Thứ ba, nó đượcxem như "một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận, tứclà như một kiểu bài nghị luận cạnh các kiểu bài nghị luận về một đoạn trích, tácphẩm thơ ; ngh
Trang 1SỞ GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA 4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN
SO SÁNH VĂN HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG”
Người thực hiện: Lương Thị Bình Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2018
Trang 2Mục lục
Nội dung Trang
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN 3
2.3 Giải pháp thực hiện 3
2.3.1 Những kiến thức cơ bản về kiểu bài so sánh 3
2.3.2 Dàn ý chung kiểu bài nghị luận so sánh 4
2.3.3 Kiểm định dàn bài bằng đề thi 6
2.3.4 Một số dạng đề nghị luận so sánh thường gặp 8
2.4 Kết quả đạt được 17
3 Kết luận và kiến nghị 19
Trang 3
đề xuất một giải pháp giúp học sinh THPT làm tốt dạng bài này trong quá trình
Trang 41.4 Phương pháp nghiên cứu: Làm đề tài này, tôi đã vận dụng những
phương pháp sau đây:
-Phương pháp thống kê , nêu ví dụ
-Phương pháp thực nghiệm
-Phương pháp so sánh
-Phương pháp phân loại, phân tích
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Môn ngữ văn (bao gồm ba phần: Văn học, Tiếng Việt, Làm văn) là mộtmôn học nền tảng về kiến thức và công cụ giao tiếp, có vị trí quan trọng trongcác môn học, góp phần tạo nên trình độ văn hóa cơ bản cho học sinh Cùng vớiviệc rèn kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng sử dụng tiếng Việt, phần Làm văn được chútrọng vì đây là phần thể hiện rõ nhất kĩ năng thực hành, sáng tạo của học sinh Làm văn gồm hai dạng: nghị luận văn học và nghị luận xã hội Trong xuthế ra đề tuyển sinh đại học những năm gần đây, dạng bài nghị luận so sánh vănhọc chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều so với trước đây Đặc biệt đề thi THPTQG từ nămnay, câu nghị luận văn học có tỉ lệ phần trăm ở các khối lớp ThS Trần VănNịch, Phó Vụ trưởng vụ GV-CBQLDN cho biết: Để hình thành cho học sinhmột kỹ năng thì cần phải dạy cho họ biết cách kết hợp và huy động hợp lý cácnguồn nội lực (kiến thức, khả năng thực hiện và thái độ) và ngoại lực (tất cảnhững gì có thể huy động được nằm ngoài cá nhân)
Với dạng đề nghị luận so sánh học sinh sẽ học một cách chủ động, tổnghợp các đơn vị kiến thức đã học Không chỉ vậy còn nâng cao khả năng phânloại kiến thức ở học sinh Trong cấu trúc đề thi, câu nghị luận so sánh văn họcchiếm nửa trong tổng số điểm của toàn bài (5 điểm) vậy nên học sinh cần tích
Trang 5
Như vậy, để làm tốt bài văn nghị luận văn học học sinh cần phải đượctrang bị kiến thức phong phú và kĩ năng thuần thục Đây là cơ sở để giáo viên ápdụng trong giảng dạy nghị luận văn học
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm:
2.2.1 Đối với giáo viên
Khảo sát cho thấy, việc dạy kiểu bài văn nghị luận văn học thường rậpkhuôn, áp đặt Thậm chí nhiều đồng nghiệp còn cung cấp cho học sinh nhữngbài văn mẫu để học sinh thuộc lòng, hy vọng sẽ “trúng tủ”…khiến phần lớn họcsinh kiến thức nghèo nàn,và có thói quen trông chờ, ỉ lại, nảy sinh nạn quay cóptrong thi cử
2.2.2.Đối với học sinh.
Các em học và làm bài nghi luận văn học (NLVH) một cách máy móc, cònquá lệ thuộc vào cách học khuôn mẫu, thiếu tư duy sáng tạo Kiến thức văn họcnon kém, không có khả năng cảm nhận văn học một cách sáng tạo Vì thế sốđiểm học sinh đạt được còn khiêm tốn
2.2.3.Thực trạng ra đề thi :
Nghị luận so sánh là một kiểu bài làm văn đóng vai trò không nhỏ trong
cơ cấu bài văn thi đại học những năn gần đây Trong kết cấu của đề thi THPTQGthì câu nghị luận so sánh chiếm 5 điểm Góp phần để học sinh đạt được kết quảcao nhất, tôi xin đưa ra một số gợi ý để giúp cho các em ôn tập và làm bài tốttrong các kì thi
2.3 Giải pháp thực hiện:
2.3.1 Những kiến thức cơ bản về kiểu bài so sánh :
Khái niệm so sánh văn học cần được hiểu theo ba lớp nghĩa khác nhau.Thứ nhất, so sánh văn học là "một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh cho câu văn"
Trang 6Thứ hai, nó được xem như một thao tác lập luận như : phân tích, bác bỏ, bìnhluận đã được đưa vào chương trình giáo khoa ngữ văn lớp 11 Thứ ba, nó đượcxem như "một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận, tức
là như một kiểu bài nghị luận cạnh các kiểu bài nghị luận về một đoạn trích, tácphẩm thơ ; nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi Tuy nhiên, sosánh văn học như một kiểu bài nghị luận văn học chưa được cụ thể bằng một bàihọc độc lập Vì vậy, việc xác lập nội hàm khái niệm như kiểu bài, mục đích, yêucầu, đến cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết
Kiểu bài so sánh văn học yêu cầu thực hiện cách thức so sánh trên nhiềubình diện : đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiết nghệthuật, nghệ thuật trần thuật, phong cách nghệ thuật Quá trình so sánh có thểchỉ diễn ra ở những tác phẩm của các tác giả cùng hoặc không cùng một thờiđại, giữa các tác phẩm của những trào lưu, trường phái khác nhau của một nềnvăn học Mục đích cuối cùng của kiểu bài này là yêu cầu học sinh chỉ ra đượcchỗ giống và khác nhau giữa hai tác phẩm, hai tác giả, từ đó thấy được nhữngmặt kế thừa, những điểm cách tân của từng tác giả, từng tác phẩm ; thấy được vẻđẹp riêng của từng tác phẩm ; sự đa dạng muôn màu của phong cách nhà văn.Không dừng lại ở đó, kiểu bài này còn góp phần hình thành kĩ năng lí giảinguyên nhân của sự khác nhau giữa các hiện tượng văn học - một năng lực rấtcần thiết góp phần tránh khuynh hướng "bình tán", khuôn sáo trong các bài văncủa học sinh hiện nay Lẽ hiển nhiên, đối với đối tượng học sinh trung học phổthông, các yêu cầu về năng lực lí giải cần phải hợp lí, vừa sức Nghĩa là các tiêuchí so sánh cần có mức độ khó vừa phải, khả năng lí giải sự giống nhau, khácnhau cũng cần phải tính toán hợp lí bằng những đơn vị kiến thức cụ thể phù hợpvới năng lực và nhận thức của các em Chuẩn kiến thức kĩ năng trong từng bài,từng cấp học sẽ là căn cứ kiểm định vấn đề này
2.3.2 Dàn ý chung kiểu bài nghị luận so sánh:
Trang 7Trong thời gian qua, kiểu bài này tôi đã lồng ghép trong các tiết ôn tập vàchữa bài kiểm tra, áp dụng cho học sinh ở trường THPT Hoằng Hóa 4 Về cơbản, học sinh đã vận dụng một cách hiệu quả trong việc giải quyết các đề bàiyêu cầu so sánh trong bài làm văn nghị luận văn học, đồng thời tiến hành rènluyện cho đối tượng là học sinh tham gia đội tuyển học sinh giỏi, học sinh thiTHPTQG Việc ứng dụng phương pháp này cũng được đưa ra thảo luận ở tổchuyên môn để cùng thống nhất trong việc giảng dạy Sau đây là một số địnhhướng cơ bản cho kiểu bài nghị luận so sánh văn học.
Cũng giống như tất cả các kiểu bài khác, kiểu bài so sánh cũng bắt buộc học sinh phải kết cấu bài viết gồm 3 phầ: Mở bài, Thân bài và Kết bài
MỞ BÀI
- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
- Nêu yêu cầu của đề (Giới thiệu khái quát về đối tượng so sánh)
THÂN BÀI
- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm
- Làm rõ đối tượng thứ nhất cần so sánh (bước này học sinh cần vận dụng kếthợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
- Làm rõ đối tượng thứ hai cần so sánh ( bước này học sinh cần vận dụng kếthợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận so sánh)
- So sánh : Nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diệnnội dung và hình thức nghệ thuật (bước này học sinh cần vận dụng nhiều thaotác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận so sánh)
- Lí giải sự khác biệt : Thực hiện thao tác này cần dựa vào ba tiêu chí cơ bảnsau:
+ Bối cảnh xã hội, lịch sử, văn hóa - môi trường tồn tại của đối tượng nghịluận
Trang 8+ Tư tưởng, phong cách của nhà văn.
+ Đặc trưng thi pháp của thời kì văn học
Bước này cần vận dụng nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao táclập luận phân tích
KẾT BÀI
- Khái quát lại yêu cầu của đề
- Phát triển, mở rộng, nâng cao vấn đề (Có thể nêu những cảm nghĩ của bảnthân)
2.3.3 Kiểm định dàn bài trên bằng cách so sánh với đáp án câu III.a - Đề thi tuyển sinh Đại học - Cao đẳng năm 2009, khối C như sau :
Câu III:a) Theo chương trình chuẩn (5.0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về những vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt(Vợ nhặt - Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa
- Nguyễn Minh Châu)
Mục đích và yêu cầu của kiểu bài này là người viết trên cơ sở cảm nhận đượccái hay về nội dung và vẻ đẹp về nghệ thuật của hai đoạn văn, so sánh để thấyđược sự khác nhau của hai đoạn văn đó trên cả bình diện nội dung và nghệ thuật
để từ đó thấy được sự giống và khác nhau trong phong cách nghệ thuật cũng như
sự đóng góp của hai nhà văn đó cho nền văn học nước nhà Cụ thể
MỞ BÀI
Giới thiệu khái quát về đối tượng so sánh
Giới thiệu khái quát về hai nhân vật trong hai tác phẩm :
- Kim Lân là nhà văn chuyên viết về nông thôn và cuộc sống người dân quê, có
sở trường về truyện ngắn Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc , viết về tình huống
Trang 9"nhặt vợ" độc đáo, qua đó thể hiện niềm tin mãnh liệt vào phẩm chất tốt đẹp củanhững con người bình dị trong nạn đói thê thảm.
- Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu thời chống Mỹ, cũng là cây bút tiênphong thời đổi mới Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn xuất sắc ở thời kì sau,viết về lần giáp mặt của một nghệ sĩ với cuộc sống đầy nghịch lí của một giađình hàng chài, qua đó thể hiện lòng xót thương, nỗi lo âu đối với con người vànhững trăn trở về trách nhiệm của người nghệ sĩ
THÂN BÀI
1 Làm rõ đối tượng thứ nhất : Nhân vật người vợ nhặt :
- Giới thiệu chung : Tuy không miêu tả thật nhiều nhưng nhân vật người vợnhặt vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác phẩm Nhân vật này đượckhắc họa sống động, theo lối đối lập giữa bề ngoài và bên trong, ban đầu và vềsau
- Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu :
+ Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng là một lòng ham sống mãnh liệt (dẫnchứng)
+ Phía sau vẻ nhếch nhác, dơ dáy, lại là một người hiểu biết, ý tứ.(dẫn chứng)+ Bên trong vẻ chao chát, cong cớn, chỏng lỏn lại là một người phụ nữ hiều hậu,đúng mực, biết lo toan (dẫn chứng)
2 Làm rõ đối tượng thứ hai : Nhân vật người đàn bà hàng chài
- Giới thiệu chung : Là nhân vật chính, có vai trò quan trọng với việc thể hiện tưtưởng của tác phẩm Nhân vật này được khắc họa sắc nét, theo lối tương phảngiữa bên ngoài và bên trong, giữa thân phận và phẩm chất
- Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu
Trang 10+ Bên trong ngoại hình xấu xí, thô kệch là một tấm lòng nhân hậu, vị tha, độlượng, giàu đức hi sinh (dẫn chứng)
+ Phía sau vẻ cam chịu, nhẫn nhục vẫn là một người có khát vọng hạnh phúc,can đảm, cứng cỏi (dẫn chứng)
+ Phía sau vẻ quê mùa, thất học lại là một người phụ nữ thấu hiểu, sâu sắc lẽđời (dẫn chứng)
3 So sánh : Nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diệnnội dung và hình thức nghệ thuật :
- Tương đồng : Cả hai nhân vật đều là những thân phận bé nhỏ, nạn nhân củahoàn cảnh Những vẻ đẹp đáng trân trọng của họ đều bị đời sống cơ cực lam lũlàm khất lấp Cả hai đều khắc họa bằng những chi tiết chân thực
- Khác biệt : Vẻ đẹp được thể hiện ở nhân vật người vợ nhặt chủ yếu là phẩmchất của một nàng dâu mới, hiện lên qua các chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh, trongnạn đói thê thảm Vẻ đẹp được khắc sâu ở nhân vật người đàn bà hàng chài lànhững phẩm chất của một người mẹ nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua các chitiết đầy kịch tính, trong tình trạng bạo lực gia đình
4 Lí giải sự khác biệt : Thực hiện thao tác này cần dựa trên ba tiêu chí cơ bảnnhư đã nói ở phần trên
+ Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình phát triển, biếnđổi từ thấp đến cao (cảm hứng lãng mạn), trong khi đó người đàn bà hàng chàilại tĩnh tại, bất biến như một hiện thực nhức nhối đang tồn tại (cảm hứng thế sự -đời tư trong khuynh hướng nhận thức lại)
+ Sự khác biệt giữa con người giai cấp (Vợ nhặt) với quan niệm con người đadạng phúc tạp (Chiếc thuyền ngoài xa) đã tạo ra sự khác biệt này
KẾT BÀI
Trang 11- Khái quát những nét giống và khác nhau tiêu biểu và nêu những cảm nghĩ của
bản thân (Học sinh dựa vào gợi ý trên để viết kết bài Có nhiều cách kết bài
khác nhau, hướng dẫn trên chỉ có tính chất tham khảo)
Bảng so sánh trên đây chỉ ra rằng, dàn bài khái quát mà tôi đề xuất về cơ bản đãthể hiện được một cách tuần tự hệ thống ý trong đáp án của đề thi tuyển sinh Đạihọc - Cao đẳng khối C năm 2009
1/ Yêu cầu về kĩ năng :
Sử dụng thao tác lập luận so sánh, phân tích, bình luận
2/ Yêu cầu về kiến thức :
- Cần chỉ ra sự thống nhất trong phong cách của nhà văn trong cả quá trình sángtác
- Chỉ ra những thay đổi đáng kể trong phong cách nghệ thuật ở giai đoạn sángtác sau đó
- Lí giải nguyên nhân cụ thể về sự thay đổi đó
Ví dụ đề bài sau :
(1) "Biết đọc vỡ sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của
viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà mình một đôi câu đối
do tay ông Huấn Cao viết Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ Có được chữ ông Huấn mà treo
Trang 12là có một báu vật trên đời Viên quản ngục khổ tâm nhất thì ân hận suốt đời"
(Chữ người tử tù)
(2) "Ông lái đò nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Ông đã thuộc
quy luật phục kích của lũ đá nơi cửa ải( ) Cưỡi lên thác sông đà, phải cưỡi đến cùng như cưỡi hổ Dòng thác hùm beo đang hùng hục tế mạnh trên sông đá Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường thẳng chéo về phía cửa đá ấy đứa thì ông đò đè sấn lên mà chặt đôi ra
để mở đường tiến (Người lái đò sông Đà)
Từ hai đoạn văn trên, anh/chị hãy chỉ ra sự thống nhất và thay đổi trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng tháng Tám 1945.
Mục đích của kiểu bài này là học sinh vận dụng kĩ năng cảm nhận cái hay,cái đẹp của hai đoạn văn và từ đó vận dụng thao tác lập luận phân tích, so sánh
để làm nổi bật sự giống nhau và khác nhau trong phong cách nghệ thuật củaNguyễn Tuân ở hai thời kì sáng tác qua hai đoạn trích văn bản cụ thể
Ta có thể xây dựng một dàn ý với những yêu cầu sau :
MỞ BÀI :
Dẫn dắt và giới thiệu về hai đoạn trích, từ đó khẳng định cả hai đoạn văn trênđều thể hiện được tư tưởng và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân
THÂN BÀI :
* Luận điểm 1: Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác và vị trí của hai đoạn trích.
* Luận điểm 2: Nét chung :
- Cả hai đoạn trích đều đã thể hiện được một cái "Tôi" : Tài hoa - Độc đáo
- Uyên bác của nhà văn Nghuyễn Tuân
Trang 13- Cách tiếp cận cảnh vật : Nghiêng về góc độ văn hóa thẩm mỹ, cảnh sắctráng lệ, dữ dội, đập mạnh vào giác quan (Người lái đò sông Đà).
- Miêu tả con người : Là những con người có khí phách, tài hoa :
+ Ngục quan : Tuy không có tài sáng tạo cái đẹp nhưng lại có tài cảm thụ
* Luận điểm 3: Nét riêng :
- Đoạn trích trong truyện ngắn Chữ người tử tù :
+ Thể loại : truyện ngắn có pha chất tùy bút (Cảm xúc của cái "tôi" quathái độ của nhà văn với nhân vật) (Dẫn chứng)
+ Có sự đối lập : Sự đấu tranh tư tưởng của Ngục quan, một con người đạidiện cho bộ máy cai trị của chính quyền thực dân phong kiến lại ngưỡng mộ vàtôn thờ vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của một tử tù Đối lập giữa cái thiện, cái đẹp vớicái ác, cái xấu ; giữa cái cao cả và cái tầm thường
+ Ngôn ngữ : Dùng từ Hán Việt, tạo không khí cổ kính, trang nghiêm
- Đoạn trích trong tùy bút Người lái đò sông Đà
+ Thể loại : Tùy bút có yếu tố của truyện ngắn (Cốt truyện, tình huống,nhân vật )
+ Nhân vật : Là con người trong lao động sản xuất
+ Ngôn ngữ : Có sử dụng các thuật ngữ của lĩnh vực quân sự tạo không khítrận mạc căng thẳng, cam go quyết liệt