật

hỗ trợ sinh sản

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại thì việc sinhcon bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ngày càng trở nên phổ biến Trước đây, khipháp luật chưa cho phép các cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độcthân sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản thì đã vô tình tước đi quyềnlàm cha, làm mẹ của họ Đây là một tổn thất tinh thần to lớn đối với họ Khi

Trang 32

Luật HN&GĐ năm 2000 ra đời thì đã đề cập vấn đề sinh con bằng phươngpháp khoa học và việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằngphương pháp khoa học trong các văn bản hướng dẫn Tuy nhiên, đến LuậtHN&GĐ năm 2014 thì việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh conbằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã được quy định của thể tại Điều 93 Đây làmột điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 so với Luật HN&GĐ năm 2000.

Về khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì khoản 21 Điều

3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm” Trong đó, thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh

trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi [11, Điều 2] Việc sinh con bằng kỹthuật hỗ trợ sinh sản chỉ áp dụng đối với đối tượng là cặp vợ chồng vô sinh

hoặc người phụ nữ độc thân Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 10/2015 thì “Vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai” Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 10/2015/NĐ-CP

cũng quy định cặp vợ chồng vô sinh phải tiến hành khám tại các cơ sở y tế vàđược bác sĩ chuyên khoa chỉ định áp dụng biện pháp sinh con bằng kỹ thuật

hỗ trợ sinh sản thì mới được áp dụng

Về căn cứ xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹthuật hỗ trợ sinh sản thì Điều 94 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định:

“1 Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này.

2 Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.

3 Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra…”.

Đối chiếu với quy định tại Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn

Trang 33

nhân là con chung của vợ chồng Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày

kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng” Như vậy, đối với cặp vợ chồng vô

sinh tiến hành sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì quan hệ cha, mẹ, conxác định dựa trên căn cứ thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng vô sinh, nhưngkhông hoàn toàn giống với sinh con tự nhiên

Thứ nhất, căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng vô sinh Thời

kỳ hôn nhân không những là căn cứ để xác định cha, mẹ, con mà còn là điềukiện bắt buộc để cặp vợ chồng vô sinh áp dụng biện pháp kỹ thuật hỗ trợ sinhsản Trong thời kỳ hôn nhân, con được sinh ra hoặc được thụ thai thì xác định

là con chung của vợ chồng Thời kỳ hôn nhân là dấu hiệu pháp lý không thểthiếu trong việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đặc biệt là khi có sựtham gia của người thứ ba (người cho tinh trùng, cho trứng, cho phôi) Do đó,trường hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng đăng ký kết hôn và được vợchồng thừa nhận là con chung sẽ không được áp dụng đối với trường hợp consinh ra bằng hỗ trợ kỹ thuật sinh sản

Thứ hai, căn cứ vào sự kiện sinh đẻ của người vợ trong cặp vợ chồng

vô sinh Trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người vợvẫn trực tiếp mang thai và sinh con Quá trình thụ thai được bắt đầu sau khicặp vợ chồng đã đăng ký kết hôn và con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày

kể từ ngày chấm dứt hôn nhân vẫn được xác định là con chung của cặp vợchồng vô sinh Từ quy định này đã phát sinh vướng mắc, đó là, trong trườnghợp đang tiến hành kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (quá trình thụ thai và sinh con cóthể kéo dài hơn 300 ngày) mà người chồng chết, đứa trẻ sinh ra đã quá 300ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt thì đứa trẻ có được xác định là con chungcủa vợ, chồng không Nếu theo quy định tại Điều 88 Luật HN&GĐ năm

2014, thì đứa trẻ trong trường hợp này không phải con chung của vợ, chồng.Trong trường hợp đứa trẻ mang huyết thống của người cha nhưng không đượcxác định là con chung của cặp vợ chồng vô sinh thì sẽ ảnh hưởng đến quyềnlợi của đứa trẻ đặc biệt là vấn đề thừa kế

Trang 34

Thứ ba, căn cứ vào sự tự nguyện của cặp vợ chồng vô sinh Khác với

sự tự nguyện nhận con trong trường hợp sinh con tự nhiên thì sự tự nguyệncủa cặp vợ chồng vô sinh phải được thể hiện ngay từ khi bắt đầu áp dụng kỹthuật hỗ trợ sinh sản Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chỉ áp dụngkhi cặp vợ chồng tự nguyện và sự tự nguyện này nhằm ràng buộc trách nhiệmcủa cặp vợ chồng vô sinh với đứa con được sinh ra Như vậy, người vợ trongcặp vợ chồng vô sinh được xác định là mẹ của đứa trẻ kể cả người mẹ nhậnnoãn hay nhận phôi, còn người chồng hợp pháp của người vợ được xác định

là cha của đứa trẻ kể cả người đó có cho tinh trùng hay không

Ngoài ra, việc dẫn chiếu cả Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014 để xácđịnh cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là

không phù hợp Bởi lẽ, nếu áp dụng khoản 2 Điều 88: “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định” thì xảy ra những tranh chấp không đáng có như trong trường hợp người

cha không thừa nhận đứa con mà người mẹ sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinhsản và có yêu cầu xác định lại Vì vậy, cần phải quy định rõ sau khi đứa trẻđược sinh ra nếu người cha, mẹ không muốn thừa nhận con thì cũng khôngđược yêu cầu xác định lại vì họ là người yêu cầu thực hiện việc sinh con bằngbiện pháp hỗ trợ sinh sản nên quan hệ cha, mẹ và con là tất yếu, không thểphủ nhận Điều này khác với trường hợp sinh con tự nhiên vì người chồng cóquyền yêu cầu xác định lại quan hệ cha con khi không tin tưởng đứa con làcon ruột của mình Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt nếu cặp vợchồng, người phụ nữ độc thân nghi ngờ cơ sở y tế và có thể có sự nhầm lẫntrong quá trình thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì có thể cho phép họ đượcquyền yêu cầu xem xét lại

Một vấn đề được đặt ra là nếu trong quá trình cặp vợ chồng vô sinhđang thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng chết và tinh trùng củangười chồng đang được lưu giữ thì có nên hủy tinh trùng của họ không? Một

số quan điểm cho rằng, không thể hủy tinh trùng của người đó nếu không có

sự đồng ý của người vợ vì trước đó cả hai vợ chồng đã thể hiện sự tự nguyệnmong muốn thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Nếu saukhi người chồng chết mà người vợ vẫn muốn tiếp tục thực hiện việc sinh còn

Ngày đăng: 02/11/2019, 09:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w