Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận về DSVH PVT, về nghệ nhân, cộng đồng thực hành DSVH PVT; các nội dung về lý luận, phương pháp luận về nhu cầu, động lực sáng tạo của con người v
Trang 1BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Phạm Cao Quý
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGHỆ NHÂN THỰC HÀNH
DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa
Mã số: 9319042
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Hà Nội - 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đặng Văn Bài
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án TS cấp Viện tại
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Số 32, Hào Nam, Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội
Vào hồi: … giờ…., ngày….tháng.….năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam;
- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể (DSVH PVT) là người được kế thừa, nắm giữ di sản của cha ông, tiếp tục thực hành, gìn giữ và trao truyền lại cho thế hệ mai sau Nghệ nhân thực hành được ví như những “báu vật nhân văn sống”, “bảo tàng sống” mà không thể thay thế được Với ý nghĩa đó, hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH PVT trong thời gian qua cũng đã chú trọng tới nghệ nhân bằng nhiều nội dung có cả cụ thể và bao quát Ở phương diện xây dựng và ban hành chính sách thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tính đến nay,
đã có 02 Luật, 03 Nghị định liên quan trực tiếp tới nghệ nhân thực hành DSVH PVT và một số quyết định, quy chế của các tổ chức hội và địa phương được ban hành Hệ thống chính sách được truyền tải qua các văn bản quy phạm pháp luật này đã và đang có những đóng góp quan trọng và tích cực vào hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH PVT nói chung
và nghệ nhân thực hành DSVH PVT nói riêng
Tuy nhiên, các chính sách này còn bất cập trên cả phương diện lý luận
và thực tiễn áp dụng Từ đó, tác giả chọn đề tài Chính sách đối với nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận án là:
nghiên cứu về nghệ nhân thực hành DSVH PVT; nghiên cứu, đánh giá hệ thống chính sách hiện có đối với nghệ nhân để từ đó đưa ra đề xuất, khuyến nghị góp phần hoàn thiện chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT ở Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận về DSVH PVT, về
nghệ nhân, cộng đồng thực hành DSVH PVT; các nội dung về lý luận, phương pháp luận về nhu cầu, động lực sáng tạo của con người với vai trò
là người nắm giữ DSVH PVT; về xây dựng và ban hành chính sách; thực trạng chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT ở Việt Nam; xây dựng khung chính sách và đề xuất các nội dung bổ sung, chỉnh sửa
Trang 4các chính sách hiện có góp phần hoàn thiện hệ sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: DSVH PVT, nghệ nhân thực hành các loại hình DSVH PVT ở Việt Nam; chính sách đối với nghệ nhân qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ trung ương tới địa phương, một số chương trình, dự án, đề án liên quan, một số quy chế, quy định của các địa phương và kinh nghiệm của UNESCO, Nhật Bản và Hàn Quốc Thời gian nghiên cứu của luận án là khi ban hành Luật Di sản văn hóa năm 2001 tới nay
4 Phương pháp luận
Tác giả chọn các phương pháp luận của Quản lý DSVH, Khoa học chính sách, Tâm lý học để nghiên cứu chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT Tác giả sử dụng Lý thuyết về động lực của con người của tác giả Abraham Maslow qua năm tầng Tháp nhu cầu Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng lý thuyết của Tâm lý học sáng tạo nghệ thuật
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận liên ngành/đa ngành: DSVH, quản lý DSVH, khoa học chính sách, tâm lý học được tác giả áp dụng cụ thể là: phân tích tổng hợp, quan sát tham dự, khảo sát, phỏng vấn sâu, mô hình hóa, thống kê
6 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
Cần có chính sách như thế nào để phát huy vai trò của nghệ nhân thực hành DSVH PVT trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH PVT ở Việt Nam?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
Tác giả cho rằng, việc ban hành chính sách đối với nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể chưa đạt được như mong muốn là do chưa xác định được khung chính sách đối với đối tượng này bên cạnh những hạn chế trong kỹ thuật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Trang 57 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên phương diện lý luận: Tác giả áp dụng quan điểm, lý luận về DSVH PVT, về quản lý DSVH PVT nhằm nhận diện rõ hơn về DSVH PVT; về khái niệm, đặc điểm, vai trò của nghệ nhân trong việc thực hành DSVH PVT Kết quả nghiên cứu góp phần vào việc bổ khuyết các lý luận
về DSVH PVT như là một môn khoa học đang hình thành Lý luận về khoa học quản lý được tác giả sử dụng để luận giải những vấn đề đang đang đặt
ra trong việc ban hành, thực thi chính sách đối với nghệ nhân để đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm phát huy tốt hơn vai trò của nghệ nhân Trên phương diện thực tiễn: Luận án mong muốn góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống chính sách đối với nghệ nhân nói riêng và DSVH PVT nói chung ở Việt Nam Cụ thể là, đóng góp các nội dung tổng quát và cụ thể
vào việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Di sản
văn hóa (DSVH), Luật Thi đua, Khen thưởng (TĐKT) và các văn bản liên
quan
8 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu (9 trang), Kết luận (6 trang), Tài liệu tham khảo (11 trang), Phụ lục (36 trang), Luận án gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về nghệ nhân thực hành DSVH PVT ở Việt Nam (48 trang)
Chương 2 Thực trạng chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT ở Việt Nam (52 trang)
Chương 3 Góp phần hoàn thiện chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT ở Việt Nam (41 trang)
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ NHÂN THỰC HÀNH DI SẢN VĂN HÓA
PHI VẬT THỂ Ở VIỆT NAM 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu về đặc điểm, vai trò của nghệ nhân
Dựa trên các lĩnh vực quan tâm cụ thể về các DSVH PVT cụ thể như: Ca Trù, Quan họ, Cồng chiêng, Sử thi, Đờn ca Tài tử, Hát Xoan,
Trang 6Tranh dân gian và nhiều loại hình DSVH PVT khác, các tác giả chủ yếu miêu tả về kỹ năng, kỹ thuật, hiểu biết và các đặc điểm của các nghệ nhân
ở mỗi di sản, mỗi loại hình với nhiều công trình nghiên cứu từ cách tiếp cận của văn hóa dân gian hoặc những khoa học liên quan Hầu hết các nhà nghiên cứu đều khẳng định vai trò quan trọng của nghệ nhân, cộng đồng trong việc lưu giữ, thực hành DSVH PVT
1.1.2 Những nghiên cứu về chính sách đối với nghệ nhân
Nhiều tác giả có những nghiên cứu và nhận định chung là hiện nay đang thiếu hụt các chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT ở Việt Nam Nhất là các chính sách đãi ngộ liên quan tới đời sống, nhu cầu sinh hoạt dưới góc độ là an sinh xã hội Tuy nhiên, hầu hết các nội dung chính sách được đề xuất mới dừng lại ở mô tả thực trạng và kiến nghị nhỏ
lẻ, chưa nghiên cứu toàn diện dưới góc độ của khoa học về DSVH PVT, khoa học chính sách để có góc nhìn tổng quát về chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Di sản văn hóa và chính sách
1.2.1.1 Di sản văn hóa: Theo cách tiếp cận giá trị, DSVH bao gồm
hầu hết các giá trị văn hóa, do con người và thiên nhiên tạo nên Nó là phần tinh túy, tiêu biểu nhất đọng lại sau hoạt động sáng tạo của con người từ thế
hệ này qua thế hệ khác thể hiện qua DSVH vật thể và DSVH PVT Và, vì tính chất đặc thù của nó phải được thẩm định một cách khắt khe bằng sự thừa nhận của cả cộng đồng người trong một thời gian dài, nên DSVH về phương diện giá trị là đặc biệt bền vững, về số lượng cũng lớn hơn nhiều so với các giá trị của thời hiện tại Bởi vậy, có thể nói DSVH là một bộ phận
quan trọng nhất, cơ bản nhất của nền văn hóa
1.2.1.2 Quản lý di sản văn hóa: Quản lý DSVH là quá trình theo dõi định
hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển các DSVH trên địa bàn cụ thể nhằm bảo vệ và phát huy tốt nhất các giá trị của chúng Một cách tổng quát, quản lý DSVH là quản lý các hoạt động của con người, cộng đồng xã hội, những tác nhân có thể tác động ở cả hai chiều thuận và nghịch tới di sản Quản
lý DSVH cũng tức là thiết lập mối quan hệ gắn bó giữa các cơ quan quản lý nhà
Trang 7nước về văn hóa và cộng đồng cư dân địa phương nơi có di sản nhằm tạo ra sự
đồng thuận về cách thức ứng xử với DSVH
1.2.1.3 Chính sách: Chính sách là công cụ mà chủ thể quyền lực sử
dụng để tác động vào con người Chính sách dẫn tới những kiến tạo xã hội
về các quan niệm đạo đức khác nhau trong xã hội Tác giả Vũ Cao Đàm đã định nghĩa về chính sách như sau: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động
cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã
hội.”
1.2.1.4 Chính sách văn hóa: Chính sách văn hóa là một hệ thống các
nguyên tắc, các thực hành của nhà nước trong lĩnh vực văn hóa nhằm phát triển và quản lý thực tiễn đời sống văn hóa theo những quan điểm phát triển
và cách thức quản lý riêng, đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trên cơ sở vận dụng các điều kiện vật chất và tinh thần sẵn có của xã hội Nói đến các chính sách là nói tới tính thực hành, là
hệ thống các công cụ tác động vào mọi khía cạch của đời sống xã hội, thông
qua các thể chế, luật, kế hoạch, chương trình hành động,
1.2.2 Di sản văn hóa phi vật thể
1.2.2.1 Định nghĩa: Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
DSVH 2009 định nghĩa: “DSVH PVT là sản phẩm tinh thần gắn với cộng
đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.” Xét về nội hàm, DSVH PVT được hiểu như những văn hóa do các thế hệ trước kế thừa, lưu giữ, thực hành, sáng tạo và truyền lại cho thế hệ sau DSVH PVT được thực hành không đơn độc mà có tính thực hành tương tác giữa những cá nhân, nhóm và cộng đồng khác nhau thông qua tiếp nhận, thực hành và chia sẻ; được truyền từ đời này sang đời khác, thích nghi với môi trường liên quan
và hình thành trong mỗi các nhân, nhóm, tộc người và cộng đồng ý thức về
Trang 8bản sắc và sự kế tục, kết nối quá khứ với hiện tại và tương lai; góp phần nhận diện và tạo ra sự gắn bó, khuyến khích ý thức về bản sắc và trách nhiệm để cho thấy cá nhân hoặc cộng đồng đó thuộc về cộng đồng lớn hơn
và toàn xã hội DSVH không chỉ là DSVH vật thể như di tích, hiện vật bảo tàng, nó còn bao gồm cả các truyền thống và biểu đạt sống do thế hệ trước truyền lại cho con cháu DSVH vật thể không tách rời con người, luôn nằm trong con người và chỉ được nhận biết, nhận diện thông qua hoạt động trình diễn, biểu diễn, thể hiện ra ngoài, tạo tác của con người DSVH PVT tồn tại vừa đa dạng, linh hoạt và luôn biến đổi
1.2.2.2 Phân loại di sản văn hóa phi vật thể: Pháp luật về DSVH của
Việt Nam chia thành 7 lĩnh vực gồm: Tiếng nói, chữ viết; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội
truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian
1.2.2.3 Đặc điểm của các loại hình di sản văn hóa phi vật thể: Gắn bó
chặt chẽ với con người, cộng đồng; không nằm ngoài con người, cộng đồng; không ngừng được sáng tạo, tái sáng tạo; khó xác định danh tính về nguồn gốc; chủ yếu là được trao truyền phi chính thức, “cầm tay chỉ việc”, “truyền ngón, truyền nghề”; được gìn giữ chủ yếu trong gia đình, trong các nhóm và/hoặc trong cộng đồng; được phân định theo các tiêu chí sau: lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo, tuổi, giới tính và nghề nghiệp trong xã hội,…; nhận thức về di sản chủ yếu là gắn với các nhóm và/hoặc các cộng đồng đã và đang tạo ra, gìn giữ và trao truyền di sản đó; DSVH PVT được hình thành, diễn giải hay tạo ra trong một nhóm hay trong cả cộng đồng với sự tôn trọng các hình thức, biểu hiện và kỹ thuật truyền thống; thường gắn với những không gian văn hóa và đồ vật, đồ tạo tác cụ thể liên quan;
có sự chồng lấn, đan xen giữa các loại hình Trên cơ sở đặc điểm, tính chất, đặc trưng, hiện trạng của mỗi DSVH PVT mà các nghệ nhân thực hành các DSVH PVT này cũng có những đặc điểm, tính chất và đặc trưng
riêng
1.2.2.4 Cộng đồng thực hành DSVH PVT: Từ góc độ di sản văn hoá,
cộng đồng ở đây được hiểu là tập hợp những người có mối quan hệ gắn bó mang tính lịch sử, có chung nhận thức về bản sắc văn hoá và cùng tham gia
Trang 9vào việc sáng tạo, lưu giữ, bảo vệ di sản của cộng đồng Cộng đồng có vai trò như một điểm tựa của DSVH PVT vì tất cả thành viên trong các cộng đồng là những người cùng thực hành, sáng tạo, gìn giữ và truyền dạy di sản DSVH PVT muốn duy trì được sức sống phải có ý nghĩa với cộng đồng và liên tục được cộng đồng đó tái tạo, lưu truyền từ đời này qua đời khác Nói cách khác, DSVH PVT do cộng đồng sáng tạo ra, tồn tại trong không gian sinh tồn/ đời sống sinh hoạt hằng ngày của họ và chỉ được hiển hiện/ bộc lộ
ra thông qua sự thực hành của những con người cụ thể Các cộng đồng là chủ sở hữu và thực hành chính là những người có đủ điều kiện nhất để xác
định và bảo tồn di sản
1.2.3 Lý thuyết về động lực của con người
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao 5 tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow gồm: Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc
"thể lý" Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến, được tin tưởng Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân cường độ cao - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn, thể hiện mình
1.3 Khái quát về nghệ nhân thực hành DSVH PVT ở Việt Nam
1.3.1 Khái niệm: Trong khuôn khổ luận án, tác giả đưa ra khái niệm
và sử dụng cho nghiên cứu này là: “Nghệ nhân là người nắm giữ và thực
hành ở trình độ cao những hiểu biết, kỹ năng, kỹ thuật về DSVH PVT” Với
môi trường có trình độ cao về năng lực đánh giá, cảm thụ, hiểu biết về DSVH PVT, người được cộng đồng gọi là nghệ nhân thường có trình độ cao về kỹ năng, kỹ thuật, hiểu biết về DSVH PVT mà họ đang nắm giữ và
còn cả về đạo đức tốt trong lối sống, thực hành di sản
1.3.2 Đặc điểm: đa số các nghệ nhân thực hành DSVH PVT được
sinh ra, lớn lên trong môi trường các DSVH PVT được thực hành qua nhiều thế hệ Đó có thể là gia đình, dòng tộc, làng hoặc cộng đồng; có sự khác nhau tương đối giữa nghệ nhân của các loại hình DSVH PVT và yếu
tố địa lý, vùng miền, sinh thái nhân văn; bên cạnh yếu tố tài năng, kỹ
Trang 10năng, kỹ thuật được thực hiện ở trình độ cao do yếu tố bẩm sinh thì nghệ nhân là người được tiếp xúc với di sản trong thời gian dài, liên tục được quan sát, học hỏi, thực hành nghề nên khả năng tiếp thu, nắm bắt, liên tưởng tới các hoạt động, nội dung di sản nhanh nhạy hơn người khác; để trở thành nghệ nhân, người thực hành cần có thời gian tích lũy, chau dồi
và thực hành; hầu hết nghệ nhân là tuổi cao
1.3.3 Vai trò: Nghệ nhân có vai trò quan trọng trong việc duy trì thực
hành DSVH PVT Đó không chỉ hiểu đơn thuần là giữ những gì vốn có của DSVH PVT như giữ các DSVH vật thể mà đó phải là người được trao truyền, giữ gìn, thực hành, truyền dạy cho thế hệ kế tiếp, tái sáng tạo, sáng
tạo, làm giầu DSVH PVT và văn hóa
1.3.4 Nghệ nhân và sự sáng tạo: sáng tạo trong việc thực hành
DSVH PVT thiên về nghĩa tái sáng tạo/ tái tạo Nó được đánh giá dựa theo các yếu tố: tính độc đáo, thành thục, mềm dẻo, chi tiết, hoàn thiện, nhạy cảm vấn đề và đặc biệt là hàm lượng DSVH PVT Các thực hành sáng tạo của nghệ nhân được đánh giá thông qua các cấp độ của sự sáng tạo: (1) Sự thể hiện ra bên ngoài những gì mà họ đang nắm giữ ở bên trong thông qua hoạt động trình diễn, biểu diễn, tạo tác ra các sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể; (2) Từ việc thực hành các tri thức, kỹ năng,
kỹ thuật mà người nghệ nhân được truyền thừa, họ sẽ tạo ra những biểu đạt, sản phẩm văn hóa mới trên cơ sở tiếp nối các truyền thống và phù hợp với môi trường, điều kiện, xã hội mà họ đang sinh sống; (3) Phát minh, sáng tạo ra cái mới trên cơ sở các nguyên tắc, quy luật được đúc kết
từ truyền thống,…; (4) Tạo ra các chuyển hóa, đột phá, thay đổi trong xã hội nhờ những gì mà người nghệ nhân tạo ra trong quá trình tư duy, thực
hành các DSVH PVT
Tiểu kết
- Ở Chương này, tác giả đã điểm qua một số nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về nghệ nhân, đặc điểm, vai trò của nghệ nhân thực hành DSVH PVT và các nghiên cứu về chính sách đối với họ Các nghiên cứu này đều thống nhất việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH PVT không thể tách rời con người với vai trò là nghệ nhân, người nắm giữ
Trang 11DSVH PVT cùng với đó là cần thiết phải có những chính sách phù hợp nhằm phát huy vai trò của nghệ nhân trong việc kế thừa, thực hành, trao truyền và sáng tạo/tái sáng tạo văn hóa Hầu hết các nội dung chính sách được đề xuất mới dừng lại ở chế độ đãi ngộ, nhu cầu sinh hoạt; chưa thấy các nghiên cứu có tính bao quát, tổng thể, hệ thống từ góc độ khoa học chính sách và khoa học DSVH PVT
- Với việc phân tích các khái niệm, định nghĩa, đặc điểm, phân loại DSVH PVT, cộng đồng, nghệ nhân chính sách văn hóa,… các mối quan
hệ giữa nghệ nhân, cộng đồng, sáng tạo và chính sách đối với họ, ở chương tiếp theo tác giả sẽ phân tích, đối chiếu với các chính sách hiện có được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện có về chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT, ngoài việc chỉ ra các bất cập của chính sách hiện tại cần điều chỉnh, khắc phục, tác giả cũng chỉ ra những khuyết thiếu cần bổ sung của các chính sách này
Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGHỆ NHÂN THỰC HÀNH DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ Ở VIỆT NAM 2.1 Quá trình xây dựng, ban hành chính sách
2.1.1.2 Nghị quyết 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
Nghị quyết nhấn mạnh cần huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc; xây dựng nhân cách con người Việt Nam và xây dựng cốt cách
Trang 12của dân tộc xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam không chỉ còn là “cơm no, áo ấm”
2.1.2 Diễn trình ban hành văn bản về chính sách đối với nghệ nhân
Ban hành Luật DSVH (2001); nội dung về chính sách đối với nghệ nhân được quy định cụ thể tại Điều 26 Quy chế công nhận danh hiệu
"Nghệ nhân dân gian" của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (2002) Luật TĐKT (2003): có nội dung về danh hiệu "Nghệ nhân nhân dân (NNND)",
"Nghệ nhân ưu tú (NNƯT)" thuộc lĩnh vực ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, không dành cho đối tượng của các loại hình khác của DSVH
PVT Sửa đổi Luật TĐKT (2005); không sửa nội dung điều đã ban hành năm 2003 về nghệ nhân Sửa đổi Luật DSVH (2001): Nhà nước tôn vinh và
có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân có tài năng xuất sắc, nắm giữ và có
công bảo vệ và phát huy giá trị DSVH PVT Sửa Điều 65 của Luật TĐKT
2005: Danh hiệu “NNND”, “NNƯT” để tặng cho cá nhân có công bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể nói chung Sửa đổi Luật TĐKT
2005 (2013); chính thức sửa theo Luật DSVH Ban hành Nghị định số
62/2014/NĐ-CP Ban hành Nghị định số 123/2014/NĐ-CP Ban hành Nghị định số 109/2015/NĐ-CP
Quá trình xây dựng, điều chỉnh, bổ sung các văn bản này được thực hiện với sự đúc rút ra từ thực tiễn, lắng nghe ý kiến của cộng đồng, xã hội; lấy ý kiến, trao đổi với những người làm công tác quản lý, nghiên cứu và cộng đồng liên quan; hoàn thiện dự thảo và trình các cấp có thẩm quyền ban hành Quá trình xây dựng và ban hành đã tuân thủ các quy định chặt chẽ của việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.Diễn trình ban hành các quy định về chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT phức tạp và mất hơn 10 năm để hiện thực và cụ thể hóa các nội dung được quy định
trong Luật DSVH 2001
2.1.3 Các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ
Luật DSVH (2001), lần đầu tiên lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị
DSVH PVT và nội dung về chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân thực hành
DSVH PVT được luật hóa Thông tư liên tịch số 41/2002/TTLT/
BNN-BLĐTBXH- BVHTT, hướng dẫn tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận danh hiệu
Trang 13và một số chính sách đối với nghệ nhân; ban hành trước khi Luật TĐKT
2003 Luật TĐKT 2003: quy định danh hiệu “NNND”, ”NNƯT” để tặng
cho cá nhân có nhiều năm trong nghề, kế tục, giữ gìn, sáng tạo và phát triển
ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống Luật Sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật TĐKT 2005: không sửa đổi nội dung liên quan tới nghệ nhân Thông tư số 01/2007/TT-BCN hướng dẫn tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và
hồ sơ xét tặng danh hiệu “NNND”, “NNƯT” Luật Sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật DSVH 2009: mở rộng đối tượng xét tặng thuộc lĩnh vực nghề
thủ công truyền thống thành các lĩnh vực của DSVH PVT; và sửa Điều 65
của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TĐKT Luật Sửa đổi, bổ
sung một số điều của TĐKT 2013 sửa đổi theo nội dung về nghệ nhân đã
được sửa tại Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH 2009 Nghị
định số 62/2014/NĐ-CP, quy định về xét tặng danh hiệu “NNND” và
“NNƯT” trong lĩnh vực DSVH PVT Nghị định số 123/2014/NĐ-CP, quy
định về xét tặng danh hiệu “NNND” và “NNƯT” trong lĩnh thủ công mỹ
nghệ truyền thống Nghị định số 109/2015/NĐ-CP, về hỗ trợ đối với
NNND, NNƯT có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn
Quá trình “đi tìm danh hiệu” cho nghệ nhân thực hành DSVH PVT xuất phát từ mong muốn của những cộng đồng, nhà nghiên cứu, nhà quản
lý Luật Di sản văn hóa quy định phong tặng danh hiệu cho nghệ nhân
nhưng không quy định danh hiệu cụ thể Việc quy định danh hiệu được
Luật Thi đua, Khen thưởng quy định Xét tất cả các danh hiệu được quy
định trong Luật này thì chỉ có danh hiệu “NNND”, “NNUT” là phù hợp
hơn cả Luật Thi đua, Khen thưởng lại quy định các đối tượng thuộc danh
hiệu này là những người hoạt động trong lĩnh vực nghề thủ công mỹ nghệ
Để các nghệ nhân hoạt động trong các lĩnh vực của DSVH PVT là đối
tượng được xét danh hiệu này thì cần phải sửa quy định trong Luật Thi đua,
Khen thưởng Sau 03 lần sửa Luật Thi đua, Khen thưởng, 01 lần sửa Luật
Di sản văn hóa, nghệ nhân đã có danh hiệu cho riêng mình Cùng với đó là
02 nghị định quy định về danh hiệu và 01 nghị định quy định về chế độ đãi ngộ đối với nghệ nhân được ban hành Ba Nghị định trên ra đời là kết quả
trực tiếp của việc “tháo nút thắt” ở Điều 65 của Luật Thi đua, Khen thưởng