PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở NƯỚCTA TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 – THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP DEVELOPMENT OF INFORMATION TECHNOLOGY HUMAN RESOURCES IN
Trang 1PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở NƯỚC
TA TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 – THỰC
TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
DEVELOPMENT OF INFORMATION TECHNOLOGY HUMAN RESOURCES
IN OUR COUNTRY IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
– CURRENT SITUATION AND SOME SOLUTIONS PROPOSED
Lê Đức Thọ 1 Ngô Quang Hùng 2
1Giảng viên Khoa Cơ bản Trường Cao đẳng Nghề Đà Nẵng
1Giảng viên Khoa Công nghệ thông tin Trường Cao đẳng Nghề Đà Nẵng
(Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia: “Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến quan hệ lao động và chất lượng việc làm trong doanh nghiệp FDI ở Việt Nam”, Đại học Lao động xã hội ISBN 978-604-73-6935-5, Nxb Đại học Quốc
gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.492-500 Năm 2019)
TÓM TẮT
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tác động trên phạm vi toàn cầu, tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong kỷ nguyên số, sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin đặt ra rất nhiều yêu cầu mới
và cũng tạo ra nhiều điều kiện mới để phát triển nguồn nhân lực, không chỉ nhân lực có trình độ cao mà còn liên quan tới tất cả mọi tầng lớp lao động, kể cả lao động giản đơn Thực tế ở nước ta hiện nay, nguồn nhân lực công nghệ thông tin còn thiếu và còn nhiều hạn chế về chất lượng Trong chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông giai đoạn 2010 – 2020, Thủ tướng Chính phủ đã xác định nhân lực công nghệ thông tin là một trong bốn trụ cột chính cần phải quan tâm để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Từ khóa: Cách mạng công nghiệp 4.0; nguồn nhân lực; nguồn nhân lực công
nghệ thông tin.
ABSTRACT
The industrial revolution of 4.0 has been impacting globally, to all areas of social life In the digital age, the development of science and technology, especially in the field of information technology, raises a lot of new requirements and creates new conditions for human resource development Highly qualified, but also relevant to all working classes, including simple workers In fact, in our country, information
Trang 2technology human resources are still lacking and there are many limitations in quality In the strategy of developing information technology and communication
in the period of 2010 - 2020, the Prime Minister has identified information technology human resources as one of the four main pillars to pay attention to promoting socio- sustainable society.
Keywords: Industrial Revolution 4.0; Human Resources; human resources
information technology.
1 MỞ ĐẦU
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng được hình thành từ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, công nghệ thông tin và chi phối rất nhiều tới nền kinh tế của các nước trên thế giới, Việt Nam cũng không phải ngoại lệ Hiện nay, trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam đang trong thời kỳ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, vấn đề nguồn nhân lực được xem là khâu đột phá, phát triển nguồn nhân lực trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia Với lợi thế đang trong thời kỳ dân số vàng, nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay sẽ có những lợi thế riêng nhưng cũng có những thách thức đáng kể trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0 Thực tế, ngành công nghệ thông tin đang bước vào giai đoạn tăng trưởng nóng nhưng nguồn nhân lực công nghệ thông tin của nước ta còn rất mỏng
về số lượng, yếu về chất lượng, thiếu các kỹ sư, lập trình viên đang là vấn đề đáng báo động Do đó, để đáp ứng nguồn nhân lực cho lĩnh vực này, Việt Nam cần đẩy mạnh việc đào tạo nhân lực công nghệ thông tin, một trong những ngành đóng vai trò nòng cốt của cuộc cách mạng này Chính vì vậy, nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực công nghệ thông tin và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao ngành công nghệ thông tin ở nước ta hiện nay là việc làm cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn
2 CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 VÀ YÊU CẦU PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Cách mạng công nghiệp 4.0 với xu hướng phát triển dựa trên nền tảng tích hợp cao độ của hệ thống kết nối số hóa, vật lý, sinh học với trung tâm và khâu đột phá
là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, internet kết nối vạn vật, robot, công nghệ nanô, công nghệ sinh học,… đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế giới, tạo ra những cơ hội rất lớn nhưng cũng đặt ra thách thức không nhỏ cho mỗi quốc gia
Trang 3Nó cũng tác động đến nước ta trên mọi lĩnh vực, khía cạnh khác nhau của đời sống
xã hội Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những lĩnh vực chịu
sự tác động mạnh mẽ và trực tiếp nhất từ cuộc cách mạng này
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có ảnh hưởng sâu rộng tới tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội, đặc biệt là lĩnh vực lao động và việc làm chịu tác động rất lớn trên nhiều góc độ khác nhau Cách mạng 4.0 sẽ làm cho thị trường lao động phải có sự thay đổi về cơ cấu lao động, cơ cấu nguồn lực, cơ cấu về trình độ lao động, có những yêu cầu về kỹ năng lao động khác nhau Đặc biệt, người lao động phải có sự thích ứng cao hơn để đáp ứng những công việc mới và tránh bị đào thải Có những công việc mất đi nhưng cũng có những công việc đòi hỏi phải có sự thích ứng để đáp ứng yêu cầu mới Lĩnh vực công nghiệp 4.0 cũng là lĩnh vực khởi nghiệp quan trọng bởi nhân lực là nguồn lực rất lớn cho phát triển kinh tế xã hội Việc kết nối, phát triển các nguồn lực đó dựa trên nền tảng công nghiệp 4.0, nền tảng công nghệ kết nối là lĩnh vực mà rất nhiều nhà doanh nghiệp, nhà khởi nghiệp có thể tham gia vào để đưa ra giải pháp kết nối cung cầu lao động, phát triển nguồn nhân lực
Ngoài những tác động đa chiều, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã, đang làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu lao động và thị trường lao động Các hệ thống tự động hóa sẽ thay thế dần lao động thủ công trong toàn bộ nền kinh tế, máy móc và trí tuệ nhân tạo thay thế sức người, nhu cầu sử dụng nhân lực trình độ cao tăng lên trong khi nhu cầu sử dụng lao động kỹ năng thấp ngày càng giảm Điều này sẽ tạo
áp lực lớn đối với thị trường lao động, các quốc gia đang phát triển sẽ đối mặt với tình trạng dư thừa lao động và gia tăng thất nghiệp Theo dự báo, "trong một số lĩnh vực, với sự xuất hiện của rô-bôt, số lượng nhân viên sẽ giảm đi còn 1/10 so với hiện nay, theo đó, 9/10 nhân lực còn lại sẽ phải chuyển nghề hoặc thất nghiệp Cuối năm 2015, Ngân hàng Anh quốc đưa ra dự báo: sẽ có khoảng 95 triệu lao động truyền thống bị mất việc trong vòng 10 - 20 năm tới Hàng loạt nghề nghiệp
cũ sẽ mất đi, thị trường lao động tại quốc gia này cũng như quốc tế sẽ phân hóa mạnh mẽ giữa nhóm lao động có kỹ năng thấp và nhóm lao động có kỹ năng cao" [4] Lao động giá rẻ không còn là lợi thế cạnh tranh của các thị trường mới nổi ở khu vực Mỹ La-tinh và châu Á Đặc biệt, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 không chỉ đe dọa việc làm của những lao động trình độ thấp mà ngay cả lao động có kỹ năng bậc trung cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu như họ không được trang bị những kỹ năng mới - kỹ năng sáng tạo cho nền kinh tế 4.0
3 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở
Trang 4NƯỚC TA HIỆN NAY
Trong nhiều năm trở lại đây, lĩnh vực CNTT của Việt Nam phát triển rất mạnh
mẽ Ở tầm vĩ mô, Chính phủ đã quyết tâm xây dựng Chính phủ điện tử để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm phục vụ người dân và doanh nghiệp được tốt hơn, đồng thời phù hợp với xu hướng chung của tiến trình hội nhập Nguồn nhân lực CNTT ở nước ta hiện nay nói chung là những nhân
sự trẻ, năng động, sáng tạo Những năm gần đây, ngành CNTT luôn phát triển với tốc độ cao khiến cho nhu cầu về nhân lực cũng tăng cao Theo kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, việc phát triển nguồn nhân lực CNTT là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển và ứng dụng CNTT, đặc biệt chú trọng đến tỉ lệ nguồn nhân lực CNTT có trình độ cao phục vụ cho công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực CNTT theo hướng hội nhập và đạt trình độ khu vực và quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển CNTT của đất nước, của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế
Về số lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở nước ta hiện nay: Báo cáo
của Bộ Thông tin và Truyền thông cho hay, tổng số nhân lực trong ngành CNTT hiện nay là hơn 600.000 người, trong đó số lao động đang làm việc trong các ngành công nghiệp phần cứng - điện tử là khoảng 300.000 người Số còn lại thuộc
về lĩnh vực công nghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung số Cũng theo Báo cáo này, Việt Nam cần khoảng 1,2 triệu nhân lực CNTT vào năm 2020 và nhu cầu mỗi năm sẽ tăng thêm khoảng 13% Điều này cho thấy nhu cầu nhân lực trong ngành CNTT ngày càng tăng
Ngành CNTT, chủ yếu tập trung vào mảng dịch vụ internet trong các công ty liên quan đến sử dụng công nghệ trong lĩnh vực vận tải, bất động sản, lập trình game hay thanh toán trực tuyến có nhu cầu tuyển dụng cao thứ ba Các ngành có nhu cầu tuyển dụng tiếp theo gồm ngân hàng - tài chính - bảo hiểm, ngành cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp như quảng cáo - giáo dục… ngành chăm sóc sức khỏe, du lịch khách sạn và vận tải Tuy nhiên, tại Việt Nam có rất ít các ứng viên
có kinh nghiệm đáp ứng được nhu cầu nên các công ty này buộc phải tuyển kỹ sư người nước ngoài sang Việt Nam làm việc và nắm giữ các vị trí đòi hỏi có nhiều kinh nghiệm tương ứng Thực tế hiện nay do quá thiếu, các công ty Fintech chấp nhận tuyển sinh viên mới ra trường và họ tự đào tạo nguồn lực để có thể đảm đương được các yêu cầu này
Trang 5Có thể thấy, nhu cầu nhân lực ngành CNTT tăng rất cao, trong khi đó, nguồn sinh viên tốt nghiệp ngành này từ các trường Đại học, Cao đẳng còn rất ít, không đảm bảo yêu cầu của doanh nghiệp Nguyên nhân là do môi trường giáo dục Đại học, Cao đẳng chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, của nền kinh tế Sự liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp sử dụng nhân lực chưa thực sự phát huy được hiệu quả cao nhất
Theo dự báo, các doanh nghiệp Việt Nam hiện thiếu hụt khoảng 80.000 nhân lực cho gia công phần mềm, nhân lực trong lĩnh vực Blockchain cũng hết sức nóng bỏng trong năm 2018 Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng là nơi có nhu cầu nhân lực CNTT lớn, đòi hỏi người có kinh nghiệm rất cao, các doanh nghiệp ICT vừa và nhỏ tìm kiếm nhân lực cho doanh nghiệp mình rất khó khăn Rất nhiều sinh viên giỏi ra trường chọn các doanh nghiệp lớn của nước ngoài
Về cơ sở đào tạo và hoạt động đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở nước ta hiện nay: Việt Nam có 250 trường đại học và cao đẳng, 164 trường dạy
nghề có đào tạo về CNTT- truyền thông với số chỉ tiêu tuyển sinh đại học khoảng 68.000 và dạy nghề là 18.000 học viên Ngoài ra còn hàng trăm cơ sở đào tạo và sát hạch chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT Số lượng đào tạo và chất lượng đào tạo rất cần được cải thiện nhanh chóng để đáp ứng ứng đòi hỏi của thực tiễn phát triển, nhất là khi Việt Nam đang đặt ra mục tiêu chuyển đổi số, bắt kịp cách mạng công nghiệp 4.0
Hệ thống đào tạo về công nghệ thông tin đã được triển khai rộng rãi với bộ môn Tin học được giảng dạy, phổ cập tới 54,8% trường tiểu học, 81,7% trường trung học cơ sở, và 100% trường trung học phổ thông trên cả nước Đã có 290 trường đại học, cao đẳng và hơn 200 trường dạy nghề có đào tạo chuyên ngành công nghệ thông tin, viễn thông với chỉ tiêu tuyển sinh các nhóm ngành này tăng đều qua các năm và tỷ lệ nhập học trung bình hàng năm luôn ở mức cao từ 80 đến 90% so với nhiều chuyên ngành khác
Về chất lượng đào tạo: Trong những năm qua, chất lượng đầu vào tăng, chất
lượng đào tạo cũng từng bước được nâng lên, tuy nhiên, nguồn nhân lực trong lĩnh vực CNTT còn hạn chế về ngoại ngữ, kỹ năng mềm và kỹ năng thực hành Đặc biệt, sinh viên sau khi ra trường, yếu kỹ năng làm việc nhóm và các kỹ năng sử
dụng ngoại ngữ Theo thống kê của Viện Chiến lược CNTT, hiện hơn 70% sinh
viên ngành CNTT thiếu kinh nghiệm thực hành, 42% thiếu kỹ năng làm việc
Trang 6nhóm, thụ động trong việc tự nghiên cứu những ứng dụng mới, sinh viên mới ra trường phải mất từ 3 đến 5 năm làm việc mới có thể ứng tuyển vào các doanh nghiệp nước ngoài [7] Bên cạnh đó, phần lớn sinh viên mới ra trường làm việc chưa có định hướng rõ về nghề nghiệp nên dễ thay đổi công việc, không gắn bó với doanh nghiệp đủ lâu để có thể tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng làm việc
Về hoạt động liên kết cơ sở đào tạo với doanh nghiệp: Trong đào tạo nguồn
nhân lự CNTT, sự liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp sử dụng lao động CNTT là vấn đề cốt lõi, mang lại lợi ích cho cả hai bên, đặc biệt là cho người học Tuy nhiên, sự liên kết này ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng
là mặc dù sinh viên tốt nghiệp hằng năm khá đông nhưng lại không đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp Chính vì vậy, trong thời gian tới, Việt Nam phải thực hiện có hiệu quả hoạt động gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đây được xem là giải pháp chiến lược để giải quyết bài toán "khoảng cách" giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực
Về công tác quản lý: công tác quản lý chưa đồng bộ giữa các cấp, các ngành;
công tác kiểm tra giám sát việc thi hành Luật công nghệ thông tin ở các cấp còn yếu và thiếu,…; các cơ chế chính sách như về công nghệ thông tin còn chưa phát huy hết hiệu quả thúc đẩy hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin như chính sách đầu tư mua sắm sản phẩm công nghệ thông tin, đầu tư cho ứng dụng công nghệ thông tin, Chính sách thu hút nhân lực, ưu đãi nhân lực chuyên trách về công nghệ thông tin, phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin còn nhiều bất cập trong khi đây là nguồn lực đầu vào có ý nghĩa quan trọng để triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin cũng như giữ vai trò quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh và công nghệ thông tin
Như vậy, có thể thấy, nguồn nhân lực CNTT của nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển, còn thiếu về số lượng và chất lượng chưa đồng đều Chính vì thế, Việt Nam cần có những giải pháp hiệu quả nhằm phát triển nguồn nhân lực CNTT trong thời gian tới, đáp ứng yêu của sự phát triển và hội nhập
4 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở NƯỚC TA TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 HIỆN NAY
Theo dự báo, Việt Nam sẽ cần có khoảng 400.000 nhân lực trong ngành IT trong khoảng từ năm 2016-2020 Đến năm 2020, 70% lao động trong các doanh nghiệp được đào tạo về công nghệ thông tin [8] Là một phần của Chương trình
Trang 7Chiến lược Phát triển Khoa học và Công nghệ 2011-2020, Chính phủ Việt Nam đang chú trọng tăng số lượng kỹ sư có tay nghề, tổ chức nghiên cứu, vườn ươm khởi nghiệp về công nghệ cao, và các doanh nghiệp công nghệ cao để hỗ trợ phát triển ngành IT Để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực CNTT đáp ứng nhu cầu cho cách mạng công nghiệp 4.0, hiện các cơ quan liên quan của Việt Nam đang tích cực nghiên cứu, tìm kiếm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo chuyên sâu về CNTT-TT để thế hệ lao động mới có tri thức và kỹ năng thích ứng với thay đổi trong kỷ nguyên kinh tế số Đối với ngành giáo dục, nhất là giáo dục Đại học, Cao đẳng, nơi trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nền kinh tế
-xã hội, các trường đã nhận thức được vai trò then chốt của CNTT trong quá trình quản trị, quản lý cũng như kiến thức và kỹ năng về CNTT của lao động sẽ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của thời kỳ hội nhập toàn cầu Chính vì vậy, đa số các trường Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam đã và đang tăng tốc phát triển theo chiều rộng và chiều sâu trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực CNTT
4.1 Đổi mới công tác đào tạo nguồn nhân lực CNTT trong các trường Đại học, Cao đẳng ở nước ta hiện nay
Trước tiên các trường Đại học, Cao đẳng phải kiện toàn đội ngũ chuyên gia, giảng viên trực tiếp giảng dạy Các trường cần có chính sách thu hút giảng viên có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực này, nhất là những tiến sĩ, thạc sĩ trẻ, năng động, tràn đầy tâm huyết được đào tạo, tu nghiệp trong và ngoài nước Phương pháp giảng dạy đối với môn thuộc về công nghệ nên tăng cường tính thực tiễn thông qua khảo sát thực tế, thực hành tại phòng thí nghiệm chuyên ngành, thực tập tại các cơ sở sản xuất Vì vậy, nhà trường và doanh nghiệp luôn luôn gắn kết, cần thiết kế các buổi giới thiệu công nghệ mới do hai bên phụ trách
Đổi mới nội dung chương trình đào tạo theo hướng cập nhật và ứng dụng thực tiễn cao vừa bảo đảm giảm thiểu khối kiến thức hàn lâm và tập trung nhiều vào kiến thức ứng dụng thực tế Bên cạnh đó, để có các điều kiện nhằm thực hiện đào tạo đạt chất lượng, các trung tâm, các trường Đại học, Cao đẳng cũng phải tập trung đầu tư các trang thiết bị, máy móc để phục vụ cho quá trình giảng dạy ở ngành này Các trung tâm, đơn vị đào tạo phải đề xuất tư duy mới, cập nhật ứng dụng thực tiễn địa phương để xây dựng chương trình đào tạo một cách hiệu quả nhất kể cả việc đổi mới phương pháp dạy và học phù hợp, tạo điều kiện tối đa để sinh viên có thể tiếp cận với các tài liệu, phần mềm hỗ trợ cần thiết như giáo trình điện tử, kho học liệu
Trang 8Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng, phù hợp với sự phát triển của xã hội, trước tiên cần có sự phân bố hợp lý giữa đào tạo cơ bản và đào tạo công nghệ thực tiễn, giữa lý thuyết và thực hành Trong thời gian qua, sinh viên của chúng ta tốt nghiệp có kiến thức cơ bản tốt, tuy nhiên những kiến thức về công nghệ mới lại không được cập nhật Do đó, chương trình đào tạo, bài giảng phải có phần mở, phần linh hoạt để bổ sung kiến thức công nghệ mới
Triển khai nội dung đào tạo CNTT cho các đối tượng nhóm ngành kinh tế, kỹ thuật đủ khả năng thích ứng, hoàn thiện các chương trình ứng dụng trong môi trường làm việc cụ thể và cuối cùng là khả năng hợp tác, phối hợp với kỹ sư chuyên CNTT trong việc phân tích yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ, đặt bài toán, tham gia thử nghiệm chương trình, tiếp nhận và khai thác sử dụng có hiệu quả trong từng lĩnh vực chuyên môn trong các đơn vị Xây dựng các Phòng thí nghiệm, nhà thực hành CNTT tại khoa CNTT, Trung tâm Thông tin-tư liệu (học liệu) như các hệ thống mô phỏng bằng chương trình máy tính, hệ thống chương trình mã nguồn mở cho đến các công cụ quản trị cơ sở dữ liệu, phân tích, đánh giá hiệu suất hoạt động của các hệ thống mạng máy tính và các hệ thống ứng dụng Trang bị phần mềm có bản quyền cho các chương trình dạy học
4.2 Xây dựng chuẩn nghề nghiệp và chuẩn đầu ra trong đào tạo nguồn nhân lực CNTT
Chuẩn nghề nghiệp là một mô hình về đào tạo, mô tả kiến thức, kỹ năng và khả năng cần thiết được xã hội đánh giá để vận dụng thành công ở các cơ quan, đơn vị Chuẩn nghề nghiệp về CNTT có sự thống nhất của Nhà nước, được kiểm định chất lượng theo một hệ thống đánh giá chuẩn, từ đó có thể cân bằng chất lượng nguồn nhân lực ở các khu vực vùng, miền đào tạo và nâng cao hiệu quả lao động phục vụ nền kinh tế quốc dân Cần xây dựng các chuẩn đầu ra đáp ứng theo yêu cầu của nhà tuyển dụng một số vị trí cần đến như: Lập trình viên, trưởng tiểu dự án (cấp địa phương, cấp tỉnh), nhân viên kiểm tra chất lượng, chuyên viên phân tích hay giám đốc kinh doanh IT/trưởng phòng IT
4.3 Gắn kết cơ sơ đào tạo với doanh nghiệp trong đào tạo, phát triển nguồn nhân lực CNTT
Khuyến khích các đơn vị sử dụng nguồn nhân lực CNTT tạo điều kiện để sinh
viên các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực được thực hành, thực tập ngay từ còn học ở nhà trường nhằm tạo điều kiện cho người học có thể bắt nhịp được công việc sau
Trang 9này tại các đơn vị sử dụng nguồn nhân lực CNTT Thông tin từ phía nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực CNTT cần phải có sự phối hợp, chia sẽ chi tiết đến từng lĩnh vực, ngành nghề và nhu cầu ngắn hạn, dài hạn để các cơ sở đào tạo mới có thể xây dựng kế hoạch đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng
Các doanh nghiệp có thể trực tiếp tham gia xây dựng chương trình đào tạo; trường đại học và doanh nghiệp phối hợp đào tạo sinh viên; doanh nghiệp tham gia hội đồng và tài trợ cho các cuộc thi học thuật; doanh nghiệp tài trợ học bổng cho sinh viên; doanh nghiệp cho sinh viên tham quan, kiến tập, thực tập; tổ chức ngày hội tuyển dụng/thực tập; doanh nghiệp tham gia hỗ trợ các hoạt động hỗ trợ người học; nhà trường đào tạo, tư vấn hoặc chuyển giao kết quả nghiên cứu
4.4 Xã hội hoá giáo dục đào tạo nguồn nhân lực CNTT
Khuyến khích các doanh nghiệp phối hợp và cùng tham gia đào tạo nguồn nhân lực CNTT, bao gồm đào tạo mới và đào tạo lại theo nhu cầu sử dụng Các doanh nghiệp cần đẩy mạnh đầu tư, hỗ trợ cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển giao
công nghệ cho các cơ sở đào tạo (ví dụ: hỗ trợ thiết bị xây dựng phòng thí nghiệm, chuyển giao công nghệ, hội thảo nghề nghiệp,…) Nhà nước sớm thống nhất quản
lý về hệ thống đánh giá chất lượng đào tạo, chuẩn đào tạo, chuẩn nghề nghiệp CNTT và cấp chứng chỉ đối với các cơ sở đào tạo cho mọi loại hình đào tạo nguồn nhân lực CNTT
Gắn liền nghiên cứu khoa học, áp dụng thành tựu khoa học, công nghệ mới trong giảng dạy Tăng ngân sách nghiên cứu khoa học cho các trường Đại học, Cao đẳng và có cơ chế phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong các chương trình nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh chương trình hợp tác nghiên cứu và giảng dạy giữa các Đại học vùng, Đại học Quốc gia với các trường tại các địa phương trong cả nước và với các doanh nghiệp sử dụng nhân lực CNTT
4.5 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo, phát triển nguồn nhân lực CNTT
Hợp tác đào tạo với các trường nước ngoài đang là xu hướng chung của rất nhiều trường đại học Hình thức này mở ra cơ hội cho sinh viên được tiếp cận với nền giáo dục quốc tế ngay tại Việt Nam với chi phí rẻ hơn rất nhiều so với học tại chính quốc Phương pháp đào tạo nên được thiết kế theo chuẩn quốc tế, tập trung vào năm khối kiến thức: Ngoại ngữ, Kiến thức xã hội, Phát triển cá nhân, Giáo dục chuyên nghiệp, và Thực tập công nghiệp Sinh viên tốt nghiệp ra trường không chỉ
Trang 10có năng lực chuyên môn tốt nhờ rèn luyện từ trên ghế nhà trường và qua giai đoạn thực tập công nghiệp như một nhân sự chính thức tại các công ty CNTT hàng đầu Việt Nam, mà còn có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế
4.6 Nâng cao tính tích cực, tự giác của sinh viên ngành CNTT trong học tập và nghiên cứu
Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng cho sinh viên Một trong các tiêu chí cơ bản và quan trọng nhất đánh giá chất lượng của một trường đại học là khả năng nghiên cứu phát triển Cần có các chính sách và biện pháp cụ thể nhằm tăng cường sự hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, thông qua đó những vấn đề thực tiễn sẽ được giải quyết thông qua nghiên cứu
Tuyên truyền và hướng sinh viên học tập bằng tiếng Anh Muốn sinh viên ra trường có thể hòa nhập với nguồn nhân lực khu vực và thế giới, cần chú trọng đến việc học bằng tiếng Anh Sinh viên sử dụng tiếng Anh tốt sẽ dễ dàng trong việc tự nghiên cứu công nghệ mới, làm tăng tính cạnh tranh về nguồn nhân lực, dễ tìm được những công việc đúng chuyên môn với thu nhập cao
Nâng cao kỹ năng làm việc Đặc thù của ngành CNTT là thay đổi liên tục nên nguồn nhân lực trong ngành không chỉ giỏi về chuyên môn mà cần phải có nhiều
kỹ năng mềm phù hợp với từng lĩnh vực làm việc khác nhau của CNTT Trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực CNTT, các cơ sở đào tạo cần nâng cao tinh thần tự học và sáng tạo trong học sinh, sinh viên
5 KẾT LUẬN
Trong quá trình phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định và là lợi thế quan trọng để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội Chính vì tầm quan trọng này, phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin là nhiệm vụ đầu tiên trong việc triển khai đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin - truyền thông Trong đào tạo, cần sát với nhu cầu thị trường
và xu hướng phát triển công nghệ trên thế giới, gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học với hoạt động và nhu cầu của các doanh nghiệp trong lĩnh vực CNTT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban
Chấp hành Trung ương khóa XII, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội.