1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thiết kế phiếu học tập hỗ trợ học sinh các lớp chuyên khối khoa học xã hội tự học vật lý

31 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 447 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Từ điểnTiếng Việt: “Tài liệu là văn bản giúp cho việc tìm hiểu một vấn đề gì đó”.Dựa trên quan điểm của các tác giả trên, chúng tôi cho rằng tài liệu tự học nóichung và Phiếu học tậ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT CHUYÊN LAM SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương ĐảngCộng sản Việt Nam khóa VIII: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục vàđào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo củangười học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiệnđại vào trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tựnghiên cứu cho học sinh "

1.2 Việc thiết kế tài liệu tự học nói chung và phiếu học tập giúp HS tựhọc nói riêng được nhiều tác giả quan tâm đề cập Hans - Joachim Laabs đãđưa ra những yêu cầu về nội dung, kỹ thuật thiết kế, chỉ dẫn cho việc viết tàiliệu dùng cho HS Theo tác giả, tài liệu chính dùng cho HS là giáo trình,ngoài ra còn có các tài liệu khác trợ giúp cho việc học như: sách bài tập, tậplưu trữ tư liệu, sách luyện tập, sách tóm tắt tài liệu tham khảo, phiếu học tập Đồng thời tác giả chỉ rõ chức năng của các tài liệu dành cho HS là: Chức năngbiểu đạt; chức năng điều khiển; chức năng khuyến khích động cơ; chức năngphân hóa, chức năng luyện tập và kiểm tra Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [15]

đã chỉ ra rằng: “Để hướng dẫn tự học phải viết tài liệu, in ra và hướng dẫnngười học tự học Tài liệu hướng dẫn phải vạch được kế hoạch học tập,phương pháp học tập, nội dung tài liệu tự học có hướng dẫn phải chỉ ra mốiquan hệ logic giữa các chương, vẽ ra một sơ đồ về mối liên hệ đó Việc hướngdẫn nên thể hiện ra bằng những câu hỏi hoặc bài tập nhỏ” Theo Từ điểnTiếng Việt: “Tài liệu là văn bản giúp cho việc tìm hiểu một vấn đề gì đó”.Dựa trên quan điểm của các tác giả trên, chúng tôi cho rằng tài liệu tự học nóichung và Phiếu học tập nói riêng được hiểu là văn bản được GV xây dựngthiết kế trong đó nội dung phải vạch được kế hoạch học tập, phương pháphọc, nội dung phải có mối quan hệ logic, vẽ ra một sơ đồ về mối liên hệ đó.Việc hướng dẫn tìm hiểu kiến thức được thể hiện ra bằng những câu hỏi hoặcbài tập nhỏ

1.3 Phiếu học tập là loại phương tiện đơn giản nhưng mang lại hiệuquả cao trong dạy học Chính vì thế, nó luôn được quan tâm và khuyến khích

sử dụng Tuy nhiên, để có thể phát huy hết vai trò của loại phương tiện này thìcần có sự đầu tư nhiều ở GV, cả trong khâu xây dựng và sử dụng Nội dunghoạt động được ghi trong phiếu có thể là: đọc sách giáo khoa, tài liệu thamkhảo, mô tả hiện tượng Vật lí, rút ra kết luận, phát biểu thí nghiệm (định luật),

Trang 3

chứng minh, giải thích… Nguồn thông tin để học sinh hoàn thành phiếu họctập có thể từ tài liệu giáo khoa, từ hình vẽ, từ các thí nghiệm, từ mô hình, mẫuvật, sơ đồ hoặc từ những tư liệu được giáo viên giao cho mỗi HS sưu tầmtrước khi học Phiếu học tập giúp HS biết cách diễn đạt ý tưởng của mìnhbằng ngôn ngữ của chính mình khi nghiên cứu một nội dung thành một hệthống kiến thức hoàn chỉnh Khi sử dụng phiếu học tập sẽ rèn luyện cho HScác kĩ năng, thao tác hoạt động, phát huy năng lực độc lập nâng cao tinh thầntrách nhiệm của HS trong học tập, rèn cho HS phương pháp tư duy khái quát

có khả năng chuyển tải thông tin ở mức độ cao hơn Quan trọng hơn cả làphiếu học tập giúp HS vừa chiếm lĩnh kiến thức, vừa nắm vững phương pháptái tạo kiến thức, thói quen tự học, phát triển năng lực tự học và sáng tạo, giúp

HS có thể tự học suốt đời - đây là một trong những yêu cầu căn bản của lýluận dạy học

1.4 Đối với học sinh các lớp chuyên khối khoa học xã hội thì việc học cácmôn tự nhiên nói chung và Vật lý nói riêng là một khó khăn không chỉ ngoài giờlên lớp mà ngay cả trong giờ lên lớp Phiếu học tập là một phương tiện đơngiản, có hiệu quả cao để duy trì sự hưng phấn tích cực của HS Từ trạng tháimệt mỏi sau thời gian nghe giảng sẽ được khởi động và hưng phấn trở lại quahoạt động của bản thân hoặc trong hoạt động nhóm Mọi HS được tham giahoạt động tích cực, không còn hiện tượng thụ động nghe giảng Khi dùng phiếuhọc tập, GV có thể kiểm soát, đánh giá được trình độ của HS và từ đó cónhững điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với đối tượng để tăng hiệu quả dạyhọc Như vậy, bằng việc hoàn thành phiếu học tập, HS tự kiểm tra, đánh giá kếtquả học tập, được tham gia hoạt động tích cực, hứng thú trong giờ học, kíchthích tư duy của HS, chuyển hoạt động của GV từ trình bày, giảng giải, thuyếtminh sang hoạt động hướng dẫn, chỉ đạo

Từ các lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Thiết kế phiếu học tập

hỗ trợ học sinh các lớp chuyên khối khoa học xã hội tự học Vật lý ”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản liên quan đến phiếu họctập và năng lực tự học môn vật lý, nghiên cứu thiết kế phiếu học tập bám sátnội dung chương trình vật lý theo hướng hình thành và phát triển năng lực tựhọc cho học sinh, góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhàtrường hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản, thực tiễn liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu thiết kế phiếu học tập theo hướng hình thành và phát triển

Trang 4

năng lực tự học cho học sinh

- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm hiệu quả và tính khả thicủa đề tài

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu nội dung dạy học và năng lực tự học môn vật lý của họcsinh các lớp chuyên khối khoa học xã hội

- Nghiên cứu và thiết kế phiếu học tập phần Dao động cơ, Vật lý lớp 12

5 Giả thuyết khoa học

Nếu thiết kế được bộ phiếu học tập theo hướng hình thành và phát triểnnăng lực tự học vật lý cho học sinh các lớp chuyên khối khoa học xã hội sẽgóp phần hình thành, phát triển năng lực tự học môn vật lý cho HS

6 Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứunhư: Nghiên cứu lý luận, Nghiên cứu thực tiễn, Nghiên cứu thực nghiệm vàThống kê toán học

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 03chương

Trang 5

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Năng lực tự học Vật lí

1.1.1 Năng lực

Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng la tinh

“competentia”, có nghĩa là “gặp gỡ” Khái niệm này cho đến ngày nay vẫn cónhiều cách tiếp cận và cách diễn đạt khác nhau, sau đây là một số quan điểmcủa một số tác giả về NL:

Theo Từ điển Tiếng Việt [11], thì NL là khả năng, điều kiện chủ quanhoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Năng lực là phẩmchất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt độngnào đó với chất lượng cao Cùng với quan điểm này tác giả Phạm Minh Hạccho rằng: Năng lực là những đặc điểm tâm lí cá biệt, tạo thành điều kiện tâm

lí cá biệt, tạo thành điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việctác động vào đối tượng lao động [5] Theo Nguyễn Văn Lê: Năng lực (haycũng có khi người ta gọi là khả năng, ví dụ: Khả năng văn nghệ, thể thao, khảnăng tính nhẩm …) là một sự kết hợp linh hoạt và độc đáo nhiều đặc điểmtâm lí của một người, tạo thành những điều kiện chủ quan thuận lợi giúp chongười đó tiếp thu dễ dàng, tập dượt nhanh chóng và hoạt động đạt hiệu quảcao trong một lĩnh vực nào đó [8, tr7] Năng lực hiểu theo nghĩa đặc biệt làtoàn bộ những đặc tính tâm lí của con người thích hợp với một hình thức hoạtđộng nghề nghiệp nhất định Sự hình thành NL đòi hỏi cá thể phải nắm đượccác hình thức hoạt động mà loài người đã tạo ra trong quá trình phát triển lịch

sử - xã hội Năng lực của con người không những do hoạt động bộ não quyếtđịnh, mà trước hết là do trình độ phát triển lịch sử mà loài người đã đạt được.Theo ý nghĩa đó thì NL của con người gắn liền và không thể tách rời với tổchức lao động xã hội và với hệ thống giáo dục ứng với tổ chức đó Năng lực

là khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn.[4]

Nhìn nhận vấn đề năng lực dưới góc độ gắn với các kĩ năng, xét từphương diện tìm cách phát triển những năng lực thì X Roegiers cho rằng:

“Năng lực là sự tích hợp các KN tác động một cách tự nhiên lên các nội dungtrong loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống đặtra” [19, tr90].Cùng với quan điểm này, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng

“Năng lực là sự tích hợp tổng thể cách học và KN tác động đến nội dung

Trang 6

trong hàng loạt tình huống – vấn đề khác nhau” Năng lực = Cách học <-> Kĩnăng <-> Nội dung <-> Tình huống – Vấn đề; Năng lực = Các mục tiêu riêng

<-> Các tình huống – Vấn đề [16, tr96,97]

Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệmnăng lực được sử dụng như sau: Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêucủa dạy học: mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các năng lực cần hìnhthành; Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kếtvới nhau nhằm hình thành các năng lực; Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểubiết, khả năng, mong muốn; Mục tiêu hình thành năng lực định hướng choviệc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung vàhoạt động và hành động dạy học về mặt phương pháp; Năng lực mô tả việcgiải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống; Các năng lựcchung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho côngviệc giáo dục và dạy học [13]

Theo chúng tôi, người có NL về một hoạt động thuộc lĩnh vực nào đóthường bắt tay vào thực hiện một hoạt động trong lĩnh vực đó dễ dàng hơn, sựtiến bộ trong hoạt động đó rất nhanh về cường độ và chất lượng thể hiện ở các

KN tiến hành hoạt động Năng lực luôn được xem xét trong mối quan hệ vớihoạt động hoặc trong các mối quan hệ nhất định nào đó Cấu trúc của NL gồm

ba bộ phận cơ bản: Tri thức về lĩnh vực hoạt động hay quan hệ nào đó; KNtiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với quan hệ nào đó; Những điềukiện tâm lí để tổ chức và vận dụng tri thức, KN trong một cơ cấu thống nhất

và theo một định hướng rõ ràng (ví dụ: tính tích cực) Nếu tách riêng từng bộphận, mỗi bộ phận là một dạng chuyên biệt của NL: NL biết (NL ở dạng trithức), NL làm (NL ở dạng KN), NL biểu cảm (NL ở dạng xúc cảm, biểucảm) Khi kết hợp cả ba bộ phận lại, vẫn là NL, nhưng có tính hoàn thiện vàkhái quát hơn.[17]

Tổng hợp những quan niệm trên có thể nói rằng: Năng lực là khả năng

thực hiện các hoạt động dựa trên cơ sở tri thức, kĩ năng, thái độ và kinh nghiệm có trách nhiệm và hiệu quả.

1.1.2 Năng lực tự học

Có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau, nhưng các nhà khoa học [2],[7], [10], [12], [15], [18]… đều thống nhất ở một số điểm: NLTH là một NLthể hiện ở tính tự lực, sự tự làm lấy, tự giải quyết lấy vấn đề của một chủ thểhoạt động; NLTH gắn với khả năng tự hoàn thành hoạt động học của một cá

Trang 7

nhân; NLTH chỉ nảy sinh và quan sát được trong hoạt động TH, tự giải quyếtnhững yêu cầu mới mẻ và do đó nó gắn liền với tính sáng tạo ở mỗi cá nhântuy có khác nhau về mức độ; NLTH tồn tại và phát triển thông qua hoạt độngTH; NLTH có thể rèn luyện để phát triển được và mỗi cá nhân khác nhau cóNLTH khác nhau Năng lực tự học được thể hiện qua việc chủ thể tự xác địnhđúng đắn động cơ học tập cho mình, có khả năng tự quản lí việc học củamình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điềuchỉnh hoạt động học tập và đánh giá KQHT của chính mình để có thể độc lậplàm việc và làm việc hợp tác với người khác [17]

Từ việc làm rõ các khái niệm về NL có thể hiểu: Năng lực tự học là khả

năng thực hiện các hoạt động học tập dựa trên cơ sở tri thức, kĩ năng tự học, thái độ và kinh nghiệm có trách nhiệm và hiệu quả.

1.1.3 Năng lực tự học Vật lí

Năng lực tự học Vật lí có vai trò rất quan trọng đối với chất lượng họctập môn Vật lí NLTH Vật lí được hình thành, rèn luyện và phát triển tạothành NL cơ bản để HS có thể TH Vật lí và tiến tới TH suốt đời

Người có KN thực hiện các phép đo một đại lượng Vật lí nào đó thì cóthể thực hiện nhanh chóng, chính xác, khéo léo lắp rắp các thiết bị Còn vớingười có NL thực nghiệm thì ngoài việc thực hiện các phép đo còn đề xuấtđược giả thuyết, nêu được phương án TH kiểm tra, xử lý các số liệu đo lường

để rút ra kết quả, giải thích, đánh giá kết quả đo được, và rút ra kết luận kháiquát

Từ việc làm rõ các khái niệm KN, NL, cấu trúc của NL, NLTH, trên cơ

sở các nghiên cứu của các nhà khoa học có thể thấy rằng: Năng lực tự học

Vật lí là khả năng tự thực hiện các hoạt động học tập Vật lí trên cơ sở tri thức, kĩ năng tự học Vật lí, thái độ và kinh nghiệm có trách nhiệm và hiệu quả.

1.2 Mối quan hệ giữa kĩ năng và năng lực

Theo Thái Duy Tuyên [18, tr543]: Năng lực là những đặc điểm tâm lícủa nhân cách, là điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạtđộng nhất định Năng lực có quan hệ với kiến thức, KN, kỹ xảo NL thể hiện

ở tốc độ, chiều sâu, tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng của kết quả hoạtđộng, ở tính sáng tạo, tính độc đáo của phương pháp hoạt động

Tác giả Nguyễn Đức Thâm [14] thì cho rằng: Năng lực gắn liền với KN,

kỹ xảo trong lĩnh vực hoạt động tương ứng Song KN, kỹ xảo liên quan đến

Trang 8

việc thực hiện một loạt hành động hẹp, chuyên biệt đến mức thành thạo, tựđộng hoá, máy móc Còn NL chứa đựng yếu tố mới mẻ, linh hoạt trong hànhđộng, có thể giải quyết nhiệm vụ thành công trong nhiều tình huống khác nhau,trong một lĩnh vực hoạt động rộng hơn.

Giữa KN và NL có mối quan hệ chặt chẽ với nhau KN là khả năng thựchiện công việc đạt đến một hiệu quả nhất định trong khi NL lại đảm bảo choviệc thực hiện công việc đó đạt chất lượng cao KN là thành phần quan trọngcủa NL, thông qua rèn luyện KN sẽ làm cho con người hình thành và phát triển

NL KN là một mặt biểu hiện NL của con người, nếu một người không có trithức, KN về một hoạt động nào đó thì cũng đồng nghĩa với việc họ có không

có NL về hoạt động đó Khi có NL trong lĩnh vực nào thì sẽ đồng nghĩa vớiviệc có tri thức và KN liên quan đến NL đó

Năng lực được thể hiện thông qua việc thực hiện nhiệm vụ, nên ngườihọc cần chuyển hoá những kiến thức, kỹ năng, thái độ có được vào giải quyếtnhững tình huống mới và xảy ra trong môi trường mới Kiến thức, KN lànhững cơ sở cần thiết để hình thành năng lực Không thể có năng lực nếukhông có kiến thức và thực hành, luyện tập Tuy nhiên, nếu chỉ có kiến thức,

KN trong một lĩnh vực nào đó thì chưa hẳn đã coi là có NL, mà còn cần đếnviệc sử dụng hiệu quả nguồn kiến thức, KN cùng với thái độ, giá trị, tráchnhiệm bản thân để thực hiện thành công nhiệm vụ và giải quyết các vấn đềphát sinh trong thực tiễn khi điều kiện và bối cảnh thay đổi Để hình thành vàphát triển NL con người cần phải biết vận dụng sáng tạo tri thức, KN một cáchlinh hoạt trong hoạt động thực tiễn Năng lực phụ thuộc nhiều vào tố chất với

tư cách là tiền đề quan trọng, nhưng tố chất đó chỉ được phát huy cao nhất khicon người được trang bị những tri thức và KN về HĐ đó, nếu không thì nhữngtiềm năng chứa đựng trong mỗi con người khó có thể trở thành hiện thực hoặcphát triển ở mức độ tốt nhất

1.3 Những biểu hiện của năng lực tự học Vật lí của học sinh các lớp chuyên khối khoa học xã hội ở trường THPT chuyên Lam sơn

Từ việc làm rõ khái niệm của NLTH và đặc điểm HS ở các lớp chuyênkhối khoa học xã hội ở trường THPT chuyên Lam Sơn có thể thấy rằngNLTH Vật lí biểu hiện ở 3 mặt là nhận thức, thái độ và KN TH Vật lí của HS,

cụ thể:

1.3.1 Năng lực tự học Vật lí biểu hiện qua nhận thức về việc tự học Vật lí của học sinh

Trang 9

Việc nhận thức về hoạt động tự học của HS ở các lớp chuyên khốikhoa học xã hội ở trường THPT chuyên được thể hiện thông qua: Quan niệm

về tự học; Ý nghĩa và vai trò của tự học; Nội dung và cách thức học và Cácyếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học Nhận thức về hoạt động tự học của

HS có tính chủ thể và thể hiện ở 3 mức:

- Nhận thức kém: Đó là việc HS chỉ xác định được một lượng thông tin

ít ỏi, chung chung về các mục tiêu dạy học của nhà trường; nội dung và hìnhthức của hoạt động học tập tại trường

- Nhận thức trung bình: HS xác định được thông tin về mục tiêu dạyhọc của nhà trường; nội dung và hình thức của hoạt động học tập Tuy nhiêncác nội dung này được HS nhận thức chưa đầy đủ và chưa cụ thể hoá tronghoạt động tự học

- Nhận thức đầy đủ: HS xác định được đầy đủ, chính xác về mục tiêudạy học của nhà trường, nội dung và hình thức học tập cũng như tầm quantrọng và ý nghĩa của việc tự học

1.3.2 Năng lực tự học Vật lí biểu hiện qua mức độ thực hiện các kĩ năng tự học Vật lí của học sinh

Các KN tự học được trình bày ở trên có mối quan hệ hữu cơ với nhau,

có ý nghĩa quyết định đến kết quả tự học Vật lí Bởi vậy, trong quá trình tựhọc, HS phải biết vận dụng kết hợp một cách hài hoà các KN để tự điềukhiển, tự điều chỉnh hoạt động nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập đạt kết quảcao nhất KN tự học của HS được thể hiện ở nhiều mức độ: Mức độ thấp(Quan sát một KN và cố gắng làm theo, các KN thực hiện thông qua việc bắtchước, có sự thử và sai); Mức độ trung bình (Thực hiện những hành vi có ýthức cần thiết để thực hiện KN); Mức độ thành thạo (Các KN được thực hiện

tự tin và thành thạo, linh hoạt đáp ứng được các yêu cầu đặc biệt và dễ dàngthực hiện các nội dung và hình thức tự học)

1.3.3 Năng lực tự học Vật lí biểu hiện qua thái độ của học sinh đối với việc tự học môn Vật lí

Thái độ học tập, tự học là yếu tố bên trong quy định hướng tự giác, tíchcực học tập hay ngược lại, được biểu hiện ra bên ngoài bằng những cảm xúc,những hành vi Thái độ tự học HS ở các lớp chuyên khối khoa học xã hộiđược thể hiện ở 2 mặt: Mặt định tính (Nhu cầu tự học, động cơ tự học, hứngthú tự học, say mê tự học, ý chí khắc phục khó khăn và tính tự giác trong tựhọc); Mặt biểu hiện ra bên ngoài và có thể quan sát được như (Tích cực đi thư

Trang 10

viện, trao đổi sôi nổi về nhiệm vụ và kết quả học tập, hào hứng và phấn khởitrong giờ tự học trên giảng đường và khu nội trú, luôn đưa ra các câu hỏi, thắcmắc trong học tập, nêu lên được nhiều vấn đề cần giải quyết cho thầy, bạn bè

- Chủ động: HS chủ động tham gia vào các hoạt động học tập, tự học;thực hiện đầy đủ nội quy, quy định đề ra với việc tự học; đã thiết lập được cácmối quan hệ bình thường với các HS khác Tuy nhiên, chưa hăng say trong tựhọc

- Say mê: HS thích học và tự học, thực hiện thực hiện nghiêm túc nộiquy, quy định đề ra với việc tự học; yêu quý bạn bè, thầy cô giáo và thiết lậpđược các mối quan hệ tốt trong môi trường học tập; Chủ động tìm kiếm sự hỗtrợ và sẵn sàng giúp đỡ bạn bè trong quá trình tự học

1.4 Những vấn đề cơ bản về phiếu học tập

1.4.1 Quan niệm về phiếu học tập

Phiếu học tập còn gọi là phiếu hoạt động (activity sheet) hay phiếu làmviệc (work sheet) Để tổ chức các hoạt động của HS, GV phải dựng các phiếuhoạt động học tập gọi tắt là phiếu học tập Phiếu học tập là những tờ giấy rời,

in sẵn những công tác độc lập hay làm theo nhóm nhỏ, được phát cho HS để

HS hoàn thành trong một thời gian phù hợp Phiếu học tập là một phương tiện

để tổ chức hoạt động học tập độc lập của HS nhằm lĩnh hội, củng cố kiếnthức, hình thành KN [3]

Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đã chỉ ra rằng: “Để hướng dẫn tự học phảiviết tài liệu, in ra và hướng dẫn người học tự học Tài liệu hướng dẫn phảivạch được kế hoạch học tập, phương pháp học tập, nội dung tài liệu tự học cóhướng dẫn phải chỉ ra mối quan hệ logic giữa các chương, vẽ ra một sơ đồ vềmối liên hệ đó Việc hướng dẫn nên thể hiện ra bằng những câu hỏi hoặc bàitập nhỏ” [15, tr.79] Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tài liệu là văn bản giúp choviệc tìm hiểu một vấn đề gì đó” [11, tr.998] Phiếu học tập được hiểu là vănbản được GV xây dựng, thiết kế trong đó nội dung phải vạch được kế hoạchhọc tập, phương pháp học, nội dung phải có mối quan hệ logic, vẽ ra một sơ

Trang 11

đồ về mối liên hệ đó Việc hướng dẫn tìm hiểu kiến thức được thể hiện rabằng những câu hỏi hoặc bài tập nhỏ Trong mỗi phiếu học tập ghi rõ nhiệm

vụ nhận thức nhằm hướng tới hình thành kiến thức, kĩ năng hay rèn luyệnthao tác tư duy cho HS

Thông qua hoạt động giải quyết vấn đề đặt ra trong phiếu học tập, ở HShình thành những năng lực và phẩm chất cần thiết trong học tập và cuộc sống,như: Khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề; Hình thành phẩm chất tư duymềm dẻo, linh hoạt trước những tình huống, yêu cầu khác nhau; Thói quen tựlàm việc và hợp tác tích cực trong nhóm để đạt được hiệu quả cao trong họctập, cuộc sống; Góp phần hình thành năng lực tự học

1.4.2 Vai trò của phiếu học tập trong dạy học

Phiếu học tập rõ ràng là một phương tiện thuận lợi để tổ chức cho HS

tự học cũng như học hợp tác theo nhóm Đó vừa là một phương tiện trựcquan, vừa thể hiện yêu cầu của GV đối với HS Với đầy đủ thông tin, hìnhảnh, yêu cầu cùng việc giới hạn thời gian hoạt động là một cách bắt buộc HSphải suy nghĩ và hợp tác cùng nhau để hoàn thành nhiệm vụ học tập Về mụctiêu dạy học, phiếu học tập là một trong những công cụ cá thể hoá hoạt độnghọc tập của HS và có ưu thế hơn câu hỏi, bài tập (ở chỗ muốn xác định mộtnội dung kiến thức nào đó thoả mãn nhiều tiêu chí hoặc xác định nhiều nộidung từ các tiêu chí khác nhau) Đảm bảo thông tin hai chiều giữa dạy và học,

là cơ sở cho việc uốn nắn, chỉnh sửa những lệch lạc trong hoạt động nhậnthức của HS

Ngoài ra phiếu học tập còn có các vai trò khác như: Trong cùng mộtphiếu học tập, GV có thể hỏi được nhiều nội dung kiến thức; Dùng phiếu họctập giúp HS phát triển tính cộng đồng; Phiếu học tập còn là kế hoạch nhỏ để tổchức dạy học và cho HS tự học, là biện pháp hữu hiệu trong việc hướng dẫn

HS tự học; Phiếu học tập còn là một phương tiện truyền tải nội dung dạy học,rèn luyện các KN, trong đó có KN tự học, tự nghiên cứu của HS Khi sử dụngphiếu học tập trong giờ lên lớp, HS sẽ cùng nhau thảo luận cùng nhau làm việc.Qua đó rèn luyện cho các em cách làm việc hợp tác nhóm Làm việc hợp tác làcách làm việc đem lại hiệu quả công việc cao và là xu thế chung của thế giớingày nay Do đó phiếu học tập sẽ giúp các em hình thành được kĩ năng làmviệc hợp tác nhóm, làm việc cộng đồng Dùng phiếu học tập trong dạy họccũng góp phần phát huy tính tích cực của HS HS sẽ trở thành trung tâm củaquá trình dạy và học, độc lập làm việc với tài liệu và bày tỏ ý kiến của mình

Trang 12

trong nhóm làm việc Nguồn kiến thức mà HS tiếp nhận là từ tài liệu và từnhững ý kiến của các bạn khác Dùng phiếu học tập HS có thể tự đánh giá đượckết quả thảo luận nhóm, và có thể tham gia đánh giá nhóm khác.

Đối với hoạt động TH, phiếu học tập là một biện pháp hữu hiệu để hỗtrợ HS trong việc tự lực chiếm lĩnh tri thức Có tác dụng định hướng cho HSphương pháp nắm bắt nội dung, xác định nội dung trọng tâm, định hướngcách nghiên cứu tài liệu, lĩnh hội kiến thức Thông qua phiếu học tập, GVgiúp HS tiếp cận với hệ thống tri thức, biết cách tự nghiên cứu tài liệu, xử lýthông tin, từ đó hình thành KN tự học vận dụng linh hoạt những tri thức đãhọc vào các tình huống khác nhau [3]

Phiếu học tập giúp HS biết cách diễn đạt ý tưởng của mình bằng ngônngữ của chính mình khi nghiên cứu một nội dung thành một hệ thống kiếnthức hoàn chỉnh Khi sử dụng phiếu học tập sẽ rèn luyện cho HS các kĩ năng,thao tác hoạt động, phát huy năng lực độc lập nâng cao tinh thần trách nhiệmcủa HS trong học tập, rèn cho HS phương pháp tư duy khái quát có khả năngchuyển tải thông tin ở mức độ cao hơn Quan trọng hơn cả là phiếu học tậpgiúp HS vừa chiếm lĩnh kiến thức, vừa nắm vững phương pháp tái tạo kiếnthức, thói quen tự học, phát triển năng lực tự học và sáng tạo, giúp HS có thể

tự học suốt đời - đây là một trong những yêu cầu căn bản của lý luận dạy học

1.4.3 Phân loại phiếu học tập

Có nhiều cách phân loại phiếu học tập như: (1) - Căn cứ vào mục đíchdạy học: Phiếu học tập dùng để hình thành kiến thức mới; Phiếu học tập dùng

để củng cố, hoàn thiện kiến thức; Phiếu học tập dùng để kiểm tra, đánh giá.(2)- Căn cứ vào nguồn thông tin sử dụng để hoàn thành phiếu học tập: Phiếuhọc tập khai thác kênh chữ; Phiếu học tập khai thác kênh hình; Phiếu học tậpkhai thác kênh chữ và kênh hình (3) - Căn cứ vào đặc điểm nội dung: Phiếuhình thành kiến thức; Phiếu học tập phát triển năng lực nhận thức (kĩ năng sosánh, phân tích, tổng hợp …) (4) - Căn cứ vào hình thức dạy học: Phiếu họctập dùng cho giờ lên lớp và phiếu học tập dùng cho ngoài giờ lên lớp [3]

1.4.4 Cấu trúc phiếu học tập

Mỗi phiếu học tập bao gồm 2 thành phần chính: - Phần dẫn: Phầnnhiệm vụ được cụ thể hoá trên phiếu học tập dưới dạng câu hỏi, bài tập cùngvới các phương tiện hỗ trợ khác như hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ; - Phần hoạtđộng: Phần ghi kết quả học tập trên phiếu học tập dành cho HS (Sau mỗi câuhỏi, bài tập GV tạo khoảng trống vừa đủ để HS điền kết quả học tập của

Trang 13

mình) Đây là một yếu tố ràng buộc yêu cầu HS phải làm việc, là cơ sở để GVkiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS Ngoài ra phiếu học tập còn cóquy định về thời gian thực hiện (Phần này có thể không cần ghi trong phiếu,

GV có thể thông báo bằng lời trong quá trình phát phiếu) và phần đáp án(Phần này thường tách biệt với các phần trên, được sử dụng để GV chỉnh sửa,

bổ sung cho HS hay căn cứ đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức cho HS)

Tuy nhiên, trên thực tế giảng dạy việc sử dụng phiếu học tập với cấutrúc như thế thực sự rất tốn kém, gây khó khăn cho GV trong việc sử dụngphương tiện này Để khắc phục khó khăn đó, ta có thể bỏ đi phần ghi kết quảhọc tập trên phiếu, HS sẽ ghi kết quả thảo luận của mình vào giấy riêng hoặc

vở ghi GV cũng có thể kiểm tra kết quả thảo luận của HS bằng việc yêucầu nộp lại tờ giấy này, còn phiếu học tập sẽ được tập hợp lại làm tài liệu cho

HS tự học

Trang 14

Chương 2

THIẾT KẾ PHIẾU HỌC TẬP HỖ TRỢ HỌC SINH

CÁC LỚP CHUYÊN KHỐI KHOA HỌC XÃ HỘI TỰ HỌC VẬT LÝ

Ở trường THPT chuyên Lam Sơn, ngoài giờ học chính khoá thì việc tựhọc của HS chiếm phần lớn thời gian ở nhà hay ở khu nội trú Phiếu học tập làmột phương tiện đơn giản, có hiệu quả cao để duy trì sự hưng phấn tích cựccủa HS Từ trạng thái mệt mỏi sau thời gian nghe giảng sẽ được khởi động vàhưng phấn trở lại qua hoạt động của bản thân hoặc trong hoạt động nhóm.Mọi HS được tham gia hoạt động tích cực, không còn hiện tượng thụ động nghegiảng Khi dùng phiếu học tập, GV có thể kiểm soát, đánh giá được trình độcủa HS và từ đó có những điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với đối tượng đểtăng hiệu quả dạy học Như vậy, bằng việc hoàn thành phiếu học tập, HS tựkiểm tra, đánh giá kết quả học tập, được giam gia hoạt động tích cực, hứng thútrong giờ học, kích thích tư duy của HS, chuyển hoạt động của GV từ trình bày,giảng giải, thuyết minh sang hoạt động hướng dẫn, chỉ đạo

2.1 Thiết kế phiếu học tập

Việc thiết kế tài liệu tự học nói chung và phiếu học tập giúp HS tự họcnói riêng được nhiều tác giả quan tâm đề cập Hans - Joachim Laabs đã đưa ranhững yêu cầu về nội dung, kỹ thuật thiết kế, chỉ dẫn cho việc viết tài liệudùng cho HS Theo tác giả, tài liệu chính dùng cho HS là giáo trình, ngoài racòn có các tài liệu khác trợ giúp cho việc học như: sách bài tập, tập lưu trữ tưliệu, sách luyện tập, sách tóm tắt tài liệu tham khảo, phiếu học tập Đồngthời tác giả chỉ rõ chức năng của các tài liệu dành cho HS là: Chức năng biểuđạt, điều khiển, khuyến khích động cơ, phân hóa, luyện tập và kiểm tra [6]

2.1.1 Yêu cầu sư phạm của phiếu học tập

- Thể hiện được yêu cầu làm việc độc lập cũng như hợp tác trong nhómhọc tập và thể hiện được ý tưởng giảng dạy của GV

- Trong điều kiện hiện nay cho phép chúng ta sử dụng CNTT thiết kế

Trang 15

phiếu học tập điện tử, giúp HS có thể truy cập phiếu học tập một cách hiệuquả với internet (bằng máy vi tính, máy tính bảng, điện thoại di động )

2.1.2 Quy trình thiết kế phiếu học tập:

Xây dựng một phiếu học tập thường bao gồm các bước sau:

Bước 1: Lựa chọn vấn đề học tập: Đó là những nội dung kiến thức mớihoặc là củng cố, khắc sâu kiến thức trọng tâm của bài giảng Trong một giờhọc, GV có thể sử dụng từ một đến hai vấn đề tùy theo nội dung khái quátrộng hay hẹp của vấn đề đó

Bước 2: Xác định mục tiêu của phiếu học tập: Mục tiêu của từng phiếuhọc tập cần hướng tới kết quả học tập cụ thể mà HS phát hiện ra

Bước 3: Xây dựng hệ thống câu hỏi cho từng hoạt động và xác địnhthời gian cho hoạt động đó: Xây dựng hệ thống câu hỏi phải có tác dụng địnhhướng, dẫn dắt hoạt động, giải quyết vấn đề cho phù hợp với từng đối tượng

HS trong lớp Nếu HS khá giỏi thì chỉ cần nêu ra vấn đề học tập dưới dạngcâu hỏi, bài tập là HS tự giải quyết được vấn đề Đối với HS có sức học yếuhơn thì ngoài các câu hỏi chính, GV cần có những câu hỏi gợi mở, tổ chứcphát hiện từng phần của vấn đề Mặt khác, trong cùng một phiếu học tập cũngnên có câu hỏi yêu cầu ở mức độ cao hơn dành cho nhóm HS giỏi trong lớpthì mới kích thích được động cơ học tập của các em

Bước 4: Cách thức thể hiện vấn đề học tập: Vấn đề học tập thườngđược khai thác từ những hình ảnh, sơ đồ, biểu bảng… có hiệu quả kích thích

sự hào hứng trao đổi, tranh luận của HS thông qua các hoạt động quan sát,phân tích, so sánh, hệ thống… Một số vấn đề học tập được khai thác từ cáchình ảnh, sơ đồ, biểu đồ đã có trong sách giáo khoa, còn có những vấn đề họctập GV phải tìm tòi để thực hiện công việc này

2.2 Minh hoạ phiếu học tập giúp học sinh tự học ngoài giờ lên lớp

Đối với phiếu học tập giúp HS tự học ngoài giờ lên lớp còn được gọi làphiếu hướng dẫn tự học Sau đây chúng tôi xin giới thiệu 2 phiếu hướng dẫn

tự học giúp HS tự học ngoài giờ lên lớp (sau bài Dao động điều hoà)

Ví dụ 2.1.

PHIẾU HƯỚNG DẪN TỰ HỌC PHẦN DAO ĐỘNG CƠ - PHIẾU SỐ 8.1

Câu 1: Dao động điều hoà là gì ? Viết phương trình dao động điều hoà.

Ngày đăng: 31/10/2019, 14:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.V. Muraviep (1978). Dạy thế nào cho học sinh tự lực nắm kiến thức Vật lí, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy thế nào cho học sinh tự lực nắm kiến thức Vật"lí
Tác giả: A.V. Muraviep
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1978
2. Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu (2008), Tự học của Sinh viên, NXB Giáo dục 3. Nguyễn Thành Đạt, Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Xuân Viết, Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THPT chu kỳ III (2004 - 2007) (Lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học của Sinh viên
Tác giả: Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
4. Lê Trọng Dương (2006). Hình thành và phát triển năng lực tự học cho sinh viên ngành Toán hệ Cao đẳng sư phạm, Luận án tiến sĩ giáo dục học, Trường ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành và phát triển năng lực tự học cho"sinh viên ngành Toán hệ Cao đẳng sư phạm
Tác giả: Lê Trọng Dương
Năm: 2006
5. Phạm Minh Hạc (2003) Một số công trình tâm lý học A.N.Lêônchiép, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số công trình tâm lý học A.N.Lêônchiép
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
6. Hans - Joachim Laabs (2002), Tài liệu tập huấn biên soạn sách đào tạo giáo viên Trung học cơ sở trình độ Cao đẳng Sư phạm - Đại học Sư phạm, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn biên soạn sách đào tạo giáo viên Trung học cơ sở trình độ Cao đẳng Sư phạm - Đại học Sư phạm
Tác giả: Hans - Joachim Laabs
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w