1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phát triển giáo dục và đào tạo, KHCN, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

22 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 197,5 KB
File đính kèm Phát triển giáo dục và đào tạo.rar (39 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm xây dựng một đất nước XHCN phát triển vững mạnh, độc lập và tự chủ, thì bên cạnh việc đầu tư phát triển kinh tế, quốc phòng an ninh thì tập trung đầu tư cho giáo dục, khoa học và xây dựng nền VH tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc cũng đc Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm.Thực tế chứng minh, vấn đề giáo dục ko phải là mới đc chú trọng ngày nay, cách đây hàng ngàn năm loài người đã chú trọng phát triển GD.

Trang 1

Bài 6:

PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, XÂY

DỰNG NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

Nhằm xây dựng một đất nước XHCN phát triển vững mạnh, độc lập và tự chủ, thìbên cạnh việc đầu tư phát triển kinh tế, quốc phòng an ninh thì tập trung đầu tư cho giáodục, khoa học và xây dựng nền VH tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc cũng đc Đảng và Nhànước ta đặc biệt quan tâm

I PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO.

1 Vị trí, vai trò của giáo dục và đào tạo

- Thực tế chứng minh, vấn đề giáo dục ko fai là mới đc chú trọng ngày nay, cách đâyhàng ngàn năm loài người đã chú trọng phát triển GD

+ trường ĐH đầu tiên trên thế giới: đại học cổ kính trên thế giới, hẳn chúng ta sẽ nghĩ ngay tới Cambridge hay Oxford ở Anh, Harvard ở Mỹ nhưng ít ai biết rằng trường đại học đầu tiên trên thế giới vẫn còn hoạt động cho đến ngày nay lại nằm ở nước Ý: Đại học Bologna Đại học Bologna được cho là thành lập vào năm 1088, nghĩa là đến nay-

2015, nó đã 927 năm tuổi (chỉ kém thủ đô Hà Nội của chúng ta khoảng 7 chục tuổi thôi), là trường đại học lớn thứ hai ở Ý

Trong bề dày lịch sử của trường, có rất nhiều người nổi tiếng đã từng theo học, trong

đó phải kể đến thi sĩ Dante

+ Sử sách có chép Văn Miếu được xây dựng vào tháng 10 – 1070 - đời vua Lý Thánh Tông, để thờ phụng Khổng Tử và các vị hiền triết của Nho giáo Đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám, kề sau Văn Miếu, ban đầu là nơi học của các hoàng tử, sau mở rộng thu nhận cả các học trò giỏi trong thiên hạ

=> như vậy từ thời xa xưa hàng ngàn năm trước… việc giáo dục tìm kiếm nhân tài

đã đc chú trọng! người xưa đã thấy đc ý nghiã to lớn của việc giáo dục lúc bấy giờ là bồi dưỡng nhân tài, phục vụ đất nước để người dân ấm no cho nên chúng ta mới có những người thấy muôn đời như Chu văn an, Lê Quý Đôn, Lương Thế Vinh

- Ngày nay, đặc điểm nổi bật của thế giới là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ KT tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển của LLSX Trong bối cảnh đó, giáo dục và đào tạo đã trở thành nhân tố quyết định đến sự phát triển KT-XH (KT tri thức là nền kinh

tế trong đó sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống) Muốn có một nền

Trang 2

tri thức phát triển thì phải có một nền giáo dục phát triển tương xứng với nó Vì vậy, hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các quốc gia phát triển và đang phát triển, đều coi giáo dục là nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia.

-> ý nghĩa to lớn của giáo dục!

- Đảng CSVN thành lập năm 1930 trên cơ sở hợp nhất các tổ chức cộng sản Sau 15 năm lãnh đạo quần chúng nhân dân, chúng ta đã giành thắng lợi trong cuộc CM thang 8/1945 Đến 2/9 Nhà nước VN non trẻ chính thức ra đời sau khi Bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập Sau đó, chúng ta phải đối mặt với tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" – giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm Để diệt giặc dốt, 6 hôm sau ngày quốc khánh – 8/9, Người ký sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ, cơ quan chỉ đạo chăm lo việc học cho nông dân, thợ thuyền và tất cả những người chưa biết chữ Ngay sau đó, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi chống nạn thất học Người nói: “ Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ.” Phong trào Bình dân học vụ phát triển rầm rộ, rộng khắp Các nhà hảo tâm ủng hộ tiền in sách Vần quốc ngữ, mua giấy, bút, mực Thiếu thốn thì viết bằng than, bằng gạch non, viết lên bảng gỗ tự tạo, lên tường vách, nền nhà Thiếu bút sắt thì vót cọng tre làm bút, tự tạo ra mực viết Học ở đình chùa, miếu mạo, ở nhà dân Sáng tạo ra nhiều cách để kiểm tra khích lệ, đặt ra ca dao hò vè để hô hào (O tròn như quả trứng gà, Ô thời đội mũ, Ơ thời thêm râu ), để ngợi ca người chăm học, chế giễu người chưa biết chữ Thiếu thày giáo thì thực hiện phương châm Cụ Hồ đã chỉ rõ: Người biết chữ dạy người chưa biết chữ, người biết nhiều dạy người biết ít Tổng kết một năm, từ 8 tháng 9 năm 1945 đến 8 tháng 9 năm 1946, đã có hai triệu rưởi người biết chữ.

> Ngay từ đầu giành được độc lập, Nhà nước non trẻ đã đặ biệt quan tâm đến giáo dục, mà trước hết là xóa nạn mù chữ Sau này, trong 9 năm trường

kỳ kháng chiến và giai đoạn chống đế quốc Mỹ thì P/trào Bình dân học vụ vẫn tiếp tục phát triển với khí thế mới

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đặt GD-ĐT ở vị trí cao Thực hiện nhiệm

vụ CNH đất nước, Đảng ta khẳng định: KH-KT giữ vai trò then chốt, GD-ĐT

là nền tảng VH dân tộc chiến lược phát triển GD-ĐT là một bộ phận quan trọng của chiến lược con người, mà chiến lược con người nằm ở vị trí trung

Trang 3

tâm của toàn bộ chiến lược KT-XH của đất nước Vì vậy, đầu tư cho GD và

ĐT ko phải là phúc lợi đơn thuần, mà là đầu tư cho phát triển, chỉ có đầu tư thỏa đáng cho GD thì đất nước mới phát triển bền vững được.

Trong Nghị quyết TW 2 khóa VIII, trong kỳ Đại hội X của Đảng luôn nhấn mạnh điểunày Trong Cương lĩnh 2011 khẳng định như sau: "Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nângcao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng pháttriển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người VN Phát triển GD& ĐT là quốcsách hàng đầu, đầu tư cho GD & ĐT là đầu tư cho phát triển ’’

* Thành tựu: báo cáo chính trị của ban chấp hành TW khóa X tại đại hội XI về kết

quả thực hiện nghị quyết ĐH X trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã khẳng định Đổi mới giáo dục đạt được một số kết quả bước đầu

- Chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục, đào tạo đạt trên 20% tổng chi ngân sách

+ Trong những năm gần đây, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có mức chi tiêu cho giáo dục vào loại cao trên thế giới năm 2000, chiếm 16,9% tổng chi ngân sách nhà nước 2011 , chiếm 20% tổng chi ngân sách nhà nước

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới năm 2006, tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục

từ phía người dân và các hộ gia đình ở Việt Nam (40%) cao hơn cả các nước đang phát triển như Mỹ, Pháp, Nhật Bản và các nước OECD*.(Tỷ lệ chi từ phía người dân và các nguồn khác ngoài ngân sách nhà nước cho giáo dục năm 2006 của Mỹ

là 26%, Pháp là 7%, Nhật là 26%, Hàn Quốc là 41% và các nước OECD là 20%.) + kết quả thực hiện dự án điều tra cấp Bộ “Nghiên cứu, điều tra thực trạng đầu tư giáo dục cho con cái trong các hộ gia đình ở Việt Nam” do Trung tâm

Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia thực hiện trong năm 2015-2016

đã tiến hành một cuộc điều tra trên 6 tỉnh/thành phố ở Việt Nam (gồm: Hà Nội, Phú Thọ, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Đồng Nai và TP Hồ Chí Minh) đối với các hộ gia đình đang có con cái theo học từ bậc giáo dục tiểu học đến hết đại học Với quy mô mẫu là 3.200 hộ gia đình có con cái trong độ tuổi nêu trên, kết quả điều tra cho thấy mức chi tiêu của các hộ gia đình Việt Nam cho giáo dục ở mức tương đối cao

* Mức chi giáo dục bình quân của hộ gia đình tính trên tổng mẫu điều tra là 2,53 triệu đồng/con/tháng

- theo địa lý: thành thị : 3,07 triệu đồng/con/tháng =2,7 lần = nông thôn 1,15 triệu đồng/con/tháng;

- theo nhóm hộ: nhóm hộ nghèo: 0,69 triệu đồng/con/tháng nhóm hộ giàu (4,85 triệu đồng/con/tháng).

Trang 4

- Trong 6 tỉnh/thành phố điều tra, TP Hồ Chí Minh có mức chi giáo dục bình quân cao nhất (3,4 triệu đồng/con/tháng); Phú Thọ có mức chi giáo dục bình quân thấp nhất (0,98 triệu đồng/con/tháng).

- So sánh mức đầu tư giáo dục của nhóm các hộ nghèo, nhận thấy Thanh Hóa có mức chi giáo dục bình quân thấp nhất (0,55 triệu đồng/con/tháng) và cao nhất là ở TP Hồ Chí Minh (0,88 triệu đồng/con/tháng)

- Tỷ lệ chi giáo dục đối với tổng thể mẫu là 34,7%, Thanh Hóa và Hà Tĩnh mặc dù là hai tỉnh gần nhau và cùng thuộc khu vực miền Trung - vùng được đánh giá là hiếu học (ở đây mọi người dân - đặc biệt là những người nghèo đều có ý thức đầu tư cho giáo dục để thoát nghèo), nhưng nhóm hộ nghèo của Thanh Hóa thì có mức chi giáo dục bình quân thấp nhất (14,1%), còn nhóm người nghèo của

Hà Tĩnh lại có mức chi giáo dục bình quân cao nhất (18,2%) trong 6 tỉnh nghiên cứu.

> Qua kết quả điều tra, có thể thấy, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng trong chi tiêu của hộ gia đình Việt Nam nói chung, thông qua mức độ quan tâm của hộ gia đình đối với giáo dục - đào tạo là rất cao Tuy nhiên, với tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục chiếm tới hơn 30% tổng chi tiêu của hộ gia đình thì đây cũng là một gánh nặng tương đối lớn đối với phần đông các hộ gia đình ở Việt Nam hiện nay Nhìn từ góc độ chính sách, Nhà nước cần nâng cao hơn nữa việc thực thi các chính sách giáo dục và đào tạo để san sẻ gánh nặng với các hộ gia đình, tạo điều kiện để việc tiếp cận dịch vụ giáo dục và đào tạo có thể đến được với mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.

- Việc huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục, đào tạo, phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm

Kon Tum là một trong 5 tỉnh Tây Nguyên với 25 dân tộc anh em cùng sinh sống Với một tỉnh miền núi còn nghèo như chúng ta thì việc tận dụng các nguồn XH hóa để tập trung cho giáo dục được chú trọng Tính đến 10/2010, mạng lưới trường tiểu học đã phủ kín tất cả các xã trong tỉnh Nếu năm học 2000-2001, toàn tỉnh chỉ có 76 trường thì đến năm 2010-2011 (10 năm sau) đã tăng lên 137 trường, trong đó có 44/ 137 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia Riêng trên địa bàn TP Kon tum, hiện có 76 trường, trong đó 25/76 trường (thuộc cấp mầm non, tiểu học, THCS) đã được UBND Tỉnh công nhận đạt chuẩn Phấn đấu trong năm học 2015-2016 thêm 5 trường nữa để đạt tỉ lệ 45% trường đạt chuẩn theo lộ trình đã đề ra

- Đến năm 2010 tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn giáo dục THCS

Trang 5

Thực hiện Nghị quyết số 41/2000/NQ-QH10 ngày 12/9/2000 của Quốc hội khoá X, Chỉ thị số 61-CT/TW ngày 28/12/2000 của Bộ Chính trị về việc thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở (THCS); trên cơ sở củng cố và phát huy kết quả chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cùng với các địa phương tập trung huy động các nguồn lực để triển khai công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở Đến tháng 6/2010,

đã có 63/63 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS Hàng năm, hầu hết học sinh hoàn thành chương trình tiểu học đều tiếp tục vào học trung học cơ sở, tỷ lệ thanh, thiếu niên trong độ tuổi 15-18 có bằng tốt nghiệp THCS đạt 87,2% Thành quả đạt được về phổ cập giáo dục THCS đã góp phần nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế- xã hội năm 2015 của tổng cục thống kế

Tính đến cuối năm 2015, cả nước có 37/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, trong đó 12 tỉnh, thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng, năm 2010 đạt 40% tổng số lao động đang làm việc.

- Qui mô giáo dục tiếp tục được phát triển

Mạng lưới cơ sở GD phát triển rộng khắp trong toàn quốc đã mở rộng cơ hội học tập cho mọi người, bước đầu xây dựng XH học tập đã xóa đc "xã trắng" về GD Mầm non; trường tiểu học có ở tất cả các xã, trường THCS đã có ở hầu hết các xã va liên xã; THPT

có ở tất cả các huyện; vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số thì có trường dân tộc nội trú; các cơ sở đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đăng đại học đc thành lập ở hầu hết các đại bàn đông dân cư kể cả các vùng còn khó khăn như Tây bắc, TN, Đồng bằng sông Cửu Long

412 trường ĐH, CĐ cho 90 triệu dân Việt Nam là nhiều hay là ít? So với Trung Quốc có hơn 4.000 trường ĐH, CĐ trên 1,3 tỉ dân, so với Singapore có khoảng 68 trường ĐH, CĐ trên 3 triệu dân (bao gồm cả các trường nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Singapore, các trường liên kết quốc tế, các viện nghiên cứu đào tạo cấp bằng cử nhân và sau ĐH); so với Hoa Kỳ có 4.495 trường ĐH,

CĐ trên 314 triệu dân thì số trường ĐH, CĐ mà Việt Nam đang có không phải là nhiều.

Tất nhiên mọi so sánh đều khập khiễng vì để nói là nhiều hay ít thì không thể chỉ dựa trên con số tuyệt đối mà còn phải dựa vào nhiều yếu tố khác như trình độ phát

Trang 6

triển kinh tế xã hội, GDP đầu người, mức độ quốc tế hóa của hệ thống giáo dục đại học Tuy vậy, những con số trên cho chúng ta một gợi ý là vấn đề không nằm

ở số lượng, mà chủ yếu là chất lượng Việt Nam hiện nay có duy nhất Đại học Quốc gia Hà Nội từng nằm trong top 1000 trường Đại học tốt nhất thế giới.

Tại thời điểm đầu năm học 2015 - 2016, số giáo viên mẫu giáo là 231 nghìn người; số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy 829 nghìn người, bao gồm: 365 nghìn giáo viên tiểu học; 313 nghìn giáo viên trung học cơ sở và 151 nghìn giáo viên trung học phổ thông Trong năm học này, cả nước có 3,9 triệu trẻ em đi học mẫu giáo; 7,7 triệu học sinh tiểu học; 5,1 triệu học sinh trung học cơ sở và 2,4 triệu học sinh trung học phổ thông.

- Tính đến thời điểm cuối năm nay, cả nước có 1467 cơ sở dạy nghề, bao gồm 190 trường cao đẳng nghề; 280 trường trung cấp nghề; 997 trung tâm dạy nghề và hơn 1 nghìn cơ sở có dạy nghề với tổng số giáo viên dạy nghề hơn 40,6 nghìn người.

*Sự thông minh, hiếu học của người Việt Nam chúng ta không hề thua kém anh em nàotrên thế giới Điểu này được chúng minh khi mà chúng ta đạt được nhiều huy chương trongcác kỳ thi quốc tế Mới đây, đoàn học sinh VN đã giành được 5 huy chương trong kỳ thi

Olimpic vật lý quốc tế 2016 (video)

=> Đánh giá thực trạng giáo dục và đào tạo sau hơn 20 năm đổi mới, Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: Sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta tiếp tục phát triển và được đầu

tư nhiều hơn Cơ sở vật chất được tăng cường, quy mô đào tạo mở rộng, nhất là ở bậc trunghọc chuyên nghiệp và dạy nghề Trình độ dân trí được nâng lên

* Hạn chế, khuyết điểm: Bên cạnh những kết quả đạt được, thì từ trước tới nay chưa

bao giờ vấn đề Gd lại sinh ra nhiều lo ngại Đánh giá khái quát: chất lượng giáo dục ở VN chưa đáp ứng được những đòi hỏi của sự phát triển đất nước, nhất là chất lượng đào tạo ĐH.

- Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn lực trình độ cao vẫn còn hạn chế;

Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế- xã hội năm 2015 của tổng cục thống kế :

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2015 là 2,31%, trong đó khu vực thành thị là 3,29%; khu vực nông thôn là 1,83% Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15 - 24 tuổi

là 6,85% Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên là 1,27% Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2015 là 1,82%

Trang 7

GS Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ GD& ĐT khi bàn về những “thất vọng và kỳ vọng” vào nền giáo dục Việt Nam GS Phạm Minh Hạc thẳng thắn chỉ ra rằng, sinh viên đang thiếu nhiều kỹ năng và sống thực dụng Theo điều tra của Bộ Giáo dục, năm 2011, cả nước có đến 63 % sinh viên thất nghiệp vì thiếu kỹ năng.

Trên thực tế, SV ra trường khi tham gia vào thị trường lao động thường bị “chê” thiếu kỹ năng mềm, ngoại ngữ, kinh nghiệm thực tế có đến 94% các nhân viên mới đều cần được doanh nghiệp đào tạo bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp Riêng đối tượng SV thì con số này lên đến gần 100% việc các doanh nghiệp đào tạo bổ sung cho SV là đương nhiên, bởi mỗi doanh nghiệp có những văn hóa, yêu cầu riêng, không thể yêu cầu SV ngay khi tốt nghiệp đã hội đủ kỹ năng đề ra Nhiều doanh nghiệp khác cũng “kêu” rằng, họ chỉ có thể đào tạo bổ sung kiến thức chuyên môn cho người lao động chứ rất khó để bồi dưỡng cả kỹ năng mềm Những kỹ năng này, bản thân SV phải tự học, tích lũy Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng tự bảo vệ mình T rong suốt 4 năm ở trường đại học, rất nhiều sinh viên quan niệm rằng chỉ cần vào lớp nghe giảng, học những gì được dạy trên giảng đường là đủ rồi Hầu hết thời gian còn lại các bạn dành cho các trò giải trí vô bổ như nhậu nhẹt, game online Các bạn không biết rằng, trong môi trường công việc đầy cạnh tranh và năng động, trang bị tốt cho mình các kỹ năng Giao tiếp, Đàm phán, Thuyết trình, Quản lý thời gian,… mới thực sự là yếu tố quyết định giúp bạn khác biệt và làm việc hiệu quả.

- chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng giữa dạy chữ

tạo thì hiu hắt chờ người học, có ngành thì TS đổ xô vào học theo phong trào.

nguyên nhân của thực trạng nói trên không thể không nhắc tới sự yếu kém của công tác

dự báo nguồn nhân lực để giúp cho công tác đào tạo đi đúng hướng, đáp ứng nhu cầu xã hội cũng như giúp TS có định hướng nghề nghiệp vững vàng Hiện nay, các cơ quan dự báo nguồn nhân lực còn yếu kém, không đưa ra con số cụ thể là ngành này cần bao nhiêu nhân lực trong một năm, 5 năm hay xa hơn, trong 10 năm, 15 năm Hậu quả là quy mô phát triển của các trường chưa tương xứng với chất lượng đào tạo, không gắn với nhu cầu sử dụng dẫn đến đào tạo tràn lan, sinh viên ra trường không được sử dụng.

Chinh vì vậy, 25/1/2013 Bộ GD_ĐT đã công bố kết quả rà soát các ngành ĐH, CĐ trong trường ĐH Theo đó, dừng tuyển sinh đối với 207 ngành hệ đại học thuộc 71 cơ sở đào tạo từ năm 2014 do không đáp ứng các điều kiện quy định Bất ngờ, trong đó có trường ĐH Quốc gia

TP HCM, Trường ĐH Sư phạm HN, Trường ĐH Y dược TP HCM Đây là một sự thanh lọc mạnh

mẽ nhằm đem lại chất lượng tốt nhất cho SV trong tình trạng mở các ngành học tràn lan mà không quan tâm đến cơ sở vật chất và chất lượng đào tạo.

Trang 8

- Chương trình nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vưc, ngành nghề đào tạo;

Với việc 7 năm trước đây, nhóm ngành Kinh tế - Tài chính luôn được phần lớn thí sinh đầu đơn dự thi Hệ quả của thực trạng đáng lo ngại trên là nguồn nhân lực nhóm ngành kinh tế đang dần về phía bão hòa, sinh viên ngành này khi ra trường để tìm được việc đúng với ngành học khó khăn hơn Thực tế cho thấy, muốn giảm nghịch lý nói trên trước tiên là làm tốt công tác hướng nghiệp ở bậc phổ thông, đồng thời, các trung tâm dự báo nguồn nhân lực quốc gia, kết hợp với các bộ ngành để hoạch định kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực cho cả nước và từng vùng miền nên nhanh chóng được thành lập.

Ngày 28/8/2014, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư 30 (có hiệu lực từ

15/10/2014) quy định cách đánh giá học sinh tiểu học Thay vì dùng điểm số, giáo viên sẽ nhận xét kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của học sinh tiểu học Sau 2 năm triển khai thực hiện quy định này, có rất nhiều phản ứng trái chiều từ phía giáo viên và phụ huynh học sinh có thể nói Thông tư 30 xóa bỏ việc đánh giá thường xuyên bằng cho điểm học sinh tiểu học là một chủ trương đúng đắn và tiến bộ Sau một thời gian triển khai thực hiện,Thông tư 30 đã làm giảm áp lực về điểm số, thi cử; giúp học sinh được phát triển toàn diện về phẩm chất, năng lực, về quá trình và kết quả học tập; giúp giáo viên kịp thời điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng; từ đó giúp học sinh tiến bộ theo các yêu cầu giáo dục ở tiểu học

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại: Nhận thức của một bộ phận cán bộ quản lý và giáo viên chưa theo kịp tinh thần của Thông tư 30; nhiều hiệu trưởng có biểu hiện “sợ sai mẫu” nên còn yêu cầu giáo viên ghi chép một cách cứng nhắc, tạo ra tâm lý đối phó của giáo viên; tâm lý ngại thay đổi của một bộ phận giáo viên, mà thực chất là do bộ phận này chưa đủ khả năng đáp ứng yêu cầu về đổi mới giáo dục

phải viết cẩn thận khi nhận xét vào vở học sinh; lựa chọn từ ngữ để lời nhận xét rõ ràng hay nhận xét làm sao để khỏi khuôn mẫu Tuy nhiên, nhận xét như thế nào để học sinh dễ tiếp thu, không gây tổn thương cho các em mà lại khuyến khích được các em là điều không dễ, đòi hỏi giáo viên phải thật sự cố gắng mới làm được

Lâu nay, mọi người vẫn hay nói đổi mới giáo dục nhưng đổi mới bắt đầu từ đâu và bắt đầu như thế nào thì vẫn còn mơ hồ Qua quan sát, tôi nhận thấy mô hình trường học mới này đã có sự thay đổi toàn diện về phương pháp học, giúp học sinh được thể hiện, trình bày những suy nghĩ của bản thân để hình thành nên các kỹ năng xã hội ngay từ nhỏ.

Dự án triển khai thí điểm VNEN tại Việt Nam được Quỹ Hỗ trợ toàn cầu về giáo dục của Liên Hiệp Quốc tài trợ không hoàn lại 84,6 triệu USD Mô hình này khởi nguồn từ Colombia những năm 1995-2000 để dạy học sinh trong những lớp ghép ở vùng miền núi khó khăn, theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm Sau hơn ba năm triển khai mô hình

Trang 9

trường học mới (VNEN) tại Việt Nam (từ năm học 2012-2013), cả nước có 54 tỉnh, thành triển khai mô hình này với 2.365 trường tiểu học và hơn 1.000 trường THCS mô hình VNEN đã tạo cho học sinh những thay đổi tích cực ,từ phương pháp học này, các em học sinh của tôi tự tin hẳn lên, mạnh dạn trong giao tiếp, dám bày tỏ những suy nghĩ của mình trước nhóm, trước tập thể lớp… Về kiến thức và nội dung, mô hình trường học mới này cũng như mô hình dạy học truyền thống chỉ khác ở chỗ là phương pháp dạy học chuyển đổi

từ dạy học truyền thụ của giáo viên sang tổ chức hoạt động tự học của học sinh; Năm học

2016 - 2017, các tỉnh Hà Giang, Hà Tĩnh và Vũng Tàu đã quyết định dừng nhân rộng mô hình trường học mới VNEN Trên địa bàn tỉnh năng lực của đội ngũ giáo viên không đồng đều nên rất khó tổ chức các hoạt động theo mô hình trường học mới, cơ sở vật chất, tài liệu chưa phù hợp để triển khai Bên cạnh đó, mặt bằng dân trí cũng là những cản trở ảnh hưởng đến việc tổ chức lớp học".

- Chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Tại sao lại có nghịch lý đầu tư 20 % ngân sách nhà nước cho GD, quy mô trường lớp

mở rộng chưa từng có mà chất lượng lại giảm sút??? đây là hệ quả của những quan điểm, nhận thức chưa đúng về vấn đề giáo dục, mà trước hết là quan niệm quản lý chất lượng

GD đại học Bởi vì bậc ĐH, CĐ là bậc học trực tiếp tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho XH đáp ứng yêu cầu phát triển của CNH< HĐH Quan niệm chất lượng GD đại học qua các giai đoạn khác nhau có sự thay đổi.

+ Giai đoạn 1985 trở về trước: Chất lượng = tuyển chọn khắt khe.

+ Giai đoạn 1986 – 2003: Chất lượng = nguồn lực đầy đủ.

+ Giai đoạn 2004 –nay: chất lương = đáp ứng tiêu chuẩn.

- Quản lý Nhà nước về giáo dục còn bất cập.

+ Trao cơ chế tự chủ về tài chính cho các trường ĐH, CĐ là chủ trương đang được thí điểm và triển khai thực hiện từ lâu nhằm nâng cao chất lượng đào taok ĐH, CĐ ở nươc ta Song, theo phản ánh của các trường ĐH, CĐ thì việc trao cơ chế tự chủ cho các trường mới chỉ ở tình trạng nửa vời Hiểu đơn giản thì tự chủ toàn phần theo Nghị định 43 đó là việc cắt giảm kinh phí chi thường xuyên từ Nhà nước Ngaoi việc được xây dựng một số định mức chi cao hơn mức quy định nhà nước như chi lương cao hơn 2.5 lần lương cơ bản thì Nhà trường khoogn được hưởng thêm quyển lơi, quy chế gì hơn cho với các trường công lập khác Và vì không có thêm quyền lwoij và quy chế gì hơn nên cũng khoog thể phát triển thêm nguồn thu tăng lương Như vậy, chó chủ trương nhưng chưa chó cơ chế nên mới chỉ tỏng tình trạng nửa với.

+ Cách đây gần 10 năm ,t ừ năm học 2006-2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai thực hiện Chỉ thị số 33 của Thủ tướng Chính phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh

Trang 10

thành tích trong giáo dục Chủ trương từ TW đến cơ sở này được thực hiện quyết liệt, khắc phục tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp Nhưng tình trạng này vẫn còn tiếp diễn nhiều nơi (video)

Phó giám đốc sở GD&ĐT tỉnh nghệ an cho biết 2 giáo viên đã bị kiểm điểm do thiếu trách nhiệm trong giảng dạy, cho học sinh lên lớp không đúng chuẩn Riêng hiệu

trưởng, hiệu phó cũng thiếu trách nhiệm, quan lý chuyên môn không sát, thiếu giải pháp

cụ thể trong công tác kiểm tra

- Xu hướng thương mại hóa và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội.

9/3/2015 trên mạng XH lan truyền clip nhóm học sinh dùng ghế nhựa phang tới tấp vào đầu một nữ sinh khác tại lớp học (video) Áp dụng hình thức kỷ luật nào cũng phải đảm bảo răng đe, giáo dục vì nếu không xử lý mạnh tình trạng này còn có thể diễn ra nữa Gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương phải có biện pháp cụ thể nhằm giúp các em vi phạm hiểu rõ hành vi của mình và giúp đỡ sửa chữa sai lầm.

2 Tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII đã đề ra sáu định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Những định hưóng này tiếp tục chỉ đạo nội dung, phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo trong những năm tới

Một là, giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa của giáo dục, đào tao, tạo ra những lớp

người vừa hồng vừa chuyên để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

xã hội chủ nghĩa

Hai là, phải thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Giáo dục và đào

tạo là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển; giáo dục được coi là quan trọng hàng đầu trong kế hoạch phát triển của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương

Ba là, giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân (xã hội

hoá giáo dục là một bộ phận của quan điểm này) Trong điều kiện hiện nay, cần nhấn mạnh quan điểm toàn dân học tập, toàn dân chăm lo giáo dục, toàn dân làm giáo dục, xây dựng xãhội học tập

Bốn là, phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Giáo

dục và đào tạo phải gắn cả về quy mô, cơ cấu ngành nghề, trình độ, cơ cấu vùng miền trongquá trình phát triển

Năm là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo, tạo điều kiện để ai cũng

được học hành

Trang 11

Sáu là, đa dạng hoá các loại hình giáo dục trong đó, các trường công lập giữ vai trò

nòng cốt, phát triển các trường dân lập, tư thục; mở rộng các hình thức đào tạo đi đôi với quản lý chặt chẽ để bảo đảm chất lượng

3 Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển GD & ĐT trong những năm tới

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 BCH TW Đảng khóa XI xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển GD&ĐT giai đoạn tới

B, Nhiệm vụ, giải pháp:

Kế thừa và phát triển quan điểm của Đại hội X, báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khoá X trình Đại hội XI xác định nhiệm vụ trong 5 năm 2011- 2015 là "Đổi mới căn bản và toàn diện GD & ĐT" với các giải pháp cơ bản sau:

Một là, Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục,

- Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng

- Đề cao trách nhiệm của gia đình và xã hội phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong giáo dục thế hệ trẻ

- Tiếp tục phát triển và nâng cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các cơ sở giáo dục, đào tạo Đầu tư hợp lý, có hiệu quả xây dựng một số cơ sở giáo dục, đào tạo đạt trình độ Quốc tế

Hai là, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo,

quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hoá đầu đàn; đôi gnũ danh nhân và lao động lành nghề

26/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ phế duyệt dự án thí điểm tuyển chọn 600 trí thức trẻ ưu tú, có trình độ đại học tằng cường về làm phó chủ tích xã thuộc 62 huyện nghèo của

cả nước Kéo dài từ năm 2011-2020, chia làm 2 giai đoạn: GD 1 từ 2011-2012 thí điểm đưa 100 trí thức trẻ về 5 tỉnh (cụ thể 100 TTT này đưa về 25 xã của cao Bằng, 15 xã của Điện Biên, 30 xã của Quảng Ngãi, 15 xã của Nghệ an, 15 xã của Kon Tum).

Dự án này được XH hết sức quan tâm, với hơn 1700 TTT đăng ký tham dự Người được lựa chọn sẽ được trải qua lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ

Ngày đăng: 01/11/2019, 15:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w