1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao hiệu quả dạy học, phát triển tư duy học sinh thông qua việc sử dụng câu hỏi liên hệ thực tiễn trong dạy học

19 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để học sinh nắm vững kiến thức lí thuyết, làm tăng hứng thú, dễ ghi nhớ, tăng khả năng vận dụng các kiến thức Vật lí vào cuộc sống, giáo viên có thể vận dụng các câu hỏi có nội dung gắn

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Thế giới văn minh của loài người ngày càng phát triển nhanh chóng nhờ vào những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, trong đó có những đóng góp to lớn của Vật lí Khoa học công nghệ xuất phát từ nền tảng cơ bản của Vật

lí, nói cách khác sự phát triển của Vật lí gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lại, trực tiếp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ Nói đến Vật lí là nói đến cuộc sống, những vật dụng xung quanh chúng ta như bóng đèn, bàn là, tủ lạnh, ti vi, nồi cơm điện… đều được tạo ra từ những nguyên tắc và quy luật của Vật lí Không chỉ dừng lại ở những ứng dụng cơ bản, Vật lí còn là cơ sở lí thuyết nền tảng (cơ học vật rắn, cơ học kết cấu…) cho các kĩ sư thiết kế công trình xây dựng một cách tối ưu; Vật lí còn được ứng dụng trong ngành y học: sử dụng tia laser trong các vi phẫu thuật ít xâm lấn, đòi hỏi độ chính xác cao (mổ tim, mổ mắt…), sử dụng các tia phóng xạ, tia X để điều trị bệnh ung thư…

Đặc thù của phương pháp tư duy bộ môn Vật lí là người học cần phải có

tư duy hiện tượng, tư duy gắn với thực tiễn Tuy nhiên, đối với đại đa số học sinh phổ thông hiện nay, việc vận dụng kiến thức vật lí vào đời sống còn rất nhiều hạn chế, với một số học sinh phải nói là thực sự yếu kém Việc giảng dạy vật lý hiện nay chưa thực sự gắn kết lý thuyết với thực tiễn Trong quá trình dạy

và học, vì quá để tâm tới công thức của các định luật hay rập khuôn theo sách giáo khoa mà chúng ta bỏ qua sắc màu tự nhiên của các hiện tượng Điều này đã khiến môn học trở nên tẻ nhạt, thiếu hấp dẫn, không tạo được sự hứng thú, nghiên cứu tìm tòi ở học sinh Để học sinh nắm vững kiến thức lí thuyết, làm tăng hứng thú, dễ ghi nhớ, tăng khả năng vận dụng các kiến thức Vật lí vào cuộc sống, giáo viên có thể vận dụng các câu hỏi có nội dung gắn kết với thực tiễn trong giảng dạy Có thể nói, việc tăng cường sử dụng câu hỏi liên hệ thực tiễn trong các giờ học Vật lí đang là bước đi đúng hướng và có cơ sở khoa học

Là một giáo viên vật lý trực tiếp giảng dạy ở trường THPT, tôi đã rất tích cực đổi mới phương pháp dạy học, cố gắng sao cho mỗi tiết học Vật lý khơi dậy được ở học sinh ý thức tự giác, tích cực, hứng thú và say mê, giúp các em vận dụng kiến thức được học trong sách vở vào thực tiễn đời sống Trong giới hạn

của sáng kiến kinh nghiệm, tôi chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả dạy học, phát triển tư duy học sinh thông qua việc sử dụng câu hỏi liên hệ thực tiễn trong dạy học Vật lí 10 ở trường THPT Như Thanh”.

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Cụ thể hóa việc thực hiện nguyên lí giáo dục: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với việc vận dụng kiến thức vào cuộc sống, lí luận gắn với thực tiễn

- Nghiên cứu quá trình dạy học theo quan điểm hiện đại, xem xét vai trò của các câu hỏi liên hệ thực tiễn trong việc tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh Góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học Vật lí

- Xây dựng hệ thống các câu hỏi liên hệ thực tiễn cho các bài giảng trong chương trình Vật lý 10 - THPT

Trang 2

- Vận dụng các câu hỏi liên hệ thực tiễn để dạy học Vật lý 10 - THPT nhằm nâng cao hiệu quả dạy học và phát triển tư duy học sinh

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu ý nghĩa của câu hỏi liên hệ thực tiễn đối với hoạt động giáo dục ở trường phổ thông

- Nghiên cứu phương pháp tổ chức dạy học Vật lí 10, vận dụng câu hỏi liên

hệ thực tiễn trong dạy học Vật lí ở trường THPT Như Thanh

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết;

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin;

- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

2.1.1 Cơ sở pháp lí

Nghị quyết số 29-NQ/TW - Hội nghị Trung ương 8, khóa XI của Đảng yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, coi trọng dạy cách học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền đạt áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Nghị quyết cũng nêu rõ, giáo dục phổ thông sẽ đổi mới theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh, yêu cầu học sinh vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các vấn đề của cuộc sống

2.1.2 Vai trò của câu hỏi liên hệ thực tiễn trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông

Câu hỏi liên hệ thực tiễn là những câu hỏi nhấn mạnh về mặt bản chất của hiện tượng đang khảo sát nhưng hiện tượng đó lại quen thuộc, tồn tại xung quanh con người Để trả lời những câu hỏi loại này học sinh phải thực hiện những phép suy luận logic trên cơ sở hiểu rõ bản chất của các khái niệm, định luật vật lý; nhận biết được những biểu hiện của hiện tượng trong các trường hợp

cụ thể và cả những kinh nghiệm của học sinh có được trong đời sống hàng ngày

Ưu điểm của câu hỏi liên hệ thực tiễn là tạo điều kiện cho học sinh đào sâu, củng cố kiến thức, là phương tiện kiểm tra kiến thức của học sinh Dạng câu hỏi này có tác dụng tăng khả năng hứng thú đối với môn học, tạo điều kiện phát triển óc quan sát, khả năng phân tích, tổng hợp, phát triển khả năng phán đoán, sáng tạo,… của học sinh

Để phát huy tác dụng của câu hỏi liên hệ thực tiễn trong dạy học, giáo viên cần căn cứ vào nội dung mà học sinh cần nắm trong một đơn vị kiến thức, một chuyên đề dạy học, … tùy vào điều kiện cụ thể của lớp học, thời gian cho phép cũng như khả năng học tập của học sinh để lựa chọn các câu hỏi liên hệ thực tiễn cho phù hợp, đặc biệt lưu ý đến các câu hỏi thực tiễn có tác dụng giáo dục tư tưởng, đạo đức, thế giới quan khoa học cho học sinh

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Chương trình Vật lí phổ thông nước ta hiện nay bao gồm các phần: cơ học, nhiệt học, điện học (điện một chiều, điện xoay chiều và dao động điện từ),

Trang 3

quang học (quang hình, các dụng cụ quang học và quang lí), vật lí phân tử và hạt nhân Với một khối lượng kiến thức đồ sộ như vậy, những tưởng rằng thực tế cuộc sống của các em học sinh sẽ vô cùng phong phú, các em hoàn toàn có khả năng làm chủ được kiến thức, vận dụng tốt những kiến thức học được vào đời sống thực tiễn ở chính gia đình mình; việc giải thích những hiện tượng xảy ra hàng ngày xung quanh các em chỉ là “vấn đề đơn giản” Nhưng điều đó đã không diễn ra trên thực tế như những gì chúng ta mong đợi Một thực trạng đáng buồn đó là sự yếu kém đến khó tưởng tượng của rất nhiều học sinh phổ thông hiện nay trong việc vận dụng kiến thức vật lí đã học vào thực tế cuộc sống của chính mình

Với kiến thức về các dạng chuyển động, các lực cơ học, ở trên lớp các em

có thể viết một cách đầy đủ, chính xác các phương trình của chuyển động thẳng đều, chuyển động thẳng biến đổi đều, đọc đúng định nghĩa về vận tốc, gia tốc, các định luật Niutơn Thế nhưng, nhiều học sinh lại không thể giải thích được những hiện tượng rất gần gũi với đời sống: Tại sao khi đi xe máy dưới trời mưa (trong điều kiện không có gió), ta lại có cảm giác những giọt nước mưa không rơi theo phương phẳng đứng mà theo phương xiên? hay tại sao những vận động viên đua xe máy phải nghiêng xe khi đi qua những chỗ đường vòng? Cứ như thế, kiến thức vật lí đối với nhiều học sinh phổ thông hiện nay chỉ là nội dung các định luật, cách giải các bài tập, chúng còn “nằm yên” một cách khiêm tốn trên những trang vở, thiếu một cái gì đó để có thể “đánh thức” chúng dậy, làm cho chúng trở thành một trong những hành trang tốt trong cuộc sống của các em

Nguyên nhân, khó khăn chung của thực trạng

- Nguyên nhân đầu tiên kể đến là sự quá tải của chương trình Nội dung kiến thức cần truyền tải trong các tiết học quá nhiều nên thời gian để liên hệ thực tế cho các em rất hạn chế Sau mỗi bài học, các em lại phải giải quyết nhiều bài tập với những phép toán phức tạp để đáp ứng yêu cầu của các đề kiểm tra, đánh giá hiện nay

- Nguyên nhân thứ hai là việc giảng dạy kiến thức nói chung và kiến thức môn Vật lý nói riêng ở nhiều nội dung dạy học, nhiều nhà trường vẫn còn theo lối “dạy chay”

- Nguyên nhân thứ ba thuộc về chủ quan của mỗi giáo viên đứng lớp, một

số giáo viên còn thiên về cung cấp kiến thức giáo khoa một cách thuần túy, chưa coi trọng việc soạn và sử dụng bài giảng theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh Giáo viên dạy Vật lý mà xa rời kiến thức thực tế, dạy Vật lý mà như dạy Toán do chỉ quan tâm tới công thức và cho học sinh áp dụng công thức để tính ra đáp số

2.3 Giải pháp sử dụng câu hỏi liên hệ thực tiễn trong dạy học Vật lí 10 ở trường THPT Như Thanh

Để học sinh hiểu được vai trò, ý nghĩa thực tiễn của môn Vật lý, khơi dậy

ở các em niềm đam mê môn học và trở thành con người phát triển toàn diện, có hai yếu tố quan trọng nhất phải thay đổi, đó là: phương pháp dạy của giáo viên

và cách thức kiểm tra đánh giá

Trang 4

Phải thay đổi phương pháp dạy của giáo viên, người giáo viên phải có tư duy đổi mới, gắn kiến thức vật lý với thực tiễn, giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài giảng, xác định được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề thực tiễn liên quan, phù hợp với học sinh; hình thành giáo án theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh Học sinh sẽ thấy hứng thú, dễ ghi nhớ hơn nếu trong quá trình dạy học giáo viên luôn có định hướng liên hệ giữa kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời sống hằng ngày một cách hợp lý, hài hoà; đôi lúc có khôi hài nhưng sâu sắc, đảm bảo mục đích dạy học môn Vật lí

Phải tích cực đổi mới nội dung đề kiểm tra đánh giá học sinh theo định hướng đề có lồng ghép kiến thức thực tế, làm cho học sinh phải thay đổi phương pháp học cho phù hợp Xu hướng “thi gì học nấy” ảnh hưởng rất mạnh đến việc dạy của thầy và những điều cần học của trò Một số năm gần đây, nội dung đề thi môn Vật lí đã có những thay đổi tích cực, “tính thực tiễn” đã được đề cập đến trong nội dung của đề thi, tuy nhiên, số lượng câu hỏi loại này còn ít và chưa thể hiện rõ nét

Một buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ Vật lí – Công nghệ, trường THPT Như Thanh thảo luận về việc vận dụng câu hỏi liên hệ thực tiễn trong dạy học Vật lí.

Tuy nhiên thời gian dành cho việc vận dụng câu hỏi liên hệ thực tiễn trong dạy học Vật lí không được quá nhiều, nếu không sẽ dẫn đến sự lan man, làm mờ nhạt đi vấn đề trọng tâm, nó được ví như thứ gia vị trong đời sống, không thể thay cho thức ăn nhưng thiếu nó thì món ăn sẽ kém hấp dẫn

Để đạt hiệu quả tối ưu trong dạy học Vật lí, giáo viên sử dụng câu hỏi liên

hệ thực tiễn bằng cách:

Trang 5

- Nêu các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống hàng ngày thay cho lời giới thiệu vào bài giảng mới để tạo bất ngờ cho học sinh và tạo được sự chú

ý, quan tâm của học sinh tới vấn đề trong bài học

- Đưa ra các hiện tượng thực tiễn trong đời sống hàng ngày qua một số tính chất vật lý cụ thể trong bài, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn của bài học, biết vận dụng kiến thức vừa học để thảo luận tìm ra đáp

án, giải toả tính tò mò của học sinh

- Nêu hiện tượng thực tiễn trong đời sống hàng ngày qua những câu chuyện ngắn và những câu chuyện mang tính chất khôi hài, tạo không khí học tập thoải mái - đó cũng là cách kích thích niềm đam mê môn học

- Nêu hiện tượng thực tiễn liên quan đến kiến thức trong bài sau khi học xong bài học Cách nêu vấn đề này giúp học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích những hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó

- Nêu hiện tượng thực tiễn trong đời sống hàng ngày thông qua bài tập tính toán giúp học sinh hiểu rõ hơn bản chất của hiện tượng, hiểu rõ hơn về các quy luật của tự nhiên đã được đúc kết trong các định luật vật lý và nhất là tránh được tình trạng toán học hoá bài tập vật lý

- Nêu các hiện tượng thực tiễn trong đời sống hàng ngày liên quan đến bài học tiếp theo sau khi kết thúc bài học trước, học sinh căn cứ vào kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà, đưa các em vào vòng xoáy trên con đường tìm tòi khám phá kiến thức, buộc các em phải suy nghĩ, ấp ủ vì sao lại xảy ra hiện tượng đó, tạo tiền đề thuận lợi cho việc dạy học ở tiết sau

Như vậy, giáo viên có thể sử dụng hình thức tổ chức lồng ghép câu hỏi liên hệ thực tiễn vào trong bài dạy như sau:

- Lồng ghép vào phần mở bài;

- Lồng ghép trong quá trình giảng dạy kiến thức mới;

- Lồng ghép khi củng cố bài học, kiểm tra, đánh giá học sinh

Để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi liên hệ thực tiễn trong dạy học vật lí, giáo viên phải nắm chắc kiến thức xuyên suốt cả chương trình để xây dựng kế hoạch bài giảng cho phù hợp, thu thập những kiến thức thực tế liên quan đến bài học dựa trên cơ sở sách giáo khoa, các tư liệu tham khảo, các hiện tượng tự nhiên diễn ra xung quanh ta và trong đời sống sản xuất…làm thành cuốn tư liệu chuyên môn

2.4 Hệ thống câu hỏi liên hệ thực tiễn sử dụng trong dạy học Vật lí 10 ở trường THPT Như Thanh

2.4 1 Câu hỏi liên hệ thực tiễn được sử dụng trong phần mở bài

Câu 1: Khi bắn cung, nguyên nhân nào đã làm cho mũi tên của cung tên chuyển

động?

Trả lời: Do lực đẩy của dây cung, thân cung lên mũi tên, lực này chính là lực

đàn hồi xuất hiện do sự biến dạng của dây cung và thân cung khi người bắn cung kéo chúng

Trang 6

Vận dụng: Giáo viên có thể sử dụng câu hỏi này cho phần mở bài khi học bài 12: “Lực đàn hồi của lò xo Định luật

Húc” - VL10 CB, bài 19 - VL10 NC;

giáo viên cũng có thể cho học sinh

xem hình ảnh người đang bắn cung,

nhảy sào, … để mở bài

Câu 2: Giáo viên phát dụng cụ làm

thí nghiệm cho mỗi nhóm học sinh

(mỗi nhóm một bao diêm) và yêu cầu

các em làm thí nghiệm lấy được lửa,

thảo luận nhóm để giải thích dựa trên

cơ sở vật lý nào đã lấy được lửa?

Giải thích: Cho đầu que diêm cọ xát

vào bao diêm có phủ lớp sinh để lấy

lửa ra Do có ma sát giữa que diêm và

vỏ diêm đã tạo ra nhiệt làm cháy đầu

que diêm (vật dễ bắt lửa)

Vận dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi

này cho phần đặt vấn đề mở bài,

bài 13: “Lực ma sát” - VL10 CB; bài 20 - VL10 NC.

Câu 3: Những nghệ sĩ xiếc khi đi trên dây thường cầm một cái sào dài Cái sào

này có tác dụng gì?

Trả lời: Cân bằng của

nghệ sĩ xiếc khi đi trên

dây là cân bằng không

bền Muốn cân bằng trên

dây, trọng tâm của người

và sào phải nằm trên

đường thẳng đứng đi qua

điểm tiếp xúc của chân và

dây Cái sào giúp cho

người trên dây dễ điều

chỉnh vị trí trọng tâm: nếu

người nghiêng sang phải

cái gậy sẽ nghiêng sang

trái và ngược lại

Vận dụng: Giáo viên sử

dụng câu hỏi này để nêu vấn đề khi dạy học bài 20: “Các dạn cân bằng Cân bằng của một vật có mặt chân đế” - VL10 CB; bài 26 - VL10 NC Câu trả lời

sẽ được hoàn thiện sau khi học xong bài

Câu 4: Một người làm xiếc nằm trên mặt đất rồi cho đặt lên ngực mình một

tảng đá to Sau đó, cho người khác lấy búa tạ đập vào tảng đá Khi tảng đá vỡ ra,

Bắn cung

Nghệ sĩ xiếc đi trên dây

Trang 7

người làm xiếc vẫn đứng dậy vui cười chào khán giả Điều gì đã giúp anh ta thoát khỏi "mối nguy

hiểm" nêu trên?

Giải thích: Sau khi búa tạ

đập vào tảng đá, theo định

luật bảo toàn động lượng,

vật có khối lượng càng lớn

thì vận tốc biến thiên càng

nhỏ, tảng đá hầu như

không nhúc nhích (tức là

người gần như không bị

chấn động) Tảng đá trên

ngực sẽ có tác dụng làm

giảm chấn động cho người,

đá càng to càng an toàn

Vận dụng: Giáo viên có

thể dùng câu hỏi này để mở bài khi dạy học bài 23: “Động lượng Định luật bảo toàn động lượng” - VL10 CB; bài 31 - VL10 NC, phần giải thích sẽ được giải

đáp hoàn thiện sau bài học

Câu 5: Để nước từ trong ống có thể phun ra xa hơn, người ta thường bịt đầu ống

chỉ để một lỗ nhỏ cho nước phun ra Hãy giải thích cơ sở của cách làm trên?

Trả lời: Để làm giảm tiết diện của dòng chảy, theo hệ thức liên hệ giữa vận tốc

chảy và tiết diện của dòng chảy, vận tốc dòng chảy tỉ lệ nghịch với tiết diện ống Vận tốc dòng chảy tăng thì nước trong ống phun được xa hơn

Vận dụng: Giáo viên dùng câu hỏi này để nêu vấn đề khi dạy học bài 42: “Sự chảy thành dòng của chất lỏng và chất khí Định luật Bec - nu - li” - VL 10 NC 2.4 2 Câu hỏi liên hệ thực tiễn được sử dụng trong quá trình giảng dạy kiến thức mới

Câu 6: Trong chuyển động quay của Trái Đất

a khi nào có thể coi Trái Đất là chất điểm?

b khi nào không thể coi Trái Đất là chất điểm?

Trả lời:

a Trái Đất được coi là chất điểm trong chuyển động quay quanh Mặt Trời

b Trái Đất không được coi là chất điểm trong chuyển động tự quay quanh trục của nó

Vận dụng: Câu hỏi này được vận dụng trong quá trình dạy học bài 1: “Chuyển động cơ” - VL 10 CB; bài 1 - VL10 NC, sau khi dạy học xong khái niệm “chất

điểm”

Câu 7: Nêu cách xác định vị trí của một ô tô trên đường quốc lộ?

Trả lời: Ta chọn một điểm trên đường làm vật mốc (ví dụ như cột mốc) Đo

khoảng cách từ mốc đến ô tô Từ đó, ta xác định được vị trí của ô tô

Vận dụng: Dùng câu hỏi này để hướng dẫn học sinh cách xác định vị trí của một vật trong không gian, bài 1: “Chuyển động cơ” - VL 10 CB, bài 1 - VL10 NC.

Một tiết mục biểu diễn xiếc

Trang 8

Câu 8: Trong các trường hợp sau đây, trường hợp nào người ta nói đến độ lớn

của vận tốc tức thời?

a Vận tốc của búa máy khi đập vào đầu cọc là 20 m/s

b Vận tốc của một ô tô đi trên đoạn đường giữa hai địa điểm A và B là 45 km/h

c Viên đạn bắn ra khỏi nòng súng với vận tốc 300 m/s

d Bảng chỉ dẫn của một đoạn đường đang sửa ghi 5 km/h

e Biển báo giao thông ghi tốc độ hạn chế tối đa là 120 km/h

Trả lời: Các trường hợp a; c; e là các độ lớn của vận tốc tức thời.

Vận dụng: Câu này được dùng để dạy học bài 3: “Chuyển động thẳng biến đổi đều” - VL 10 CB; bài 4 - VL10 NC, sau khi dạy khái niệm “vận tốc tức thời”.

Câu 9: Một người quan sát quỹ đạo của đầu van xe khi đi xe đạp trên đường

thẳng Quỹ đạo đầu van xe sẽ như thế nào trong trường hợp người quan sát ngồi trên xe và trường hợp người đứng ở ven đường?

Trả lời: Với người quan sát đứng bên lề đường thì quỹ đạo của đầu van xe là

đường cong, lúc lên cao, lúc xuống thấp Đối với người quan sát ngồi trên xe, van xe sẽ chuyển động với quỹ đạo là đường tròn

Vận dụng: Khi dạy học về tính tương đối của quỹ đạo, bài 6: “Tính tương đối của chuyển động Công thức cộng vận tốc” - VL10 CB; bài 10 - VL10 NC.

Câu 10: Hai người A và B cùng ngồi trên xe ô tô chuyển động với vận tốc v.

Hãy cho biết vận tốc của người A so với người B và vận tốc của người A so với người C đang đứng ven đường

Trả lời: Vận tốc của người A so với người B bằng 0; vận tốc của người A so với

người C đang đứng ven đường là v (bằng vận tốc của xe)

Vận dụng: Khi dạy học về tính tương đối của vận tốc, bài 6: “Tính tương đối của chuyển động Công thức cộng vận tốc” - VL10 CB; bài 10 - VL10 NC.

Câu 11: Giải thích tại sao khi ngồi trên xe đang chuyển động, lúc thì ta bị ngã

về phía trước, lúc bị ngã về phía sau, khi ngã về bên phải, khi ngã về bên trái

Trả lời: Khi xe đang chuyển động, người ngồi trên xe cũng chuyển động cùng

với xe Khi xe thay đổi trạng thái chuyển động thì chỉ có thân người tiếp xúc với

xe là thay đổi chuyển động cùng với xe, phần trên của người chưa kịp thay đổi trạng thái chuyển động (do không tiếp xúc với xe) vẫn giữ nguyên quán tính chuyển động ban đầu Vì vậy, khi xe đột ngột dừng lại (hoặc tăng tốc) thì người

sẽ có xu hướng chúi về phía trước (hay phía sau); khi xe đột ngột nghiêng sang trái (hay sang phải) thì người sẽ có xu hướng ngã về bên phải (hay bên trái)

Vận dụng: Câu hỏi này được dùng khi dạy học khái niệm quán tính, bài 10: “Ba định luật Niu Tơn” - VL10 CB; bài 14 - VL10 NC.

2.4 3 Câu hỏi liên hệ thực tiễn được sử dụng để củng cố bài học, kiểm tra, đánh giá học sinh

Câu 12: Viên đạn được bắn ra từ nòng súng chuyển động theo hai giai đoạn:

chuyển động trong nòng súng và sau đó bay tới mục tiêu ở xa Giai đoạn nào viên đạn được coi là chất điểm?

Trả lời: Giai đoạn đạn rời nòng súng và bay tới mục tiêu.

Trang 9

Vận dụng: Câu hỏi này được sử dụng để kiểm tra bài cũ sau khi dạy học bài 1:

“Chuyển động cơ” - VL 10 CB; bài 1 - VL10 NC.

Câu 13: Một truyện dân gian kể rằng: Khi chết, một phú ông đã để lại cho người

con mình một hũ vàng chôn trong một khu vườn rộng và đưa cho con một mảnh giấy vẽ sơ đồ, trong đó ghi rõ: Đi vể phía đông 20 bước chân, sau đó rẽ phải 10 bước chân, đào sâu 2 m Với chỉ dẫn này, người con có tìm được hũ vàng không? Vì sao?

Trả lời: Không tìm được vì không có vật làm mốc.

Vận dụng: Dùng để củng cố kiến thức về cách xác định vị trí của một vật trong không gian khi học bài 1: “Chuyển động cơ” - VL 10 CB; bài 1 - VL10 NC.

Câu 14: Nêu một số ví dụ về chyển động thẳng đều trong thực tế?

Trả lời: - Chuyển động của người nhảy dù sau một thời gian mở dù.

- Chuyển động của viên bi nhỏ trong dầu một lúc sau khi bắt đầu rơi

- Chuyển động của giọt nước mưa một thời gian sau khi bắt đầu rơi

- Chuyển động của ô tô, xe máy, tàu hỏa, … trên một số đoạn đường

Vận dụng: Câu hỏi này được sử dụng để kiểm tra bài cũ khi học sinh học xong bài 2: “Chuyển động thẳng đều” - VL10 CB; bài 2 - VL10 NC.

Câu 15: Quan sát một vận động viên nhảy dù Hãy giải thích tại sao anh ta có

thể hạ xuống thấp chậm chạp một cách an toàn?

Trả lời: Do có sức cản của không khí đã cản trở chuyển động của dù làm vận

động viên và dù rơi xuống một cách chậm chạp

Vận dụng: Câu hỏi này được sử dụng để củng cố kiến thức về chuyển động rơi của các vật, sau khi học bài 4: “Sự rơi tự do” - VL10 CB; bài 6 - VL10 NC.

Câu 16: Đặt một viên gạch lên trên mặt một tờ giấy rồi cho chúng rơi tự do Hỏi

trong quá trình rơi, viên gạch có “đè” lên tờ giấy không? Câu trả lời sẽ thế nào nếu cho chúng rơi trong không khí?

Trả lời: Trong trường hợp rơi trong không khí, viên gạch sẽ “đè” lên tờ giấy;

trong chân không, các vật rơi nhanh chậm như nhau với cùng một gia tốc nên chúng không ảnh hưởng lẫn nhau, do vậy viên gạch sẽ không “đè” lên tờ giấy

Vận dụng: Câu hỏi này được sử dụng để kiểm tra bài cũ khi học sinh học xong bài 4: “Sự rơi tự do” - VL10 CB; bài 6 - VL10 NC.

Câu 17: Khi nói về sự rơi của các vật, Arixtot - một nhà tư tưởng vĩ đại nhất của

triết học Hy Lạp cổ đại, lập luận như sau: Một viên gạch rơi với vận tốc xác định, nếu trên viên gạch đó đặt một viên gạch khác thì viên gạch bên trên đè lên viên gạch bên dưới và vì thế hai viên sẽ rơi nhanh hơn một viên Lập luận của Arixtot có đúng không?

Trả lời: Không đúng Nếu bỏ qua sức cản của không khí, hai viên gạch hay một

viên gạch thì đều rơi nhanh như nhau vì chúng hoàn toàn không đè lên nhau

Vận dụng: Câu hỏi này được sử dụng để củng cố kiến thức về chuyển động rơi của các vật, sau khi học bài 4: “Sự rơi tự do” - VL10 CB; bài 6 - VL10 NC.

Câu 18: Hãy giải thích tại sao khi đi xe máy trong mưa (ngay cả khi trời lặng

gió), ta thường có cảm giác các giọt mưa rơi nghiêng, hắt vào mặt chúng ta mà không rơi thẳng đứng

Trang 10

Giải thích: Khi không có gió, những giọt nước mưa rơi theo phương thẳng đứng

so với đất, nhưng lại rơi theo phương xiên với người lái xe máy: gọi là vận tốc của giọt nước mưa so với đất; là vận tốc của đất so với xe (ngược hướng vận tốc của xe so với đất) thì vận tốc của giọt mưa so với xe là

= + trong đó  nên nghiêng so với phương thẳng đứng

Vận dụng: Câu hỏi này được dùng để mở rộng kiến thức cho học sinh khá, giỏi sau khi học xong bài 6: “Tính tương đối của chuyển động Công thức cộng vận tốc” - VL10 CB; bài 10 - VL10 NC.

Câu 19: Hai ô tô đang chuyển động cùng hướng trên một đoạn đường thẳng.

Khi ô tô thứ nhất vượt qua ô tô thứ hai, người ngồi trên ô tô thứ nhất thấy ô tô thứ hai dường như chạy giật lùi Hãy giải thích vì sao?

Trả lời: Dùng công thức cộng vận tốc ta chứng minh được vận tốc của xe thứ

hai so với xe thứ nhất ngược hướng với vận tốc của xe thứ nhất so với đất (vận tốc chuyển động của ô tô thứ nhất)

Vận dụng: Đây là hiện tượng thường gặp trong thực tế, giáo viên sử dụng để củng cố bài sau khi dạy học xong bài 6: “Tính tương đối của chuyển động Công thức cộng vận tốc” - VL10 CB; bài 10 - VL10 NC

Câu 20: Một người ngồi trên một toa tàu đang chuyển động thì ném ra một vật.

Trong trường hợp nào sau đây, người quan sát trên mặt đất thấy vật được ném ra với vận tốc lớn hơn vận tốc chuyển động của tàu?

A Ném về phía trước (cùng hướng với chuyển động của toa tàu)

B Ném về phía sau (ngược hướng với chuyển động của toa tàu)

C Ném theo phương vuông góc với đoàn tàu

D Ném theo phương thẳng đứng

Trả lời: A Ném về phía trước.

Vận dụng: Dùng trong đề kiểm tra 15 phút sau khi dạy học bài 6: “Tính tương đối của chuyển động Công thức cộng vận tốc” - VL10 CB; bài 10 - VL10 NC.

Câu 21: Một người chặt cây và hai người phụ kéo cho cây đổ, để cây đổ theo ý

muốn người ta phải dùng hai sợi dây cột tại một điểm trên cao rồi kéo về hai phía khác nhau (không trùng với phương mà người đó muốn cây đổ) Hãy giải thích cách làm trên?

Trả lời: Trường hợp dùng một sợi dây kéo về phía cây cần đổ sẽ gây nguy hiểm

đối với người kéo dây

Trường hợp kéo bằng hai sợi dây theo hai phương khác là để tạo ra một hợp lực có tác dụng tương đương như kéo một dây nhưng không gây nguy hiểm đối với người kéo Để cây đổ đúng hướng thì áp dụng qui tắc hình bình hành để hướng hợp lực của hai lực kéo trùng với hướng cần cây đổ

Vận dụng: Câu hỏi này được dùng để củng cố kiến thức khi dạy học xong bài 9:

“Tổng hợp và phân tích lực Điều kiện cân bằng của chất điểm” - VL10 CB; bài

13 - VL10 NC

2 , 1

v

3 , 2

v

3

,

1

v 1 , 2

v 2 , 3

v 2 , 3

v

Ngày đăng: 31/10/2019, 14:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w