Kiểm định giả thuyết các yếu tố thuộc đặc điểm quản trị công ty tác động đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
Trang 1-NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC THẬN TRỌNG TRONG KẾ TOÁN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán, kiểm toán và phân tích
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng bản đăng ký đề tài này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Bích Thủy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận án là thành quả của những nỗ lực bền bỉ và nghiêm túc của tác giả trong suốt
4 năm học tập và nghiên cứu Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã nhận được sựgiúp đỡ vô cùng quý báu của thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và những người thân tronggia đình
Trước hết, tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Hữu Ánh Người Hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiệnLuận án Được làm việc dưới sự định hướng, chỉ dẫn và hỗ trợ tận tình của thầy là yếu
-tố không thể thiếu giúp tác giả hoàn thành luận án
Tác giả xin bày tỏ sự cảm ơn tới các thầy cô Viện Kế toán - Kiểm toán, Viện Đàotạo Sau Đại học - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã giúp đỡ Tác giả trong quá trìnhhọc tập, nghiên cứu và thực hiện luận án này Xin chân thành cảm ơn PGS.TS NguyễnThị Minh – Trưởng khoa Toán kinh tế đã góp ý, hướng dẫn tác giả xử lý dữ liệu trongquá trình nghiên cứu và viết luận án
Tác giả xin chân thành cảm ơn tới tập thể cán bộ Khoa Kinh tế - trường Đại họcVinh – nơi tác giả công tác – những người đã dành cho tác giả sự khuyến khích, độngviên, và sẻ chia công việc để tác giả có điều kiện hoàn thành luận án của mình
Và sau cùng, tác giả xin cảm ơn bố mẹ, chồng và hai con gái - những người luônbên cạnh động viên, hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinh thần, là động lực để tác giả nghiên cứu
và hoàn thành luận án
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Bích Thủy
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ ix
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Khái quát phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Khung nghiên cứu của Luận án 6
1.7 Kết cấu của Luận án 6
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 8
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC THẬN TRỌNG TRONG KẾ TOÁN 9
2.1 Lý luận chung về nguyên tắc thận trọng trong kế toán 9
2.1.1 Lịch sử nguyên tắc thận trọng trong kế toán 9
2.1.2 Các mô hình đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại doanh nghiệp 16
2.2 Lý luận chung về quản trị công ty. 28
2.2.1 Nguồn gốc và định nghĩa Quản trị công ty 28
2.2.2 Nội dung và đặc điểm của quản trị công ty 30
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của đặc điểm quản trị công ty đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 32
2.3.1 Tác động của quy mô Hội đồng quản trị đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 32
2.3.2 Tác động của việc kiêm nhiệm chức danh chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc điều hành (CEO) đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 33
2.3.3 Tác động của tính độc lập của Hội đồng quản trị đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 34
2.3.4 Tác động của thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn về kế toán tài chính đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 36
Trang 52.3.5 Tác động của sự hiện diện của Ủy ban kiểm toán đến việc thực hiện nguyên tắc
thận trọng trong kế toán 36
2.3.6 Tác động của thành viên Ủy ban kiểm toán hoặc thành viên Ban kiểm soát có chuyên môn về kế toán tài chính đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 37
2.3.7 Tác động của Sở hữu của Ban giám đốc đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 38
2.3.8 Tác động của Sở hữu Nhà nước đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 39
2.4 Lý thuyết nền tảng phục vụ nghiên cứu tác động của đặc điểm QTCT đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 48
2.4.1 Lý thuyết thông tin bất đối xứng (Asymmetric Information) 48
2.4.2 Lý thuyết đại diện (Agency Theory) 50
2.4.3 Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory) 51
2.5 Xác định khoảng trống nghiên cứu 53
CHƯƠNG 3: GIẢ THUYẾT KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 55 3.1 Xây dựng giả thuyết khoa học về các yếu tố thuộc đặc điểm quản trị công ty tác động đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 55
3.1.1 Quy mô Hội đồng quản trị 55
3.1.2 Kiêm nhiệm chức danh chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc điều hành 56
3.1.3 Thành viên Hội đồng quản trị không điều hành 56
3.1.4 Thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn về kế toán tài chính 58
3.1.5 Thành viên Ban kiểm soát có chuyên môn về kế toán tài chính 59
3.1.6 Tỷ lệ sở hữu của Ban giám đốc 60
3.1.7 Sở hữu của Nhà Nước: 61
3.1.8 Các yếu tố khác không thuộc đặc điểm Quản trị công ty có ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán. 62
3.2 Mô hình nghiên cứu 64
3.3 Phương pháp nghiên cứu 66
3.3.1 Thiết kế nghiên cứu 66
3.3.2 Mẫu nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu 77
3.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TÁC
Trang 6THẬN TRỌNG TRONG KẾ TOÁN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 81
4.1 Kết quả đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 81
4.2 Thống kê mô tả biến độc lập và mối tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 85
4.2.1 Thống kê mô tả các biến độc lập 85
4.2.2 Mối quan hệ tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 88
4.2.3 Kiểm định giả thuyết các yếu tố thuộc đặc điểm quản trị công ty tác động đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 90
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 100
CHƯƠNG 5 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 101
5.1 Phân tích, so sánh kết quả hồi quy giữa các mô hình 101
5.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu thực nghiệm 103
5.2.1 Sự kiêm nhiệm chức danh (CEO và chủ tịch HĐQT) và việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 103
5.2.2 Thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn về kế toán tài chính và việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 105
5.2.3 Thành viên ban kiểm soát có chuyên môn về kế toán tài chính và việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 106
5.2.4 Tỷ lệ sở hữu của Ban giám đốc và việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 107
5.2.5 Tỷ lệ sở hữu của Nhà nước và việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 110
5.3 Các khuyến nghị, đề xuất đối với việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam 111
5.3.1 Khuyến nghị đối với doanh nghiệp 111
5.3.2 Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước 114
5.3.3 Khuyến nghị dành cho nhà đầu tư 116
5.3.4 Khuyến nghị dành cho cơ sở giáo dục đào tạo 116
5.4 Những đóng góp của luận án 117
5.4.1 Đóng góp về mặt khoa học và lý luận 117
5.4.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 117
5.5 Các hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu trong tương lai 118
Trang 75.5.1 Các hạn chế của luận án 1185.5.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 119
KẾT LUẬN 121
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124 PHỤ LỤC 139
Trang 8TT Ký hiệu Nội dung
viết tắt
1 ACC Accounting conservatism - Nguyên tắc thận trọng trong kế toán
3 BCTN Báo cáo thường niên
4 BKS Ban kiểm soát
5 CTNY Công ty niêm yết
6 CEO Giám đốc điều hành
8 ĐHCĐ Đại hội cổ đông
9 FASB Financial Accounting Standards Board - Hội đồng chuẩn mực kế
toán tài chính (Hoa Kỳ)
10 FEM Fixed Effect Model - Mô hình hồi quy ảnh hưởng cố định
11 HĐQT Hội đồng quản trị
12 HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
13 HOSE Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
14 IASB International Accounting Standards Board - Hội đồng chuẩn mực
kế toán quốc tế
15 KTNB Kiểm toán nội bộ
16 KTTC Kế toán tài chính
17 Luật DN Luật số: 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014
18 OLS Mô hình hồi quy bình phương bé nhất
19 QTCT Quản trị công ty
20 ROE Tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu
21 REM Mô hình hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên
22 Sở GDCK Sở giao dịch chứng khoán
23 UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước
24 UBKT Ủy ban kiểm toán
25 VAS Vietnamese Accounting Standards - Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp các công trình nghiên cứu sử dụng mô hình đo lường việc thực
hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán 26
Bảng 2.2: Tổng hợp các công trình nghiên cứu về tác động của đặc điểm QTCT đến việc thực hiện ACC 41
Bảng 3.1: Mức độ vốn hóa thị trường theo GDP tại một số quốc gia (tỷ lệ %) 71
Bảng 3.2: Mô tả và cách thức đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu 74
Bảng 3.3: Số lượng CTNY trong dữ liệu nghiên cứu 78
Bảng 4.1: Trích dữ liệu tính CONS của hai DN trong mẫu nghiên cứu 82
Bảng 4.2: Thống kê mô tả biến phụ thuộc theo tổng thể mẫu nghiên cứu 82
Bảng 4.3: Top 20 DN có LNST cổ đông công ty mẹ biến động liên tục sau kiểm toán qua nhiều năm 84
Bảng 4.4: Thống kê mô tả biến phụ thuộc CONS theo ngành cấp 1 85
Bảng 4.5: Thống kê mô tả các biến độc lập 86
Bảng 4.6: Ma trận hệ số tương quan cặp giữa các biến trong mô hình hồi quy 89
Bảng 4.7: Kết quả ước lượng hồi quy theo OLS đo lường sự tác động của đặc điểm QTCT tác động đến việc thực hiện ACC 91
Bảng 4.8: Kết quả ước lượng hồi quy theo FEM đo lường sự tác động của đặc điểm QTCT tác động đến việc thực hiện ACC 93
Bảng 4.9: Kết quả ước lượng hồi quy theo REM đo lường sự tác động của đặc điểm QTCT tác động đến việc thực hiện ACC 96
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định Lagrangian Multiplier 97
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định Hausman 99
Bảng 5.1: So sánh kết quả hồi quy từ các mô hình OLS, REM, FEM 101
Bảng 5.2: Bảng tổng hợp và so sánh kết quả đạt được với giả thuyết đặt ra 103
Trang 11GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Thận trọng là một trong những nguyên tắc kế toán cơ bản và là một yêu cầu đượcnhắc đến khá nhiều trong hoạt động kế toán Việc thực hiện nguyên tắc này sẽ ảnh hưởngđến việc xác định giá trị các yếu tố trình bày trên BCTC, từ đó ảnh hưởng đến tính trungthực, đáng tin cậy và hữu ích của thông tin kế toán Tầm quan trọng của việc thực hiệnnguyên tắc này đã được Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) ghi nhận khi đưa kháiniệm thận trọng vào Khung khái niệm cũng như yêu cầu thực hiện nguyên tắc thận trọnghiện diện nhiều trong các chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) cụ thể Cùng với sự phát triểncủa nền kinh tế, thực tiễn công tác kế toán đã cho thấy sự cần thiết của việc thực hiệnnguyên tắc này khi đánh giá giá trị, lập và trình bày các yếu tố trên BCTC
Khái niệm thận trọng (conservatism/prundence) lần đầu tiên được IASB đưa vàoKhuôn khổ về lập và trình bày BCTC năm 1989 và được xem là một yêu cầu cơ bản củathông tin kế toán Việc áp dụng nguyên tắc thận trọng sẽ ảnh hưởng đến tính đáng tincậy (Reliability) của thông tin kế toán, từ đó ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh củacác đối tượng sử dụng thông tin BCTC Do trong quá trình lập và trình bày BCTC cóthể phát sinh các giao dịch, sự kiện không chắc chắn như: khoản nợ phải thu có thểkhông thu hồi được, tài sản có thể bị giảm giá trị thị trường, chi phí trả trước liên quanđến nhiều kỳ kế toán, lợi thế thương mại của doanh nghiệp,…Trong tình huống đó,nhằm hạn chế hiện tượng doanh nghiệp phản ánh không đúng thực tế tình hình tài chínhhay kết quả kinh doanh, như: định giá thấp nợ phải trả, đánh giá cao giá trị tài sản…IASB yêu cầu kế toán phải cân nhắc cẩn trọng trong việc đánh giá, ghi nhận và trình bàycác yếu tố không chắc chắn Sự cân nhắc cẩn trọng là để sao cho tài sản và thu nhậpkhông bị thổi phồng (không bị đánh giá quá cao), trong khi chi phí và nợ phải trả không
bị đánh giá quá thấp Đồng thời có sự bất cân xứng đối với thời điểm ghi nhận thông tintốt và thông tin xấu của doanh nghiệp Theo đó, thông tin tốt (tăng doanh thu, tăng tàisản…) chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn, còn thông tin xấu (tăng chi phí,giảm tài sản…) sẽ được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng xảy ra Sự bất cânxứng trong việc ghi nhận thông tin này giúp cảnh báo sớm cho nhà đầu tư về khả năngmất vốn, cảnh báo sớm tình hình bất lợi cho cổ đông, tăng tính hữu ích của BCTC
Một số nghiên cứu trước đây đã cho thấy lợi ích của việc thực hiện nguyên tắc thậntrọng trong kế toán: cho phép ban giám đốc phát hiện sớm các dự án có giá trị hiện tại âm(Ball, 2001), và tăng cơ hội đầu tư trong tương lai (Garcia Lara và cộng sự, 2009), hạn chếhành vi cơ hội của nhà quản lý (Watts, 2003; Chen và cộng sự, 2007), giảm việc quản trị lợinhuận (Watts, 2003), tăng giá trị doanh nghiệp (Watts và Zuo, 2012)…Tuy nhiên trong thực
tế, doanh nghiệp có thể lợi dụng việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán như mộtcông cụ để tạo ra các thông tin trên BCTC theo ý muốn chủ quan với nhiều mục đích khácnhau, như doanh nghiệp “cố tình” tạo quỹ chìm, hoặc lập dự phòng quá mức, cố ý trì hoãnghi nhận lãi…Bên cạnh đó, sự bất cân xứng trong việc ghi nhận thông tin sẽ ảnh hưởng đếntính trung lập của thông tin kế toán, gây ra nhiều tranh
Trang 12ghi nhận thu nhập tiềm năng sẽ làm cho nhà đầu tư đánh giá thấp về doanh nghiệp, ảnhhưởng đến quyết định nắm giữ cổ phiếu của cổ đông cũng như quyết định đầu tư Do đóIASB đã loại bỏ khái niệm thận trọng ra khỏi Khung khái niệm trong bản sửa đổi năm
2010 Tuy nhiên sự sửa đổi này đã nhận được nhiều ý kiến trái chiều do ảnh hưởng củaviệc không cẩn trọng cân nhắc khi đánh giá các giao dịch, sự kiện không chắc chắn củadoanh nghiệp Và trên thực tế, mặc dù không tồn tại khái niệm thận trọng trong Khungkhái niệm nhưng yêu cầu thận trọng vẫn hiện diện trong việc ghi nhận, xác định giá trị
và công bố thông tin (IAS 2, IAS16, IAS 19, IAS 36, IAS 37, IAS 39, IAS 40, IFRS 2,IFRS 4, IFRS 5, IFRS 7, IFRS 9) Vì vậy trong bản dự thảo sửa đổi Khung khái niệmcủa IASB năm 2015, nguyên tắc thận trọng đã một lần nữa được đưa vào
Từ vài trò của việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán cũng nhưnhững ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của việc thực hiện nguyên tắc này, cần có cơ chếgiám sát việc thực hiện từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Đúng từ góc độ bêntrong doanh nghiệp, đặc điểm quản trị công ty là một trong những nhân tố có ảnh hưởngđến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán QTCT xuất phát từ sự tách biệtgiữa quản lý và sở hữu doanh nghiệp, tập trung xử lý các vấn đề thường phát sinh trongmối quan hệ ủy quyền (principle-agent) trong công ty, ngăn ngừa, hạn chế những ngườiquản lý lạm dụng quyền và nhiệm vụ được giao sử dụng tài sản, cơ hội kinh doanh củacông ty phục vụ cho lợi ích riêng của bản thân hoặc của người khác hoặc làm thất thoátnguồn lực do công ty kiểm soát QTCT tốt sẽ có tác dụng làm cho các quyết định vàhành động của ban giám đốc thể hiện đúng ý chí và đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư, cổđông và những người có lợi ích liên quan Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy doanhnghiệp thiết lập một cơ chế QTCT tốt sẽ có tác động tích cực đến việc thực hiện nguyêntắc thận trọng trong kế toán (Beekes & cộng sự (2004), Lim (2011), Lara và cộng sự(2009), Ahmed và Duellman (2007)….)
Hiện nay có hơn 200 bộ quy chế QTCT đã được xây dựng cho hơn 72 quốc gia vàvùng lãnh thổ (IFC, 2010) Do giữa các quốc gia có sự khác nhau giữa nguồn gốc cácthể chế pháp luật, đặc tính văn hóa, trình độ phát triển của thị trường tài chính, do đóQTCT cũng được xây dựng để phù hợp với đặc điểm của từng quốc gia, vùng lãnh thổ.Tại Việt Nam, yếu tố thuộc đặc điểm quản trị công ty liên quan đến đặc điểm của Hộiđồng quản trị, đặc điểm của Ban kiểm soát, Ban giám đốc, cấu trúc sở hữu vốn của các
tổ chức, cá nhân có liên quan… Mỗi một yếu tố đều ảnh hưởng đến quá trình giám sátcác hoạt động trong doanh nghiệp, do đó sẽ có ảnh hưởng đến hiệu quả giám sát việcthực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán Vì vậy tác động của các yếu tố thuộc đặcđiểm quản trị công ty đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán là mộttrong những nội dung mà luận án quan tâm và muốn làm sáng tỏ
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên tác giả lựa chọn đề tài “Tác động của đặc
điểm quản trị công ty đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để nghiên cứu.
Trang 13Trên cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu trước, mục tiêu tổng quát của luận
án là nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ tác động của các yếu tố thuộc đặc điểmQTCT đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty phi tàichính niêm yết trên TTCK Việt Nam Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, luận ánhướng tới việc giải quyết các mục tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất, nhận diện, xác định và đo lường các yếu tố thuộc đặc điểm quản trị
công ty tác động đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty
phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Thứ hai, đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trên cơ sở mô hình của Ahmed &Duellman (2007)
Thứ ba, đánh giá tác động của các yếu tố thuộc đặc điểm quản trị công ty đến
việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty phi tài chính niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Thứ tư, các khuyến nghị đối với việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế
toán tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
Câu hỏi 1: Những yếu tố nào thuộc đặc điểm quản trị công ty có tác động đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam? Đo lường các yếu tố đó như thế nào?
Câu hỏi 2: Có những mô hình nào được sử dụng để đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán?
Câu hỏi 3: Kết quả đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán
tại các CTNY trên TTCK Việt Nam theo mô hình Ahmed & Duellman (2007) như thếnào?
Câu hỏi 4: Các yếu tố thuộc đặc điểm quản trị công ty có có tác động như thế nào
đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty phi tài chính niêmyết trên TTCK Việt Nam?
Câu hỏi 5: Khuyến nghị dành cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, cơ quan chức năng
Nhà nước, cơ sở giáo dục đào tạo như thế nào đối với việc thực hiện nguyên tắc thậntrọng trong kế toán?
Trang 14Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu trên cả phương diện lý luận và thực tiễn của đặc điểm quản trịcông ty, việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán và sự tác động của đặc điểmquản trị công ty đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty phitài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian
Luận án tập trung nghiên cứu các CTNY trên Sở giao dịch chứng khoán thànhphố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) Đây là cáccông ty có quy mô vốn lớn, có nghĩa vụ thực hiện quy chế QTCT theo các văn bản quyphạm pháp luật cũng như do Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đề xuất.Bên cạnh đó, với bộ máy kế toán lớn, đảm bảo thực hiện đầy đủ các nguyên tắc vàchuẩn mực kế toán sẽ giúp tác giả có đủ thông tin để đánh giá về việc thực hiện nguyêntắc thận trọng trong kế toán Tác giả không nghiên cứu BCTC tại các công ty chưa có cổphiếu niêm yết tại HOSE và HNX vì nghiên cứu này đòi hỏi thông tin BCTC đã đượckiểm toán và báo cáo thường niên được công bố đầy đủ theo quy định bắt buộc thì dữliệu thu thập mới có độ tin cậy
Do đặc điểm cấu trúc tài chính đặc thù và chịu sự điều chỉnh chặt chẽ bởi các quyđịnh riêng của Chính phủ nên các Tổ chức Tài chính (ngân hàng, công ty bảo hiểm,công ty chứng khoán và các định chế tài chính khác) được loại trừ khỏi mẫu nghiên cứu.Như vậy Luận án chỉ tập trung nghiên cứu các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCKViệt Nam
Về thời gian
Luận án nghiên cứu thực nghiệm trên cơ sở dữ liệu của các công ty niêm yết trênTTCK Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2012 – 2016 (5 năm) Lý do tác giả lựa chọn mốcthời gian của giai đoạn nghiên cứu là năm 2012 vì đây là năm đầu tiên Thông tư
121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 Bộ Tài chính về ‘Quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng’ bắt đầu có hiệu lực Trong giai đoạn này, một số văn
bản liên quan đến kế toán tài chính nói chung và nguyên tắc thận trọng nói riêng cũng đượcban hành như: thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 thay thế cho quyết định15/2006/QĐ-BTC quy định chế độ kế toán DN; Thông tư 89/2013/TT-BTC ngày
28/06/2013 sửa đổi bổ sung thông tư 228/2009/TT-BTC ngày 07/12/2009 về “hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất
Trang 15hóa, công trình xây lắp tại DN” Từ 01 tháng 8 năm 2017, Nghị định 71/2017/NĐ-CP của Chính phủ thay thế cho Thông tư 121/2012, do đó đặc điểm quản trị công ty trong
các CTNY trên TTCK Việt Nam có thể có những thay đổi để phù hợp với quy định mới
Việc ban hành các văn bản pháp luật này chắc chắn sẽ làm cho các công ty niêmyết có sự thay đổi trong chế độ kế toán nói chung, trong việc thực hiện nguyên tắc thậntrọng trong kế toán nói riêng cũng như trong việc tổ chức và thực hiện quản trị công ty
Vì vậy, Luận án tập trung phân tích thông tin từ BCTC đã được kiểm toán, báo cáothường niên của các công ty niêm yết cổ phiếu liên tục trên TTCK Việt Nam trong thờigian từ 2012 – 2016
Về nội dung
Nội dung nghiên cứu của luận án được giới hạn như sau:
(1) Nghiên cứu các yếu tố của đặc điểm quản trị công ty, gồm: Quy mô của hộiđồng quản trị, Sự kiêm nhiệm giữa chức danh chủ tịch HĐQT và CEO, tỷ lệ thành viênHĐQT không điều hành, tỷ lệ thành viên HĐQT có chuyên môn về kế toán tài chính, tỷ
lệ thành viên Ban kiểm soát có chuyên môn về kế toán tài chính, Sở hữu của Ban giámđốc, Sở hữu của Nhà nước;
(2) Đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán trên cơ sở mô hình trong nghiên cứu của Ahmed & Duellman (2007);
(3) Nghiên cứu tác động của đặc điểm quản trị công ty đến việc thực hiện nguyêntắc thận trọng trong kế toán với 4 biến kiểm soát: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, kếtquả kinh doanh và khả năng sinh lời
1.5 Khái quát phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với sự hỗ trợ của phần mềmSTATA phiên bản 14, cụ thể như sau:
Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trước và lý thuyết nền tảng, tác giả đề xuấtgiả thuyết nghiên cứu, xây dựng mô hình nghiên cứu và mô hình hồi quy về tác độngcủa đặc điểm QTCT đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công
ty niêm yết trên TTCK Việt Nam Đồng thời trên cơ sở phân tích ưu nhược điểm củatừng mô hình đo lường mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán, tác giảlựa chọn mô hình phù hợp nhất với đặc điểm của các CTNY trên TTCK Việt Nam.Luận án thu thập dữ liệu thứ cấp từ BCTC, báo cáo thường niên của công ty niêmyết trên HOSE và HNX từ năm 2012 – 2016 với sự hỗ trợ của công ty Vietstock vàUBCK Nhà nước Thông qua phần mềm thống kê STATA, dữ liệu được kiểm chứng
Trang 16(FEM), mô hình hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) Bằng các kiểm định về sự phùhợp và khuyết tật của từng mô hình, tác giả lựa chọn mô hình phù hợp nhất và sử dụngkết quả hồi quy có được để đánh giá các giả thuyết mà luận án đặt ra, đồng thời phântích, thảo luận và đề xuất các kiến nghị với các đối tượng sử dụng thông tin.
1.6 Khung nghiên cứu của Luận án
(Lý luận chung về’nguyên tắc thận trọng trong kế toán, đặc điểmquản trị công ty; Tổng quan)nghiên cứu tác động của đặc điểmQTCT đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán
Khoảng trống nghiên cứu về tác động của đặc điểm quản trị công ty
đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán
Giả thuyết nghiên cứu
Mô hình’hồi quy kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Thu thập, xử lý dữ liệu
- Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
- Kiểm định mối quan hệ tương quan
- Thực hiện hồi quy theo từng mô hình OLS, REM, FEM, kiểm định sự tồn
tại của mô hình, khuyết tật của’mô hình, lựa chọn mô hình phù hợp’
Phát hiện, thảo luận kết quả nghiên cứu và đề xuất
các khuyến nghị
Hình 1.1: Khung nghiên cứu của Luận án
Nguồn: Tác giả xây dựng
1.7 Kết cấu của Luận án
Kết cấu của Luận án gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 1 luận án trình bày lý do lựa chọn đề tài và nêu các nội dung liên quan đến
đề tài nghiên cứu, bao gồm: mục tiêu nghiên cứu cùng câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiêncứu, phạm vi nghiên cứu Tác giả đưa ra các câu hỏi nghiên cứu cần được trả lời
Trang 17khung nghiên cứu của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của đặc điểm quản trị công ty đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán
Trong chương này tác giả trình bày lý luận chung về nguyên tắc thận trọng trong
kế toán (lịch sử của thận trọng kế toán, các mô hình đo lường việc thực hiện nguyên tắcthận trọng trong kế toán), lý luận chung về quản trị công ty Đồng thời tác giả trình bàytổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của đặc điểm quản trị công ty đến việc thựchiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán và các lý thuyết nền tảng phục vụ nghiên cứu(lý thuyết thông tin bất đối xứng, lý thuyết đại diện và lý thuyết các bên liên quan) từ đóxác định ‘khoảng trống’ nghiên cứu
Chương 3: Giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu
Nội dung của chương 3 bao gồm xây dựng các giả thuyết nghiên cứu về sự tácđộng của đặc điểm quản trị công ty đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kếtoán được đề xuất trên cơ sở tổng quan nghiên cứu và các lý thuyết nền tảng Từ đó, tácgiả xây dựng mô hình nghiên cứu, phương trình hồi quy, xác định mẫu nghiên cứu,phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
Chương 4: Kết quả nghiên thực nghiệm về tác động của đặc điểm quản trị công ty đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả trình bày kết quả thống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy, mối quan
hệ tương quan và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đã đề xuất trên cơ sở lựa chọn
mô hình hồi quy phù hợp nhất để đo lường tác động của đặc điểm QTCT đến việc thựchiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán
Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận
Trên cơ sở phân tích kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của từng yếu
tố thuộc đặc điểm QTCT đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán, tác giả
đề xuất một số khuyến nghị dành cho nhà đầu tư, nhà quản lý DN, cơ quan ban hànhchính sách và các cơ sở đào tạo
Trang 18Trong chương 1 tác giả đã giới thiệu các nội dung cơ bản của luận án, làm rõ sựcần thiết của chủ đề nghiên cứu và trình bày khung nghiên cứu của luận án.
Phần đầu của chương đề cập đến lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏinghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu về nguyên tắc thận trọng trong kế toán, đặcđiểm quản trị công ty và tác động của đặc điểm quản trị công ty đến việc thực hiệnnguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các CTNY trên TTCK Việt Nam Trên cơ sởmục tiêu nghiên cứu, luận án đưa ra các câu hỏi nghiên cứu cần được giải quyết trongcác nội dung tiếp theo Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào đánh giá tác độngcủa các yếu tố thuộc đặc điểm quản trị công ty gồm: quy mô Hội đồng quản trị, sự kiêmnhiệm chức danh chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc điều hành (CEO), tỷ lệ thành viênHĐQT không điều hành, tỷ lệ thành viên HĐQT có chuyên môn về kế toán tài chính, tỷ
lệ thành viên Ban kiểm soát có chuyên môn về kế toán tài chính, Sở hữu vốn của Bangiám đốc và Sở hữu vốn của Nhà nước đến việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong
kế toán Trong đó việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các CTNY trênTTCK Việt Nam được đo lường trên cơ sở mô hình của Ahmed & Duellman (2007).Ngoài ra, trong chương này tác giả giới thiệu tổng quát về phương pháp nghiêncứu, khung nghiên cứu của luận án, kết cấu các chương của luận án
Trang 19CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN VIỆC THỰC
HIỆN NGUYÊN TẮC THẬN TRỌNG TRONG KẾ TOÁN
2.1 Lý luận chung về nguyên tắc thận trọng trong kế toán
2.1.1 Lịch sử nguyên tắc thận trọng trong kế toán
Nguyên tắc kế toán là những chuẩn mực, quy ước, yêu cầu, hướng dẫn cơ bản nhất màtất cả các tổ chức, doanh nghiệp phải thực hiện trong việc ghi nhận, đo lường các yếu tố tàichính để lập BCTC nhằm đạt được mục tiêu dễ hiểu, đáng tin cậy và có thể so sánh Mụctiêu của những nguyên tắc kế toán chung là tạo tính thống nhất cho các BCTC
Thận trọng (prudence/conservatism) là một nguyên tắc (quy ước) phổ biến và xuấthiện từ khá lâu trong kế toán, ảnh hưởng đến cả lý thuyết và thực hành kế toán Sterling(1967) mô tả nguyên tắc thận trọng trong kế toán (ACC): “là nguyên tắc cổ xưa nhất và
có lẽ là nguyên tắc phổ biến nhất của định giá kế toán”
Trong nghiên cứu của Basu (1997) đã cho thấy ACC có thể đã xuất hiện từ rất lâutrong lịch sử của kế toán Vào trước những năm 1900, ACC chủ yếu tập trung vào BảngCân đối kế toán Đầu tiên vào thế kỷ XIV, trong cuốn sách của Walter of Henley viết về
vấn đề quản lý bất động sản có tựa đề ‘Husbandry’ đã đưa ra lời khuyên cho kiểm toán
viên các tài khoản của lãnh chúa phải “trung thành và thận trọng” Các tài liệu khác nói
về ACC bắt đầu có từ những năm đầu thế kỷ XV Penndorf (1933) kiểm tra hồ sơ củamột doanh nhân Tuscan là Francesco di Marco of Prato (1358-1412) và đã chứng minhrằng ông ấy đã đánh giá giá trị hàng tồn kho của mình thấp hơn so với giá phí hoặc thấphơn giá trị thị trường của nó Ông đưa ra dẫn chứng một khoản tổn thất vào năm 1406như sau: “bởi vì chúng tôi không còn coi trọng chúng như ban đầu từ khi giá của chúnggiảm xuống”, những khoản tổn thất vào năm 1406 và 1408 đều do những nông cụ (côngcụ) bị giảm giá trị trong năm
Savary (1675) là người đầu tiên đề xuất nguyên tắc giá trị thấp hơn giá gốc hoặcgiá trị thị trường (lower-of-cost-or-market principle) trong bài viết đầu tiên về kế toán.Ông đã phát biểu rằng nếu một hàng hóa bắt đầu trở nên xấu đi, hoặc lạc hậu so với thờiđại thì ông ấy cần tìm một nhà máy hoặc người bán buôn có giá thấp hơn 5% so với giátrị trước đó vì giá của nó phải giảm xuống mức giá này Tuy nhiên trong nghiên cứu củaVance (1943) tìm thấy một số tài liệu kế toán trước đó đã đề xuất ghi nhận giá trị hàngtồn kho theo hiện tại hơn là ghi nhận theo giá phí lịch sử trong một số trường hợp cụ thểkhi mà giá trị thị trường của nó bị giảm xuống Việc định giá hàng tồn kho ở mức thấp
Trang 201673, đưa vào bộ luật Thương mại của Đức năm 1884 (Schmalenbach, 1959) Vấn đềnày thậm chí đã được mô phỏng sớm hơn ở Đức trong một dự thảo của bộ luật thươngmại Đức năm 1857 (Littleton, 1941) Theo Brief (1975), trong cuốn sách viết về kế toán
có tựa đề ‘The Accountant’ được xuất bản vào tháng 6 năm 1881 đã đưa ra ý kiến bàn
luận về ACC và trách nhiệm của các kiểm toán viên về các ước tính kế toán như sau:
“Các ước tính trong kế toán thường là những điều thích hợp để sử dụng, khi mà chúng có liên quan tới các vấn đề chi tiết và giúp cho việc lập bảng cân đối kế toán được thực hiện nhanh hơn, tuy nhiên tất cả các ước tính sẽ tạo ra một ít bất lợi cho công ty hơn là có xu hướng khác” (Brief, 1975, trang 292).
Vào thời điểm mà Bảng Cân đối kế toán được coi là báo cáo chính và là báo cáotài chính duy nhất được các công ty công bố thường xuyên thì ACC đã được đề cậptrong các quy định của kế toán Ủy ban nguyên tắc kế toán (APB) trong tuyên bố số 4
(APB, 1970a) đã công nhận thực tế rằng: “…Tài sản và nợ phải trả trong DN thường xuyên được đo lường trong tình huống không thực sự chắc chắn Về mặt lịch sử, các nhà quản lý, nhà đầu tư và kế toán thường mong muốn rằng các lỗi có thể mắc phải trong việc đo lường giá trị thu nhập ròng và tài sản ròng có xu hướng báo cáo giảm xuống hơn là báo cáo tăng thêm Điều này dẫn đến các quy ước của thận trọng trong kế toán…”(APB, 1970a, trang 171)
SFAC 2 (FASB, 1980) dường như chấp nhận nguyên tắc thận trọng trong kế toánnên đã viết trong lời mở đầu rằng tài sản và nợ phải trả báo cáo trên bảng CĐKT phảiđược đánh giá, lựa chọn với cơ hội ngang nhau, nhưng phủ nhận rằng giá trị đó đượcthực hiện bằng cách nhận biết tất cả các tổn thất và không nhận biết các lợi ích FASB(1980) đã mô tả ACC như sau:
“Nguyên tắc thận trọng trong kế toán là một phản ứng cẩn thận (thận trọng) đối với những điều không chắc chắn để cố gắng đảm bảo rằng những bất ổn và những rủi ro tiềm tàng trong các tình huống kinh doanh được xem xét một cách đầy đủ Vì vậy nếu có hai ước tính về số tiền được nhận hoặc phải trả trong tương lai có giá trị tương đương nhau thì ACC đề xuất sử dụng ước tính ít khả quan hơn Tuy nhiên nếu hai giá trị này không ngang bằng nhau, ACC không bắt buộc nhất thiết phải sử dụng giá trị ít khả quan hơn ACC cũng không yêu cầu trì hoãn ghi nhận thu nhập khi đã có bằng chứng đầy đủ về sự tồn tại của nó hoặc ghi nhận tổn thất trước khi có bằng chứng đầy đủ cho thấy chúng đã thực sự phát sinh” (SFAC 2, 1980, trang 95)
SFAC 2 (FASB, 1980) cũng cho rằng nguyên tắc thận trọng trong kế toán được phát triển trong suốt khoảng thời gian mà bảng cân đối kế toán được xem là BCTC
Trang 21ra bên ngoài doanh nghiệp “Đối với chủ ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác –những đối tượng chính sử dụng BCTC nằm bên ngoài doanh nghiệp – việc báo cáo giảmlợi ích của nguyên tắc thận trọng trong kế toán đã trở thành một cân nhắc phổ biến đángmong muốn, vì càng báo cáo giá trị tài sản giảm xuống thì mức độ an toàn của tài sảnđảm bảo cho các khoản vay hoặc các khoản nợ khác càng cao…” (SFAC, 1980, trang23).
Ở góc nhìn từ Bảng Cân đối kế toán, Watts và Zimmerman (1986) cho rằng
nguyên tắc thận trọng trong kế toán là chỉ dẫn cho kế toán “báo cáo giá trị thấp nhất trong số các giá trị có thể có của tài sản và giá trị cao nhất đối với các khoản nợ” Feltham và Ohlson (1995) mô tả ACC như sau: khi đánh giá tài sản theo nguyên tắc cơ
sở dồn tích thì giá trị ghi sổ luôn được đánh giá thấp hơn trong mối tương quan với giátrị thị trường của nó Beaver và Ryan (2000) đã tìm thấy sự khác biệt chắc chắn giữa giátrị ghi sổ và giá trị thị trường (có thể thông qua giá trị chênh lệch giữa giá trị ghi sổ sovới giá trị thị trường của Vốn chủ sở hữu) có mối quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu đánhgiá việc thực hiện ACC (ví dụ như chi phí R&D, chi phí quảng cáo, dự phòng, tính giáxuất kho theo phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO)…)
Theo GAAP, nguyên tắc thận trọng là những chỉ dẫn yêu cầu kế toán của DN phảicông bằng và hợp lý trong việc thực hiện đánh giá và đưa ra các ước tính kế toán nhằmkhông phóng đại cũng như không giảm bớt các chi phí và kết quả hoạt động của DN Ví
dụ về nguyên tắc thận trọng trong GAAP bao gồm: ghi nhận giá trị tài sản thấp hơn giáphí hoặc nguyên tắc giá trị thị trường, ghi nhận chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phíquảng cáo, các cáo buộc chống lại việc công nhận nội bộ giá trị lợi thế thương mại…
Ở góc nhìn từ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Givoly và Hyan (2000) địnhnghĩa ACC là sự lựa chọn một trong các nguyên tắc kế toán dẫn đến việc tối thiểu hóa củathu nhập gián tiếp tích lũy (dồn tích) Họ sử dụng sự cộng dồn của những dồn tích chênhlệch giữa kế toán theo cơ sở tiền và kế toán theo cơ sở dồn tích như là một phương pháp đolường việc thực hiện ACC Nghiên cứu cho rằng sự chênh lệch giữa kế toán theo cơ sở tiền
và kế toán theo cơ sở dồn tích đã được lũy kế một khoản lỗ lớn từ giai đoạn 1965 – 1968 và
sự cộng dồn lũy kế các khoản lỗ này không thể được giải thích bằng những thay đổi về điềukiện nền kinh tế như là sát nhập, hợp nhất, hoạt động thâu tóm, tăng chi phí và trợ cấp hưutrí, tăng trưởng và lạm phát Ryan (2006) cho rằng ACC liên quan đến việc các công ty ghinhận vào thông tin BCTC một cách kịp thời khi nhận được thông tin xấu (ví dụ tăng chi phí,giảm giá trị tài sản, tăng nợ phải trả…) nhưng không ghi nhận nhanh chóng khi nhận đượctin tốt tương ứng (ví dụ giảm chi phí, tăng giá trị tài sản, tăng doanh thu hoặc thu nhập…)
Kế toán thực hiện như vậy một thời gian
Trang 22thông tin xấu Tính kịp thời không tương xứng này được gọi là thận trọng có điều kiệntrong kế toán, hay còn gọi là ACC phụ thuộc vào tin tức (Beaver và Ryan, 2005; Balland Shivakumar, 2005).
Khái niệm về nguyên tắc thận trọng đầu tiên thể hiện qua lời cảnh báo được đưa ra
trong nghiên cứu của Bliss (1924) là: ‘không dự báo lợi ích (lợi nhuận) nhưng dự đoán tất cả các tổn thất có thể có’ Điều này ngụ ý rằng tổn thất sẽ được xác định sớm hơn nhiều, trong khi việc ghi nhận lợi nhuận được hoãn lại cho đến khi đạt được lợi
nhuận thực sự Một ví dụ thường được trích dẫn của ACC là việc định giá thấp hơn sovới giá trị thị trường của hàng tồn kho và chứng khoán kinh doanh Đây chính là mộttrong những nội dung cụ thể trong thực hành kế toán của ACC, bởi vì tổn thất từ việcgiảm giá trị thị trường (tổn thất) được ghi nhận trước khi hàng được bán, những lợi ích
có được từ việc giá thị trường gia tăng thì không bao giờ được công nhận trước khi việcbán hàng được diễn ra Ví dụ trên cũng thể hiện sự bất cân xứng trong việc ghi nhậnthông tin xấu và thông tin tốt vào BCTC Basu (1997) định nghĩa ACC là “xu hướngcủa kế toán đòi hỏi mức độ xác minh cao hơn để ghi nhận thông tin tốt (lợi nhuận) sovới ghi nhận thông tin xấu (tổn thất hoặc chi phí)” Hay nói cách khác, kế toán có nhiềukhả năng báo cáo “thông tin xấu” về dòng tiền trong tương lai hơn là “thông tin tốt”(“thông tin xấu” được ghi nhận vào BCTC một cách kịp thời hơn) Các tổn thất chưaxảy ra thường được ghi nhận nhanh hơn vào kết quả kinh doanh so với những lợi ích dựkiến có được Khái niệm Thận trọng được Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế đưa vàokhuôn khổ lập và trình bày BCTC năm 1989 nhằm đảm bảo tính đáng tin cậy(Reliability) của thông tin kế toán IASB giải thích về ACC là “một mức độ thận trọngtrong việc đưa ra các ước tính cần thiết trong điều kiện không chắc chắn, như tài sản vàthu nhập không được đánh quá quá cao và các khoản nợ, chi phí không được đánh giáthấp” (IASB, 1989, trang 37)
Trong các văn bản về kế toán được lưu giữ đã mô tả ACC rằng khi phải lựa chọn giữahai hoặc nhiều kỹ thuật kế toán chấp nhận được thì ưu tiên lựa chọn kỹ thuật có tác động ítnhất đến vốn chủ sở hữu Cụ thể hơn, ACC ngụ ý rằng tốt nhất là nên báo cáo giá trị thấpnhất có thể có của giá trị tài sản và doanh thu nhưng báo cáo giá trị cao nhất có thể có của
nợ phải trả và chi phí (Belkaoui, 1985) Tuy nhiên trong một số trường hợp có thể xuất hiện
sự xung đột giữa việc báo cáo thấp hơn giá trị lợi nhuận và việc báo cáo thấp hơn giá trị tàisản Khi đó, các cân nhắc báo cáo thấp hơn giá trị lợi nhuận được ưu tiên hơn là đánh giácao giá trị tài sản trong việc xác định liệu một phương pháp hoặc cách tiếp cận có thận trọnghay không (ARB 2, CAP, 1939) ACC cũng được hiểu là doanh thu thì nên ghi nhận chậm(muộn) hơn so với ghi nhận trước, còn chi phí thì
Trang 23khấu hao nhanh sẽ làm cho chi phí khấu hao hàng tháng (hoặc năm) cao hơn, do đó thunhập và giá trị còn lại của tài sản bị định giá thấp hơn trong thời gian tính khấu hao Đâychính là sự bất cân xứng trong việc ghi nhận thông tin vì nó cho phép trong điều kiệnkhông chắc chắn thì chỉ được ghi giảm giá trị tài sản thuần nhưng không được ghi tăngtài sản thuần nếu chưa có bằng chứng chắc chắn Penman & Zhang (2002) cho rằng thậntrọng kế toán dẫn đến chất lượng của lợi nhuận thấp hơn vì khi thực hiện thận trọng thì
sẽ đẩy nhanh việc ghi nhận chi phí đầu tư, do đó làm giảm thu nhập và tạo dự trữ ẩn(hidden reserves), nghĩa là chi phí đầu tư của công ty bị ghi nhận tăng lên (Kim &Yung, 2007) Quan điểm này về ACC đã dẫn đến thường xuyên có những phê bình vềACC rằng ACC gây ra những sai lệch hoặc làm nhiễu loạn giá trị kế toán được báo cáotrong trường hợp kế toán áp dụng quá mức nguyên tắc này hoặc người sử dụng BCTCkhông có nhu cầu về ACC Bởi nếu thông tin kế toán do DN cung cấp không thể hiệnđược lợi ích tương lai DN có khả năng thu được hoặc trì hoãn ghi nhận lãi thì sẽ ảnhhưởng đến quyết định nắm giữ cổ phiếu hoặc quyết định đầu tư của nhà đầu tư Khi đó
cổ đông hoặc nhà đầu tư sẽ có thể sẽ đánh giá DN đang kinh doanh kém hiệu quả chỉ vìlợi nhuận tiềm năng chưa được ghi nhận Ngoài ra, việc áp dụng nguyên tắc thận trọng ở
kỳ này có thể gây ra hiện tượng tài sản và thu nhập bị thổi phồng ở kỳ sau, do đó ảnhhưởng đến tính hữu ích và trung lập của thông tin kế toán, hay nói cách khác có thể gây
ra một sự thiên lệch trong BCTC Tuy nhiên những lời phê bình này không giải thíchđược vì sao ACC không bị loại bỏ khỏi thực hành kế toán qua nhiều thế kỷ nếu nó thực
sự làm giảm tính hữu ích của các con số kế toán Vì vậy mặc dù IASB khi sửa đổiKhung khái niệm vào năm 2010 đã đưa thận trọng ra khỏi các yêu cầu cơ bản của kếtoán nhưng trong thực tế thì thận trọng vẫn hiện diện rất nhiều trong các nội dung củacác chuẩn mực kế toán quốc tế cụ thể
Ngược lại Basu (1997) lập luận rằng ACC phát sinh từ nhu cầu ký kết hợp đồng (giaodịch) của người sử dụng BCTC bên ngoài DN và vai trò của ACC là làm tăng tính kịp thờicủa các con số kế toán đối với các thông tin Đứng ở góc độ chi phí để ký kết hợp đồng giữacác bên trong DN đã giải thích lập luận này như sau: Trong trường hợp không chắc chắn vềgiá trị lợi nhuận trong tương lai, nhà quản lý thường có được những hiểu biết tường tận vàđầy đủ về các hoạt động của DN cũng như giá trị của tài sản, trong khi đó những người bênngoài DN như nhà đầu tư, cổ đông thiểu số, tổ chức tín dụng… thì phải mất thời gian cũngnhư chi phí để xác định được những thông tin này Nếu thù lao trả cho nhà quản lý đượcliên kết với giá trị lợi nhuận báo cáo thì nhà quản lý sẽ ưu tiên không cung cấp những thôngtin bất lợi có ảnh hưởng đến lợi nhuận được báo cáo vì sẽ ảnh hưởng đến thù lao mà họđược nhận Sự xuất hiện của ACC có thể được gắn cùng với nỗ lực quản lý nhằm kết hợp đểchống lại sự lợi dụng sự bất cân xứng thông
Trang 24hiệu quả trong thỏa thuận giữa các bên trong DN Ngoài ra, nếu kế toán không ban hànhcác quy tắc, các bên liên quan khác nhau sẽ tự nguyện đồng ý rằng các con số kế toánđược sử dụng trong việc phân chia các dòng tiền giữa họ phải được xác định một cáchthận trọng (Jensen & Meckling, 1976; Watts, 1977; Watts & Zimmerman, 1986; Ball,1989) Đây cũng là những chỉ dẫn để đặt trả lời cho câu hỏi tại sao ACC lại được ưathích bởi nhà đầu tư, nhà quản lý và cả kế toán Chính thực tế công tác kế toán trên,IASB đã quyết định đưa khái niệm Thận trọng vào dự thảo sửa đổi Khung khái niệmnăm 2015 và xác định đây là một yêu cầu cơ bản của thông tin kế toán với cách hiểu “sựcẩn trọng trong việc nhận việc nhận đinh, đánh giá và cân nhắc trong điều kiện khôngchắc chắn” (Exposure draft 2015, www.ifrs.org) Với sự trở lại này, nguyên tắc thậntrọng là một yêu cầu nhằm đảm bảo cho tài sản, thu nhập không bị thổi phồng và không
bị đánh giá thấp, nợ phải trả và chi phí không bị đánh giá quá thấp và cũng không bịđánh giá quá cao Điều này ngầm ý rằng DN cần phải thực hiện nguyên tắc thận trọngtrong quá trình hạch toán, xác định giá trị và ghi nhận thông tin kế toán nhưng khôngđược lạm dụng nguyên tắc này để điều chỉnh thông tin
Căn cứ vào điều kiện để thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán, Beaver &Ryan (2005) chia việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán thành 2 loại, đó làthực hiện nguyên tắc thận trọng có điều kiện và thực hiện nguyên tắc thận trọng không
có điều kiện Khác biệt chính giữa hai dạng này là thực hiện nguyên tắc thận trọng cóđiều kiện phụ thuộc vào các sự kiện, tin tức kinh tế trong khi đó thực hiện nguyên tắcthận trọng không có điều kiện không phụ thuộc vào yếu tố này:
- Việc thực hiện nguyên tắc thận trọng có điều kiện xảy ra khi các thông tin tiêu cực
có ảnh hưởng tới lợi nhuận được ghi nhận nhanh hơn các thông tin tích cực Nói cách khác,việc thực hiện nguyên tắc thận trọng có điều kiện có đặc điểm là ghi nhận không cân xứngcác thông tin ‘tốt’ và thông tin ‘xấu’ của DN Theo đó khi có thông tin về việc sẽ có tổn thấtgiá trị trong tương lai, kế toán sẽ đưa ra ước tính hợp lý để ghi nhận những thông tin này vàphản ảnh lên BCTC, trong khi đó lợi ích chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn.Các ví dụ về việc thực hiện nguyên tắc thận trọng có điều kiện trong kế toán bao gồm: cáckhoản chi phí trích trước (chi phí phải trả về: tiền lương công nhân nghỉ phép, chi phí lãivay, lãi trái phiếu…), trích lập dự phòng tổn thất tài sản
- Khác với nguyên tắc thận trọng có điều kiện, nguyên tắc thận trọng không có điềukiện không phụ thuộc vào các sự kiện, tin tức Kế toán dự kiến các tổn thất mà DN sẽ phátsinh trong tương lai để ghi nhận chi phí trước vào các kỳ kế toán hoặc trích lập các quỹnhằm tránh sự ảnh hưởng lớn của sự kiện này khi thực tế xảy ra đến kết quả kinh doanh của
DN Các ví dụ về việc thực hiện nguyên tắc thận trọng không có điều kiện
Trang 25các khoản dự phòng (bảo hành sản phẩm, công trình; tái cơ cấu DN; trợ cấp thôi việc,
…), trích lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ, quỹ bình ổn giá…
Các trích dẫn ở trên cho rằng nguyên tắc thận trọng trong kế toán là một yêu cầu
cơ bản và là một phần trong sự phát triển của kế toán trong nhiều thế kỷ Bản chất củaACC là chỉ dẫn cho người làm kế toán và nhà quản lý cẩn trọng trong việc ghi nhận cácthông tin trong những điều kiện không chắc chắn, khi đó kế toán sẽ sử dụng các ướctính kế toán một cách thận trọng và đáng tin cậy để ghi sổ kế toán
Theo VAS 01 ‘CHUẨN MỰC CHUNG’, thận trọng là một trong bảy nguyên tắc
kế toán cơ bản, “Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập cácước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn” Khi thực hiện nguyên tắc thậntrọng thì đòi hỏi DN phải lưu ý: (a) Thực hiện trích lập các khoản dự phòng nhưngkhông được phép trích lập quá lớn; (b) Khi thực hiện đánh giá giá trị của các tài sản vàcác khoản thu nhập thi không được đánh giá cao hơn giá trị thực tế; (c) khi đánh giá giátrị của các khoản nợ phải trả và chi phí thì không được đánh giá thấp hơn; (d) chỉ đượcphép ghi nhận doanh thu và thu nhập khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thuđược lợi ích kinh tế, còn chi phí sẽ được ghi nhận ngay khi có bằng chứng về khả năngphát sinh chi phí Dựa trên nguyên tắc trên, chuẩn mực kế toán Việt Nam, các thông tưhướng dẫn chế độ kế toán được cụ thể hóa, bao gồm: không ghi nhận tài sản khi khôngchắc chắn lợi ích kinh tế trong tương lai (lợi thế thương mại, chi phí nghiên cứu và pháttriển), ghi nhận nợ và chi phí khi có khả năng xẩy ra (dự phòng phải trả, trích trước chiphí), ghi nhận sự sụt giảm giá trị tài sản (lập dự phòng tổn thất tài sản) Thực tế quyđịnh và thực hiện nguyên tắc thận trọng tại Việt Nam hiện nay đồng nhất quan điểm vớikhuôn khổ lập và trình bày BCTC của IASB tồn tại từ năm 1989 đến 2010
Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) sau một thời gian đưa nguyên tắc thậntrọng ra khỏi Khung khái niệm từ tháng 9 năm 2010 thì trong dự thảo sửa đổi năm 2015
đã đưa lại khái niệm này vào, đồng thời trong bản sửa đổi chính thức năm 2018 thì đãlàm rõ vai trò của nguyên tắc thận trọng đối với việc đo lường, xác định giá trị trong cácđiều kiện không chắc chắn Theo đó, để đảm bảo yêu cầu cơ bản của BCTC thì kế toáncần thực hiện nguyên tắc thận trọng Khung khái niệm 2018 giải thích: “thận trọng làcông việc được thực hiện khi đưa ra phán xét trong điều kiện không chắc chắn Thậntrọng không cho phép báo cáo cao hơn hoặc thấp hơn tài sản, nợ phải trả, thu nhập, chiphí trên báo cáo tài chính Khi thực hiện nguyên tắc này không cho phép kế toán đánhgiá quá cao hay quá thấp giá trị tài sản, nợ phải trả, thu nhập hoặc chi phí Điều này cónghĩa là trong các điều kiện không chắc chắn thì kế
Trang 26tin kế toán Trong chuẩn mực kế toán quốc tế dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ,
nguyên tắc thận trọng được định nghĩa: “Thận trọng là bao gồm một mức độ cẩn trọng trong việc thực hiện các phán đoán cần thiết trong việc đưa ra các ước tính cần thiết trong các điều kiện không chắc chắn, sao cho tài sản hoặc thu nhập không bị cường điệu và các khoản nợ hoặc chi phí không được tiết lộ Tuy nhiên, việc thực hiện thận trọng không cho phép cố tình thiếu tài sản hoặc thu nhập hoặc cố tình nói quá mức các khoản nợ hoặc chi phí Nói tóm lại, nguyên tắc thận trọng không cho phép thiên vị” (IFRS for SMEs, 2015, trang 13)
Nguyên tắc thận trọng hiện diện rất nhiều trong các chuẩn mực kế toán quốc tế cụthể liên quan đến ghi nhận tài sản, nợ phải trả, xác định giá trị cũng như công bố thôngtin Ví dụ, nguyên tắc thận trọng thể hiện trong quy định xác định lại giá trị tài sản trongtình huống có dấu hiệu suy giảm trên cơ sở đánh giá tổn thất tài sản được quy định tạitại IAS 2 – Hàng tồn kho, IAS 19 – Tài sản cố định hữu hình, IAS 39 – Công cụ tàichính, IAS 36 – Tổn thất tài sản, IAS 37 – Dự phòng, Nợ phải trả và Tài sản tiềm tang,IFRS 4 – Hợp đồng bảo hiểm, IFRS 9 – Công cụ tài chính,…Nguyên tắc thận trọng thểhiện trong quy định về công bố thông tin, như trong IFRS 7 – Công cụ tài chính chỉđược công bố thông tin về lỗ tiềm tang nhưng không quy định công bố thông tin về lãitiềm tàng…Như vậy nội dung của thận trọng liên quan đến quá trình thực hiện công tác
kế toán trong các điều kiện không chắc chắn và liên quan đến nhiều chuẩn mực kế toánquốc tế
2.1.2 Các mô hình đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại doanh nghiệp
2.1.2.1 Mô hình của Basu (1997)
Mô hình đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng căn cứ vào thời điểm ghi nhận
các thông tin trong DN được đưa ra trong nghiên cứu ‘the conservatism principle and the asymmetric timeliness of earnings’ của Basu (1997) – gọi tắt là phương pháp AT.
Theo đó, khi thực hiện ACC, kế toán sẽ thực hiện ghi nhận ‘thông tin xấu’ (các thông tin bấtlợi cho DN, làm giảm doanh thu, giảm tài sản hoặc giảm giá trị DN) nhanh hơn ‘thông tintốt’ (các thông tin có lợi cho DN, làm tăng tài sản hoặc tăng doanh thu, tăng giá trị DN) dotính không cân xứng trong việc xác minh các khoản lãi và lỗ Mặc dù tính kịp thời khi ghinhận các sự kiện kinh tế trong kế toán đã được biết đến từ nghiên cứu của Warfield và Wild(1992) nhưng Basu(1997) là người đầu tiên nghiên cứu mối quan hệ giữa việc không cânxứng trong thời điểm ghi nhận thông tin kế toán với thận trọng kế toán: sự chênh lệch thờiđiểm ghi nhận thông tin tốt và xấu của DN càng cao
Trang 27(1997) đã phát triển mô hình hồi quy cắt ngang, còn gọi là mô hình hồi quy Basu’s, đểước tính mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong các công ty niêm yết.
Basu sử dụng mức sinh lời thị trường của cổ phần (stock markets return) làm cơ sởxác định DN có thông tin tốt hay thông tin xấu Giá cổ phiếu được xác định trên cơ sởkết hợp tất cả các thông tin trên thị trường một cách kịp thời từ nhiều nguồn, bao gồm cảbáo cáo thu nhập của DN Do đó, sự thay đổi giá cổ phiếu là tiêu chuẩn đánh giá tin tứcthu được trong từng giai đoạn Trong khi đó, báo cáo thu nhập của DN chịu sự ảnhhưởng của tính bất cân xứng trong việc kịp thời ghi nhận thông tin – thông thường tiếpnhận thông tin xấu nhanh hơn so với thông tin tốt Hàm hồi quy của Basu như sau:
(EPSit : là thu nhập trên mỗi cổ phần của công ty i cuối năm t
Pit : là giá mở cửa của công ty i năm t)
i: công ty i
t: năm tài chính t
β i (i=0,1,2,3) là các hệ số của các biến trong mô hình.
Rit là tỷ suất sinh lời giá trị thị trường của doanh nghiệp (market stock return) tínhcho kỳ 12 tháng theo số liệu CRSP bắt đầu từ tháng 3 năm (t-1) đến tháng 3 năm t củadoanh nghiệp i (tính cho khoảng thời gian từ 9 tháng trước năm tài chính t và 3 thángsau năm tài chính t) Basu (1997) sử dụng Rit để đại diện cho ‘thông tin tốt’ và ‘thôngtin xấu’ Một DN được coi là có ‘thông tin tốt’ nếu Rit ≥ 0, ngược lại một DN được coi
là ‘thông tin xấu’ nếu Rit < 0
Dit là biến giả có giá trị = 1 trong trường hợp thông tin xấu (Rit < 0); Dit = 0 trongtrường hợp thông tin tốt (Rit ≥0);
Mô hình hồi quy Basu sử dụng biến giả Dit, do đó cho phép các hệ số độ dốc và hệ
số chặn thể hiện sự khác biệt giữa hai nhóm Về bản chất, Basu xem xét mô hình hồiquy giữa hai biến tỷ lệ lợi nhuận kế toán (EPS/P) và mức sinh lời của cổ phần (R) chotừng trường hợp ‘thông tin tốt’ và ‘thông tin xấu’:
Trang 28Đối với ‘thông tin xấu’ (Rit < 0): Di,t = 1, hệ số góc của mô hình là (β0 + β1)
Các hệ số góc (độ dốc) của mô hình thể hiện mức độ bất đối xứng về tính kịp thờitrong việc ghi nhận thông tin vào giá trị lợi nhuận của công ty
Hệ số β3 là hệ số thể hiện tính kịp thời không cân xứng khi ghi nhận thông tin,
cũng chính là hệ số chính thể hiện mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán trong mô hình của Basu (1997) β3 càng cao thì mức độ thực hiện ACC của công
ty càng cao Nó được kỳ vọng là dương và có ý nghĩa thống kê
2.1.2.2 Mô hình của Khan & Watts (2009)
Khan & Watts (2009) dựa trên mô hình của Basu (1997) để đo lường tính kịp thờikhông cân xứng khi ghi nhận thông tin của kế toán Tuy nhiên hai tác giả bổ sung thêmhai giá trị C-score và G-score vào công thức (1) ở mô hình của Basu (1997) Trong đógiá trị G-socre thay thế cho hệ số β2, giá trị C-score thế cho hệ số β3
G-score được sử dụng để ước lượng tính kịp thời của việc phản ánh thông tin tốt,còn C-score được sử dụng để ước lượng tính kịp thời trong việc phản ánh thông tin xấu(chính là mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán) Giá trị G-score và C-score được tính cho từng công ty tại từng năm trong khoảng thời gian nghiên cứu Côngthức tính như sau:
G-score = β2 = 81 + 82Sizei + 83Mi/Bi + 84Levi (*)
C-score = β3 = λ1 + λ2Sizei + λ3Mi/Bi + λ4Levi (**)
Trong đó:
i: doanh nghiệp i trong mẫu nghiên cứu
8i, λi (i nhận giá trị từ 1 đến 4): giá trị ước lượng thực tế, là hằng số giữa các công ty,nhưng thay đổi theo thời gian vì chúng được ước tính từ hồi quy cắt ngang hàng năm.Size: quy mô doanh nghiệp (đo bằng logarit tự nhiên giá trị thị trường của Vốn chủ
sở hữu)
M: Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu
B: Giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu
Lev: Hệ số nợ (được tính bằng hệ số giữa Tổng nợ phải trả và Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu)
Trang 29điểm của từng công ty (quy mô (size), tỷ lệ giá trị thị trường và giá trị sổ sách (M/B) và
hệ số nợ (Lev)) và khác nhau theo năm trong khoảng thời gian nghiên cứu Thận trong
kế toán sẽ gia tăng trong dữ liệu của C_Score Tuy nhiên công thức (*) và (**) khôngphải là mô hình hồi quy mà chỉ là công thức tính, sau khi tính toán xong C_Score vàG_Score thì Khan & Watts (2009) thay vào công thức (1) của Basu (1997) Khi đó môhình hồi quy thể hiện sự bất cân xứng trong ghi nhận thông tin theo Khan & Watts(2009) như sau:
X it = β 0 + β 1 D it + (<1 + <2Sizeit + <3Mit/Bit + <4Levit) Rit + (λ1 + λ2Sizeit + λ3Mit/Bit +
λ4Levit) Dit R it + (σ1Sizeit + σ2Mit/Bit + σ3Levit + σ4DitSizeit + σ5 Dit Mit/Bit +
+σ 6 D it Lev it)+ ε it (2)
Trong đó:
X là thu nhập mỗi cổ phần sau khi đã loại trừ các khoản mục tăng thêm hay giảm
đi của giá cổ phiếu đầu kỳ:
Xit = EPSit/Pit
(EPSit : là thu nhập trên mỗi cổ phần của công ty i cuối năm t
Pit : là giá mở cửa của công ty i năm t)
Trang 30xứng của Basu đối với các mẫu của các công ty chỉ có lợi nhuận dương.
Một số nghiên cứu sau này đã kế thừa nghiên cứu của Khan & Watts (2009) khiđưa giá trị C-score vào mô hình nghiên cứu và xem đó như là một công thức được sửdụng để đo lường mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng tại các công ty như Jarboui(2013), Mohammed và cộng sự (2016)
2.1.2.3 Mô hình của Ball và Shivakumar (2005)
Trong nghiên cứu ‘Earnings quality in UK private firms: comparative loss recognition timeliness’ của Ball và Shivakumar (2005) đã phát triển từ mô hình hồi quy của Basu (1997) để xem xét sự tương quan giữa giá trị kế toán dồn tích (đại diện
cho mức độ thận trọng kế toán) và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của DN nhằm đolường việc thực hiện ACC trong những công ty chưa niêm yết (không công khai thôngtin trên TTCK) khi công có thông tin về giá cổ phiếu – gọi tắt là phương pháp AACF
Việc ghi nhận không kịp thời và không cân xứng giữa lợi ích kinh tế và thiệt hạikinh tế (doanh thu dự kiến và chi phí dự kiến) cũng tạo ra sự bất đối xứng trong phươngpháp trích trước Ball và Shivakumar (2005) lập luận rằng mối liên hệ ngược chiều giữathu nhập và dòng tiền từ hoạt động kinh ít thể hiện trong thông tin xấu như một hệ quảcủa sự bất đối xứng yêu cầu xác minh thu nhập khi có các thông tin tốt và xấu Các thiệthại kinh tế được ghi nhận ngay khi có cơ sở bởi các khoản trích trước chưa thực hiện,trong khi lợi ích kinh tế được ghi nhận khi đã thực hiện phát sinh bằng tiền mặt Đểkiểm tra sự bất đối xứng các khoản trích trước Ball và Shivakumar kiến nghị sử dụng
Trang 31DCFO là một biến giả có giá trị bằng 1 trong các trường hợp CFO < 0 (âm) vàbằng 0 trong các trường hợp CFO >=0.
Trong mô hình này, β 2 dự kiến sẽ là âm đáng kể cho thấy sự tương quan ngược
chiều giữa khoản giá trị kế toán dồn tích và dòng tiền mặt; β 3 dự kiến sẽ dương đáng kểkhi có sự hiện diện của nguyên tắc thận trọng có điều kiện, cho thấy một mối liên hệcùng chiều giữa dòng tiền và các khoản giá trị kế toán dồn tích khi tiếp nhận thông tinxấu, đó là, các khoản lỗ trích trước có nhiều khả năng làm giảm dòng tiền Vì vậy tương
tự như phương pháp của Basu (1997) (mô hình (1)), trong mô hình (3) theo phương
pháp AACF của Ball và Shivakumar (2005) thì hệ số β 3 chính là thước đo việc thựchiện ACC trong DN Hệ số này được kỳ vọng là dương do đó hệ số càng lớn càng chothấy việc áp dụng nguyên tắc thận trọng kế toán càng cao
2.1.2.4 Mô hình của Feltham và Ohlson (1995), Beaver và Ryan (2000)
Đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán dựa trên giá trị thịtrường (còn được biết đến là phương pháp book-to-market) được giới thiệu đầu tiên bởiFeltham và Ohlson (1995), sau đó được phát triển bởi Beaver và Ryan (2000)
Ý tưởng cơ bản khi sử dụng tỷ lệ market-to-book (hoặc book-to-market) như mộtcách để đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán đó là: nếu các yếu
tố khác không đổi, một hệ thống kế toán thực hiện nguyên tắc thận trọng sẽ có xu hướnglàm giảm giá trị ghi sổ của tài sản cũng như nguồn vốn một cách tương đối so với giá trịthị trường của nó Bản chất của phương pháp này đó là kế toán được phép ghi nhận cáckhoản chi phí khi có bằng chứng có khả năng xảy ra (như trích lập dự phòng, trích trướcchi phí phải trả, đánh giá lại giá trị tài sản…), do đó giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu cóthể bị đánh giá thấp hơn giá trị thị trường của nó Trong khi đó giá trị thị trường đượcghi nhận trên sơ sở giá trị vốn hóa thị trường của DN trên TTCK, phụ thuộc vào giá cổphiếu mà thị trường ghi nhận Hiện tượng này xảy ra có nguồn gốc xuất phát từ sự bấtcân xứng thông tin giữa nhà quản trị DN và nhà đầu tư Nhà đầu tư thường quan tâmđến hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của DN (ROE) để đánh giá giá trị DN (giá cổphiếu) mà không có đầy đủ thông tin về hoạt động của DN
Mô hình của Feltham & Ohlson (1995) được đưa ra như sau:
Trang 32BVit: Giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu công ty i tại thời điểm cuối năm t
Mô hình này được áp dụng trong các công ty niêm yết, do đó các tác giả sử dụng
tỷ lệ giữa giá trị thị trường (MV) và giá trị ghi sổ (BV) của vốn chủ sở hữu Tỷ lệ giữagiá trị thị trường và giá trị ghi sổ kế toán (MTB) cao thể hiện DN có mức độ thận trọng
kế toán cao và ngược lại Tỷ lệ MTB là đo cùng chiều với thận trọng kế toán trong khiBTM lại đo ngược chiều với thận trọng kế toán Do đó nếu tỷ lệ giữa giá trị ghi sổ vàgiá trị thị trường (BTM) thấp thì cũng cho kết quả tương tự như khi tỷ lệ MTB cao
Từ công thức (4) trong mô hình của Feltham & Ohlson (1995), Beaver và Ryan(2000) phát triển một cách có chọn lọc trong việc sử dụng tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trịthị trường của vốn chủ sở hữu (BTM) như là phương pháp đo lường thận trọng kế toáncủa DN Do tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) được đánh giá trên cơ sở thôngtin các năm trước của DN, do đó trong mô hình hồi quy ước lượng mức độ thận trọng kếtoán của các DN, Beaver và Ryan (2000) đã phân tách tỷ lệ BTM thành 2 thành phần:thành phần độ lệch và thành phần độ trễ Beaver và Ryan (2000) cho rằng thành phần độlệch của BTM được xem như là một chỉ số đo lường việc thực hiện nguyên tắc thậntrọng của DN Bên cạnh đó, Beaver và Ryan (2000) phân tích hồi quy giữa BTM vàROE với độ trễ 6 năm bằng phương pháp hồi quy dữ liệu mảng ảnh hưởng cố định
6
BTM t,i = α t + α i + ∑ β j R t-j,i + ε t,i (5)
j=0
Trong đó:
BTMt,i: tỷ lệ giữa giá trị ghi sổ và giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu của công ty
i tại thời điểm cuối năm t
αi : Thành phần độ lệch của tỷ lệ BTM của DN i
αt : Thành phần độ trễ trong BTM đại diện cho các DN trong mẫu nghiên cứu
Ri : Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) của công ty i
β : hệ số hồi quy
t: năm tài chính trong khoảng thời gian nghiên cứu
j nhận giá trị từ 0 đến 6 (Khoảng thời gian nghiên cứu là 6 năm)
Theo Beaver và Ryan (2000) trong mô hình hồi quy (5) trên, thành phần độ lệch αi
là một thước đo chính xác hơn về mức độ áp dụng nguyên tắc thận trọng kế toán của
DN so với công thức (4) trong mô hình của Feltham & Ohlson (1995)
Trang 33Givoly và Hayn (2000) đề xuất mô hình đo lường mức độ thực hiện ACC dựa trêngiá trị dồn tích không hoạt động như một phần của giá trị ghi sổ Theo đó mức độ thựchiện ACC tại các DN được đo bằng tổng giá trị lũy kế của phần dồn tích không hoạtđộng của DN (accumulation of nonoperating accruals) trong khoảng thời gian nghiêncứu Phương pháp này được gọi là phương pháp dồn tích âm (The Negative AccrualsMeasure – NA).
Sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 896 công ty niêm yết trên TTCK Mỹ trong khoảngthời gian từ năm 1965 đến 1998, Givoly và Hayn (2000) tìm thấy giá trị lũy kế của phầndồn tích không hoạt động (Cumulative Nonoperating Accruals - NA) ngày càng giảmxuống đáng kể trong thời kỳ nghiên cứu, hay nói cách khác số đối của giá trị lũy kếphần dồn tích không hoạt động tăng dần theo thời gian Trong khi đó, nhóm tác giả cũngtìm thấy giá trị lũy kế của phần dồn tích hoạt động (Cumulative Operating Accruals -OA) tăng đáng kể trong thời kỳ đó Tuy nhiên mức tăng của phần dồn tích hoạt độngkhông đủ lớn để bù đắp cho mức giảm của phần dồn tích không hoạt động, dẫn đến sựgiảm dần về mặt giá trị của tổng giá trị dồn tích (trước khấu hao) (Cumulative TotalAccruals before depreciation –TA) trong khoảng thời gian nghiên cứu từ 1965 đến
1998 Givoly và Hayn (2000) lập luận rằng khi thực hiện nguyên tắc thận trọng thì kếtoán sẽ trì hoãn việc ghi nhận các lợi ích kinh tế và đẩy nhanh việc ghi nhận các tổn thất.Quá trình này được thực hiện trong một khoảng thời gian dài sẽ dẫn đến tổng giá trị tíchlũy của phần dồn tích không hoạt động ngày càng lớn dần và mang giá trị âm Xu hướngtăng dần của đối số phần dồn tích âm là một biểu hiện của sự gia tăng thực hiện ACCcủa tổng thể các công ty trong mẫu nghiên cứu từ năm 1965 – 1998
Công thức tính tổng giá trị dồn tích (trước khấu hao) và phần dồn tích hoạt động,phần dồn tích không hoạt động của công ty i trong năm t theo Givoly và Hayn (2000)như sau:
TA = NI + Depre – CFO
OA = ∆ Phải thu + ∆ Hàng tồn kho + ∆ Chi phí trả trước - ∆ Phải trả - ∆ Thuế phải nộp
Trong đ ó:
NA: giá trị lũy kế của phần dồn tích không hoạt động
TA: tổng giá trị dồn tích (trước khấu hao)
Trang 34Depreciation: Chi phí khấu hao tài sản cố định
CFO: dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
Phần chênh lệch (∆) được tính bằng hiệu số giữa giá trị cuối năm t và giá trị đầunăm t
Phần tích lũy các khoản dồn tích không hoạt động là phương pháp đo lường thậntrọng kế toán của Givoly & Hayn (2000) Hai tác giải cũng cho rằng việc tìm thấy sựtích lũy phổ biến và đáng kể của phần âm các khoản dồn tích không hoạt động là phùhợp với sự gia tăng trong báo cáo thận trọng trong nhiều thập kỷ qua
2.1.2.6 Mô hình của Ahmed & Duellman (2007)
Ahmed & Duellman (2007) nghiên cứu mối quan hệ giữa thận trọng kế toán và cácđặc tính của Hội đồng quản trị tại 306 công ty thuộc S&P 500 trong giai đoạn từ 1999-
2001 Tác giả đo lường thận trọng kế toán tại thời điểm cuối năm của từng công ty dựatrên cơ sở mô hình của Givoly & Hayn (2000), tuy nhiên không sử dụng phần dồn tíchkhông hoạt động để đại diện cho thận trọng kế toán tại các công ty mà sử dụng phầntổng giá trị kế toán dồn tích (công thức (6) trong mô hình của Givoly & Hayn (2000)).Tuy nhiên hai tác giả này không sử dụng công thức (6) gốc ban đầu mà Ahmed
& Duellman (2007) đã tính giá trị trung bình trượt 3 năm của phần giá trị dồn tích xung quanh năm nghiên cứu t chia cho tổng tài sản bình quân
Công thức đo lường thận trọng kế toán theo mô hình của Ahmed & Duellman (2007) như sau:
CONS it = A i,t-1 + A i,t + A i,t+1 x (-1) (7)
i: đại diện cho công ty i trong mẫu nghiên cứu
LN hđkd : Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
TS BQ: Tổng tài sản bình quân (TSBQ = (TSđầu năm + TScuối năm)/2)
CFKH: Chi phí khấu hao
CFO: dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
Trang 35(6) nhưng xét về bản chất, đây đều là phương pháp sử dụng phần giá trị dồn tích để đolường thận trọng kế toán Givoly & Hayn (2000) cho rằng tổng giá trị kế toán dồn tích
có xu hướng giảm dần trong khoảng thời gian nghiên cứu (giá trị tuyệt đối tăng lên), do
đó Ahmed & Duellman (2007) đã nhân kết quả trung bình tìm được với -1 (âm một) đểthuận tiện hơn trong phân tích kết quả nghiên cứu Khi đó giá trị CONS trong công thức(7) càng lớn thì chứng tỏ công ty có mức độ thận trọng kế toán càng cao và ngược lại.Bên cạnh đó việc Ahmed & Duellman (2007) chia kết quả tính toán được từ côngthức (6) trong mô hình của Givoly & Hayn (2000) cho tổng giá trị tài sản bình quân đãgiúp giảm sự ảnh hưởng của quy mô của doanh nghiệp cũng như giảm độ lớn của cácgiá trị dồn tích, do đó việc so sánh giá trị CONS giữa các công ty hợp lý hơn Ngoài rakhi lấy trung bình trượt 3 năm quanh thời điểm t giúp tránh được sự biến động bấtthường của giá trị CONS tại từng năm cụ thể trong khoảng thời gian nghiên cứu Côngthức điều chỉnh này đã được nhiều nghiên cứu sau này áp dụng như Lara và cộng sự(2009), Ahmed & Herry (2012), Nasr & Ntim (2017) Tuy nhiên cũng có một số nghiêncứu chỉ áp dụng một số sự ưu việt trong công thức (7) như: chuẩn hóa bằng giá trị tàisản bình quân (chia cho giá trị tài sản bình quân) như Gassen và cộng sự (2006), vàcũng có một số nghiên cứu áp dụng sự ưu việt của việc nhân tổng giá trị dồn tích với -1như Xia & Zhu (2009), Kootanaee và cộng sự (2013)
Tổng hợp các mô hình được sử dụng để đo lường mức độ thực hiện ACC trong cácnghiên cứu trước đây được thể hiện trong bảng 2.1 dưới đây:
Trang 36Bảng 2.1: Tổng hợp các công trình nghiên cứu sử dụng mô hình đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán
1 Ahmed và cộng sự (2002) Mỹ Hợp đồng nợ vay và nguyên tắc Beaver & Ryan (2000)
thận trọng trong kế toán Givoly & Hayn (2000)
2 Beekes và cộng sự (2004) Anh Thành phần HĐQT và nguyên tắc Basu (1997)
(1993-1995) thận trọng trong kế toán
3 Lara và cộng sự (2005) Pháp, Đức và Mỹ Quản trị lợi nhuận và nguyên tắc Basu (1997)
(1997-2002) thận trọng trong kế toán
23 quốc gia Quản trị lợi nhuận và nguyên tắc Basu (1997)
(1990-2003) thận trọng trong kế toán
Givoly & Hayn (2000)
5 Klein & Marquadt (2006) Mỹ Khoản lỗ kế toán Givoly & Hayn (2000)
Mỹ (S&P500) Quản trị công ty và nguyên tắc Basu (1997)
(1999-2001) thận trọng trong kế toán
Beaver & Ryan (2000)Nhân tố ảnh hưởng đến việc thực Beaver & Ryan (2000)
7 Qiang (2007) Mỹ hiện nguyên tắc thận trọng trong
Givoly & Hayn (2000)
kế toán
8 Lara, Osma & Penalva (2009) Quản trị công ty và ACC Givoly & Hayn (2000)
(1999-2003)
Ball & Shivakumar (2005)
9 Xia & Zhu (2009) Trung Quốc (2001- Quản trị công ty và nguyên tắc Givoly & Hayn (2000)
2006) thận trọng trong kế toán
10 Lim (2011) Australian Quản trị công ty và nguyên tắc Basu (1997)
(1998 và 2002) thận trọng trong kế toán Ball & Shivakumar (2005)
Trang 37TT Tác giả Mẫu nghiên cứu Nội dung nghiên cứu Mô hình gốc sử dụng
Basu (1997)
11 Ahmed & Henry (2012) Australia Quản trị công ty và nguyên tắc Givoly & Hayn (2000)
(1992-2002) thận trọng trong kế toán Beaver & Ryan (2000)
Ball & Shivakumar (2005)
12 Cullinan và cộng sự (2012) Trung Quốc Cấu trúc sở hữu và nguyên tắc Basu (1997)
(2007-2009) thận trọng trong kế toánPháp Thành phần HĐQT, cấu trúc sở Basu (1997)
trong kế toán
14 Kootanaee và cộng sự (2013) Iran Quản trị công ty và nguyên tắc Feltham & Olhson (1995)
(2001-2012) thận trọng trong kế toán Givoly & Hayn (2000)Malaysia Tính độc lập của HĐQT và
15 Amran và Manaf (2014) nguyên tắc thận trọng trong kế Basu (1997)
18 Mohammed và cộng sự (2016) chính trị và nguyên tắc thận trọng
trong kế toán
19 Madah Marzuki và cộng sự (2016) Malaysia Quản trị công ty và nguyên tắc Basu (1997)
(2004-2009) thận trọng trong kế toán Ball & Shivakumar (2005)
20 Nasr và Ntim (2017) Ai Cập Quản trị công ty và nguyên tắc Givoly & Hayn (2000)
(2011-2013) thận trọng trong kế toán
Trang 382.2 Lý luận chung về quản trị công ty.
2.2.1 Nguồn gốc và định nghĩa Quản trị công ty
Nguồn gốc về quản trị công ty (QTCT) xuất phát từ sự phân tách quyền sở hữuvới quyền quản lý trong các công ty đại chúng Khi đó, các nhà đầu tư là các chủ sở hữuđầu tư vốn của mình vào công ty với kỳ vọng sẽ được hưởng lợi tức khi công ty hoạtđộng có lãi Tuy nhiên thực tế có nhiều nhà đầu tư (chủ sở hữu) không đủ thời gian vàtrình độ chuyên môn cần thiết hoặc không đủ quyền để điều hành công ty và đảm bảorằng công ty sẽ có lợi nhuận Khi đó, các nhà đầu tư sẽ thuê các nhà quản lý có trình độ
để điều hành các hoạt động thường ngày của công ty với mong muốn công ty hoạt độnglâu dài và có lãi Hay nói cách khác, công ty là của chủ sở hữu (cổ đông), nhưng đểcông ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt, sự điều hành của ban giám đốc và sựđóng góp của người lao động, mà những người này không phải lúc nào cũng có chung ýchí và quyền lợi
Việc tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý sẽ giúp nhà đầu tư giải quyếtvấn đề về thời gian hay năng lực điều hành, tuy nhiên chính sự tách biệt này cũng chính
là nguyên nhân gây ra sự nguy cơ xung đột lợi ích giữa các bên liên quan trong doanhnghiệp Trong khi nhà đầu tư và nhà quản lý đều mong muốn tối đa hóa lợi ích của mìnhnhưng điều kiện để tối đa hóa lợi ích của hai đối tượng này hoàn toàn khác nhau Điềukiện để nhà đầu tư tối đa hóa lợi ích của mình là khi giá trị doanh nghiệp gia tăng (gồm
cả lợi nhuận được tạo ra và giá trị thị trường của doanh nghiệp – được đo bằng giá trị thịtrường của cổ phiếu công ty), trong khi đó lợi ích của nhà quản lý chính là thu nhập họnhận được – phần tiền công mà chủ đầu tư trả cho họ
Nhằm hạn chế xung đột lợi ích tồn tại giữa các bên liên quan với doanh nghiệp(xung đột giữa người quản lý với chủ sở hữu, giữa chủ sở hữu và chủ nợ…) các quyđịnh về quản trị công ty được hình thành, mang lại giá trị gia tăng cao nhất cho nhà đầu
tư nói riêng và cho công ty nói chung Việc thực hiện các nguyên tắc quản trị công ty sẽgiải quyết được mối quan hệ ủy quyền trong công ty, qua đó các bên có liên quan cùngnhau giám sát có hiệu quả quá trình quản lý và các giao dịch đã được ký kết, giúp giảmcác vấn đề liên quan đến các xung đột lợi ích Như vậy quản trị công ty là mô hình cânbằng và kiềm chế quyền lực giữa các bên liên quan của công ty, nhằm vào sự phát triểndài hạn của công ty
Trang 39Hiện nay có nhiều tổ chức hay các quy chế ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế đưa rađịnh nghĩa về quản trị công ty Dưới đây tác giả trình bày một số định nghĩa về quản trịcông ty được chấp nhận một cách rộng rãi:
Theo ủy ban Cadbury (1992) thì quản trị công ty là “một hệ thống mà qua đó công ty được định hướng và kiểm soát” HĐQT phải chịu trách nhiệm về việc ban hành, thực hiện, chất lượng QTCT của DN Lúc này, vai trò của cổ đông trong QTCT là
chỉ định các thành viên HĐQT, các kiểm toán viên và qua đó đảm bảo cơ cấu QTCThợp lý Trách nhiệm của các TV HĐQT bao gồm: xây dựng mục tiêu chiến lược, đưa ra
sự đảm bảo quản lý chiến lược hiệu quả, giám sát các nhà quản lý trong hoạt động kinhdoanh và thông báo cho cổ đông về năng lực quản lý của họ Các công việc của HĐQTphụ thuộc vào các quy định của luật pháp và cổ đông trong các đại hội cổ đông
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 1999, 2004): “QTCT là những biện pháp nội bộ được thiết lập theo một hệ thống để điều khiển, định hướng và kiểm soát các hoạt động trong DN”.
Tổ chức Tài chính Quốc tế đã giới thiệu về đặc điểm QTCT trong cuốn ‘Cẩm nang
quản trị công ty’ như sau: “Quản trị công ty là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các cơ cấu và các quy trình” (IFC, 2010) Mục tiêu cuối cùng của việc thiết lập, vận hành QTCT là nhằm phân chia quyền lợi và trách nhiệm một cách phù
hợp, qua đó làm gia tăng giá trị lâu dài của các cổ đông
Tại Việt Nam, khái niệm QTCT đầu tiên được đề cập tại điều 2 “quy chế quản trịcông ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán/ trung tâmgiao dịch chứng khoán”, ban hành theo quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007
của Bộ Tài chính Theo văn bản này, QTCT là “hệ thống các nguyên tắc để đảm bảo cho công ty đươch định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả
vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty”.
Ngoài ra các nhà nghiên cứu cũng đưa ra định nghĩa riêng của mình về QTCT Theo
Shleifer và cộng sự (1997) trong nghiên cứu ‘A Survey of Corporate Governance’ đã
định nghĩa QTCT là cách thức mà các nhà cung cấp tài chính (vốn) cho doanh nghiệp, cácnhà đầu tư đảm bảo thu được lợi tức từ các khoản đầu tư của họ Mathiesen H (2002) chorằng QTCT là một khái niệm nghiên cứu cách thức khuyến khích quá trình quản trị kinhdoanh hiệu quả trong các công ty cổ phần bằng việc sử dụng các cách thức động viên lợiích, cấu trúc tổ chức và quy tắc Quản trị công ty thường giới hạn trong phạm vi câu hỏi vềnâng cao hiệu quả tài chính, ví dụ như: những cách thức nào mà chủ sở
Trang 40hữu doanh nghiệp khuyến khích các giám đốc của họ sử dụng để đem lại hiệu suất đầu
tư cao hơn? Trong Financial Times (1997) định nghĩa QTCT được hiểu theo nghĩa hẹp
là quan hệ của một doanh nghiệp với các cổ đông, hoặc theo nghĩa rộng là quan hệ củadoanh nghiệp với xã hội Trong khi đó James D Wolfensohn - Cựu Chủ tịch WorldBank (6/1999) cho rằng QTCT nhắm tới mục tiêu thúc đẩy sự công bằng doanh nghiệp,tính minh bạch và năng lực chịu trách nhiệm Hillman & Dalziel (2003) cho rằng QTCTđược thiết lập nhằm giám sát Ban quản lý với tư cách đại diện cho cổ đông, cung cấpcác nguồn lực để thực hiện các chức năng nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho cổ đông.Như vậy không có một khái niệm thống nhất về QTCT vì các nội dung liên quanđến QTCT phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội, luật pháp và văn hóa củamỗi quốc gia, vùng lãnh thổ Trong nghiên cứu này, tác giả định nghĩa QTCT theo quanđiểm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 2004) Theo đó, QTCT baogồm việc thiết lập các biện pháp nội bộ theo một hệ thống nhằm điều khiển, định hướng
và kiểm soát các hoạt động trong doanh nghiệp QTCT liên quan tới một tập hợp cácmối quan hệ giữa Ban Giám đốc, Hội đồng quản trị, cổ đông và các bên có quyền lợiliên quan khác
2.2.2 Nội dung và đặc điểm của quản trị công ty
Hiện nay có hơn 200 bộ quy chế QTCT đã được xây dựng cho hơn 72 quốc gia vàvùng lãnh thổ (IFC, 2010), phần lớn các bộ quy tắc này tập trung vào vai trò của BKShoặc HĐQT, một số bộ quy tắc đã có phạm vi áp dụng mang tính quốc tế Theo OECD(2004) thì không có mô hình QTCT tốt nhất Do giữa các quốc gia có sự khác nhau giữanguồn gốc các thể chế pháp luật, đặc tính văn hóa, trình độ phát triển của thị trường tàichính, do đó nội dung, nguyên tắc và đặc điểm QTCT cũng được xây dựng để phù hợpvới đặc điểm của từng quốc gia, vùng lãnh thổ
Theo khuôn mẫu QTCT ở Anh, nội dung QTCT gồm có 5 nội dung chính là: Lãnhđạo, Hiệu quả, Trách nhiệm, Cơ chế đãi ngộ; Mối quan hệ với cổ đông Tại Mỹ, nội dungQTCT cũng bao gồm 5 nội dung chính là: Quyền của cổ đông; Luật giao dịch nội gián; Vaitrò của các bên liên quan đến công ty; Công khai, minh bạch báo cáo và công bố thông tin;Trách nhiệm của HĐQT Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã ban hành bộnguyên tắc QTCT đầu tiên vào năm 1999, chỉnh sửa lần thứ nhất vào năm 2004 và cập nhậtmới nhất vào năm 2015, được trở thành chuẩn mực quốc tế cho các nhà hoạch định chínhsách, nhà đầu tư, công ty và các bên có quyền lợi liên quan Theo OECD, QTCT bao gồm
có 6 nguyên tắc: Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ QTCT