Trong thời đại ngày nay, hội nhập là xu thế tất yếu và là quy luật để một đất nước có thể phát triển, Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới và phát triển đã ngày càng hội nhập sâu vào sự phát triển của thế giới không chỉ về kinh tế mà còn cả về văn hoá, xã hội. Trong công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước ở những thập kỷ tiếp theo, chúng ta cần có một phương pháp, một phong cách ứng xử phù hợp để đưa đất nước phát triển trước sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc của tất cả các quốc gia trên thế giới vì sự phát triển của chính mình và vì những vấn đề phát triển chung của nhân loại.
Trang 1Luận văn Thạc sỹ Khoa học chính trị, chuyên
ngành Hô Chí Minh học
15-08-2011
MO DAU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, hội nhập là xu thế tất yếu và là quy luật để một đất nước có thé phát triên, Việt Nam sau hơn 20 năm đỗi mới và phát triển đã ngày càng hội nhập sâu vào sự phát triển của thế giới không chỉ về kinh tế mà còn cả về văn hoá, xã hội Trong công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước ở những thập kỷ tiếp theo, chúng ta cần có một phương pháp, một phong cách ứng xử phù hợp đề đưa đất nước phát triển trước sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc của tât cả các quôc gia trên thế giới vì sự phát triển của chính mình và vì những vấn đề phát triển chung của nhân loại
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta khang định lấy Chủ nghĩa Mác - Lénin, tu tưởng
Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và nhân dân ta Đảng xác định tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và phong phú về cách mạng Việt Nam, tư
tưởng Hồ Chí Minh là tài sản vô giá, nó là sự chung đúc và kết tỉnh những gì ưu tú nhất thuộc về Dân tộc - Thời đại và Nhân loại, được trí tuệ Hồ Chí Minh, phương pháp và phong cách Hồ Chí
Minh, đạo đức, nhân cách và bản lĩnh văn hoá Hồ Chí Minh làm cho thăng hoa, thực sự trở thành giá trị văn hoá Việt Nam hiện đại Hồ Chí Minh đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, nắm được cái tinh than, phương pháp biện chứng trong nhận thức, đẻ phát hiện và giải quyết các vấn đề phát triển của Việt Nam trong thời đại mới Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam mà còn có những phát triển mới, bổ sung và làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận thấy phương pháp "D7 bái biến, ứng vạn biến" trong tư tưởng của Người không những mang tính khoa học, biện chứng của triết học mácxít mà còn chứa đựng cái tinh tế, sâu sắc của triết lý phương Đông Khoa học bởi nó chứa
đựng những nguyên lý cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là tính biện chứng, tính duy
vật lịch sử, nguyên lý của phát triển, mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, mối liên hệ phố biến v.v.; tinh tế, sâu sắc bởi người sử dụng không bị gò bó mà có thể sáng tạo trên cơ sở hoàn cảnh thực tế, hoàn cảnh khách quan của hoạt động đang diễn ra và còn bởi nó không bao giờ trở nên cũ kỹ hay nhàm chán, khi sử dụng người sử dụng ngày càng nhận thấy nó trở nên phố biến, bao quát nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực, không chỉ trong cách mạng mà còn giá trị trong cả xây dựng, phát triển; không chỉ cho toàn xã hội mà còn cho từng gia đình, từng cá nhân trong xã hội Trong điều kiện thách thức và thời cơ đan xen nhau, vượt qua thách thức mới tìm thấy thời cơ như hiện nay, nếu như không nam được cái "bat biến" mà cứ chạy theo cái "vạn biến" thì sẽ không những không đưa đất nước phát triển mà còn làm thụt lài quá trình phát triển của Công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước trong những thập kỷ tiếp theo chúng ta cân có một phương pháp, một phong cách ứng xử phù hợp dé đưa đất nước phát triển trước làn sóng hội nhập kinh
tê, làn sóng giao lưu văn hoá và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc của tất cả các quốc gia trên thế giới vì những vấn đề chung của nhân loại Phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh là chưa đủ đẻ giải quyết thâu đáo tất cả những vướng mắc về lý luận cũng như thực
Trang 2tiễn gặp phải trong quá trình hội nhập và phát triển của đất nước, nhưng giá trị của nó cho phép chúng ta vận dụng, khai thác trong nhiêu lĩnh vực trước những đòi hỏi của quá trình phát triên đât nước
Chính vì những lý do đó, chúng tôi chọn đề tài: Phương pháp “Dĩ bắt biến, ứng vạn biến " Hồ Chí Minh, làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ ngành Hồ Chí Minh học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có một số công trình nghiên cứu về phương pháp, phong cách của Hồ Chí Minh Trong việc nghiên cứu mang tính chất hệ thống phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, các công trình này
đã đề cập tới phương pháp “Dĩ bat biến, ứng vạn biến” Hồ Chí Minh
Tiêu biểu nhất phải kế đến là cuốn: Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh - GS Đặng Xuân
Kỳ (chủ biên), Nxb Lý luận chính trị, 2004 Cuốn sách với 3 chương, các tác giả đã trình bày có
hệ thống kết quả nghiên cứu lý luận chung về phương pháp, về phong cách và từ đó phân tích
khá cặn kẽ nội dung, ý nghĩa của phương pháp Hồ Chí Minh, của phong cách Hồ Chí Minh, đề
cập đến các khái niệm về phương pháp, phương pháp cách mạng và phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh; bước đầu chỉ ra hệ thông phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, hệ thống phong cách
Hồ Chí Minh Cuốn sách là một trong số ít những tài liệu đầu tiên nghiên cứu về phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh một cách khái quát và hệ thống, nó đưa công tác nghiên cứu về phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh lên một tâm cao mới
Trong chương II, hệ thống phương pháp cách mang Hồ Chí Minh, các tác giả đã đưa
ra một hệ thông phương pháp cách mạng của Hô Chí Minh như sau:
M6t la, lay thuc tế Việt Nam làm điểm xuất phát, lấy cải tạo, biến đổi hiện thực Việt Nam làm mục tiêu cho mọi hoạt động cách mạng
Hai là, tập hợp, huy động lực lượng toàn dân tham gia vào sự nghiệp cách mạng
Ba là, dĩ bất biến ứng vạn biến
Bốn là, nắm vững thời cơ, giải quyết đúng mối quan hệ giữa thời, thế và lực
Năm là, biết thắng từng bước
Sáu là, kết hợp các phương pháp.[ 23, tr.67-1 17]
Trong mục III, chương II, với hơn 6 trang sách GS Đặng Xuân Kỳ và các tác giả đã bước đầu chi
ra cái “bất biến” và cái “vạn biến” trong phương pháp cách mạng của Hồ Chí Minh Về cơ bản, cuốn sách là một công trình nghiên cứu khá đầy đủ và toàn vẹn về hệ thống phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh cho tới thời điểm này, nhưng chính lý do đó, khiến cho cu6n sách không có điều kiện để đề cập sâu và rộng hơn về phương pháp “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, mới chỉ dừng lại ở mức độ gợi mở, định hướng có tính chất phương pháp luận “Các tác giả không có tham vọng giải quyết mọi van đề đặt ra, mà chỉ hy vọng cô gắng đi tới những kết luận bước đầu
về phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh.”[23, tr.13]
Cuốn thứ hai: Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh của GS.TS Hoàng Chí Bảo, Nxb Lý luận
Chính trị xuất bản 2007, cuốn sách là một công trình dày đặn, công phu và thể hiện tâm huyết của một nhà khoa học, một nhà lý luận "có cả sự thấu hiểu và thấu cảm về đối tượng - một đối
tượng văn hoá luôn luôn làm ta cảm động và ngạc nhiên, kính yêu và ngưỡng mộ, biết ơn vô hạn
Trang 3và nguyện vọng xứng đáng với Người” [3, tr.25] Cuốn sách của GS.TS Hoàng Chí Bảo là công
trình đã tìm hiểu và trình bày tổng quan những nghiên cứu về phương pháp Hồ Chí Minh của một số công trình, cũng như nhận định trước đó của các tác giả khác về phương pháp và phương pháp luận Hồ Chí Minh Trong mục III, "phương pháp Hồ Chí Minh và những vân đề đặt ra từ lý luận đến thực tiễn", GS.TS Hoàng Chí Bảo với quan điểm tiếp cận phương pháp Hồ Chí Minh cho rằng "phương pháp bao giờ cũng hình thành từ sự tác động qua lại giữa cái khách quan và cái chủ quan", "van dé phương pháp phải được nhìn nhận từ nhiều lớp quan hệ gắn liền với nhau như một chỉnh thể bao gồm: Khách quan và chủ quan; Đối tượng và chủ thể; Thực tiễn - lý luận - hoạt động" Tiếp cận phương pháp Hồ Chí Minh với tư cách là phương pháp của một nhà mácxít sáng tạo lớn của Việt Nam Từ những quan điểm mang tính chất gợi mở, GS.TS Hoàng
Chí Bảo tiếp tục chỉ ra sự hình thành phương pháp Hồ Chí Minh, bước đầu nêu ra và phân tích
những đặc điểm chủ yếu của phương pháp Hồ Chí Minh, đó là:
Thứ nhất, phương pháp Hồ Chí Minh nồi bật ở nhận thức đúng các mối quan hệ và giải quyet hợp lý sự tác động qua lại giữa các môi quan hệ đó trong thực tiền, phù hợp với yêu câu của thực tiên
Thứ hai, thực tiễn hoá lý luận và lý luận hoá thực tiễn là một trong những đặc điểm chủ yêu của phương pháp Hỗ Chí Minh
Thứ ba, phương pháp Hồ Chí Minh là phương pháp sáng tạo, đổi mới đề phát triển;
chú trọng hành động và hiệu quả thực tê, nên chú trọng bày vẽ cách làm và bước đi thật cụ thê đê dân chúng hiệu đúng và làm ngay
Thit tu, phương pháp Hồ Chí Minh - một kiêu mẫu của lòng khoan dung nhân ái, của việc thực hành lôi sông và nhân cách văn hoá.[3, tr I25-154]
Cùng với việc gợi mở những nghiên cứu về phương pháp Hồ Chi Minh, GS.TS Hoang Chi Bao cũng đã bước đâu vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh đê tìm hiệu tư tưởng triệt hoc Ho Chi Minh, "cảm nhận về triệt lý phát triên xã hội Hô Chí Minh"; nghiên cứu "từ "Dân" đên "Dân chủ" và "Dân vận", trong phương pháp và phong cách Hô Chí Minh
Về cơ bản cuốn sách trình bày một cách hệ thống và có những gợi mở cho các nhà nghiên cứu một hướng đi, một phương pháp tiêp cận phương pháp Hồ Chí Minh Cuôn sách là công trình có giá trị đôi với các học giả, những người nghiên cứu và giảng dạy bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra còn một số sách, giáo trình như:
- Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh - Nxb Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003
- Tư tưởng Hồ Chí Minh (tập bài giảng, dùng cho Chương trình Cao cấp lý luận chính trị), Học viện Chính trị quôc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Hà Nội, Khoa Lịch sử Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2003
- Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1993, tập 3
- Trường Chinh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Thông tin lý
luận, Hà Nội, 1991
- Võ Nguyên Giáp: Về tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993.
Trang 4- Bùi Đình Phong: Hồ Chí Minh học và minh triết Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
- Đặng Đình Nguyên: Dĩ bát biến, ứng vạn biến
-GS.TS Nguyén Hùng Hậu (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh): 7ữ ứriếr jý
“Dĩ bát biên, ứng vạn biên ” đên triệt lý hành động Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản điện tử
- Lê Thị Huệ (Học viện chính trị - Hành chính khu vực IV): 7n hiểu # tưởng Hỗ Chí Minh về
“Dĩ bất biên, teng van biên ” trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tô quốc Việt Nam - nhìn từ góc
độ triệt học
- Trang thông tin điện tử tỉnh Sóc Trăng(23 - II - 2009): Vận dụng phương châm “Di bat biến, ứng vạn biên ến” trong phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh vào quá trình hội nhập kinh tế quốc
té của nước ta hiện nay
- Trần Văn Phòng: Về riết! lý phát triển Hồ Chí Minh, Tạp chí Khoa học chính trị, Số 5/2008
- Ha Thị Mỹ Hạnh: Vận dụng phương châm “Dĩ bắt biến, ứng vạn biến ” trong tu trởng Hồ Chí Minh vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ta hiện nay, Đê tài khoa học câp cơ sở, Học viện Chính trị khu vực I, 2004
Tuy nhiên, như đã trình bày, các công trình sách, giáo trình, các bài viết chưa có điều kiện
đề cập một cách có hệ thống về phương pháp “Dĩ bắt biến, ứng vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà chủ yếu mới dừng lại ở chỗ chỉ ra cái “bất biến” và cái “vạn biến” trong phương pháp cách mạng của Hồ Chí Minh Về cơ bản mới dừng ở mức độ phân tích, đánh giá những sự kiện
đã qua nhăm cho chúng ta thay giá trị của phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh, cũng chính vì vậy nhiều công trình, bài viết còn cho rằng đây là một quan điểm, phương châm chứ chưa phân tích nó ở góc độ là một phương pháp cách mạng đề thấy rõ hơn giá trị vận dụng của nó cho giai đoạn cách mạng hiện nay và về sau
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu và làm rõ khái niệm, vai trò, nội dung phương pháp “Dĩ bắt biến, ứng vạn biến”, những biểu hiện cụ thể của nó trong hoạt động của Hồ Chí Minh, và sự vận dụng phương pháp
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới của Đảng ta
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá và phân tích phương pháp "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam và vai trò của phương pháp “Dĩ bât biến, ứng vạn biến” trong hệ thống phương pháp cách mạng Hô Chí Minh
Trang 5- Nghiên cứu, tìm hiểu quá trình Hồ Chí Minh sử dụng phương pháp “Dĩ bắt biến, ứng vạn biến” trong lãnh đạo cách mạng, trên các lĩnh vực: Kinh tê; Chính trị; Quân sự; Ngoại giao; Xây dựng Dang
- Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu thực tiễn, xác định các nguyên tắc phương pháp luận cần quán triệt khi vận dụng phương pháp “Dĩ bắt biến, ứng vạn biến” Hồ Chí Minh trong xây dựng, doi mới phát triển kinh tế, giữ vững ồn định chính trị; tăng cường mở rộng ngoại giao v.v, nhằm phát triển xã hội Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
*V nội dung:
Luận văn nghiên cứu:
- Phương pháp: "D7 bát biến, ứng vạn biến" - ở góc độ phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh
- Phương pháp: "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" trong thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Hô Chí Minh trên các lĩnh vực Kinh tê; Chính trị; Quân sự; Ngoại giao
*Vê thời gian:
- Quá trình sử dụng phương pháp "Dĩ bát biến, ứng vạn biến" của Hồ Chí Minh trong tiến trình
cách mạng Việt Nam từ 1945 đên 1969
- Quá trình Dang vận dụng phương pháp: "D7 bát biến, ứng vạn biến ” Hồ Chí Minh vào sự
nghiệp đôi mới hiện nay ở nước ta từ 1986 đên nay
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu của luận văn
$.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường tất yêu đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản của nhân loại, là triệt lý vê giải phóng triệt đê Con người
%.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu, trình bày trên cơ sở quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về phương pháp cách mạng và phương pháp cách mạng Việt Nam
Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác: Phân tích - Tổng hợp; Logíc - Lịch sử; thông kê, so sánh, v.v
5.3 Nguồn tài liệu
* Tài liệu nghiên cứu:
- Gồm có 12 tập Hồ Chí Minh toàn tập.
Trang 6- Các tài liệu của Đảng: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, toàn tập; Các Văn kiện Hội nghị trung ương các khoá; Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006); Báo cáo Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đât nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (1991 - 2011); Các Văn kiện và cam kết gia nhập WTO v,v
* Tài liệu tham khảo:
- Các giáo trình, tập bài giáng Triết học, Kinh tế chính trị, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Xây dựng Đảng v,v, dùng cho cử nhân, thạc sỹ và cao câp lý luận chính trị
- Sách của các tác giả: Sách viết về hệ thông phong cách và phương pháp Hồ Chí Minh, sách liên quan đến các nội dung nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, ngoại giao
- Các luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn
- Các bài viết của các nhà nghiên cứu in trên báo, tạp chí, các trang báo điện tử
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn khẳng định "Dĩ bat biến, ứng vạn biến" trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là một phương châm mà đã có sự phát triền thành một phương pháp cách mạng,
có giá trị lý luận, thực tiễn trong cách mạng Việt Nam trước đây và trong sự nghiệp đôi mới hiện
- Trên cơ sở phân tích quá trình đổi mới của Đảng, luận văn đánh giá và đề xuất phương hướng vận dụng phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh của Đảng trong giai đoạn tiếp theo
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho sinh viên, giảng viên môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
7 Kết cầu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 2 chương 6 tiệt:
Chương 1: Cơ sớ hình thành và nội dung của phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ
Chí Minh
Chương 2: Biểu hiện của phương pháp “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đôi mới
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CỦA PHƯƠNG PHÁP
"Di BAT BIEN, UNG VAN BIEN" HO CHi MINH 1.1 CO SO HINH THANH PHUONG PHAP “Di BAT BIEN, UNG VAN BIEN” HO CHi MINH
1.1.1 Nghĩa của “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”
Ngày 31 - 5 -1946, trước khi lên máy bay đi Pháp, “Chủ tịch Hồ Chí Minh nắm tay Cụ Huỳnh Thúc Kháng và nói: “Tôi vì nhiệm vu quoc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho Mong Cụ “đĩ bất biến ứng vạn biến” [22, tr
2351
"Dĩ bất biến, ứng vạn biến ” là cụm từ có nguồn gốc tiếng Hán, là một về của một câu đối hoàn chỉnh mà về thứ hai của nó là: "D7 cứng tâm, vi kỷ tâm" (tức là lấy tình cảm, ý chí của quần
chúng làm tình cảm, ý chí của mình) Đây là lần đầu tiên Hồ Chí Minh sử dụng về đối này, ý tại
ngôn ngoại, phù hợp khi nói với một nhà Hán học như cụ Huỳnh Thúc Kháng; câu nói cũng như
một bí kíp được truyền lại đề xử lý những tình huống thay đổi liên tục ở thời điểm bấy giờ
Trong quá trình giao thoa văn hoá, người Việt dùng nguyên cụm từ này cả âm lẫn nghĩa Cụm từ
này được ghép bởi các từ đơn: dĩ = lay; bat = khong; bién = biến hóa, thay đổi; ứng = "ứng phó,
xử lý, đối xử; vạn (số từ) = vạn, hàng vạn Có thé hiểu nghĩa đen của cụm từ này là: lấy cái không thay đổi để ứng phó linh hoạt với những cái đang biến đổi trong hiện tại Chúng ta đều biết răng, mối quan hệ giữa cái bat biến và cái vạn biến, giữa cái không thay đổi và cái thay đổi, giữa bản chất và hiện tượng, v.v, là vấn đề trung tâm của triết học xuyên suốt từ cổ chí kim, từ
Đông sang Tây Như vậy, "Dĩ bat biến, ứng van biến" còn có thể hiểu là lấy cái có tính quy luật
để ứng phó với cái thiên sai vạn biệt, phong phú đa dạng, biến đổi khôn lường Còn ý nghĩa nhân sinh sâu xa của phương pháp này là ở chỗ, trong cuộc sông nên nắm giữ cái bản chất, cái lớn lao, không sa vào cái vụn vặt, lạc vào những biến đôi của hiện tượng, nên đứng ở cái bắt biến mà quan sát, từ đó dung hoà, xử lý các quan hệ, xử lý với ngàn vạn những điều đang Xảy ra trong cuộc sống một cách linh hoạt trên cơ sở mục tiêu cơ bản, mục tiêu lâu dài, đích cuôi cùng Muốn thực hiện được, thực hiện đúng mục tiêu cuối cùng thì phải lấy nó làm gốc khi ứng phó với những cái đang xảy ra trong hiện tại và tương lai, ứng phó với hàng vạn những diễn biến phức tạp đang xảy ra trong hiện tại dù linh hoạt tới đâu vẫn phải dựa trên cơ sở cái không đổi Nếu không nắm được cái bắt biến mà cứ chạy theo cái vạn biến thì cả đời mỏi mệt, trăm lần khởi sự không một thành công
Chúng ta thấy trong cuộc - sống, trong mỗi vấn đề, trong mỗi việc có một điều bắt biến riêng,
đồng thời với mỗi điều bat bién 4 ây, tuỳ hoàn cảnh, thời điểm mà lại có hàng vạn điều vạn biến
khác nhau Hiểu nghĩa của "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" như vậy, chúng ta thấy rằng ngay trong mối quan hệ giữa các các nhân, quan hệ gia đình, anh em, bạn bè cũng phải cư xử dựa trên cơ sở của cái bất biến Cái bất biến trong quan hệ gia đình, anh em, bạn bè trong xã hội xưa được quy định bằng các quan hệ: vua - tôi; cha - con; vợ - chồng Ngày nay, dù lễ giáo phong kiến không còn tôn tại một cách chính thong, 1 mối quan hệ trong gia đình và xã hội cũng có những thay đổi nhất định, mọi người cởi mở và gần gũi với nhau hơn, nhưng chúng ta rễ dàng để nhận ra là
Trang 8trong các mối quan hé chang chit 4 Ấy, mỗi người phải luôn giữ và xây dựng cho mình một nguyên
tắc ứng xử đảm bảo duy trì các môi quan hệ; khi không xây dựng được nguyên tác ứng xử cho riêng mình - một nguyên tic bat biến phù hợp, thì rất đễ gặp thất bại trong cuộc sống gia đình
cũng như công việc
Tuy nhiên, không dừng lại ở chỗ tìm hiểu xem cái bắt biến của mỗi cá nhân là gì trong những môi quan hệ xã hội Chúng ta cần nhìn đến những vấn đề lớn hơn, đi tìm và xây dựng những nguyên tắc, mục tiêu bất biến cho từng tập thé, từng tổ chức và rộng lớn hơn là cho cả quôc gia Trên cơ sở cái bất biến của quốc gia - dân tộc, mỗi cá nhân trong xã hội xác định cái bất biến của mình
Đối với mỗi quốc gia - dân tộc, cái bất biến là lợi ích quốc gia hay mục tiêu lợi ích quốc gia đã được hình thành và phát triên qua một quá trình lịch sử lâu dài Cái bất biến có thể hiểu là cái không đổi, mục tiêu lâu dài, mục tiêu chiến lược Đối với sự nghiệp cách mạng thì dé cach mang
di đến thắng lợi phải trải qua nhiều giai đoạn, nhiều chặng đường Nhiệm vụ của mỗi giai đoạn, mỗi chặng đường có thể khác nhau, vì thế mục tiêu từng giai đoạn, từng chặng đường cũng có thể khác nhau, nhưng mục tiêu chung cuối cùng, cái đích để vươn tới là không thay đồi Những thay đổi trong từng chặng đường, từng giai đoạn gọi là sách lược hay nó chính là sự vạn biến cho
phù hợp với giai đoạn, chặng đường đó Chúng ta cũng có thể thấy cái bắt biến và cái vạn biến
có thê chuyên hoá cho nhau Cái bât biên ở một giai đoạn cách mạng này có khi lại là cái vạn biến ở cả một thời kỳ của cách mạng Nhưng dù là gì nó phải phục vụ mục tiêu không đổi, mục tiêu cuối cùng, mục tiêu chiến lược đã được xác định, cái bat biến lớn nhất và cuối cùng Đây là phương pháp hành xử của mỗi người, cộng đồng, quốc gia dân tộc có tính phố biến trong quá trình mưu sinh, và rộng ra là cả quá trình tồn tại và phát triển trong lịch sử
Tóm lại, có thể hiểu "Di bat biến, ứng vạn biến" là dựa trên cơ sở của cái không thay đồi, lấy cái không thay đổi (mục tiêu vươn tới) đề ứng phó với hàng vạn cái thay đổi nhằm hiện thực hóa cái
không thay đổi Ở đây phải hiểu, cái bất biên - cái không thay đồi lúc đầu chỉ là mục tiêu của hành động, sau hành động với vạn cái thay đổi đề đạt được, giữ vững cái không thay đổi tức là
đã biến mục tiêu lúc này đã trở thành hiện thực, cái bất biến được giữ vững
1.1.2 Tỉnh hoa văn hoá nhân loại
Hồ Chí Minh sinh ra trong gia đình có học, ở một vùng quê hiếu học và yêu nước Trước khi lên đường qua năm châu bón biên, sóng, học tập, làm việc và tìm hiểu thực tế ở hầu khắp các nước
lớn trên thế giới, trước khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã được tắm gội, thắm
đẫm truyền thống văn hoá quê hương, đất nước cũng như được học tập, hiểu biết khá sâu sắc văn hoá truyền thống phương Đông Chính vì vậy, không thé và không phải ngẫu nhiên khi Hồ Chí
Minh khang dinh:
Học thuyết của Không Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo
đức cá nhân
Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta Không Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chăng những có điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như
những người bạn thân thiết.[43, tr.1 52]
Trang 9Khang định đó nó cho chúng ta thay hiểu biết rất sâu sắc, nghiên cứu tỉ mỉ của Hồ Chí Minh về
triết lý sóng và triết lý phát triển xã hội của các bậc vĩ nhân, thánh nhân từ Đông sang Tây trong lịch sử nhân loại Trong sự hiểu biết và nghiên cứu ấy, Hồ Chí Minh luôn đi đến tận cùng, nắm chắc bản chất của vấn đề, bản chất của triết thuyết, từ đó hình thành cho mình một phương pháp
tư duy giàu tính biện chứng phương Tây nhưng lại hết sức tinh tế nhạy cảm của phương Đông
Lối tư duy độc lập sáng tạo ấy, nó cho chúng ta thấy phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến"
Hồ Chí Minh rõ ràng phương Đông, rất Việt Nam nhưng có sự vượt lên bởi tính biện chứng, khoa học của phương Tây
Thật vậy, trong quan niệm triết học phương Đông, Lão Tử cho rằng, moi cái từ đạo mà ra, rồi lại trở về với đạo Đạo !à cái bắt biến, vĩnh hăng, vĩnh cửu còn vạn vật là cái vạn biến Nếu không năm lay cái bat biến mà cứ chạy theo cái vạn biến thì cả đời sẽ mệt mỏi, theo ông năm được đạo
là nắm được mạnh, là biết được cái vạn vật, đã biết được vạn vật lại giữ được đạo thì suốt đời không gay, ai giữ được đạo thì có thể khống chế được vạn vật Lão Tử còn cho rằng, biết cái bất biến thì sáng suốt, không biết thì gây ra tai họa Cũng vấn đề đó, Trang Tử cho rằng, cái chốt của đạo là bất biến, còn xung quanh nó là vạn vật biến đồi vô cùng Thánh nhân dừng ở các chốt đó
mà dung hoà, quân bình vạn vật Thánh nhân đứng ở cái bắt biến mà quan sát những cái vạn
biến, dùng bắt biến ứng với vạn biến, do đó mà Thánh nhân trường cửu Như vậy: "Dĩ bất biến,
ứng vạn biến" đã từng là phép xử thế của các bậc thánh nhân phương Đông
Trong triết lý của Phật giáo Án Độ, triết lý "tuỳ duyên nhi bat biến" hay nói ngắn gọn là triết lý tuỳ duyên, cũng thể hiện hành động rất thoáng, rât cởi mở, thoải mái: theo triệt lý này thì hành giả giữ vững đạo tâm, lý tưởng giải thoát khổ, nương theo duyên (điều kiện sống) mà hành xử
việc đạo, việc đời, không cô chấp, không câu nệ Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikàya đại ý
rằng: Phật đến một hội chúng nào thì ứng xử theo cung cách, ngôn ngữ của hội chúng đó, nói chuyện với bác tiều phu, đức Phật sử dụng ngôn ngữ thường nhật gan gũi với bác tiêu phu Không phải vì thế mà đức Phật đánh mât mình Bởi bản chât của việc làm đó là để phô biến cho moi người, mọi đối tượng trong xã hội về con đường giải thoát khỏi nỗi khô
Đối với triết học Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng, cái bat bién 1a vat chat, nhung vat chất luôn vận động biến đổi, luôn chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác; nó vĩnh viên, vô cùng, vô tận; nó bất biến so với hiện tượng luôn luôn thay đôi Trong tự nhiên, mọi sự vật hiện tượng đều là những dạng cụ thể của vật chất, có kết cấu hoặc nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra Trong thế giới không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang vận động, chuyên
hóa lẫn nhau, là nguôn gôc, nguyên nhân, kết quả của nhau Trong sự biến đồi đa dạng và phức
tạp của tự nhiên ây, triết học Mác - Lênin đã khái quát thành hai nguyên lý, đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển; ba quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội
và tư duy là quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, quy luật chuyên hoá từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chat và ngược lại, quy luật phủ định của phủ định Các sự vật và hiện tượng đều vận động và phát triển theo nguyên lý, quy luật đó
Chúng ta thấy chủ nghĩa Mác là một học thuyết sống không chỉ vì những nguyên lý cơ bản của
nó vần vẹn nguyên giá trị cùng với thời gian, mà còn vì nó luôn vận động và đổi mới Các thé hệ học trò đã gìn giữ những nguyên lý â ấy bằng cách vận dụng và phát triển sáng tạo, kiểm nghiệm băng thực tiễn Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý và luôn luôn vận động Loài người đi từ nâc thang này đến nắc thang khác trong nhận thức vô tận để tìm ra chân lý Học thuyết cách mạng nêu không được bổ sung, không được phát triển cùng với thực tiễn thì sẽ trở nên xơ cứng, không còn sức sống C.Mác và Ph.Ăng-ghen là những nhà cách mạng sáng tạo, thiên tài, trước hết vì
nguyên lý mà các ông nêu ra vượt không gian, thời gian, luôn đâm chôi, nảy lộc cùng với năm
tháng Là mone nhà khoa học, các ông ý thức rõ ràng răng, học thuyết cách mạng phải là học thuyết "mở", học thuyết phát triển Ngay trong Lời tựa viet nam 1872, tic 1a 24 nam sau khí Tuyên ngôn ra đời, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra rằng, "vài chỉ tiết cần phải xem lại" Chính
Trang 10ngay Tuyên ngôn cũng đã giải thích rõ rằng, "bắt cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời" Trong suốt cuộc đời mình, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã nhiều lần nhắn mạnh, trong bắt luận trường hợp nào cũng không nên coi học thuyết của hai ông như những khuôn mẫu; rằng, "lý luận của chúng tôi là lý luận của sự
phát triển chứ không phải là giáo điều" Cả hai ông đều nhân mạnh tới sự cần thiết của "tự do
phát triển" học thuyết về chủ nghĩa xã hội khoa học
Chủ tịch Hồ Chí Minh tự coi mình là người học trò nhỏ của C.Mác Khi ca ngợi người thầy, Hồ Chí Minh cho rằng C.Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng Vì vậy, Người nhân
mạnh tới việc học tinh thần xử trí mọi việc của C.Mác; dùng lập trường, quan điểm, phương
pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích tình hình cụ thé va tìm ra quy luật của cách mạng nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắn mạnh ý kiến của V.I Lênin cho rằng, lý luận
cách mạng không phải là giáo điều, không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng
tạo, là kim chỉ nam cho hành động cách mạng, cần phải luôn bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động Ngay từ năm 1924, trong khi khẳng định "chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó", Người đã không ngần ngại viết rằng:
Dù sao thì cũng không thể cắm bổ sung "cơ sở lịch sử" của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thé có được Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triệt lý nhât định của lịch sử, nhưng lịch sử nao? "Lich su chau Au” Ma chau Au
là gì? Đó chưa phải là toàn thê nhân loại.[24, tr.465]
Cần nhận thức một cách khoa học rằng, mỗi dân tộc có quyền lựa chọn con đường tiến lên đề đạt mục tiêu cách mạng, phù hợp với đặc điểm, tình hình của mình, không nhất thiết mọi nước đều
có cùng khuôn mâu giông nhau Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định không có một mô hình, con đường chung đi lên chủ nghĩa xã hội cho tat ca các nước Người viết:
Từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - nói chung thì loài người phát triển theo quy luật nhất định như vậy Nhưng tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau Có nước thì đi thắng lên chủ nghĩa xã hội (cộng sản) như Liên Xô
Có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội (cộng
sản) - như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam
Người còn nhắn mạnh: "Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác Ta có thê đi con đường khác đê tiên lên chủ nghĩa xã hội".[31, tr.227]
Có được những quan điểm phát triển như vậy bởi ngay từ đầu khi ra đi tìm đường cứu nước, Người đã xác định mục tiêu là: "Tôi muốn ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta"[42, tr.13] Như vậy là Hồ Chí Minh muốn đi tìm một phương pháp cách mạng có trong thực tiễn của các nước chứ không chỉ là một phương pháp có tính chất lý thuyết sách vở Phương pháp Người tìm kiếm là phương
pháp hoạt động xuất phát từ thực tiễn nhằm cải tạo thực tiễn Thực tiễn Việt Nam lúc đó là
không tìm thấy một con đường cứu nước đúng đắn và sự thất bại của các phong trào cách mạng
đi theo các khuynh hướng cũ Trên con đường tìm tòi nghiên cứu thực tiễn, Hồ Chí Minh đã tìm
tòi, nghiên cứu nhiều học thuyết, trong đó Người tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin cái "cam
nang thần kỳ" đề cứu nước, nhưng với tư duy độc lập và sáng tạo, cũng như xuất phát từ thực tiễn hoàn cảnh Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ coi đó là những nguyên lý mang tính chất gợi mở, cần bổ sung và phát triển bằng thực tiễn cách mạng Việt Nam
Chúng tôi cho rằng, ở Hồ Chí Minh trước khi ra đi tìm đường cứu nước đã có sự thắm đẫm
truyền thông văn hóa dân tộc, truyền thông văn hóa phương Đông Ở Người đã có sẵn tư tưởng
Trang 11của phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" và khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tính biện chứng, nguyên tắc thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin đã làm cho phương châm "Dĩ bát biến, ứng vạn biến" ở Hồ Chí Minh thăng hoa lên một tầm cao mới, trở thành phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Nó là một trong những điều kiện giúp cho
Hồ Chí Minh nắm vững bản chất của phương pháp cách mạng mácxít, để đem á ¡áp dụng vào thực
tế đất nước Điều đó làm cho Hồ Chí Minh vượt lên trên các nhà cách mạng tiền bối, các nhà cách mạng đương thời, trở thành lãnh tụ của cách mạng Việt Nam
1.1.3 Truyền thống yêu nước, yêu độc lập tự do, quyết tâm giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quôc - mục tiêu bắt biến trong quá trình dựng nước và giữ nước
Việt Nam là một trong những quốc gia hình thành sớm Với những đặc điểm địa chính trị, kinh
tế đặc thù chỉ phối, ngay từ rất sớm nhân dân ta đã phải tìm ra nhiều cách thức, biện pháp để đấu tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm Cộng đồng ‹ cư dân người Việt đã tạo dựng và tiếp thu dé rồi từng bước xây dựng, bồi tụ cho mình những truyền thống văn hóa, trong đó có phương châm hành xử "Dĩ bất biến, ứng vạn biến"
Nhìn lại lịch sử ta có thê thấy yêu cầu đầu tiên và cơ bản nhất đối với mỗi quốc gia dân tộc nói chung, Việt Nam nói riêng là: Dân fộc độc lập, Tổ quốc thống nhất Đó là yêu cầu bắt biến bền
vững nhất Đạt được yêu cầu này thì những nhu cầu chính đáng khác đối với mỗi con người và
cả quốc gia dân tộc mới có thể thực hiện được Vì thé, đù thời gian mat chủ quyền dân tộc vào tay ngoại bang có lâu (hơn 1100 năm Bắc thuộc), thời gian chia cắt đất nước có dài (hơn 200
năm), nhưng khát vọng dân tộc độc lập, Tổ quóc thống nhát vẫn là dòng chảy chủ đạo, tư tưởng xuyên suốt mọi ứng xử hàng ngày của dân tộc Điều này được minh chứng rõ ràng nhất ở hai
thời điểm lịch sử của dân tộc:
Thứ nhất, đó là /hời kỳ hơn ngàn năm Bắc thuộc, kẻ thù đã | sap nhap đất nước ta thành quận, huyện của chúng, chúng á áp đặt và nô dịch chúng ta bằng nền văn hóa Hán, chúng có găng đồng hóa dân tộc ta về mọi mặt Qua nhiều thế hệ, chúng cố tình xóa đi tat cả những gì thuộc về bản sắc văn hóa Việt Nam, nhằm làm cho người Việt không thể nhận diện được chính mình mà vui lòng với nền văn hóa của kẻ nô dịch Nhưng cuối cùng nền văn hóa của cộng đồng cư dân Việt chăng những không bị mắt đi mà sức mạnh của nó còn làm cho chính những người thực hiện đồng hóa bị đồng hóa trở thành một bộ phận trong cộng đồng dân tộc Việt, tự mắt gốc dần theo năm tháng; đồng thời với quá trình đó, nhân dân ta còn làm giàu bản sắc văn hoá truyền thông của mình bằng sự tiếp thu những tỉnh hoa văn hóa của người đi nô dịch từ chính quá trình bị nô dich Do vậy, cái bất biến - tinh thần độc lập dân tộc không những không mắt đi mà nó còn phát
triển mạnh mẽ hơn, kết quả tất yếu là độc lập của din tộc không chỉ tồn tại ở tỉnh thần mà đã trở
thành hiện thực, độc lập thực sự
Thứ hai là, thời kỳ đất nước bị các thế lực phong kiến chia cắt, đó là thời gian không hắn dài đối với lịch sử một dân tộc có máy ngàn năm lịch sử, nhưng sự chia cắt ấy cũng đã tạo nên không ít
tư tưởng cục bộ, thù hằn giữa các vùng miền Tuy nhiên, sự cục bộ, những mâu thuẫn, thù han
đó chỉ xảy ra giữa các tập đoàn phong kiến thuộc tầng lớp trên của xã hội, còn lòng dân vẫn sắt son hướng về một Tổ quốc chung, núi sông nói liền một dai Nó chăng khác gì thời đô hộ và cai trị của các thế lực phong kiến phương Bắc, sự cai trị không bao giờ áp đặt được tới đơn vị hành chính nhỏ nhất là làng, xã Nhân dân Việt Nam qua bao thế hệ vẫn bảo tồn những nét văn hóa làng xã, có những lúc nó cũng trở nên cực đoan khi "phép vua thua lệ làng", nhưng nó cũng đã cho thấy có những giá trị bền vững, không đồi Những giá trị văn hóa mà bat kỳ một giai cấp, một nhà nước nào trong quá trình quản lý cũng cân phải khai thác và phát huy những mặt tích cực của nó Chính việc các thế lực phong kiến cát cứ không có được sự ủng hộ của nhân dân nên
dù có có tình ngăn cản, khống chế nhưng khi được đứng lên dưới ngọn cờ chính nghĩa, thì nhân
dân đã ứng xử thống nhất trên một lập trường bất biến, tạo nên sức mạnh kỳ diệu xóa sạch hàng
Trang 12rào chia cắt hàng trăm năm tưởng chừng không thể nói liền đất nước Độc lập dân tộc và thống nhật Tô quôc là truyên thông văn hóa của cộng đông cư dân Việt đã trải qua những thử thách khó
khăn đê định hình
Như vậy, quá trình nhân dân ta cùng với các triều đại phong kiến đấu tranh trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lịch sử dựng nước - giữ nước của dân tộc khang định cai bat biến của dân tộc Việt là tỉnh thần độc lập dân tộc và thông nhất Tô quốc Đó cũng chính là nguồn gốc, là
cơ sở nên tảng, là giá trị truyền thống đề hình thành nên phương pháp "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh, phương pháp hành động số một của Hồ Chí Minh và của Đảng ta trong sự
nghiệp của cách mạng Việt Nam - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dưới ngọn cờ
Trước hết là thực tiễn về phong trào cách mạng của các nước, thực tiễn về tình cảnh khổ cực của giai cấp vô sản và nhân dân lao động các nước dưới sự áp bức bóc lột của chủ nghĩa tư bản dé quốc Thực tiễn đó cho Người thây: Đối tượng của cách mạng thế giới là chủ nghĩa thực dân, dé quốc nói chung Vì bat kỳ ở đâu, chủ nghĩa dé quốc cũng tàn bạo bất công và độc ác - chủ nghĩa
để quốc là kẻ thù chung của nhân dân lao động thế giới Người kết luận "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột".[24 tr.266] Từ thực tiễn này, Hồ Chí Minh đã nhận diện đúng đắn kẻ thù chung của cách mạng thế giới; nhận thức đúng về những người lao động, dù là màu da gì, dù thuộc châu lục nào, đât nước nào, cũng bị bóc lột, bị đọa đày Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã kêu gọi:
Mặc dầu chúng ta là những người khác giống, khác nước, khác tôn giáo, chúng ta đã thương yêu nhau như anh em Chúng ta cùng chịu chung một nỗi đau khổ: sự bạo ngược của chê độ thực dân Chúng ta đâu tranh vì một lý tưởng chung: giải phóng đồng bào chúng ta và giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta.[42, tr.47]
Đó là điều bất biến đầu tiên mà Hồ Chí Minh đúc rút ra trong thực tiễn đấu tranh: dù ở đâu, màu
da gì, tôn giáo nào người lao động cũng bị bọn thực dân bóc lột; đông thời dù màu da gì, dân tộc nào, tôn giáo nào cũng phải đâu tranh vì lý tưởng chung là giải phóng đông bào và giành độc lập dân tộc
Thứ hai là, sự vật lộn trong cuộc sống hàng ngày của Nguyễn Ái Quốc, bằng hai bàn tay lao động, Người đã phải trải qua nhiều nghề từ thợ phóng ảnh, chép tranh, phụ bếp, xúc tuyết đến viết báo v.v, trong những lúc cuộc sống khó khăn nhật, phải lao động vat va nhất, mọi hoạt động
bị bọn mật thám theo dõi, rình rập; khi thực dân Pháp còn đang thống trị trên đất nước Việt Nam
và sự thống trị ấy tưởng như không có gì lay chuyển được, trước sự de dọa và dụ dỗ của kẻ thù, song Người vẫn không nao núng, không mềm long, vẫn kiên quyết giữ vững con đường mình đã chọn, tiếp tục đấu tranh cho độc lập tự do của đồng bào và Tổ quốc, "Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quôc tôi được độc lập"[41, tr I5]
Trong quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh, có rất nhiều sự kiện chứng tỏ bản lĩnh, tỉnh thần, quyêt tâm không gì có thể lay chuyền được và có sự vạn biến khéo léo đề thoát ra khỏi những cảnh huống hiểm nghèo, tiếp tục mục tiêu cách mạng đúng đắn của mình Nhưng theo chúng tôi
Trang 13có ba sự kiện đáng kề nhất Đó là: Sự hiểu lầm của Quốc tế Cộng sản trong những năm 30 của thế kỷ XX, đặt Nguyễn Ái Quốc ra ngoài những hoạt động, phong trào chung của Quốc tế Cộng sản; vụ án Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hồng Kông và thời gian Nguyễn Ai Quốc bị giam trong nhà
tù của Tưởng Giới Thạch Trong đó, thời gian Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh bị giam cam trong các nhà tù của Tưởng Giới Thạch, là thời gian mà Người đã khang định một lẽ sống, triết
lý về cuộc sống, và một phương pháp đấu tranh cách mạng đúng đắn bằng một thứ ngôn ngữ hết sức tỉnh tế - ngôn ngữ của thơ
Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi không đi sâu phân tích từng sự kiện để chứng minh tính kiên định mục tiêu và khả năng vạn biến của Người để đạt tới mục tiêu đã đặt ra: trở về Tổ quốc lãnh đạo nhân dân đứng lên làm cách mạng, lật đồ ách áp bức bóc lột đem lại tự do, no ấm, hạnh phúc cho nhân dân Song, có thể khẳng định rằng không phải cá nhân nào cũng có thể vượt qua được sự nghỉ ngờ của tô chức, của tập thể, bị tổ chức cách ly và theo dõi, để vẫn nhiệt tình, hãng hái đấu tranh cho mục tiêu, lý tưởng Phải là con người nắm vững được quy luật của cuộc sống, hiểu rõ thời cuộc, có quyết tâm cao độ và niềm tin sắt đá vào con đường mình đã lựa chọn Đó chính là cái bất biến mà Hồ Chí Minh đã có được từ thực tiễn cuộc sống
Như vậy, chính thực tiễn hoạt động cách mạng với muôn vàn khó khăn, thử thách mà Hồ Chí Minh đã vượt qua, rèn luyện nên bản lĩnh, trí tuệ Hồ Chí Minh trong tông kết và sử dụng phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" vốn có từ trong minh triết phương Đông Kết hợp với tính khoa học và biện chứng của chủ nghĩa duy vật mácxít Hồ Chí Minh đã nâng tầm phương châm
ấy, làm cho nó trở thành phương pháp cách mạng và phương pháp ấy đã chứng tỏ được vị trí, vai trò của mình trong những thắng lợi của cách mạng Việt Nam
1.2 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CÚA PHƯƠNG PHAP “Di BAT BIEN, UNG VAN BIEN” TRONG
HE THONG PHUONG PHAP CACH MANG HO CHi MINH
1.2.1 Vị trí của phương pháp "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong hệ thống phương pháp
cách mạng Hồ Chí Minh
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với các tác giả trong cuốn sách: 7w rưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, đã nhận xét rằng: phương pháp luận Hồ Chí Minh, về cơ bản là phương pháp luận Mác - Lênin, là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Hồ
Chí Minh đã chỉ ra điều quan trọng nhất, nổi bật nhất trong tiếp thu chủ nghĩa Mác là "phép biện
chứng”, là “cách làm việc biện chứng” Nhưng phương pháp luận Mác - Lênin được Hồ Chí Minh tiếp thu đó có sự bổ sung, phát triên mang những đặc trưng mới, độc đáo của Hồ Chí Minh trên cơ sở kết : hợp các nguyên tắc phương pháp luận Mác - Lênin với những nhân tố duy vật biện chứng của triết học phương Đông, của tư duy truyền thống Việt Nam và rút ra từ cuộc đời hoạt
động phong phú, đầy biến có và những kinh nghiệm ứng nhân xử thế của Hồ Chí Minh
“Trên cơ sở của những phân tích và nhận định, các tác giả đã đề cập đến một số quan điểm có tính phương pháp luận của Hô Chí Minh, hệ thông hóa lại thành bảy quan diém:
Thứ nhất, nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, xuyên suốt có ý nghĩa cơ SỞ: xuất phát và quyet dinh mọi nhận thức, tư duy Hồ Chí Minh là quan điêm thực tiên và
nguyên tắc thông nhật lý luận với thực tiên
Thứ hai, nguyên tắc toàn diện, hệ thống, trọng điểm và thiết thực
Thứ ba, phát hiện mâu thuẫn, giải quyết mâu thuẫn với phương thức, phương pháp phù hợp, có hiệu quả nhât
Trang 14Thứ tr, quan điêm phát triên, đôi mới và hướng vệ cái mới
Thứ năm, quan điêm vê con người, quan điêm vệ nhân dân
Thứ sáu, giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc với giai cấp là một nguyên tắc phương pháp luận cơ bản trong khi giải quyêt những vân đê xã hội
của Hô Chí Minh
Thứ bảy, “Dĩ bắt biên, ứng vạn biến”.[18, tr.295-305]
Từ bảy quan điểm nêu trên, các tác giả cho rằng, có một phương pháp luận Hồ Chí Minh Đó là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được Người quán triệt, vận dụng sáng tạo và
bổ sung phát triên, kết hợp kế thừa truyền thống tư duy dân tộc, tiếp thu tính hoa triệt học thế giới, nhất là triết học phương Đông và thực tiễn dé xem xét và giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam Nội dung phương pháp luận Hồ Chí Minh, có thể coi những quan điểm, nguyên tắc nêu trên là đặc trưng cơ bản nhất
Trong công trình: Phương pháp và phong cách Hồ Chỉ Minh, do cố Giáo sư Đặng Xuân Kỳ cùng với tập thê tác giả cho rằng Hồ Chí Minh là một bậc thầy về phương pháp cách mạng đầy sáng tạo và các tác giả cũng cho rằng lúc đầu Hồ Chí Minh chỉ xác định những phương pháp cụ thê
nhằm đạt những mục tiêu cụ thê và chính trong quá trình ấy, ở Hồ Chí Minh đã hình thành
phương pháp chung cho toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam Những phương pháp cách mạng chung đó là gì? Theo Giáo sư Đặng Xuân Kỳ và các tác giả là:
Một là, lấy thực tế Việt Nam làm điểm xuất phát, lấy cải tạo, biến đôi hiện thực Việt Nam làm mục tiêu cho mọi hoạt động cách mạng
Hai là, tập hợp, huy động lực lượng toàn dân tham gia vào sự nghiệp cách mạng
Ba là, dĩ bắt biến ứng vạn biến
Bon la, nam vững thời cơ, giải quyết đúng mối quan hệ giữa thời, thế và lực
Năm là, biết thắng từng bước
Sáu là, kết hợp các phương pháp.[23, tr.67 - 117]
Khi nghiên cứu, tìm hiểu về phương pháp ' "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh, chúng tôi cũng nhất trí với các quan diem va ket quả nghiên cứu của các tác giả trong hai công trình kể trên Hơn nữa, chúng tôi muốn nhắn mạnh "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một phương pháp cách mạng quan trọng hàng đầu, có liên quan và chỉ phối việc thực hiện các phương pháp cách mạng khác trong hệ thống các phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh
Thật vậy, chúng ta có thể xem xét đến phương pháp cách mạng thứ nhất của Hồ Chí Minh theo quan điềm của có Giáo sư Đặng Xuân Kỳ và các tác giả là: láy thực tế Việt Nam làm điểm xuất phát, lấy cải tạo, biến đổi hiện thực Việt Nam làm mục tiêu cho mọi hoạt động cách mạng Mục tiêu của mọi hoạt động cách mạng chính là cái bắt biến Đứng ở một góc nhìn rộng chúng ta có thể chỉ thấy có một thực tiễn, một hiện thực là Việt Nam là một nước ; nghèo đang phải chịu hai tầng áp bức bóc lột, nhưng ở những góc nhìn khác chúng ta có thể thấy có nhiều mục tiêu, mỗi mục tiêu ứng với từng thời kỳ, từng điều kiện, hoàn cảnh của cách mạng Tuy nhiên, tất cả những mục tiêu đó phải phù hợp với mục tiêu chung và phục vụ cho mục tiêu chung, mục tiêu
Trang 15cuối cùng Thực tế Việt Nam, hiện thực Việt Nam chính là yêu cầu phải có những cái vạn biến
trong từng giai đoạn cách mạng và người làm cách mạng phải lấy mục tiêu không đổi ra làm đích ngắm cho những hành động cách mạng của mình Hay phương pháp: đập hợp, huy động lực lượng toàn dân tham gia vào sự nghiệp cách mạng A1 cũng biết xã hội Việt Nam dưới thời đại
Hồ Chí Minh có bao nhiêu tầng lớp, giai cấp, dân tộc Việt Nam có bao nhiêu dân tộc anh em, nhưng bằng hành động cụ thẻ cũng như sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh các tầng lớp nhân dân, các dân tộc anh em đã đoàn kết với nhau đứng lên chống lại kẻ thù chung của dân tộc Nghệ thuật
"cầu đồng tồn đị" ở Hồ Chí Minh đã đạt tới đỉnh cao không chỉ ở chỗ tập hợp lực lượng, cô lập
kẻ thù của cách mạng ở trong nước mà còn thể hiện cả trong mối quan hệ với các nước anh em, cũng như trong môi quan hệ với nhân dân các nước đi xâm lược Nghiên cứu kỹ thái độ ứng xử của Hồ Chí Minh đối với các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam nhằm mục tiêu tập hợp lực lượng cách mạng, chúng ta thấy Hồ Chí Minh đã vận dụng hết sức nhuần nhuyễn phương pháp "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" Chỉ đơn cử như việc Hồ Chí Minh không đánh đồng, không coi tất cả địa chủ phong kiến là đối tượng phải đánh đổ; Hồ Chí Minh phân loại rõ các hạng địa chủ, hạng nào cần đánh đô, hạng nào không cân và khi nào thì đánh đỗ đã cho thấy sự ứng biến thiên tài, cũng như việc nắm chắc bán chất của từng giai cấp, tầng lớp trong xã hội của Hỗ Chi Minh cho mục tiêu tập hợp cao nhất lực lượng đề làm cách mạng
Cho đến nay, nhiều tác giả nghiên cứu phương pháp cách mạng | Hồ Chí Minh đều cho rằng: "Dĩ bat bién, ứng vạn biến" "/v nguyên tắc xem xét và hành động số một của Hồ Chí Minh trong giải quyết những vấn đề chiến lược và sách lược" của cách mạng Việt Nam [18, tr.316]
1.2.2 Vai trò của phương pháp “Dĩ bắt biến, ứng vạn biến” Hồ Chí Minh
Xuất phát từ vị trí của phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh trong hệ thống phương pháp cách mạng của Hồ Chí Minh, chúng ta thây phương pháp "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" có vai trò lớn trong việc làm phong phú kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về phương pháp cách mạng và phương pháp “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” Hồ Chí Minh trở thành phương pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam, của cách mạng Việt Nam
Thứ nhất, vai trò của phương pháp "Dĩ bát biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh trong việc làm phong phú kho tàng lý luận chủ nghĩa Mac - Lénin
Phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" lấy phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng Đứng trên nền tảng ây, Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc tình hình xã hội Việt Nam, xác định rõ những mâu thuẫn cơ bản nhất, nhờ vậy Người đã xác định đúng mục tiêu bất biến của cách mạng và Người cũng đã vạn biến trong từng hoàn cảnh, điều kiện đề sử dụng, huy động tối đa các lực lượng tiến hành cách mạng.Phương pháp: "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" thể hiện sự cô đọng trong phương pháp tư duy cách mạng Hồ Chí Minh "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" thê hiện phương pháp cách mạng biện chứng của tư duy và hành động, nó biểu hiện ở
sự linh hoạt, uyên chuyên trong đối nhân, xử thế, trong chỉ đạo hoạt động cách mạng Như vậy, phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo phép biện chứng duy vật mácxít kết hợp với các yếu tố biện chứng của triết học phương Đông, truyền thống văn hoá Việt Nam cùng với những kinh nghiệm được đúc rút từ chính cuộc đời hoạt động phong phú của Người
được vận dụng vào thực tiễn Việt Nam đẻ xử lý thành công những vấn dé cách mạng Việt Nam
đặt ra, bằng cái riêng đã làm phong phú cái chung
Phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh luôn có sự đan xengiữa phương pháp riêng, cụ thê của từng giai đoạn cách mạng với phương pháp chung trong hiện thực hoá đường lôi cách mạng
Trang 16Việc xác định đường lối cách mạng trước hết bắt đầu từ những cái chung phải được xác định đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của cách mạng và xu thế của thời đại Những cái chung đó là mục tiêu, con đường đi lên của cách mạng Việt Nam Đây là những vân đê có ý nghĩa quyết định, là cái “bá: biến" cần phải giữ vững
Mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đường lối chung của cách mạng Việt Nam là phải tiễn hành hai giai đoạn cách mạng nối tiếp nhau: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiên lên cách mạng xã hội chủ nghĩa Chính vì vậy, phải có mục tiêu và đường lối của từng giai đoạn cách mạng Hơn nữa, còn phải có mục tiêu, đường lối cụ thé của từng thời kỳ trong mỗi giai đoạn cách mạng Mục tiêu, đường lối trong từng giai đoạn, thời
kỳ cách mạng chính là cái vạn biến dé dat được, tiến tới cái bát biến, hiện thực hoá cái bắt biến của cách mạng Như vậy có phương pháp riêng, cụ thể và phương pháp chung cho foàn bộ tiến trình cách mạng Phương pháp riêng, cụ thể nhằm đạt những mục tiêu cụ thể, trong hoàn cảnh
cụ thể còn phương pháp chung là những nguyên tắc có ý nghĩa phương pháp luận định hướng cho mọi hoạt động cách mạng, những cách thức dé thực hiện đường lối cách mạng được đặt trong một chỉnh thể thống nhất
Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung với cái riêng thể hiện qua quá trình vận động của phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" trong tiến trình cách mạng Việt Nam, sự thăng lợi của cách mạng Việt Nam là biện chứng của hành động, của thực tiên làm sáng tỏ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
Phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh luôn thẻ hiện rõ các quan điểm lịch sử,
cụ thể, đổi mới và phát triển Chữ "dĩ", chữ "ứng" và sự vận động của nó trong thực tiễn cách mạng Việt Nam đã nói lên điều đó Cái bất biến hay mục tiêu cách mạng Việt Nam không phải là
sự lựa chọn ngẫu nhiên mà nó là một quá trình Hồ Chí Minh nghiên cứu và tìm hiểu thực tiễn, tìm hiểu lịch sử Quá trình lịch sử của nhân loại trải qua các hình thức nhà nước, các chế độ sở hữu, Hồ Chí Minh nhận thấy đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là một tất yếu khách quan của lịch sử Quan điểm lịch sử cụ thê còn được Hồ Chí Minh vận dụng vào cách mạng Việt Nam hết sức nhuần nhuyễn, Người thấy rõ rằng:
Từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư
bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - nói chung thì loài người phát triển theo quy luật nhất định như vậy Nhưng tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau Có nước thì đi thắng lên chủ nghĩa xã hội (cộng sản) như Liên Xô
Có nước thì phải kinh qua c chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - như các nước đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam Người cũng nhắn mạnh: "Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác Ta có thê đi con đường khác đề tiến lên chủ nghĩa xã hội".[31, tr.227]
Nhưvậy, mục tiêu thì có một nhưng con đường đi đến mục tiêu thì không chỉ có một Để tiến tới cái bât biên thì trên con đường ây chúng ta phải luôn vạn biên vì mỗi chặng đường cụ thê lại có những hoàn cảnh mới thay đôi, hay nói khác là luôn đôi mới và phát triên Hô Chí Minh chỉ rõ:
muốn hiểu biết một việc gì, một vật gì, thì phải tham gia vào cuộc đấu tranh và biến đôi của việc ay, vật ây Có như thê mới thây được hiện tượng của nó, va tiên tới hiệu bản chât của nó [29, tr.251]
Hồ Chí Minh đã cho thay sự vận dụng nhuần nhuyễn phương pháp "Dĩ bát biến, ứng vạn biến" với quan điểm lịch sử cụ thể và phát triển trong việc xác định rõ đối tượng lật đồ của cách mạng
Việt Nam Trong Cương lĩnh, Hồ Chí Minh thê hiện quan điểm trái với Quốc tế cộng sản khi cho
rằng chưa cần phải đánh đồ địa chủ phong kiến Việt Nam Thực tiễn cách mạng Việt Nam sau
Trang 17này chứng minh quan điểm của Hồ Chí Minh là đúng đắn, nó giúp cho cách mạng có thêm được
lực lượng đề đánh đề đề quốc thực dân, kẻ thù chung của cả đân tộc Có được quan điểm như
vậy bởi Hồ Chí Minh nắm vững thực tiễn khách quan, quan điểm lịch sử cụ thê và phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin Với phong trào cách mạng chung của thế giới đã phát triển đến lúc phải lật đồ chế độ tư bản chứ không còn ở giai đoạn đánh đỗ phong kiến nữa Việt Nam làm cách mạng theo con đường cách mạng vô sản, cần thiết phải đánh đồ chế độ phong kiến nhưng với phong trào cách mạng Việt Nam, thực tiễn Việt Nam thì lại chưa phát triển đến mức đã phải coi
địa chủ phong kiến là kẻ thù cần đánh đỗ ngay của cách mạng
Như vậy, trên cơ sở nền tảng phương pháp biện chứng duy vật, phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh không chỉ làm phong phú kho tàng lý luận Mác - Lênin về phương pháp cách mạng mà còn nâng các nguyên tắc của phép biện chứng duy vật lên tầm cao mới, thích ứng,
phù hợp với hoàn cảnh cách mạng Việt Nam Lẫy thực tế Việt Nam làm điểm xuất phat, lay cai
tạo, biến đổi hiện thực Việt Nam làm mục tiêu, phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" làm phong phú cho kho tàng lý luận Mác - Lénin 6 góc độ bồ sung cái nhuan nhị, tinh tế trong phương pháp cách mạng của phương Đông
Thứ hai, phương pháp “Dĩ bắt biến, tứng vạn biến ” Hồ Chí Minh trở thành phương pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam, của cách mạng Việt Nam
Phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" không chỉ là sự vận dụng tổng hợp các nguyên tắc của phép biện chứng duy Vật, từ nguyên tắc khách quan, toàn diện, lịch sử đến nguyên tặc đổi mới, phát triển mà nó còn được cấu trúc lại một cách khoa học và nâng các nguyên tắc đó lên tầm cao mới, thích ứng với điều kiện, hoàn cảnh của cách mạng Việt Nam
Chẳng hạn, trên quan điểm toàn diện, khi xem xét các lực lượng của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh khăng định: mọi người Việt Nam đêu là "con Lạc, cháu Hồng" Ai cũng chịu cái nhục, cái khổ của hoạ mắt nước Vì vậy, việc cứu nước là việc của mọi người, không phụ thuộc vào địa
vị xã hội, vào hoàn cảnh kinh tế, vào năng lực cá nhân Chính cái nhìn toàn diện của Hồ Chí Minh đã tạo cơ sở cho việc huy động và khai thác mọi sức mạnh và tiềm năng của khối cộng
đồng dân tộc vào việc cứu nước, giải phóng dân tộc Với tỉnh thần:
Bat ky đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp đề cứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuồng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước, [26, tr.480]
dân tộc ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động dia cầu" Thắng
lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là thắng lợi của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, là thắng lợi của sự vận dụng phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh trong đó phương pháp "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" được xem là nguyên tắc hành động
số một của toàn Đảng và toàn dân ta
Phương pháp “Dĩ bắt biến, ứng vạn biến” Hồ Chí Minh trở thành phương pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam, của cách mạng Việt Nam, bởi nó lấy thực tế Việt Nam làm điểm xuất phát, lấy cải tạo, biến đồi hiện thực Việt Nam làm mục tiêu
Thực tế Việt Nam là đất nước, dân tộc, con người Việt Nam với những truyền thống đã có may nghìn năm lịch sử, là những điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội của Việt Nam và những môi quan hệ của Việt Nam với thế giới v,v Đây chính là điểm xuất phát và cũng là nền tảng cơ sở để xác định hình thức, nội dung, quy mô, trình độ và tính chất của từng loại phương pháp cách mạng Với phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến", ngoài yêu cầu chung còn phải tính đến
Trang 18những yêu cầu cụ thể đặt ra từ thực tế Việt Nam trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định,
nhăm khai thác điêm tôi ưu của cái vạn biên, nhưng vân không vi phạm nguyên tặc của cai bat
biên
Chang han, dé thực hiện chủ trương "đem sức ta mà giải phóng cho ta", chúng ta phải tính đến thực lực của mình Muốn tăng cường thực lực phải thực hiện nhiệm vụ đưa ruộng đất về cho nông dân - Đây là mục tiêu bât di bât dịch của cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam Song, trong điều kiện lịch sử cụ thể của năm 1941, van dé ruộng đất chỉ có thể được nêu lên như
một phương hướng chung Lúc này chưa thể đáp ứng ngay mục tiêu "người cày có ruộng” Song,
thấu hiểu nguyện vọng của bà con nông dân, của nhiều chiến sỹ, Đảng ta đã công bó Chương trình Việt Minh (ngày 25-10-1941) trong đó nêu rõ mục tiêu của cách mạng Việt Nam là giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào
Để kịp thời động viên nông dân tin tưởng và làm theo chương trình Việt Minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã có nhiều biện pháp thích hợp đề đưa chương trình đó thâm nhập vào cuộc sống Như vậy, cả mục tiêu: giành độc lập cho dân tộc và "làm cho dân Việt Nam được sung
sướng, tự do" đều là cái bất biến Song, phải căn cứ vào tình hình thực tế của cách mạng thời kỳ
nay dé dua ra phương pháp cách mạng thích ứng nhằm thực hiện hai mục tiêu nêu trên
Trước sự phát triển thuận lợi của phe Đồng minh chống phát xít và thời cơ tổng khởi nghĩa đã
tới, với một tinh thần chủ động cách mạng cao độ, Hồ Chí Minh đã hướng mọi quyết tâm, mọi
hoạt động của toàn Đảng và của Mặt trận Việt Minh cho cái bắt biến lớn nhất, đó là giành độc
lập dân tộc, tạm hoãn cách mạng ruộng đất của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đề phục vụ nhiệm vụ trung tâm lớn nhất nêu trên Từ việc quan hệ với phái bộ Đồng minh, nhận viện trợ và giúp đỡ các sỹ quan Mỹ v.v, đến việc gấp rút tô chức Hội nghị toàn quốc của Đảng, Đại hội quốc dan 6 Tân Trào, ("cái vạn biến") đều phục vụ cho quyết tâm sắt đá của Hồ Chí Minh: "đù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết đành cho được độc lập" Như vậy, sự chuyền hướng chiến lược đúng đắn và sự vận dụng phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" một cách
thích hợp của Đảng ta thời kỳ 1939 - 1945 đã đưa đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám Giáo
sư Trần Văn Giàu đánh giá: không có sự chuyền hướng chiến lược do cụ Hồ đề nghị thì không
có Việt Minh, mà không có Việt Minh thì không có Tổng khởi nghĩa tháng Tám
Những ngày sau cách mạng Tháng Tám, trước thù trong giặc ngoài và bề bộn những công việc của một nhà nước cộng hoà non trẻ, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã bình tĩnh, sáng suốt chỉ ra công việc chính, nhiệm vụ chính, điều đó được khái quát trong khâu hiệu chiến lược "Đân tộc trên hết,
Tổ quốc trên hếr" Tình thần của nhiệm vụ chiến lược đã giúp các cấp, chính quyền, đoàn thé nhân dân định hướng được những nội dung, hoạt động cụ thé va đưa ra được những biện pháp thực hiện thích hợp, góp phần bảo vệ chính quyền non trẻ, xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho kháng chiến và kiên quốc Điều này cho thay moi van đề chiến lược, sách lược của cách mạng cũng như việc sử dụng phương pháp riêng, cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu chung - cái bất biến - luôn phải tuân thủ nguyên tắc lây thực tế Việt Nam làm điểm xuất phát, lấy cải tạo, biến đồi hiện thực Việt Nam làm mục tiêu cho mọi hoạt động cách mạng Đó cũng chính là cơ sở, nguyên tắc
thực hiện "vạn biến" nhằm giữ cái "bất biến"
Tóm lại, phương pháp "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh đã góp phần trong việc phát triển các nguyện lý, quy luật của chủ nghĩa Mac - Lénin, bé sung vào kho tang lý luận đó một ví
dụ điển hình về sự vận dụng, phát triển sáng tạo các nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa duy vật, phương pháp biện chứng Phương pháp cách mạng của Hồ Chí Minh nói chung và phương pháp
"Dĩ bất biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh nói riêng góp phần làm đầy đủ, bổ sung phần khuyết thiếu của chủ nghĩa Mác - Lênin về phong trào cách mạng ở các nước phương Đông, thực tế phương Đông mà ở thời của mình Mác chưa có điều kiện đề bàn đến Trên nên tảng của phương
pháp biện chứng duy vật mácxít, phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh được bổ
Trang 19sung tính khoa học và biện chứng của phương Tây bên cạnh tính tỉnh tế, sâu sắc của phương Đông làm cho nó không chỉ là khoa học cách mạng mà còn có tính nghệ thuật rất cao Phương pháp "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" đã góp phần làm cho cách mạng Việt Nam vượt qua những: sóng gió thử thách, những hoàn cảnh tưởng như "ngàn cân treo sợi tóc” để làm nên những thắng lợi trong cách mạng giải phóng dân tộc, thông nhất đất nước và tiếp tục thê hiện vị trí, vai trò trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triên của dat nước trong giai đoạn cách mạng hiện
nay
1.3 NOI DUNG PHUONG PHAP “Di BAT BIEN, UNG VAN BIEN” HO CHi MINH
1.3.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về cái “bất biến”
Nam 1911, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước với mong muốn: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được độc lập, dan
ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[35,
tr.517]
Một số nhà nghiên cứu cho rằng cai bat biến ở Hồ Chí Minh có ba, đó là độc lập, tự do, hạnh phúc Một số ý kiến lại cho rằng cái bất biến ở Hồ Chí Minh tập trung ở bốn yêu tố liên hệ mật thiết với nhau không tách rời nhau, đó là độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ Những nhà nghiên cứu cho rằng cái bất biến của Hồ Chí Minh có bốn yếu tổ lý giải ý kiến của mình rằng: Bốn yếu
tố này thể hiện rõ trong câu đầu tiên trên mọi văn bản từ khi lập quốc: Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Nước Việt Nam là một nước dân chủ, nước độc lập, mọi người được tự do, hạnh phúc Rằng nếu không có độc lập, tức bị vong quốc, mat nước, đất nước trong cảnh nô lệ lầm than thì làm gì có tự do, lay đâu ra tự do, hạnh phúc, dân chủ Chính vì vậy, nước bị mắt độc lập thì việc đầu tiên là phải giành cho được độc lập, và trong hoàn cảnh như vậy, độc lập dân tộc là cái bất biến số một Chính vì vậy, Hồ Chí Minh tuyên bố: cái mà tôi cần nhất là Tổ quốc tôi được độc lập Có độc lập rồi mới nói đến tự do, tự do gắn liền với độc lập, nước có độc lập thì dân mới có tự do Vì thê, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: trước hết phải giành
cho kỳ được độc lập; tất cả cho độc lập; không có gì quý hơn độc lập, tự do Mặt khác độc lập
còn gắn liền với dân chủ Có độc lập rồi thì mới nói đến chuyện dân làm chủ; còn nếu không có độc lập thì cũng không thể có dân chủ Có độc lập chúng ta phải lập tức xây dựng một nhà nước
mà dân làm chủ, có nghĩa là bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân Có như vậy mới đem lại được tự do, hạnh phúc cho dân
Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu này nhận định rằng cái bắt biến của Hồ Chí Minh có bốn yếu
tố như đã kể trên, nhưng lại lưu ý rằng, điều kiện tiên quyết để có tự do, hạnh phúc, dan cht là
nước phải độc lập; nhưng không phải cứ có độc lập là có ngay tự do, dân chủ, hạnh phúc Do đó, khi đã có độc lập rồi thì tự do, hạnh phúc, dân chủ lại nỗi lên Như vậy, mặc dù bốn yếu tố này nằm trong mối liên hệ mật thiết, không tách rời nhau, nhưng nhìn chung chúng lai chia ra lam hai cấp độ, một bên là độc lập, còn bên kia là tự do, hạnh phúc, dân chủ Hai cấp độ này không tách rời nhau vì nếu có cái thứ nhất mà không có cái thứ hai thì cái thứ nhất cũng trở nên vô nghĩa
Vì vậy, theo hướng nghiên cứu của chúng tôi về mực /iêu cách mạng, chúng tôi cũng thống nhất
với các nhà nghiên cứu khác rằng cái bất biến số I của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc, bởi không có độc lập dân tộc thì không thể có các yếu tố khác như tự do, hạnh phúc, dân chủ Tuy nhiên, theo chúng tôi, cái bắt biến thứ 2 ở Hồ Chí Minh có thể khái quát là Chú nghĩa xã hội
Độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho con người là mục tiêu hướng tới của cách mạng Việt
Nam dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là cội nguồn của mọi thắng lợi của cách mạng
Việt Nam Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người càng ngày càng nhận ra răng,
Trang 20chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ
có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản, của cách mạng thế giới
Trong thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp (1923) Hồ Chí Minh đã khẳng định:
Mặc dầu chúng ta là những người khác giống, khác nước, khác tôn giáo Chúng ta đầu tranh vì một lý tưởng chung: giải pháp cho đồng bào chúng ta và giành độc lập
cho Tổ quốc chúng ta Trong cuộc chiến đấu của chúng ta, chúng ta không cô độc vì
chúng ta có tât cả dân tộc của chúng ta ủng hộ Và, vì những người Pháp dân chủ, những người Pháp chân chính, đứng bên cạnh ching ta [24, tr.191]
Trong Chính cương vắt tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh xác
định mục tiêu cuối cùng là: xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam Người cụ thể hoá mục tiêu: Làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, giải phóng công nông khỏi áp bức của đế quốc và phong kiến, thiết lập nền dân chủ mới trên tất cả các lĩnh vực, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, thực hiện giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người và tạo ra những điều kiện phát triển mới vì lợi ích dân tộc và con người Việt Nam Không chỉ dừng lại ở đường lỗi, cương lĩnh, tinh thần độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân còn thấm sâu vào từng tổ chức cách mạng
và hành động cách mạng Trong "Chương trình Việt Minh" (1941) có đầy đủ mục tiêu "Việt Nam độc lập" và "làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do" Cụ thể hơn, trong "Mười chính sách của Việt Minh" (1941) ghi rõ: "Quyết làm cho nước non này; Cờ treo độc lập, nền
xây bình quyén"[25, tr.205] Cách mạng tháng Tám thành công, thiết lập nên nước Việt Nam dân
chủ, cộng hoà, với tiêu chí là "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" Cho đến nay, tiêu chí đó vẫn là mục tiêu của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đối với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bởi "chỉ có chủ nghĩa
xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ"[33, tr.128]; "chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự đo, bình đăng, bác ái, đoàn kết, ám
no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc"[24, tr.461] Nhu vậy, chủ nghĩa xã hội là bước phát triên tât yêu của độc lập dân tộc Độc lập dân tộc
là mục tiêu trực tiếp, là điều kiện đề đi lên chủ nghĩa xã hội Độc lập đân độc, theo Hồ Chí Minh
là thực sự độc lập, thực sự tự do, thoát khỏi nô lệ, là đất nước có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thé, người dân được sống trong hoà bình, thực hiện các giá trị dân chủ, công bằng, bình đăng "Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc phải trở thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn".[35, tr.305]
Chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh là xã hội do nhân dân lao động làm chủ, kinh tế phát triển trên cơ sở công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, khoa học - kỹ thuật tiên tiến, "sản xuất ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng", không còn áp bức, bắt công, xã hội bình đăng, vui tươi, lành mạnh, quyền làm chủ của nhân dân được bảo đảm và phát huy, các giá trị nhân văn được đề
cao
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, từ khi đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tiến
tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi Cách mạng tháng Tám, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đi qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và lãnh đạo nhân dân hai miền Nam, Bắc thực hiện hai nhiệm vụ cách mạng nhằm thống nhất nước nhà cho tới khi Người đi theo các cụ Các Mác, Lênin, Người luôn luôn quan tâm tới đời sống của nhân dân Bởi theo Người: độc lập tự do mà dân vẫn đói khổ thì độc lập tự do cũng chăng có nghĩa lý gì; Người luôn quan tâm đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Người kêu gọi sự đoàn kêt của tât cả các dân tộc, đoàn kêt giữa những người có đạo và những người không có đạo, đoàn kết tôn giáo; Người chăm lo giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ đảng viên, chăm
Trang 21lo bồi dưỡng sự đoàn kết và phát triển của các tô chức Dang làm cho Đảng ngày càng lớn mạnh;
Người chăm lo xây dựng mối quan hệ, đoàn kết, sự giúp đỡ của các dân tộc, quôc gia tiền bộ trên thê giới; Người chăm lo xây dựng bộ máy nhà nước với tư tưởng nhà nước của dân, do dân và vì dân Đó là những đặc trưng về xã hội xã hội chủ nghĩa mà Người đặt nền móng xây dựng Như vậy, các yêu tố mà các nhà nghiên cứu cho rằng ở “cấp độ” bát biến thứ hai của Hỗ Chí Minh là
tự do, hạnh phúc, dân chủ, phải chăng đều nằm trong khu vực đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Và như vậy, chúng ta có thê thống nhất được rằng cái bất biến thứ 2 của Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa xã hội, hay chính xác là xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Ở đây, thiết nghĩ chúng ta cần phải lý giải, vậy tại sao Hồ Chí Minh không nói cái tôi cần nhất là
độc lập cho Tổ quốc tôi và chủ nghĩa xã hội cho dân tộc tôi Cũng dé dang dé thay rang, vao
những năm trước và sau Cách mạng tháng Tám, không có nhiều người Việt Nam biết và cần đến Chủ nghĩa xã hội, lúc đó thứ mà người Việt Nam cân là độc lập, tự do, là cơm ăn, áo mặc, được
học hành, được hưởng hạnh phúc Triết lý “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong Hồ Chí Minh là triết
lý hành động, chữ “Dï” cũng đã nói lên triết lý không phải để triết lý, mà triết lý đề hành động, lý luận phải gắn liền với thực tiễn cụ thể; mà Hồ Chí Minh là nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, Người hiểu cần phải nói gì, làm gi dé cho quần chúng nhân dân hiểu, tin và làm theo Vì
thế Người không thể nói cái tôi cần là Chủ nghĩa xã hội vì không ai hiểu Chủ nghĩa xã hội là gì,
nhưng toàn dân Việt Nam thì lại biết, lại cần tự do, ấm no và hạnh phúc
Những giá trị mà chủ nghĩa xã hội đem lại phù hợp với ước muốn, nguyện vọng và yêu cầu của nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam Vì vậy có thể khẳng định cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh và mãi mãi về sau có mục tiêu không đổi, bắt biến là độc lập đân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Đó là cái bất biên thé hiện trong tư tưởng, hành động của Hồ Chí Minh và
ngày nay là kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta Cái bất biến đó thể hiện mục
tiêu, lý tưởng của cách mạng, sự nghiệp của quần chúng nhân dân ta Nó thể hiện tính quy luật,
kế thừa và phát triển của xã hội Việt Nam, cách mạng Việt Nam; nó phản ánh đúng xu thế phát triển của thời đại ngày nay, xu thế phát triển của lịch sử loài người Cương !ĩnh xdy dung dat nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta cũng khăng định:
Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết dé thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc Xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc vẫn là hai nhiệm vụ chiến lược có quan
hệ hữu cơ với nhau.[9, tr.4]
Tuy nhiên, từ thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho đến những bài học được rút ra qua các
kỳ Đại hội Đảng, chúng tôi thấy rằng độc lập dan tộc và chủ nghĩa xã hội là cái bắt biến của mục tiêu cách mạng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn một nội dung bắt biến nữa, đó là Đảng Cộng sản được xây dựng với tỉnh thần cách mạng, khoa học trên cơ sở quan điểm, lập trường và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin Với nội dung của cái bất biến này chúng tôi cho rằng đây là nhân tô bắt biến đề đi đến mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Bắt biến là mục tiêu, lấy cái bất biến để ứng phó với cái vạn biến thì mới giữ được cái bat biến
và đạt tới cái bất biến Thế giới vạn vật luôn luôn thay đổi, hoàn cảnh khách quan luôn thay đổi, điều đó nó bắt buộc chủ thê phải thay đổi hành động cho phù hợp với khách quan Như vậy chủ thể hoạt động luôn luôn phải vạn biến cho phù hợp với sự vạn biến của khách thể, khi nào chủ thể không có khả năng vạn biến nữa thì khi đó chủ thê trở nên bảo thủ, trì trệ là nguyên nhân của mọi thất bại Vấn đề mục tiêu lý tưởng là không đổi còn phương pháp thực hiện phải chủ động, sang tạo, linh hoạt, mềm dẻo
Trang 22Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy ở đó cái "cảm nang thần kỳ" để cứu
nước và giải phóng dân tộc Đó là giải phóng dân tộc băng con đường cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản có chủ nghĩa Mác - Lénin "lam cot"
Hồ Chí Minh xác định phải giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người thật triệt để thì Tổ quốc mới thực sự có độc lập, nhân dân mới thực sự có được tự do hạnh phúc Con đường để đạt tới những mục tiêu đó là phải tiền hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, phải có Đảng vững vàng, Dang " "phải có chủ nghĩa làm cốt" giống như trí khôn đối với con người, như bàn chỉ nam đối với con tàu trên biển, “Trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy", ai cũng phải "giữ chủ nghĩa cho vững", và "chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất là chủ nghĩa Lênin"[25, tr 260, 267-268]
Trong phạm vi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng xã hội cộng sản thì những điều chúng ta kể trên cũng là những cái bất biến mà
Hồ Chí Minh đã vạch ra cho cách mạng Việt Nam Chính nhờ giữ vững cái bắt biến ấy, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa quyết định trên con đường cách mạng
vô sản tiến lên Xây dựng chủ nghĩa cộng sản Tuy nhiên, theo ý kiến của chúng tôi như đã trình bày ở trên thì cái bât biên này là nhân tô quyết định đề đi đến mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mục tiêu cao nhất trong tư tưởng của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là thiên tài khi không chỉ tìm ra nhân tố quyết định để đi đến mục tiêu mà còn chỉ
ra cho chúng ta cách thức để bồi dưỡng, phát huy sức mạnh của nhân tố ấy Theo Hồ Chí Minh, Đảng phải lẫy chủ nghĩa Mác - Lênin "làm cốt", có nghĩa là:
phải học tập tỉnh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vân đê thực tê trong công tác cách mạng của chúng ta Không phải học dé thuộc lòng từng câu từng chữ Khi vận dụng thì bỗ sung, làm phong phú thêm lý luận bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn cách mạng của ta [31, tr.497]
Đảng phải thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đồn, các cá nhân trong Đảng phải ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, phải thường xuyên phê bình và tự phê bình đê làm cho Đảng ngày càng mạnh hơn xứng đáng là đội tiên phong của giai câp công nhân và của toàn dân tộc
Chính những nội dung yêu cầu và cách thức mà Hồ Chí Minh đặt ra cho Đảng chỉ cho chúng ta thấy Đảng có chủ nghĩa Mác - Lênin "làm cốt" là nhân tố quyết định dé đạt tới mục tiêu bất biến cao nhất là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên đứng ở góc độ của Đảng thì chủ nghĩa
Mac - Lênin lại là cái bất biến, Đảng phải lấy nó "làm cốt", dù Đảng có chỉnh đón, sửa đổi, đôi
mới như thế nào thì cũng phải trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin, xa rời chủ nghĩa Mác -
Lênin Đảng không còn là Đảng Cộng sản nữa, Đảng đã tự đánh mát mình Vì vậy, trong quá
trình xây dựng, chỉnh đón và đồi mới, Đảng phải quán triệt tính thần làm việc biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lénin, tinh thần phát triển, bổ sung, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí
Minh Chỉ khi nào Đảng giữ vững cái bắt biến như vậy Đảng mới đủ điều kiện để ứng phó với
cái vạn biến trong quá trình phát triển và lãnh đạo cách mạng, đem đến những thắng lợi cho nhân dan va dan toc
Tóm lại, theo chúng tôi, trong công cuộc cach mạng của nhân dân ta dưới thời đại Hồ Chí Minh, trong công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, cái bắt biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh thẻ hiện trên hai khía cạnh: thứ nhất, mực điêu bắt biến là
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội: thứ hai nhân tố bất biến đề đạt tới mục tiêu, hiện thực hóa
Trang 23mục tiêu bắt biến là Dang cộng sản được xây dựng trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin; ngày nay là tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin
1.3.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về cái “vạn biến”
Trong xã hội, xét ở mục tiêu hoạt động của mỗi con người, gia đình, mỗi tập thé, mỗi dân tộc đối với hoàn cảnh khách quan thì mục tiêu hoạt động là bất biến còn hoàn cảnh khách quan thì luôn luôn biến đôi Mục tiêu hoạt động có thê có cái bắt biến riêng theo từng giai đoạn, từng thời kỳ, nhưng về cơ bản nó không có sự khác biệt hay không nằm ngoài mục tiêu chung lớn nhất của quôc gia, dân tộc đó Cái bắt biến trong từng giai đoạn, từng thời kỳ chính là cái vạn biến, sự vạn biến của chủ thể hoạt động nhằm dat tới mục tiêu bất biến cao nhất
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, thông qua những hoạt động thực tiễn của Người, cái vạn biên có thê được hiệu là những tình huông cách mạng đã, đang và sắp xảy ra hàng ngày hàng giờ
mà chúng ta phải đôi phó, phải xử lý đê đạt được mục tiêu cách mạng đặt ra
Trong đấu tranh cách mạng âm mưu của kẻ địch là bất biến, nhưng thủ đoạn của kẻ địch thì vạn biến khôn lường Chính vì vậy, người làm cách mạng muốn đạt được mục tiêu cách mạng đặt ra phải luôn luôn linh hoạt mêm dẻo đối phó với thủ đoạn của kẻ địch Người cách mạng cân phải nắm quyền vạn biến, chủ động đây kẻ thù của mình, giai cấp mình, dân tộc mình vào những cảnh
huống chúng không mong muôn và bị động đối phó theo Có thê hiểu trong phương pháp "Dĩ bất
biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh, cái vạn biến được hiều là những cái có thé thay đổi, điều chỉnh, dùng hoặc không dùng, dùng trong điều kiện, hoàn cảnh cy thé, dé đấu tranh với kẻ thù nhằm những kết quả có lợi cho cách mạng
Tuy nhiên, cái vạn biến là khôn lường, trong đấu tranh cách mạng có lúc cái vạn biến của kẻ thù
làm cho không ít người nhầm tưởng là nhân nhượng của chúng, sự lùi bước của chúng làm cho
chúng ta có thể đạt tới cái bất biến, có thẻ đạt tới cái mục tiêu mà cách mạng đã định ra Không
phải như vậy, trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, khi quân Đồng minh chiến thắng quân phát xít, quân đội Nhật đầu hàng Đồng minh, nhiều người cho răng chúng ta có thé nghiễm nhiên được độc lập, nhưng không phải mà đó chỉ là cơ hội tôt đê chúng ta giành độc lập Năm rõ cái vạn biến khôn lường của kẻ thù, Hồ Chí Minh đã khăng định: "Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết dành cho được độc lập"[17, tr.212], và Người đã lãnh đạocả dân tộc đứng lên làm cuộc cách mạng lật đồ ách áp bức, thống trị của dé quốc và thực dân, giành quyền độc lập cho Tổ quốc, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Lịch sử đã chứng minh Hồ Chí Minh đúng khi quân Anh, Tưởng với đanh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, đã thoả hiệp với quân đội Pháp đẻ một lần nữa quân Pháp lại quay trở lại xâm lược nước ta Như vậy, quá trình cách mạng luôn diễn ra với nhiều biến đổi, vạn biến không ngừng Không nắm chắc tỉnh thần của cái bắt biến, không nhìn thấu sự vạn biến trong từng thời khắc thì sẽ khó đưa cách mạng tới thành công
Trong đâu tranh cach mang, cai bat biến thường thuộc về những vấn đề chiến lược, những vấn đề được thực hiện trong một thời gian dài không thay đổi cho tới khi đạt được; còn cái vạn biến
không chỉ đơn giản là những thay đôi của hoàn cảnh khách quan mà cái vạn biến còn thường là
vân đề sách lược của cách mạng, nhằm đạt tới mục tiêu bất biến, mục tiêu chiến lược đã định, cái vạn biến này là do chủ thé của mục tiêu bat biến tạo ra, chủ thể hoạt động đã nam được quyền van bién dé hướng hoạt động của khách thể theo ý mình, mục đích của mình
Như vậy, cái vạn biến trong quan niệm của Hồ Chí Minh là tất cả những việc, những sự kiện xảy
ra trong cách mạng Có những điêu vạn biên thúc đây quá trình cách mạng tiên nhanh, nhưng cũng có những cái vạn biên làm cho cách mạng thụt lùi Với Người, dù vạn biên như thê nào thì
Trang 24cũng phải nắm chắc cái bất biến, phương hướng chiến lược của cách mạng đề có những sách lược vạn biên cho kịp thời
1.3.3 Quan niệm cúa Hồ Chí Minh về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”
Chúng ta đã tìm hiểu cái "bất biến" và cái "vạn biến" trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, những nội dung đó biểu hiện rõ trong thực tiễn cách mạng Việt Nam Chúng ta cần tìm hiểu cái "bắt biến"
và cái "vạn biến" trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải trên câu chữ khô khan trong Các tác phẩm lý luận, mà là tìm hiểu tư tưởng, phương pháp cách mạng của Người trong thực tiễn cách mạng Chữ "dĩ"và chữ "ứng" đã nói lên điều đó Tức là lay cai nay để ứng phó, ứng biến với cái kia, dù sự vật hiện tượng có thiên biến vạn hóa, có thay đôi như thé nao đi nữa thì cũng phải
xoay quanh cái bản chất bắt biến của nó Lấy cái bản chất để ứng phó với cái biến đồi của hiện
tượng phải trên cơ sở nắm chắc cái bản chat Chữ "dĩ" đã nói lên rằng triết lý không phải đề triết
lý, mà triết lý phải dẫn đến làm, đến hành động Đó là triết lý và hành động, nói và làm, lý luận
và thực tiễn liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau Đó chỉ có thê là triết lý nảy sinh trong hoạt động thực tiễn, không phải là lý luận suông, có tính tư biện
Trong lịch sử, ta thấy có nhiều triết lý tách rời khỏi hành động, nói không đi đôi với làm, lý luận
xa rời cuộc sông Triết lý không gắn với hành động là triết lý để mà triết lý, triết lý tư biện, kinh
viện, sách vở, tách rời cuộc sông Lý luận của các nhà triết học trước Mác chủ yếu chỉ là giải
thích, lý giải thế giới chứ không gắn liền với nhiệm vụ cải tạo, cải biến thế giới Chính vì vậy, sự xuất hiện của triết học Mác đã tạo ra một cuộc cách mạng trong triết học, vì nó không chỉ giải thích mà còn cải tạo thế giới bằng hoạt động thực tiễn của con người
Trong xã hội, quy luật phát triển của xã hội là bắt biến, không ai, không lực lượng nảo có thể
ngăn cản được bước tiễn của lịch sử Lý luận đúng chỉ khi lý luận xuất phát từ thực tiễn lịch sử, chỉ ra được quy luật phát triển của xã hội, của lịch sử Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy cái bất biến là phải lấy cái quy luật phát triển của xã hội, của lịch sử đề hành động chống lại những hiện tượng, lực lượng đang có níu kéo làm chậm bước tiến của lịch sử, làm sai lệch quy luật phát triển của xã hội Người cách mạng phải nắm vững quy luật phát triển của xã hội, từ quy luật đó xác định cho mình mục tiêu cần đạt tới và trong cuộc đấu tranh phải ứng phó, phải vạn biến trước những thay đổi, những vạn biến của các lực lượng phản cách mạng
Sự nghiệp cách mạng ngày càng phát triển, thành quả cách mạng ngày càng tiến bộ, vì thế quy luật phát trién của xã hội ngày càng được và phải được nhận thức rõ hơn Hồ Chí Minh, người học trò suất sắc của Mác - Lênin, quán triệt tỉnh thần ay, trong bai: Thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý luận, lý luận lãnh đạo thực hành, Người đã cho rằng:
Trong xã hội phong kiến, không thé nào hiểu biết được quy luật tư bản, vì hồi đó
chưa có tư bản Lý luận Mác chỉ có thể sinh ra trong xã hội tư bản Mác lại không thê đoán trước một cách đầy đủ quy luật của chủ nghĩa đề quốc, vì hồi đó chủ nghĩa tư bản chưa đến giai đoạn dé quốc Chỉ có Lênin và Xtalin mới vạch rõ được quy luật của chủ nghĩa đề quốc chẳng những vì Lênin và Xtalin có thiên tài, mà trước hết vì hai ông đã thực hành việc lãnh đạo giai cấp đấu tranh và thực nghiệm khoa học Muốn hiểu biết một việc gì, một vật gì, thì phải tham gia vào cuộc đấu tranh và biến
đôi của việc ấy, vật ấy Có như thế mới thay được hiện tượng của nó, và tiến tới hiểu
Trang 25lý, một lý luận nhất định Triết lý, lý luận đó phải được sinh ra, khái quát từ thực tiễn và phải được kiêm nghiệm lại băng thực tiên, phải được làm đề ngày càng sâu sắc và khái quát cao
Quan niệm của Hồ Chí Minh về "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" là tắt cả mọi hành động dựa trên một cơ sở lý luận nhát định, nhằm mục tiêu nhát định phải gắn liền với thực tiễn, hoàn cảnh lịch
sử ở thời điểm diễn ra hành động đó Trước thực tiễn, trong hoàn cảnh cụ thê phải có những vạn biến để hiện thực hóa mục tiêu đã xác định Hơn thế nữa, trong quan niệm của Hồ Chí Minh khi nắm rõ, chỉ ra được quy luật thì phải tiến tới nắm quyền vạn biến, không được bị động đối phó trước sự vạn biến của đối tượng - khách thể mà cần phải chủ động vạn biến, giành quyền làm chủ trong các hoạt động đề giành lây mục tiêu đã định
1.3.4 Bước đầu định nghĩa khái niệm phương pháp “Dĩ bắt biến, ứng vạn biên” Hô Chí Minh
Ở Hồ Chí Minh, vấn đề xác định đường lỗi cách mạng đúng đắn và phương pháp cách mạng thích hợp được đặt ra từ sớm Đặc biệt, sau khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và cách mạng Tháng Mười thì cả đường lối cách mạng, phương pháp cách mạng ở Hồ Chí Minh đã có sự biến đổi về chát Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, đối với việc tiến hành cách mạng, từ việc nhỏ đến việc lớn, đù trong bất kỳ thời kỳ cách mạng nào, đối với bất cứ đối tượng nào, Hồ Chí Minh cũng tìm ra những phương pháp thích hợp Và điểm đáng lưu ý là càng trong những lúc hiểm nghèo, càng ở những thời điểm bước ngoặt của cách mạng thì lại càng thấy rõ tính sáng tạo, độc đáo trong phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh
Phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh đã trở thành phương pháp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, của cách mạng Việt Nam, đảm bảo tiến hành cách mạng thắng lợi Trong hệ thống phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" được xem là phương kế giữ nước hiệu quả nhất, có sức tác động mạnh nhất, kế cả ở thời bình cũng như khi
thế nước "ngàn cân treo sợi tóc”
Phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" cũng là cẩm nang giữ nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trao lại cho cụ Huỳnh Thúc Kháng - Quyền Chủ tịch nước và các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta khi Người sang Pháp dự Hoà đàm Phôngtennoblô với tư cách là Thượng khách của Chính phủ Pháp, năm 1946 Cụ Huỳnh Thúc Kháng và các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã cụ thể hoá, vận dụng phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh một cách linh hoạt, góp phần ồn định tình hình chính trị - xã hội - quân sự trong những ngày Chủ tịch Hồ
Chí Minh xa đất nước
Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu cái bất biến, cái vạn biến và quan niệm của Hồ Chí Minh về “Dĩ bắt biến, ứng vạn biến”, chúng tôi bước đầu nêu ra khái niệm phương pháp "Dĩ bát biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh như sau:
Phương pháp “Dĩ bắt biến, ứng vạn biến” Hô Chí Minh là một phương pháp trong hệ thống phương pháp cách mạng của Hỗ Chỉ Minh, thể hiện sự kết hợp giữa truyền thống, triết HD song của dân tộc Việt với quan điểm lý luận gắn liền với thực tiễn, quan điểm lịch sử và cụ thể của chủ nghĩa duy vật biện chứng, cho từng hoạt động cách mạng, được thực hiện trên nhiều lĩnh vực, tuỳ theo hoàn cảnh cu thể nhằm hiện thực hóa mục tiêu: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Theo chúng tôi, việc định nghĩa khái niệm phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ Chí
Minh như vậy thỏa mãn:
Trang 26- Phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" là một phương pháp trong hệ thống các phương pháp cách mạng của Hô Chí Minh
- Nguồn gốc lý luận của phương pháp là triết lý sống của dân tộc và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - Lénin
- Dac trưng, phương pháp được áp dụng cho từng hoạt động cách mạng, được thực hiện trên ` nhiêu lĩnh vực, tuỳ theo hoàn cảnh cụ thê nhăm hiện thực hóa mục tiêu: độc lập dân tộc găn liên với chủ nghĩa xã hội
Tuy nhiên, định nghĩa này có thể là chưa đầy đủ, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu để đưa ra ‹ được một khái niệm đây đủ, chính xác và khái quát hơn Đây chỉ là kêt quả nghiên cứu bước đâu,
nó còn nhiêu hạn chê do trình độ, năng lực và thời gian
đó là một phương pháp cách mạng có sự kết hợp, kế thừa, hội tụ tính hoa văn hóa phương Đông, tính biện chứng và khoa học phương Tây bởi bàn tay và khối óc sáng tạo vĩ đại của Hồ Chí Minh Phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh đã cho thấy vai trò, vị trí của nó trong việc làm phong phú kho tàng lý luận Mác - Lênin, kho tàng phương pháp cách mạng Việt Nam Trong thời kỳ hội nhập, đổi mới và phát triển hiện nay của Việt Nam phương pháp này cần được tiếp tục nghiên cứu, quán triệt vận dụng nhằm góp phân vào những thăng lợi của sự nghiệp cách mạng
Trang 27Chương 2
BIÊU HIỆN CÚA PHƯƠNG PHÁP “DĨ BÁT BIẾN, ỨNG VAN BIEN” HO CHÍ MINH
VÀ SỰ VẬN DUNG CUA DANG CONG SAN VIET NAM TRONG SU NGHIEP DOI
và phải vì mục tiêu bắt biến
Khi viết về Hồ Chí Minh, có Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định:
Hồ Chí Minh là con người của lòng tin không gì lay chuyên nồi vào tương lai dân tộc và loài người, vào chủ nghĩa xã hội Đó là cái chât không bao giờ biên đôi đê ứng phó linh hoạt với muôn vàn biên đôi của một sự nghiệp đây sóng gió [16,
tr.64]
Cái không biến đổi chính là sự kiên định mục tiêu nhất quán của Hồ Chí Minh nhằm “phấn đầu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thông nhât, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phân xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thê giới” [35, tr.5 12]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người Trong đó, giải phóng dân tộc là tiền đề cho giải phóng xã hội và giải phóng con người Tỉnh thần đó được các Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6, 7 cụ thể hóa và được hoàn chỉnh trong văn kiện Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) với mục tiêu cao hơn hết thảy là làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập các vấn đề khác phải
vì mục tiêu độc lập dân tộc và phục tùng mục tiêu độc lập dân tộc Cuộc vận động cách mạng của Đảng theo mục tiêu vì dân tộc và con người đã tạo ra sức mạnh tông hợp dẫn tới thành công của cách mạng tháng Tám (1945)
Hồ Chí Minh là người suốt đời phan dau hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc Người
luôn tìm cách thực hiện cho kỳ được mục tiêu đã chọn Với Người, mục tiêu là nhất quán nhưng biện pháp thì thiên biến vạn hoá Điều đó được minh chứng qua các hoạt động cụ thê, hoàn cảnh càng nguy hiểm, khó khăn thì Người càng bình tĩnh sáng suốt Bản lĩnh ứng biến của Người luôn
đi đôi với phong thái ung dung tự tại, kiên định về mục tiêu song cũng rất linh hoạt về sách lược, luôn giữ thế tiến công nhưng biết nhân nhượng đúng lúc, giành thắng lợi từng bước để đi tới thắng lợi hoàn toàn Với Hồ Chí Minh, nhân nhượng phải có nguyên tắc, nhân nhượng phải phục
vụ mục tiêu cách mạng, nhân nhượng song cũng rât kiên quyết Trong “Lời kêu gọi toàn quôc kháng chiến” ngày 19/12/1946, Hồ Chí Minh đã nhân mạnh và khăng định điều đó:
Trang 28chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân
nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mắt nước, nhất
định không chịu làm nô lệ [27, tr.480]
Về cơ bản, những biểu hiện của phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh trong từng giai đoạn cách mạng luôn là sự biếu hiện tập trung và quán xuyến nhiều lĩnh vực từ kinh té, chính trị, quân sự, ngoại giao cho đến những vấn đề về văn hóa, giáo dục, xây dựng đạo đức mới v,v Những vấn đề đó có môi liên hệ chặt chẽ với nhau, cần có cái nhìn tổng quát và toàn diện khi nghiên cứu các vân đề Vẫn quán triệt tính than ay, nhưng trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi muốn trừu xuất một cách tương đối, nghiên cứu theo chiều dọc các vấn đề: kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao; đây là những nội dung biểu hiện tương đối rõ phương pháp "Dĩ bất biến ứng vạn biến" Hồ Chí Minh Hướng nghiên cứu như vậy, theo chúng tôi sẽ thuận lợi hơn cho việc tìm hiểu quá trình vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời gian qua và có những đề xuất vận dụng mới phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước hiện nay
lựa chọn, quy luật phát triển đã chỉ ra
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, chúng tôi thấy, ngay trong "Bài phát biểu tại cuộc
hop đầu tiên của ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc" ngày 10 - I - 1946, Người đã chỉ rõ:
"Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ"[27, tr.152] Đến hội nghị cán bộ cải cách 1956, Hồ Chí Minh lại chỉ ra: "Tất cả những việc Đảng và Chính
phủ đề ra đều nhằm cải thiện đời sống cho nhân dân Làm gì mà không nhằm mục đích ấy là
không đúng"{3 1, tr.150] Hồ Chí Minh ngay từ rất sớm đã nhận thức rõ mục đích phát triển của
kinh tế, mục đích đó không phải như mục đích của tư bản là nhằm bóc lột đến tận xương, tận tủy
nhân dân mà nó là mục đích của kinh tế xã hội chủ nghĩa làm cho nhân dân âm no, hạnh phúc
Có thê khang dinh ngay rằng đây là cái bắt biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh đối với kinh tế Kinh tế đù phát triển trong hoàn cảnh, điều kiện như thế nào cũng phải vì mục tiêu bất biến đó Toàn bộ quan tâm của Hồ Chí Minh về kinh tế là lo làm sao cho nhân dân ta, cho mỗi người lao động có được cuộc sông âm no hạnh phúc Đó là mục tiêu, đồng thời là thước đo dé danh gia tinh dung dan, y nghĩa, hiệu quả của môi biện pháp kinh tế, mỗi chính sách kinh tế Phát triển kinh tê, xây dựng đất nước cũng là vì cuộc sống của nhân dân lao động, nhằm mục tiêu giải phóng cao nhất - giải phóng con người Đây là quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh, nhưng theo Người đề thực hiện được mục tiêu đó thì mọi chính sách, biện pháp kinh tế của Đảng phải
đi từ thấp đến cao, phải tùy theo tình hình mỗi lúc mỗi nơi, tùy theo điều kiện kinh tế chính trị xã
hội cu thể ở đó mà quyết định Đó chính là quan điểm vạn biến cho mục tiêu bất biến của Hồ Chí
Minh trong xây dựng, phát triển kinh tế
Năm 1945, sau Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập, còn non trẻ lại bị đe dọa bởi các thê lực đê quốc lớn mạnh; cùng với nó là hậu quả của chính
Trang 29sách vơ vét, bóc lột của thực dân làm cho hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói, 95% dân số nước
ta không biết chữ Lúc này, khi tiếp các nhà báo, đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời
rằng: "Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành"[27, tr.161] Lịch sử đã cho chúng ta thấy trong hoàn cảnh khó khăn ấy, Hồ Chí Minh cùng với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đã phát động một cuộc vận động lớn nhằm quyên góp tiên của ủng hộ chính phủ vượt qua những khó khăn về tài chính, vận động nhân dân phát huy truyền thống "lá lành đùm lá rách" của dân tộc để lập ra
hũ gạo chống đói, "Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn ăn một bữa Gạo tiết kiệm
được sẽ góp lại và phát cho người nghèo"[27, tr.7], Người kêu gọi toàn dân tăng gia sản xuất để kịp thời chống đói Người tiếp tục phát động "phong trào bình dân học vụ" với phương châm người biết chữ dạy cho người không biết chữ, người biết nhiều day cho người biết ít, con dạy cho cha, vợ dạy cho chồng Kết quả của những hoạt động đó là đã chấm dứt được nạn chết đói,
số tiền, vàng quyên góp được đã giúp Chính phủ vượt qua tình trạng kiệt quệ về tài chính, nhân dân thi đua học tập trở thành phong trào quần chúng rộng khắp, số người biết đọc, biết viết tăng lên đáng kẻ
Sau 9 năm trường kỳ kháng chiến, Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành được thắng lợi,
để có thắng lợi đó nhân dân ta đã đốc toàn bộ sức người, sức của, chiến tranh đã vắt kiệt sức của
cán bộ, bộ đội, công chức và đặc biệt là của nông dân Lúc này Hồ Chí Minh đề ra phải: "Kiên
quyết nâng cao dần mức sống của nhân dân, trước hết là công nhân, bộ đội và công chức, đồng thời giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân" [3I, tr.48]
Nếu nhự năm 1946, trước nạn chết đói thì việc nâng cao đời sống của nhân dân chỉ là "có cơm ăn
áo mặc" và "được học hành" thì đến năm 1960 khi chúng ta bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, thì yêu cầu của Hồ Chí Minh là làm cho “Đời sống vật chất ngày càng ấm no, đời
sống tinh than ngay cang tiến bộ".[34, tr.225] Như vậy không chỉ dừng lại yêu cầu no đủ mà
Người còn yêu cầu về nâng cao đời sống tỉnh thần
Quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế:
Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa
xã hội, biên nên kinh tê lạc hậu thành một nên kinh tê xã hội chủ nghĩa với công
nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiên.[32, tr.588]
Chữ "tiến dần" của Hồ Chí Minh thê hiện rõ khi Người cho rằng cần phải:
Làm cho người nghèo đủ ăn
Người đủ ăn thì khá giàu
Người giàu thì giàu thêm [28, tr.65]
Như vậy tiến tới thực hiện công bằng xã hội là cả một quá trình Do lịch sử để lại, và trong nền
kinh tê thị trường có sự phân tâng thu nhập, nên trong xã hội còn có các tâng lớp có mức độ thu nhập khác nhau Vân đê đặt ra là cân nâng cao đời sông của tât cả các tang lớp nhân dân Quan diém nay phù hợp với điêu kiện kinh tê xã hội của nước ta, nó phản ánh đúng điêu kiện hiện có của các tâng lớp nhân dân
Tóm lại, trong quan điểm phát triền kinh tế của Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ cái bất biến của Người không gì ngoài "xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt" [33 tr.591] Cai bat biến trong phát triển kinh tế của Hồ Chí Minh được thực hiện từng bước cụ thể, có sách lược vạn biến trong từng hoàn cảnh, giai đoạn cụ thê để tiến tới cái bất biến
Trang 30Phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh về kinh tế biều hiện rõ trên hai góc độ Thứ nhất là biều hiện của phương pháp đó trong các quan điểm của Hồ Chí Minh, gồm quan điểm lý luận và quan điểm chỉ đạo thực tiễn Thứ hai, phương pháp đó thể hiện trong những hoạt động cụ thể, những chỉ đạo cụ thể trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế của Hồ Chí Minh
Về mặt lý luận, chúng ta lại phải so sánh với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin để thấy được
sự sáng tao, sự vạn biến, sự bồ sung phat trién chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh trên tất
cả các mặt từ loại hình phát triển, bước đi, cơ cấu, thành phần kinh tế đến quản lý kinh tế, về động lực, đòn bay phát triển kinh tế Về mặt thực tiễn, để làm rõ chúng ta phải phân tích cụ thể hoàn cảnh lịch sử nào đã đưa đến những quyết định, những biện pháp kinh tế như vậy Trong điều kiện luận văn này, chúng tôi chỉ bước đầu phân tích như một sự gợi mở cho quá trình tiếp
tục tìm hiểu cai bat biến và cách thức vạn biến của Hồ Chí Minh trong xây dựng và phát triên
nền kinh tế để làm căn cứ cho quá trình vận dụng của Đảng và Nhà nước ta trong phát triển kinh
tế hiện nay
2.1.2 Chính trị
Quan điểm chính trị và hoạt động chính trị của một đảng được quyết định bởi tính chất giai cấp của đảng đó, nó tùy thuộc vào việc đảng đó gắn hoạt động của mình với giai cấp nào, thái độ của đảng đó với đối với các giai cấp khác và bằng hoạt động của mình, đảng đó muốn cuộc đấu tranh giai cấp đi theo hướng nào Vì vậy, hoạt động chính trị của đảng không chỉ có một nội dung mà
nó bao gồm nhiều nội dung, nhiều vấn đề khác nhau, những vân đề, nội dung liên quan từ trong nước đến quốc tế, từ một giải cấp đến nhiều giai cấp, một dân tộc đến nhiều dân tộc Hơn thế, nhiều khi chính trị và kinh tế, chính trị và quân sự, ngoại giao, lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau Với nội dung lớn, phong phú đòi hỏi phải có thời gian và công sức lớn mới có thể nghiên cứu hết Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi chỉ
xem xét việc tổ chức, tập hợp lực lượng chính trị của Hồ Chí Minh và Đảng ta trong quá trình
cách mạng nhằm làm rõ những biểu hiện của phương pháp "Dĩ bắt biến, ứng vạn biến" Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Sở dĩ như vậy, bởi việc tô chức và xây dựng lực lượng chính trị hay lực lượng cách mạng 1a van đề cốt lõi nhất của công tác chính trị Van dé đó nó quyết định
sự thành bại của sự nghiệp cách mạng
Nét nổi bật, xuyên suốt trong tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh đó là tư tưởng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trong thực tiễn, các hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh đã thê hiện rất rõ quan điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh Tùy theo từng thời điểm, hoàn cảnh lịch sử mà Người đưa ra một sách lược đoàn kết dân tộc nhất định, được thể
hiện bằng hình thức mặt trận thống nhất, nhưng xuyên suốt cả chiều dài lịch sử, qua nhiều hình
thức tổ chức mặt trận, trong các giai đoạn cách mạng khác nhau do Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo, đêu chứng tỏ một điêu bât biên, các mặt trận ây với mục tiêu chung là xây dựng khôi đại đoàn kết dân tộc nhằm tạo ra sức mạnh đi tới mục tiêu cao nhất độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội
Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc đã thấy rõ bộ mặt của chủ nghĩa thực
dân là ăn cướp và bóc lột Ngay từ khi chưa trở về Tổ quốc, Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú ý đến
vấn đề xây dựng khối đoàn kết, không chỉ đoàn kết dân tộc mà còn là đại đoàn kết của nhân dân lao động, nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới
Ngay trong Cương lĩnh thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã xác định:
Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v đê kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp Còn đối với bọn phú nông, /rung, tiểu địa chú và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới