MỤC LỤCMỤC LỤC SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT LÊ LAI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG DẠY PHẦN THỰC VẬT – SINH HỌC 11 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PH
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LÊ LAI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG DẠY PHẦN THỰC VẬT – SINH HỌC 11
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÊ LAI
Người thực hiện: Hòa Thị Loan Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Sinh học
Trang 2I MỞ ĐẦU 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1.1 Lịch sử nghiên cứu về sử dụng thí nghiệm trong dạy học 2
2.1.2 Thí nghiệm sinh học 3
2.1.3 Đặc điểm nội dung của chương trình Sinh học 11 Trung học phổ thông
4
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5
2.3.1 Những chủ đề trong Sinh học 11 cần sử dụng thí nghiệm 5
2.3.2 Một số thí nghiệm được sử dụng trong dạy học Sinh học 11 ở trường
THPT Lê Lai 5
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 15
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 16
3.1 Kết luận 16
3.2 Kiến nghị 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TÊN VIẾT TẮT TÊN ĐẦY ĐỦ
Trang 4I MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Theo quan điểm dạy học trước đây thì chương trình dạy học mang tính
“hàn lâm” còn được gọi là giáo dục “định hướng nội dung” Đặc điểm cơ bản
của giáo dục định hướng nội dung là chú trọng việc truyền thụ hệ thống tri thứckhoa học theo các môn học đã được quy định trong chương trình dạy học Người
ta chú trọng việc trang bị cho học sinh hệ thống tri thức khoa học khách quan vềnhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên chương trình giáo dục định hướng nội dungchưa chú trọng đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huốngthực tiễn Mặt khác, chương trình giáo dục nặng về thi cử, vì vậy mục đích,động cơ học tập chính của học sinh không phải là để phát triển năng lực, tư duy
mà là để vượt qua các kỳ thi Học sinh học tập với phương châm thi gì học nấy,nên chỉ chú trọng vào nội dung thường gặp trong các kỳ thi mà không chú ý rènluyện năng lực tư duy sáng tạo, năng lực thực hành và giải quyết vấn đề, chưagắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội cũng như nhu cầu củangười học
Khác với chương trình định hướng nội dung, giáo dục định hướng nănglực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu pháttriển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thứctrong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giảiquyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấnmạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức[7]
Như chúng ta đã biết, trong quá trình dạy - học, học sinh sẽ nhận thấyđược nội dung bài học dưới sự tổ chức, dẫn dắt của giáo viên Theo các chuyêngia của Hiệp hội nghe nhìn quốc tế thì khi nghe, con người chỉ tiếp nhận và lưugiữ được 10% – 30% nội dung thông tin Khi nhìn, thì đạt được 20% - 40%.Nhưng hiệu quả sẽ đạt tới 60 % - 80% nếu kết hợp cả hai chức năng trên
Sinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm, vì vậy việc sử dụng thí nghiệmtrong dạy học các bài sinh học là một biện pháp quan trọng nâng cao chất lượngdạy và học “Thí nghiệm góp phần làm cho học sinh huy động được cách họctích cực, gây hứng thú học tập cho HS, kiến thức thu được chắc chắn và sâu sắc.Thí nghiệm giúp làm sáng tỏ lý thuyết, khơi dạy tính tò mò khoa học cho HS,rèn luyện kỹ năng thực hành, nghiên cứu khoa học, thói quen giải quyết vấn đềbằng khoa học” [1] Với đổi mới mục tiêu dạy học là chuyển từ dạy chú trọngđến truyền đạt nội dung sang đào tạo năng lực, thì sử dụng thí nghiệm có cơ hộitốt trong việc rèn luyện kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, người học được rèn luyện
từ khâu lập kế hoạch thực hiện, thu thập số liệu, xử lý và viết báo cáo tổng kết;
do vậy người học được đặt vào vị trí người nghiên cứu
Qua thăm dò thực trạng của việc sử dụng thí nghiệm ở các trường THPT
Lê Lai nói chung và trong việc dạy bộ môn Sinh học nói riêng cho thấy cònnhiều hạn chế Phần lớn giáo viên còn ít sử dụng thí nghiệm để tổ chức học sinh
Trang 5học tập Đa số giáo viên tự tiến hành các thí nghiệm có minh họa trong SGK màkhông hướng dẫn HS độc lập suy nghĩ thiết kế và tiến hành các thí nghiệm để từ
đó rèn năng lực nghiên cứu khoa học Từ đó dẫn đến kết quả học tập của học
sinh chưa cao Vì vậy tôi lựa chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng thí
nghiệm trong dạy học phần thực vật - Sinh học 11 ở trường trung học phổ thông Lê Lai’’
1.2 Mục đích nghiên cứu
Xác định được biện pháp sử dụng thí nghiệm trong dạy học phần thực vậtcủa sinh học 11 ở trường THPT Lê Lai
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp sử dụng thí dụng thí nghiệm trong dạy học phần thực vật củasinh học 11 ở trường THPT Lê Lai
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu liên quanđến đề tài để làm cơ sở lý luận cho đề tài
- Phương pháp điều tra: Xác định thực trạng sử dụng thí nghiệm trong dạyhọc Sinh học ở trường THPT Lê Lai hiện nay
- Thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết
đã đưa ra
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Lịch sử nghiên cứu về sử dụng thí nghiệm trong dạy học
Phương pháp thực nghiệm ra đời từ thế kỉ XVII, ông tổ của phương phápnày là Galile – một nhà vật lí học người Italia Ông cho rằng “Muốn hiểu biếtthiên nhiên phải trực tiếp quan sát thiên nhiên, phải làm thí nghiệm, phải hỏithiên nhiên chứ không phải hỏi Aristotle hoặc kinh thánh…” Về sau, các nhàkhoa học khác đã kế thừa và phát triển phương pháp này hoàn chỉnh hơn Ngàynay phương pháp thực nghiệm đã được thâm nhập vào nhiều ngành khoa học tựnhiên cũng như các ngành khoa học xã hội
Ở nhiều nước tiên tiến như: Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Hà Lan… đã sử dụng thínghiệm vào dạy học từ đầu thế kỉ XX và rất phát triển từ nửa sau của thế kỉ này
Ở Pháp, vào những năm 1980 – 1990, đã có nhiều trường sử dụng phương phápthực hành thí nghiệm trong dạy học và được xem là phương pháp trọng tâm củacác môn khoa học tự nhiên ở các trường trung học Năm 1980, ông Pie GiôliôQuiri – Viện trưởng viện Hàn lâm Pháp đã khởi xướng phương pháp Lamap –
“bàn tay nặn bột” với mong muốn mang đến một cơ hội để người học tiếp cận
Trang 6khoa học bằng các bài học thực tiễn chứ không phải là các bài giảng thuần túy líthuyết Theo phương pháp này, lớp học được chia thành nhiều nhóm (4 học sinh/nhóm) Mỗi nhóm được giao các tài liệu và các yêu cầu khác nhau liên quan đếnbài học, căn cứ vào yêu cầu, các nhóm sẽ lựa 7 chọn các vận dụng cần thiết choviệc thực hành thí nghiệm Các vật dụng thường đơn giản, dễ tìm, các nhóm sẽthảo luận cách thức thực hiện các bài thí nghiệm và trình bày các hiểu biết màmình khám phá được Trong suốt quá trình làm việc nhóm, giáo viên chỉ đóngvai trò là người quan sát hướng dẫn [4].
Ở Việt Nam, đã có rất nhiều nhà lí luận dạy học nghiên cứu về sử dụng thínghiệm, nhằm cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt độngnhận thức như: Trần Sinh Thành, Đặng Quang Khoa (2003) với đề tài “Hìnhthành kĩ năng phán đoán cho sinh viên sư phạm kĩ thuật, thông qua dạy học thựchành”[3] Cao Cự Giác (2004) – Trường Đại học Sư phạm Vinh có bài viết
“Phát triển khả năng tư duy và thực hành thí nghiệm qua các bài tập hóa họcthực nghiệm” (Tạp chí giáo dục số 88 - 2004) Theo tác giả, việc sử dụng bài tậpthực nghiệm không chỉ cung cấp kiến thức, củng cố kiến thức mà còn rèn luyệnđược các kĩ năng tư duy thực nghiệm và thao tác thực hành[3] Nguyễn ThịDung – Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội có bài “Tích cực hóa hoạt động họctập trong giờ thực hành củng cố môn sinh học ở phổ thông” (Tạp chí Giáo dục
số 6 - 2006) Tác giả cho rằng với quan niệm dạy học mới hiện nay, việc tíchcực hóa hoạt động học tập trong giờ thực hành củng cố cần được coi trọng, bằngcách tạo điều kiện cho học sinh tự lực tìm con đường chứng minh cho các vấn
đề được học[2] Như vậy, việc tìm hiểu về năng lực và sử dụng thí nghiệm trongdạy học đã được nghiên cứu và chú ý từ rất sớm cả trong nước và trên thế giới Tuy nhiên, việc sử dụng thí nghiệm để nâng cao hiệu quả dạy học còn rất hạnchế Vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu biện pháp sử dụng các thí nghiệm trong dạyhọc Sinh học cho học sinh trung học phổ thông là rất cần thiết Giúp HS bướcđầu làm quen với phương pháp học tập theo hướng nghiên cứu thông qua cácTN
2.1.2 Thí nghiệm sinh học
Thí nghiệm là phương pháp nghiên cứu đối tượng và hiện tượng trongđiều kiện nhân tạo Trong phức hợp các điều kiện tự nhiên tác động lên sinh vật,người nghiên cứu chỉ chọn một vài yếu tố riêng biệt để nghiên cứu lần lượt cácảnh hưởng của chúng TN là phương pháp cơ bản trong nghiên cứu khoa họcSinh học, vì vậy nó cũng được sử dụng trong dạy học Sinh học[5]
Trong dạy học Sinh học thí nghiệm có vai trò đặc biệt quan trọng : Thínghiệm Sinh học được HS thực hiện chu đáo sẽ rèn luyện được những đức tínhtốt như chính xác, cẩn thận, biết làm việc có phương pháp, có khoa học, pháttriển tư duy kỹ thuật và tư duy logic Thực nghiệm thí nghiệm tiến Sinh học sẽđưa việc học tập của HS tiến gần đến cách nghiên cứu của nhà khoa học [6]
Trang 7Qua TN, người học có thể tự mình lĩnh hội tri thức mới qua các hiệntượng được biểu hiện Thí nghiệm là phương tiện tổ chức hoạt động tích cực của
HS trong dạy học Sinh học Thí nghiệm không chỉ đơn thuần là minh họa chokiến thức bài giảng mà thí nghiệm còn là phương tiện rất hữu ích trong việc hìnhthành kiến thức cho HS Nếu TN được tổ chức dưới hình thức tìm tòi, nghiêncứu thì HS không chỉ quan sát mà còn tự mình rút ra kinh nghiệm, nhận xét, và
tự mình giải thích TN Thông qua đó phát triển cho HS tính độc lập, tự giác, tíchcực, sáng tạo trong hành động và nhận thức Sử dụng TN trong dạy học làm chobài học thêm sinh động, khơi dậy ở HS hứng thú học tập môn học và niềm tin ởkiến thức vừa lĩnh hội
Từ những quan điểm trên tôi thấy: Thí nghiệm vừa là phương tiện tổ chứchoạt động nhận thức cho học sinh, vừa là phương tiện để học sinh rèn luyệnnăng lực nghiên cứu theo phương pháp tư duy của các nhà khoa học Thínghiệm là phương tiện kích thích hứng thú học tập tích cực, tự lực và sáng tạocủa học sinh, là phương tiện tổ chức các hình thức làm việc tập thể khác nhau,bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức của học sinh
2.1.3 Đặc điểm nội dung của chương trình Sinh học 11 Trung học phổ thông
Chương trình Sinh học 11 THPT nói về các nguyên lý, các quá trình củahoạt động sống diễn ra ở cấp độ cơ thể Trong Sinh học 11, mỗi chức năng sống
ở cấp độ cơ thể đều được trình bày lần lượt ở cơ thể thực vật (phần A) và cơ thểđộng vật (phần B), điều này giúp học sinh nhận thức được rằng các quá trìnhsinh học cơ bản đều được thực hiện ở thực vật và động vật mà HS đã được tìmhiểu ở các lớp 6,7,8,9 Vì thế, khi dạy Sinh học 11, GV cần giúp HS không chỉtiếp cận với sinh học thực vật, động vật mà còn từ các quá trình sống của đạiđiện Thực vật, Động vật mà rút ra được các nguyên lí chung cả các quá trìnhsống, đặc trưng cho cấp độ tổ chức cơ thể
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Hiện nay việc làm thí nghiệm thực hành trong quá trình giảng dạy bộmôn Sinh học ở các trường phổ thông nói chung và ở trường THPT Lê Lai nóiriêng còn hạn chế Nhiều giáo viên chỉ sử dụng thí nghiệm trong các tiết thaogiảng, các tiết dạy thi giáo viên giỏi, khi có thanh tra chuyên môn về trường.Một số giáo viên lại chỉ sử dụng máy chiếu để chiếu lại phương pháp tiến hànhthí nghiệm đã được người khác tiến hành mà không chú trọng đến việc tự bố tríthí nghiệm và hướng dẫn cho học sinh làm thí nghiệm nên hiệu quả của quátrình dậy học chưa cao
Nguyên nhân của thực trạng trên:
Thứ nhất, do ảnh hưởng của phương pháp dạy truyền thống, đã thành lối
mòn, không thể trong thời gian ngắn mà có thể thay đổi cách làm của GV GV ítchú ý đến việc làm thí nghiệm vì công việc này đòi hỏi nhiều thời gian, công sức
và kinh phí
Trang 8Thứ hai, do việc thi cử và kiểm tra vẫn còn nặng về tái hiện kiến thức nên
cách dạy phổ biến hiện nay vẫn chỉ chú ý đến việc cung cấp kiến thức cho họcsinh
Thứ ba, một bộ phận GV chưa tâm huyết với nghề, ý thức tích cực cải tiến
PPDH , không kích thích được tính tích cực và hứng thú của HS nên chất lượngdạy học không được cải thiện
Thứ tư, đa số HS vẫn coi môn Sinh học là môn phụ do vậy HS thiếu sự
đầu tư thời gian và công sức vào học Hầu hết HS chưa đổi mới cách học chỉquen với cách học thuộc lòng nội dung cơ bản ghi chép được ở trên lớp và chưachú ý đến việc phân tích, chứng minh và tìm hiểu bản chất của nội dung đó HSchưa xác định được đúng động cơ, thái độ học tập, chưa ham thích học tập bộmôn nên thụ động trong việc tiếp thu kiến thức mới
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Những chủ đề trong Sinh học 11 cần sử dụng thí nghiệm
* Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật:
- TN chứng minh rễ là cơ quan hút nước và khoáng
- TN chứng minh lá là cơ quan thoát hơi nước chủ yếu của cây trồng
- TN về quá trình vận chuyển nước và khoáng trong cây
- TN về vai trò của cac nguyên tố khoáng
- TN về vai trò của phân bón
- TN chứng minh quang hợp cần lấy CO2 và thải O2
- TN về các nhân tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến quang hợp
* Sinh trưởng, phát triển ở thực vật
TN về ảnh hưởng của các hooc môn thực vật đến quá trình sinh trưởngphát triển ở TV
* Sinh sản ở thực vật: TN về các hình thức sinh sản sinh dưỡng ở thực vật
Trang 92.3.2 Một số thí nghiệm được sử dụng trong dạy học Sinh học 11 ở trường THPT Lê Lai.
Qua nghiên cứu chương trình Sinh học 11 và những kinh nghiệm từ thựctiễn giảng dạy của bản thân, tôi đề xuất một số TN có thể sử dụng trong quátrình dạy học Sinh học 11 – THPT mà HS có thể thiết kế và tiến hành đượctrong một số bài như sau:
Bài 2: Vận chuyển các chất trong cây
Thí nghiệm 1 Dòng mạch gỗ trong cây
- Mục tiêu TN: Phát hiện trong cây có dòng vận chuyển các chất từ dưới
- Kết quả: Cây bị khoét phần gỗ có hiện tượng lá bị héo dần, ngọn cây rủ
xuống, không duy trì độ cứng, có chút nước rỉ ra từ chỗ khoét
- Giải thích: Phần gỗ bên trong chính là bộ phận vận chuyển nước lên trên
lá Khi khoét mất phần gỗ cây không vận chuyển được nước lên phần lá và ngọnlàm lá và ngọn cây bị héo rũ, dòng nước vận chuyển lên trên bị ứ đọng lại ở vếtkhoét làm rỉ nước ra ở vị trí này
Kết luận: Dòng mạch gỗ vận chuyển nước từ dưới lên trên
Thí nghiệm 2 Dòng mạch rây trong cây
Trang 10- Mục tiêu TN: Phát hiện trong cây có 2 dòng vận chuyển vật chất là dòng
- Kết quả: Cành hồng sinh trưởng bình thường, lá và ngọn không bị héo.
Một tuần sau có hiện tượng phía trên vết cắt (về phía ngọn) phình ra, phía dướikhông có hiện tượng gì
- Giải thích: Lá cây bình thường, không bị héo chứng tỏ nước vẫn vận
chuyển lên lá bình thường Một tuần sau phía trên vết cắt phình ra do có dòngvận chuyển vật chất trong phần vỏ từ trên xuống dưới bị ứ đọng lại
- Kết luận: Có dòng vật chất vận chuyển từ trên lá cây xuống thân và rễ
(vận chuyển trong phần vỏ cây)
Bài 3 Thoát hơi nước
Thí nghiệm 1 Lá là cơ quan thoát hơi nước
- Mục tiêu: TN chứng tỏ nước trong cây thoát ra ngoài chủ yếu qua lá
- Cách tiến hành: Cho hai chậu cây, chậu 1 có đầy đủ rễ thân lá; chậu 2 có
ngắt bỏ lá Dùng túi nilon trùm kín đến tận gốc cây, để vào chỗ sáng trong 1giờ.Quan sát và giải thích hiện tượng
Phình trên vếtcắt
Trang 11- Kết quả: túi nilon bịt cây có lá có dấu hiệu mờ do có hơi nước Túi nilon
buộc cây không có lá không có hiện tượng gì
- Kết luận: Lá cây đã thoát hơi nước làm mờ túi nilon.
Thí nghiệm 2 Thoát hơi nước chủ yếu ở mặt dưới lá
- Mục tiêu: TN chứng minh được nước thoát ra ngoài chủ yếu từ mặt dưới
của lá
- Cách tiến hành:
+ Dùng hai miếng giấy thấm tẩm côban clorua 5% (có màu xanh da trời)rồi sấy khô Đặt hai miếng giấy thấm đối xứng nhau qua hai mặt của lá cây nhót(bưởi, rau lang ), tiếp theo dùng băng dính ép hai lam kính vào hai miếng giấythấm ở cả hai mặt của lá cho thật kín
+ Bấm giây đồng hồ để so sánh màu sắc của tòa giấy thấm ở mặt trên vàmặt dưới của lá trong cùng một thời gian, lặp thí nghiệm lại 7 – 10 lần
- Kết quả: tờ giấy tẩm côban clorua 5% ở mặt dưới lá chuyển sang màu
hồng trong thời gian ngắn hơn và màu đậm hơn tờ giấy ở mặt trên
Chậu trồng cây ngắt hết lá và trùm túi nilon lên sau 2 tiếng
Trang 12- Kết luận: Mặt dưới lá thoát hơi nước nhanh hơn mặt trên do có nhiều khí
khổng hơn
Thí nghiệm 3: Thí nghiệm chứng minh cơ chế đóng mở của khí khổng
- Mục tiêu TN: Chứng minh khí khổng có thể đóng mở dựa vào hàm
lượng nước trong tế bào
- Tiến hành thí nghiệm:
Chuẩn bị 1 đoạn thân rau muống 5cm Tách dọc thân rau muống thành 4mảnh, lấy 2 mảnh nhỏ, úp phần vỏ lại với nhau và buộc 2 đầu lại như hình rồithả vào cốc nước Quan sát sự biến đổi của thân rau muống và giải thích tại sao
Cơ chế hoạt động này giống với hoạt động của bộ phận nào trong lá cây? Vìsao?
- Kết quả: thân rau muống cong ra ngoài tạo thành một khoảng trống ở
giữa
- Giải thích: Do các tế bào phía ngoài của thân rau muống có vỏ dày hơn
các tế bào ở phía trong, khi tế bào no nước thì các tế bào phía trong căng nhiềuhơn, kéo các các tế bào phía ngoài cong theo Cơ chế hoạt động này giống vớihoạt động của khí khổng trong lá cây
- Kết luận: Khí khổng có thể chủ động đóng mở căn cứ vào hàm lượng
nước trong tế bào
Bài 8 Quang hợp ở thực vật.
Thí nghiệm 1 Quang hợp tạo tinh bột
- Mục tiêu: TN chứng minh quang hợp tạo tinh bột
Trang 13cách thuỷ đến khi là hoàn toàn hết màu Dùng nước rửa lá rồi chuyển vào dungdịch iôt loãng Quan sát kết quả của thí nghiệm sau ít phút.
Thí nghiệm quang hợp tạo tinh bột:
- Kết quả TN: lá cây trong túi chứa KOH không thay đổi màu sắc.
Lá cây trong túi chứa nước có màu xanh
- Giải thích: Lá cây trong túi chứa nước có màu xanh chứng tỏ có
tinh bột do lá cây thực hiện quá trình quang hợp Lá cây trong túi chứaKOH không thay đổi màu chứng tỏ không có tinh bột Nguyên nhân doKOH đã hấp thụ hết CO2 trong túi nilon nên lá cây không quang hợp tạotinh bột được
- Kết luận: CO2 là nguyên liệu của quang hợp và quang hợp tạo ratinh bột
Thí nghiệm 2 Quang hợp ở thực vật nhả ôxi
- Mục tiêu: tiến hành được thí nghiệm chứng tỏ ôxi có hay không
được thải ra trong quang hợp
- Cách tiến hành:
+ Nhốt một con ếch 1 trong một bình nhựa có nắp đậy kín
Túi nilon chứa dung dịch KOH
Túi nilon chứa dung dịch KOH
Túi nilon chứa
nước
Túi nilon chứa
nước
Trang 14+ Nhốt con ếch 2 trong bình nhựa có nắp đậy kín nhưng cho vàotrong bình 1 cốc nước cắm cành cây xanh.
+ Đặt bình nhựa ra chỗ có ánh sáng, quan sát hoạt động của 2 conếch và giải thích hiện tượng (con nào chết trước)
- Kết quả: Con ếch 1 chết trước.
- Giải thích: Khi cho ếch 1 vào bình kín, nó sẽ chết trong thời gian
ngắn vì không có đủ ôxi để hô hấp Con ếch 2 vẫn sống là do lá cây đãthực hiện quang hợp, giải phóng ra ôxi để ếch hô hấp
- Kết luận: Thực vật quang hợp đã giải phóng ôxi.
Bài 10 Ảnh hưởng của các nhân tố ngoại cảnh đến quang hợp
Thí nghiệm: Ảnh hưởng của quang phổ ánh sáng tới quang hợp
- Mục tiêu: TN chứng minh ảnh hưởng của quang phổ ánh sáng tới
quang hợp
- Cách tiến hành TN: Lấy hai chậu cây của một loài, mỗi chậu chọn
1 lá giống nhau về độ tuổi, kích thước rồi để trong tối 3 ngày, sau đóchiếu sáng 2 giờ: Lá thứ nhất chiếu ánh sáng đỏ, lá thứ hai chiếu ánh sángvàng (cùng một cường độ chiếu sáng) Phân tích hàm lượng tinh bột đượctạo ra trong 2 lá (thử iot) Dự đoán lá nào có hàm lượng tinh bột nhiềuhơn? Tại sao?
- Kết quả: Lá cây trong chậu chiếu sáng màu đỏ có nhiều tinh bột
hơn vì bước sóng ánh sáng màu đỏ giúp lá tăng cường tổng hợp tinh bột
- Kết luận: quang phổ của ánh sáng có ảnh hưởng đến quang hợp Bài 12 Hô hấp ở thực vật
Thí nghiệm 1 Hô hấp là một quá trình toả nhiệt
- Mục tiêu: TN chứng minh hô hấp có tỏa nhiệt
Trang 15- Cách tiến hành: Cho hạt vào bình thuỷ tinh, đổ nước ngập hạt,
ngâm hạt trong nước khoảng 2 - 3giờ Sau đó gạn hết nước khỏi bình Nútkín bình và cắm một nhiệt kế trực tiếp vào khối hạt Đặt bình thuỷ tinh cóchứa hạt ẩm cùng với nhiệt kế vào hộp xốp cách nhiệt Bước chuẩn bị nàycần phải làm trước 1-2 ngày Theo dõi nhiệt độ lúc bắt đầu cắm nhiệt kế
và sau 30, 60, 90 phút
- Kết quả: Nhiệt độ của khối hạt tăng dần.
- Giải thích: Hạt đang nảy mầm thực hiện quá trình hô hấp rất
mạnh để giải phóng năng lượng và các chất hữu cơ đơn giản cung cấp choquá trình hình thành cây con
- Kết luận: Hô hấp là một quá trình tỏa nhiệt.
Thí nghiệm 2: Hô hấp hấp thu O 2 và thải CO 2
- Mục tiêu: TN chứng minh hô hấp hấp thuO2, thải CO2
- Cách tiến hành:
Chia hạt nảy mầm thành 2 phần, cho vào 2 bình nhựa có miệngrộng như nhau Đổ nước nóng vào bình 2 để giết chết hạt nảy mầm rồiđậy kín nắp của cả 2 bình Sau 90 phút tiến hành mở nhanh nút đậy của cảhai bình rồi cho ngọn nến đang cháy vào
Quan sát thí nghiệm và ghi lại kết quả thí nghiệm
- Kết quả: Ở bình 1 ngọn nến tắt, bình 2 ngọn nến vẫn cháy bình
thường
- Giải thích: Ngọn nến ở bình 1 tắt do không có ôxi duy trì sự cháy.
Hạt nảy mầm đã lấy ôxi để thực hiện quá trình hô hấp Ngọn nến ở bình 2vẫn cháy vì hạt mầm ở bình 2 không thực hiện quá trình hô hấp do đã bịlàm chết bằng nước sôi
Thí nghiệm 3 Hô hấp thải CO2
- Mục tiêu: TN chứng minh hô hấp thải CO2
- Cách tiến hành:
Trang 16+ Cho 100g hạt đậu nảy mầm vào một bình nhựa có nắp khoét lỗ để bỏphễu và 1 đoạn ống truyền dịch, lấy keo nến gắn kín (Chuẩn bị trước giờ họckhoảng 2 tiếng).
+ Cho đầu ngoài của dây dẫn vào cốc nước vôi trong
+ Đổ nước từ từ vào bình qua phễu
Quan sát hiện tượng và giải thích
- Kết quả: Cốc nước vôi trong bị vẩn đục.
- Giải thích: Nước vôi trong có chứa Ca(OH)2 Nước vôi trong bị vẩn đục
do có CO2 từ bình hạt đậu đang nảy mầm làm kết tủa CaOH theo phương trình:
Ca(OH)2 + CO2 = CaCO3 (kết tủa trắng) + H2O
Bài 23.Hướng động ở thực vật
Thí nghiệm 1 Hướng sáng của TV
- Mục tiêu: TN chứng minh ảnh hưởng của ánh sáng tới sự vận động của
cây
- Cách tiến hành: tiến hành trồng cây trong điều kiện ánh sáng khác nhau:
+ Chậu A: Đặt trong tối có tia sáng chiếu từ 1 phía
Chuẩn bị thí nghiệm
Trang 17+ Chậu B: Đặt trong tối hoàn toàn
+ Chậu C: Đặt bên ngoài môi trường (có ánh sáng chiếu từ nhiều phía).Sau 2 tuần, ghi chép lại kết quả thí nghiệm
- Kết quả:
+ Chậu A: ngọn cây hướng về phía có ánh sáng
+ Chậu B: Cây mọc vống lên
+ Chậu C: Cây sinh trưởng và phát triển bình thường
- Giải thích:
+ Cây trong chậu A hướng về phía ánh sáng do lượng auxin phân bốkhông đều, tập trung nhiều ở phía ít ánh sáng và kích thích tế bào phân chianhanh hơn phía có nhiều ánh sáng Kết quả là ngọn cây hướng về phía có ánhsáng
+ Chậu B ở trong tối hoàn toàn, ít bị mất nước hàm lượng auxin/AABcao, các tế bào phân chia và kéo dài nhanh làm cây mọc vống lên
+ Chậu C đặt trong môi trường có ánh sáng chiếu từ mọi phía, hàm lượngauxin/AAB cân đối nên cây cây phát triển bình thường
- Kết luận: Thực vật có tính hướng sáng.
Thí nghiệm 2 Hướng trọng lực của TV
- Mục tiêu: TN chứng minh ảnh hưởng của trọng lực tới sự vận động của
cây
- Cách tiến hành: Đặt hạt đã nảy mầm nằm ngang Quan sát chiều sinh
trưởng của rễ cây
- Kết quả: rễ cây hướng xuống dưới, ngược với chiều trọng lực.
- Giải thích: Do auxin tập trung nhiều ở phía trên của rễ cây nên các tế
bào ở phía trên phân chia và kéo dài nhanh hơn các tế bào ở phía dưới làm rễcây hướng xuống dưới
- Kết luận: rễ cây có tính hướng trọng lực dương.
Thí nghiệm 3 Hướng nước của TV
- Mục tiêu: TN chứng minh ảnh hưởng của nước tới sự vận động của cây
- Cách tiến hành: Trồng câu trong một chậu nhựa trong (có thể quan sát
được rễ cây), lấy túi nilon đen bịt kín phần dưới chậu để rễ phát triển bìnhthường Cung cấp nước ở một phía của chậu, phía đối diện để khô Quan sát sựphát triển của rễ
- Kết quả: rễ cây hướng về phía được tưới nước đầy đủ.
- Kết luận: Rễ cây có tính hướng nước dương.
Thí nghiệm 4: Hướng hóa của TV