Luật giáo dục đã nêu : "Phương pháp giáo dục phổthông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của học sinh phùhợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng ph
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG PT NGUYỄN MỘNG TUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trang 2MỤC LỤC
1 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 2
2.1.1 Tư duy và tư duy vật lý 2
2.1.2 Phân loại tư duy 2
2.1.3 Tư duy độc lập 3
2.1.3.1 Khái niệm tư duy độc lập 3
2.1.3.2 Năng lực tư duy độc lập 3
2.1.3.3 Sự cần thiết phải rèn luyện năng lực tư duy độc lập 3
2.1.4 Bài tập đồ thị trong việc phát triển năng lực tư duy độc lập……… 4
2.1.4.1 Bài tập đồ thị 4
2.1.4.2 Bài tập đồ thị và phát triển năng lực tư duy độc lập……… … 4
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN 5
2.3 Giải pháp áp dụng để giải quyết vấn đề 5
2.3.1 Các biện pháp để phát triển năng lực tư duy độc lập cho HS thông qua BTĐT 5
2.3.1.1 Củng cố kiến thức - trí thức nền tảng cơ bản vững chắc 6
2.3.1.2 Rèn năng lực quan sát và các thao tác tư duy 6
2.3.1.3 Rèn luyện kỹ năng biến đổi biểu thức và nhận dạng dạng đồ thị 6
2.3.1.4 Bồi dưỡng một số phương pháp giải và giải bài toán bằng nhiều cách 6
2.3.1.5 Kích thích hứng thú học tập, tạo tinh thần, thái độ, động cơ học tập đúng đắn……… 6
2.3.1.6 Môi trường hoạt động tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo……… 6
2.3.2 BT đồ thị dòng điện xoay chiều và phát triển tư duy độc lập cho HS 7
2.4 Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, động nghiệp và nhà trường 19
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 3.1 Kết luận 20
3.2 Kiến nghị 20 Tài liệu kham khảo
Phụ lục
Trang 41 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang sống ở thế kỷ XXI, thế kỷ của sự bùng nổ khoa học vàcông nghệ, đòi hỏi con người có trí tuệ phát triển, giàu tính sáng tạo và nhânvăn Để đáp ứng nhu cầu cần thiết của xã hội thì điều cần thiết đối với nền giáodục phải đổi mới mạnh mẽ sâu sắc và toàn diện, trong đó đổi mới phương phápgiáo dục là hết sức cần thiết Luật giáo dục đã nêu : "Phương pháp giáo dục phổthông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của học sinh phùhợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tựhọc, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm,đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh"
Để đáp ứng được những yêu cầu trên, ở nhà trường dạy học các môn họckhông chỉ đơn thuần là giúp cho học sinh có được một số kiến thức cụ thể nào
đó Điều cơ bản hơn, quan trọng hơn là trong quá trình dạy học các tri thức cụthể đó, rèn luyện cho học sinh tiềm lực để khi ra trường họ có thể tiếp tục tự họctập, có khả năng nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo giải quyết vấn đề, đáp ứng đượcnhững đòi hỏi đa dạng của hoạt động thực tiễn không ngừng phát triển Nói cáchkhác, hệ thống giáo dục phải dạy cho HS phương pháp tư duy, HS phải biết vậndụng tư duy, biết linh hoạt trong việc giải quyết vấn đề trong đó có tư duy độclập (TDĐL) TDĐL là nền tảng để người học giải quyết vấn đề
Thực tiễn cho thấy, HS được tiếp xúc với nhiều kênh thông tin: sách, báo,tài liệu tham khảo, mạng Internet có bài giải sẵn …nên các em dễ ỉ lại, thiếu độclập suy nghĩ, thiếu chọn lọc thông tin để biến thành kiến thức của mình Và hiệnnay, giáo viên chưa quan tâm nhiều đến rèn luyện tư duy, đặc biệt tư duy độclập Một số giáo viên đã có tìm hiểu, khai thác mối liên hệ này trong dạy học,nhưng chưa thành hệ thống và thường xuyên
Chương “ Dòng điện xoay” là chương rất quan trọng, chứa lượng kiếnthức lớn trong các kì thi HS gặp rất nhiều khó khăn khi giải BT đồ thị chươngnày, khi làm bài thi chỉ một số ít làm được còn phần đa các em bỏ không làm,khoanh bừa (vì thi trác nghiệm) Hiện nay có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về BT
đồ thị điện xoay chiều nhưng chưa có tài liệu nghiên cứu phát triển năng tư duyđộc lập cho HS thông qua BTĐT chương này
Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Phát triển năng lực tưduy độc lập cho HS THPT thông qua BTĐT chương “ Dòng điện xoay chiều”vật lý 12
1.2 Mục đích nghiên cứu
Sử dụng bài tập đồ thị chương: “Dòng điện xoay chiều” vật lý 12 nhằmphát triển năng lực tư duy độc lập và năng cao hiệu quả tự học cho HS THPT
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình dạy học là học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Mộng Tuân
Trang 5- Bài tập chương “Dòng điện xoay chiều ” Vật lý 12
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng một số phương pháp sau :
Phương pháp nghiên cứu lý luận; Phương pháp điều tra và quan sát; Phươngpháp phân tích, đánh giá; Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Tư duy và tư duy vật lý
Trong từ điển tiếng Việt: “Tư duy là giai đoạn phát triển cao của quá trìnhnhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằngnhững hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí” [4, tr.1034].Tâm lí học sư phạm cho rằng: “Tư duy là sự phản ánh trong óc ta những sự vậthiện tượng trong những mối liên hệ và mối quan hệ có tính quy luật của chúng”[5, tr.168] Thêm vào đó: Tư duy là sự nhận thức khái quát và gián tiếp của conngười những sự vật và hiện tượng thực tế khách quan trong những tính chất,những mối liên hệ bản chất của chúng [3]
Như vậy, tư duy là quá trình tâm lí, nhờ đó con người phản ánh được các đốitượng và hiện tượng qua những dấu hiệu căn bản của chúng, con người vạch rađược những mối quan hệ khác nhau trong mỗi đối tượng và hiện tượng với nhau
Tư duy vật lý là sự quan sát các hiện tượng vật lý, phân tích một hiện
tượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những mốiquan hệ và những sự phụ thuộc xác định, tìm ra mối liên hệ giữa mặt định tính
và mặt định lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lý, dự doán các hệquả mới từ các lý thuyết và áp dụng những kiến thức khái quát thu được vàothực tiễn [1, tr.14]
2.1.2 Phân loại tư duy
Có nhiều cách phân loại tư duy, dựa vào tính chất và kết quả của quá trình
tư duy ta có ba loại: Tư duy tích cực, tư duy độc lập và tư duy sáng tạo
“Tư duy tích cực là tư duy dựa vào tính tích cực nhận thức của HS trong quátrình học tập Tính tích cực nhận thức của học sinh là trạng thái hoạt động củahọc sinh đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trongquá trình nắm vững kiến thức” [1, tr.7] Tư duy sáng tạo là tư duy dựa tạo rađược cái mới Tính sáng tạo là khả năng tự khám phá, tự tìm ra những giá trị mớitrên cơ sở kĩ năng và kiến thức đã tiếp thu Có thể biểu diễn mối quan hệ giữa tưduy tích cực, tư duy độc lập và tư duy sáng tạo bởi các đường tròn đồng tâm(hình 1.1)
Tư duy độc lập
Tư duy sáng tạo
Tư duy tích cực Hình 1.1
Trang 6Như vậy, tư duy sáng tạo là tư duy độc lập và cũng là tư duy tích cực,nhưng tư duy tích cực chưa hẳn là tư duy độc lập, không phải mọi tư đuy độc lập
là tư duy sáng tạo Có thể nói tư duy độc lập là nền tảng của tư duy sáng tạo
2.1.3 Tư duy độc lập
2.1.3.1 Khái niệm tư duy độc lập
Tư duy độc lập là khả năng tự mình suy nghĩ để tìm ra con đường giảiquyết vấn đề sao cho hiệu quả nhất mà đỉnh cao là không có sự trợ giúp từ bênngoài Tư duy độc lập là loại tư duy dựa vào tính độc lập nhận thức của học sinhtrong quá trình học tập Theo Êxpov thì “Tính độc lập là năng lực của cá nhânhọc sinh tham gia hoạt động mà không có sự can thiệp từ bên ngoài” Theo nghĩarộng, bản chất của tính độc lập nhận thức là sự chuẩn bị tâm lí cho sự tự học.Theo nghĩa hẹp, tính độc lập nhận thức là năng lực, nhu cầu học tập và tính tổchức học tập, cho phép học sinh tự học [1, tr.8]
2.1.3.2 Năng lực tư duy độc lập
Năng lực tư duy có thể hiểu là tổng hợp những phẩm chất trí tuệ, đáp ứngnhu cầu nhận thức thế giới và bản than con người, đảm bảo cho hoạt động sángtạo của mình [1]
Năng lực tư duy độc lập của HS là khả năng tự suy nghĩ, tự tìm tòi, tựnghiên cứu để tìm ra phương thức chiếm lĩnh tri thức hay hoàn thành hoạt độngnào đó mà mình hướng tới Phát triển năng lực tư duy độc lập của HS là cơ sởcủa toàn bộ hoạt động học tập của họ Bởi vậy, trong quá trình dạy học, cần phảitìm mọi cách để phát triển năng lực tư duy độc lập của HS, tập cho họ biết hiểuđược bài toán, đề tài, nhiệm vụ, biết phân tích nó một cách đúng đắn, vạch raphương thức tốt và kế hoạch giải quyết, thực hiện phương thức đó và kiểm tralời giải[2, tr.17]
2.1.3.2 Sự cần thiết phải rèn luyện năng lực tư duy độc lập
Chúng ta đánh giá trình độ hiểu biết của HS tphải chú ý đến khối lượng kiếnthức mà HS lính hội được nhưng điều đó chưa đủ Để đảm bảo tiếp thu kiến thứcmột cách vững chắc thì phải chú ý đến khả năng sử dụng kiến thức đó để giảiquyết các vấn đề thực tiễn bằng những suy nghĩ độc lập của chính mình Nhưvậy, vấn đề quan trọng của dạy học là phải rèn luyện cho HS thói quen suy nghĩ
và hành động độc lập Từ tư duy độc lập dẫn đến tư duy phê phán, khả năng pháthiện vấn đề rồi đến tư duy sáng tạo, độc lập là tiền đề của sáng tạo
Như vậy, phát triển năng lực tư duy độc lập của HS là phát triển khả năng tựnhận thức, tự tìm tòi, tự suy nghĩ, tự phát hiện vấn đề, tự xác định phương hướng
và phương tiện để tìm ra cách giải quyết, rồi tự mình kiểm tra hoàn thiện kếtquả
Phát triển năng lực tư duy độc lập sẽ nâng cao hiệu quả tự học Giữa tư duy độclập và tự học có mối liên hệ biện chứng với nhau, tư duy độc lập vừa là nền tảngvừa là cơ sở để tự học: tự học là môi trường cho sự nảy sinh và phát triển tư duyđộc lập, đặt nền móng trên cơ sở có năng lực tư duy độc lập cao Giữa tự học và
tư duy độc lập luôn tác động qua lại lẫn nhau, luôn tồn tại xoắn xuýt bên nhau
Trang 7Nhiệm vụ của GV trong quá trình giảng dạy phải biết khơi dậy và kích thích ýthức tự học của HS, tạo điều kiện thuận lợi cho tư duy độc lập của HS phát triểnthông qua việc truyền thụ kiến thức, giải bài tập,…“Trong quá trình dạy học,bằng mọi cách hình thành ở học sinh tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo, năng lựchoạt động nhận thức độc lập và sự tiếp thu tri thức Hay như đôi khi người tathường nói năng lực tự học, tự trau dồi kiến thức” [2, tr.21].
2.1.4 Bài tập đồ thị trong việc phát triển năng lực tư duy độc lập
2.1.4.1 Bài tập đồ thị
Bài tập VL là một phương tiện có hiệu quả nhằm bồi dưỡng, phát triểnNLTD cho HS BTVL được được phân thành các loại: BT định định; BT tínhtoán; BT thí nghiệm; Bài tập đồ thị
Bài tập đồ thị là những bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện
để giải được tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại, đòi hỏi HS phải biểudiễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập đồ thị Bài tập đồ thị cótác dụng giúp biểu đạt mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lí, có thể tìm đượcđịnh luật vật lí mới nhờ vẽ chính xác đồ thị biểu diễn các số liệu thực nghiệm[2].Thông qua BTĐT ta có thể giúp cho HS:
- Thói quen quan sát, nhận biết các dấu hiệu đặc trưng của sự vật, hiện tượng
- Khả năng phân tích hiện tượng phức tạp thành những hiện tượng đơn giản
- Xác định rõ những giai đoạn diễn biến của hiện tượng
- Tìm thấy các dấu hiệu giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng
- Tìm được những tính chất chung của nhiều sự vật, hiện tượng (khái quát hóa)
- Tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng vật lý Tìm mối quan hệhàm số giữa các đại lượng vật lý, biểu diễn bằng công cụ toán học
- Dự đoán diễn biến của một hiện tượng trong những điều kiện thực tế xácđịnh
- Giải thích một hiện tượng thực tế
- Hình thành phương pháp chung để giải quyết một loại vấn đề
2.1.4.2 Bài tập đồ thị và phát triển năng lực tư duy độc lập
Thông qua giải BTVL nói chung và BTĐT nói riêng các thao tác tư duythường xuyên được rèn luyện, năng lực quan sát, trí nhớ, óc tưởng tượng, nănglực độc lập suy nghĩ…của HS không ngừng được năng cao, biết phê phán, nhậnxét đúng, tạo hứng thú, niềm say mê học tập…để cuối cùng tư duy của HS đượcrèn luyện và phát triển thường xuyên Trong hoạt động dạy học, HS là chủ thểhoạt động nhưng GV là người tổ chức, điều kiển để phát huy tối đa năng lực độclập suy nghĩ của HS Mức độ phát triển năng lực tư duy độc lập và nâng caohiệu quả tự học phụ thuộc vào mức độ nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo giảiBTĐT Muốn phát triển năng lực tư duy độc lập và nâng cao hiệu quả tự học cầnphải nắm vững kiến thức và vận dụng một cách sáng tạo kiến thức, kĩ năng, kĩxảo đã tích lũy được trong hoạt động giải bài tập Năng lực tư duy độc lập vàhiệu quả tự học của HS được hình thành và phát triển trong hoạt động giảiBTVL lần lượt thể hiện qua các nội dung: Xác định chính xác cái đã cho và cái
Trang 8phải tìm; nhanh chóng phát hiện ra các BTCB trong một BTPH và quy mộtBTPH về các BTCB quen thuộc đã biết; dự kiến các giải pháp thực hiện quátrình giải; hoàn thành công việc theo từng giải pháp như dự kiến và lựa chọn giảipháp tối ưu; rút ra định hướng giải bài tập.
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
Qua phiếu điều tra đối với HS và GV ở một số trường THPT trên địa bànĐông sơn và Thiệu hóa, chúng tôi thấy thực trạng vấn đề như sau:
* Về phía giáo viên:
- Trình độ của GV chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới phương pháp dạyhọc, chưa theo kịp đổi mới chương trình Xuyên suốt quá trình dạy học vẫn làthầy truyền đạt hết nội dung sách giáo khoa, trò ghi nhớ để làm bài kiểm tra, đểthi chuyển cấp, thi đại học nên chưa tích cực hóa hoạt động học của HS GVnặng nề về truyền thụ trong khi đó lại xem nhẹ việc rèn các thao tác tư duy, tưduy độc lập Đó lại là phương pháp hiệu quả nhất để HS tiếp thu kiến thức mộtcách sâu sắc và sáng tạo nhất Bên cạnh đó, cuộc sống của GV còn nhiều khókhăn, chưa đủ điều kiện để tự đào sâu, tìm tòi, cải tiến phương pháp giảng dạy
- Nhiều GV không rèn luyện năng lực tư duy cho HS, một số có quan tâm nhưngkhông thường xuyên, chỉ áp dụng khi thao giảng
- Nhiều giáo viên chưa quan tâm nhiều đến BTĐT trong vật lý Hai năm gầnđây, một số ít GV có chú trọng xong cũng chỉ hướng dẫn giải BT như các BTkhác
* Về phía học sinh
- Hiện nay, ở trường THPT chỉ có một bộ phận nhỏ HS khá và giỏi có ý thức tựhọc, độc lập suy nghĩ để tìm lời giải các bài tập, tự mình giải quyết nhiệm vụhọc tập Khá đông HS ý thức tự học yếu, thường thụ động trong việc lĩnh hộikiến thức, sao chép máy móc lời giải trong các sách bài tập, sách tham khảo,mạng…
- Trình độ, năng lực học tập, khả năng nắm vững kiến thức cơ bản của HS cònyếu Sự yếu kém của HS là nghịch lí “học một biết mười” biến thành “học mườibiết một” Bên cạnh đó, HS thiếu hứng thú và say mê học tập, thiếu động cơ vàthái độ học tập đúng đắn, coi việc học tập là bắt buộc
- Khá đông HS không giải được BTĐT, đặc biệt BTĐT chương dòng điện xoaychiều Khi gặp loại BT này trong đề thi gần như các em bỏ qua không làm,khoanh bừa đối với đề thi trắc nghiệm
* Về chế độ thi cử, đánh giá
- Chế độ kiểm tra, thi cử, đánh giá kết quả học tập chưa kích thích được ý thức
tự học của HS Nạn chạy đua theo thành tích đã làm cho HS ngồi nhầm lớp, đậuoan,…khá phổ biến Những điều này tác động rất lớn đến việc tự học, năng lực
tư duy độc lập của HS
2.3 Giải pháp áp dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Các biện pháp để phát triển năng lực tư duy độc lập cho HS thông qua BTĐT
Trang 92.3.1.1 Củng cố kiến thức - trí thức nền tảng cơ bản vững chắc
Để phát huy năng lực tư duy độc lập đòi hỏi HS phải có vốn tri thức cơbản vững chắc, tức là phải đảm bảo tới ngưỡng nhất định nào đó về lượng thìmới có sự thay đổi về chất Khi chưa có vốn tri thức cơ bản vững chắc, cho dùmuốn suy nghĩ và tìm tòi thì kết quả khó đạt được Trong giờ dạy, ngoài việctrang bị cho HS những kiến thức trọng tậm, GV cần lưu ý những kiến thức mởrộng, những kỹ năng vận dụng kiến thức vào tình huống khác nhau GV có thể
dự đoán kiến thức mà HS thường không hiểu đầy đủ dẫn đến các suy luận sai
2.3.1.2 Rèn năng lực quan sát và các thao tác tư duy
Trước khi giải bài tập, đặc biệt bài tập đồ thị cần phải rèn luyện kĩ năngquan sát đồ thị để tìm hiểu giả thiết và yêu cầu của đề bài Để tư đó, tìm ra đâu
là chỗ có vấn đề của bài toán Sau đó sử dụng các thao tác tư duy: Phân tích,tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa kết hợp với cácphương pháp hình thành phán đoán mới như qui nạp, diễn dịch, suy diễn, ngoạisuy để nhận thức bài tập một cách đầy đủ Từ đó, định hướng những cái phải tìm
để đưa ra hướng giải, cách giải hay hơn, nhanh hơn
2.3.1.3 Rèn luyện kỹ năng biến đổi biểu thức và nhận dạng dạng đồ thị
Khi quan sát đồ thị, HS phải có được biết thiết lập được biểu thức liênquan đến biến và hàm trên đồ thị Hs phải nhận được dạng đồ thị đặc biệt nhữngđiểm nhấn (có vấn đề) trên đồ thị có công thức tương ứng và từ đó tìm đượcđịnh hướng giải bài toán Hs hoàn toàn độc lập tư duy, suy nghĩ giải quyết bàitoán
2.3.1.4 Bồi dưỡng một số phương pháp giải và giải bài toán bằng nhiều cách
Việc tìm ra các cách giải khác nhau cho một bài toán rèn luyện phát triển
tư duy độc lập cho HS ở mức độ cao hơn HS biết sử dụng bài toán một cáchlinh hoạt, có tính sáng tạo cao, không máy móc tạo hứng thú trong học tập Với chương dòng điện xoay chiều, bồi dưỡng cho Hs các phương pháp giải như:
+ Phương pháp véctơ: Véctơ buộc, véctơ trượt
+ Phương pháp đại số: Sử dụng các công thức đã biết
+ Phương pháp số phức, dung máy tính
2.3.1.5 Kích thích hứng thú học tập, tạo tinh thần, thái độ, động cơ học tập đúng đắn
Muốn huy động được nội lực của bản thân thì đòi hỏi HS phải tự giác,tích cực trong học tập Để có tự giác thì HS phải có động cơ, thái độ đúng đắn
và hứng thú trong học tập Mọi sự thúc ép từ bên ngoài cũng có thể tạo ra tư duyđộc lập, song hiệu quả không cao
2.3.1.6 Môi trường hoạt động tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo
Khi đã có động cơ thái độ học tập, có tri thức cơ bản vững chắc, nhưngkhông có môi trường hoạt động thì tư duy độc lập không có điều kiện phát triển
Do đó, muốn nâng cao hiệu quả tự học cần phải tạo môi trường hoạt động tư duytích cực, độc lập, sáng tạo Con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực, độc lập khi
Trang 10nảy sinh nhu cầu tư duy, tức là khi đứng trước khó khăn về nhận thức cần phảikhắc phục Trong quá trình giảng dạy GV phải chú ý tạo môi trường thích hợpcho HS GV phải: định hướng giải BT; cung cấp phương pháp giải; lựa chọn BTmang tính chọn lọc không tràn lan, từ BTCB đến BTPT, từ dễ đến khó, đảm bảotính vừa sức để từ đó rèn luyện kĩ năng và kĩ xảo, phát triển năng lực tư duy độclập và nâng cao hiệu quả tự học của HS:
2.3.2 BT đồ thị dòng điện xoay chiều và phát triển tư duy độc lập cho HS
Sau đây là hệ thống BT và các biện pháp áp dụng để phát triển tư duy độclập cho HS Bài tập được đưa ra từ dễ đến khó, từ BTCB là định luật ôm pháttriển thành các BT phức tạp (BTPT) để củng cố toàn bộ kiến thức của chương,rèn luyện các thao tác tư duy, tạo tính vừa sức, tạo tình huống có vấn đề để kíchthích hứng thú học tập GV hướng dẫn, tạo môi trường hoạt động tư duy độc lậpphát triển tốt hơn
Bài tập cơ bản (Định luật ôm)
BT 1: (BTCB) Hiệu điện thế u và cường độ dòng điện i của một đoạn mạch
gồm R, L, C mắc nối tiếp có đồ thị như hình vẽ Xác định tổng trở ?
trục tọa độ, đồ thị là thấy ngay được giả thiết, từ đó sử dụng KT cơ bản suy rakết quả Rèn luyện kỹ năng quan sát ở mức độ đơn giản
Sau đây là các BTPT được phát triển từ BTCB
BT 2: Hiệu điện thế u và cường độ dòng điện i
của một đoạn mạch gồm R, L, C mắc nối tiếp có
đồ thị như hình vẽ Độ lệch pha giữa u và i, điện
Từ đồ thị ta có: T = 9 - 3 = 6s và u đạt cực đại (+) sau i cực đại 2 s =
Trang 11- Rèn luyện kỹ năng quan sát mức độ cao hơn: HS phải quan sát cả hai trục tọa
độ để tìm được giả thiết BT:
+ Quan sát đọc được U0, I0 , chu kỳ dao động của u, i
+ Quan sát thấy được u cực đại sau i là 2s
- Rèn luyện các thao tác tư duy, củng cố KT dao động điều hòa điều hòa, địnhluật ôm, độ lệch pha xá định được R
BT 3: Cho mạch điện xoay chiều RLC mắc
nối tiếp gồm điện trở thuần R, cuộn cảm thuần
L và tụ điện C Đặt vào hai đầu mạch một
điện áp xoay chiều u = 120cos 100πt (V) Bant (V) Ban
đầu đồ thị cường độ dòng điện là đường nét
đứt trên hình vẽ Sau đó nối tắt tụ điện thì đồ thị cường độ đòng điện là đường nét liền trên hình vẽ Giá trị của R trong mạch là
HD: Từ đồ thị :
Z
R Z
Z I
- Củng cố KT định luật ôm, góc lệch pha nhưng phức tạp hơn một chút
BT 4 : Hình dưới đây mô tả đồ thị các điện áp tức thời trên một đoạn mạch RLC nối
tiếp, gồm điện áp ở hai đầu đoạn mạch
u, điện áp ở hai đầu điện trở thuần uR,
điện áp ở hai đầu cuộn cảm thuần uL và
điện áp ở hai đầu tụ điện uC Các đường
sin 1, 2, 3, 4 theo thứ tự lần lượt là đồ thị
Trang 12- Rèn luyện khả năng quan sát, đọc đồ thị để thấy được sự lệch pha của các u.
- Rèn luyện các thao tác tư duy, phân tích, so sánh rút ra kết luận
BT 5: Cho mạch điện như hình vẽ, cuộn dây thuần cảm Điện áp xoay chiều ổn
định giữa hai đầu A và B là
u = 100 6cos(t ) Khi K mở
hoặc đóng, thì đồ thị cường độ
dòng điện qua mạch theo thời gian
tương ứng là im và iđ được biểu
diễn như hình bên Điện trở các dây
nối rất nhỏ Giá trị của R bằng :
HD: I1=Im.; I2=Iđ ( K đóng)
Cách 1: Dùng giản đồ véc tơ kép:
Dựa vào đồ thị ta thấy 1 chu kì 12 ô và hai dòng điện
lệch pha nhau 3 ô hay T/4 về pha là πt (V) Ban/2 (Vuông pha)
U
; R 2
AB
U sin