1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ra đề thi học kì toán 7 phù hợp đối tượng học sinh huyện quan hóa

16 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 293,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Toán học là môn học cung cấp các kiến thức cơ bản, hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Toán học, qua đó phát triển tư duy lô gíc, bồi dưỡng và phát triển những thao tác

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU 2

2.1.1 Yêu cầu chung về kĩ thuật kiểm tra, đánh giá 3 2.1.2 Việc kiểm tra, đánh giá học sinh nhằm mục đích 3

2.2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG

2.2.1 Thực trạng về công tác ra đề thi học kì môn Toán tại huyện Quan Hóa 4 2.2.2 Thực trạng về chất lượng học sinh đại trà tại huyện Quan Hóa 5 2.3 CÁC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM HOẶC CÁC GIẢI PHÁP

2.3.2 Một số kinh nghiệm ra đề thi học kì lớp 7 10 2.3.3 Đề, đáp án thi học kì môn Toán 7 tham khảo 11 2.4 HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI HOẠT

ĐỘNG GIÁO DỤC, VỚI BẢN THÂN, ĐỒNG NGHIỆP VÀ NHÀ

TRƯỜNG

14

Trang 2

PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU

1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Toán học là môn học cung cấp các kiến thức cơ bản, hệ thống tri thức,

kĩ năng, kĩ xảo Toán học, qua đó phát triển tư duy lô gíc, bồi dưỡng và phát triển những thao tác trí tuệ cần thiết để nhận thức thế giới khách quan về mặt

số lượng và hình dạng như trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân tích tổng hợp nhờ đó biết cách hoạt động có hiệu quả trong cuộc sống

Thực tế hiện nay, khoa học kỹ thuật tiến bộ mạnh mẽ, học sinh được tiếp cận tri thức qua nhiều kênh, nhiều nguồn khác nhau như thông qua truyền hình, internet Học sinh sớm phát triển về tư duy Khối lượng tri thức của học sinh ngày một gia tăng, nhận thức của các em ngày càng mở rộng Học sinh phát triển nhanh hơn có khả năng nhận thức tốt hơn Vì thế dạy học không chỉ trang

bị những kiến thức kỹ năng kỹ xảo xác định mà cũng cùng với việc dạy học đó, cần phải tổ chức như thế nào để đảm bảo dạy học rèn tư duy cho học sinh

Môn Toán có vai trò lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết có vấn đề có căn cứ khoa học, linh hoạt, sáng tạo Môn Toán còn góp phần hình thành và phát triển phẩm chất của người học sinh như kiên trì, nhẫn nại, cẩn thận, ý thức vượt khó khăn làm việc một cách khoa học có hệ thống Đồng thời nó cũng là công cụ để giúp học sinh học tập các bộ môn khác và cần thiết cho mọi hoạt động trong cuộc sống, trong thực tiễn

Trong hệ thống các môn học ở bậc THCS, môn Toán đóng một vai trò hết sức quan trọng, bởi lẽ học môn Toán giúp cho học sinh dần hình thành và phát triển được sự linh hoạt, sáng tạo và tư duy trừu tượng Học Toán giúp con người nâng cao trình độ tính toán, giúp khả năng tư duy logic, sáng tạo ngày càng nâng cao và phát triển Khi học Toán là qua hoạt động giải bài tập giúp học sinh nâng cao dần khả năng suy luận, đào sâu, tìm hiểu và trình bày các vấn đề một cách logic

Học Toán đồng nghĩa với việc tư duy được Toán, làm được bài tập Toán, việc đó đòi hỏi học sinh phải có vốn kiến thức cơ bản ở một mức độ nhất định nào đó Đối với học sinh là dân tộc thiểu số, viết còn chậm, sai lỗi chính tả nhiều, vậy vấn đề để hiểu được kiến thức sẽ rất khó khăn và chậm chạp, chưa hiểu được kiến thức cũ, lại phải học kiến thức mới Làm cho các

em luôn có cảm giác không tự tin, và không biết học từ đâu

Qua thực tế giảng dạy môn Toán lớp 7 tại huyện Quan Hóa tôi nhận thấy kết quả học tập của các em học sinh thể hiện qua các bài kiểm tra học kì còn nhiều điểm yếu; kéo theo điểm trung bình môn Toán học kì và cả năm dưới 5,0

Một trong những nguyên nhân là các đề kiểm tra, thi của các giáo viên

ra chưa phù hợp đối tượng học sinh, chưa đảm bảo cấu trúc một đề thi, kiểm tra, chưa đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng Toán lớp 7

Do đó tôi chọn đề tài "Ra đề thi học kì Toán 7 phù hợp đối tượng học sinh huyện Quan Hóa".

Trang 3

1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Tôi chọn đề tài "Ra đề thi học kì Toán 7 phù hợp đối tượng học sinh huyện Quan Hóa" Giúp các thầy cô ra đề thi học kì đảm bảo cấu trúc, chuẩn

kiến thức kĩ năng theo yêu cầu và phù hợp đối tượng học sinh

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Cách thức ra đề thi học kì môn Toán lớp 7

- Học sinh lớp 7 trên đia bàn huyện Quan Hóa

- Đề thi học kì môn Toán lớp 7

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để nghiên cứu đề tài này, tôi tiến hành theo các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích tổng hợp lí thuyết;

- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm;

- Phương pháp quan sát;

- Phương pháp điều tra

PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1.1 Yêu cầu chung về kĩ thuật kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phải được xác định từ mục tiêu dạy học nhằm giúp người học và người thầy nắm được thông tin ngược chiều để điều chỉnh

Nội dung kiểm tra, đánh giá phải toàn diện, bao gồm cả kiến thức, kĩ năng, tư duy và phương pháp, không chỉ yêu cầu thiên về tái hiện kiến thức và

kĩ năng Việc kiểm tra đánh giá kết quả bài học cần tính đến ngay khi xác định mục tiêu và thiết kế bài dạy nhằm giúp cho học sinh và giáo viên kịp thời mắm được những thông tin ngược chiều để điều chỉnh hoạt động dạy và học

2.1.2 Việc kiểm tra, đánh giá học sinh nhằm mục đích

* Đối với học sinh: Cung cấp cho học sinh thông tin ngược chiều về

quá trình học tập cuả bản thân để học sinh tự điều chỉnh quá trình học tập,

kích thích hoạt động học tập, khuyến khích năng lực tự đánh giá

Làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạy học, tình trạng kiến thức, kĩ năng, kỉ xảo, thái độ của học sinh so với yêu cầu của chương trình; phát hiện những sai sót và nguyên nhân dẫn tới những sai sót đó, giúp học sinh điều chỉnh hoạt động học tập của mình

Công khai hóa các nhận định về năng lực, kết quả học tập của mỗi em học sinh và cả tập thể lớp, tạo cơ hội cho các em có kĩ năng tự đánh giá, giúp các em nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên và thúc đẩy việc học tập ngày một tốt hơn

Trang 4

* Đối với giáo viên: Cung cấp cho người thầy những thông tin cần thiết

nhằm định xác định đúng hơn về năng lực nhận thức của học sinh trong học tập, từ đó đề xuất các biện pháp kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học, thực hiện mục đích dạy học Các yêu cầu sư phạm trong việc đánh giá học sinh: Khách quan, toàn diện, hệ thống, công khai

2.1.3 Kĩ thuật kiểm tra, đánh giá

Thông thường sử dụng câu hỏi và bài tập

Trong việc biên soạn và sử dụng câu hỏi, bài tập để kiểm tra đánh giá cần đảm bảo những yêu cầu sau:

* Câu hỏi và bài tập phải phù hợp với yêu cầu của chương trình, với chuẩn kiến thức kĩ năng tối thiểu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, sát với đối tượng học sinh, vùng miền

* Câu hỏi và bài tập phải được phát biểu chính xác, rõ ràng để học sinh

có thể hiểu một cách đơn giản

* Bên cạnh nhưng câu hỏi, bài tập hướng vào yêu cầu cơ bản cần chuẩn

bị câu hỏi, bài tập phải đào sâu, đòi hỏi phải vận dụng kiến thức một cách tổng hợp, khuyến khích học sinh suy nghĩ tích cực, thực tế

* Việc đánh giá kết quả không đơn thuần là chỉ cho điểm mà kèm theo đó cần có những nhận xét ưu khuyết điểm về nội dung và hình thức trình bày và phương pháp học tập, đề suất được phương hướng bổ cứu và kế hoạch giúp học sinh khắc phục

2.1.4 Công cụ kiểm tra, đánh giá

a) Loại công cụ là đề kiểm tra viết

b) Loại công cụ là câu hỏi:

+ Câu hỏi tự luận

+ Câu hỏi trắc nghiệm khách quan

2.2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.2.1 Thực trạng về công tác ra đề thi học kì môn toán tại huyện Quan Hóa

Trong việc biên soạn và sử dụng câu hỏi, bài tập để kiểm tra đánh giá giáo viên thường mắc một số lỗi sau:

Một là: Công tác kiểm tra đánh giá của giáo viên còn gặp nhiều khó

khăn, do chưa nắm vững kĩ thuật ra đề, chuẩn kiến thức kĩ năng tối thiểu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đối tượng học sinh miền núi

Hai là: Câu hỏi và bài tập đôi khi phát biểu còn thiếu chính xác, không

ngắt nghĩa, thiếu rõ ràng để học sinh có thể hiểu một cách đơn giản Câu hỏi

đa nghĩa và bài tập khó, phải vận dụng nhiều kiến thức tổng hợp

Trang 5

Ba là: Việc kiểm tra đánh giá và xếp loại của giáo viên còn quá nặng

về cho điểm Chưa quan tâm đến ưu khuyết điểm về nội dung, hình thức trình bày bài của học sinh và phương pháp học tập, đề xuất phương hướng và kế hoạch giúp đỡ, đặc biệt rèn luyện ý thức tự học, tự đáng giá của học sinh Bốn là: Việc lựa chọn hình thức kiểm tra của một số giáo viên còn rất

hạn chế, thiếu sáng tạo còn mang tính dập khuôn máy móc Phương pháp kiểm tra đánh giá không còn phù hợp với tinh thần đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá trong nhà trường phổ thông

Cuối cùng, cũng cần phải đề cập đến đội ngũ giáo viên đôi lúc chưa

tích cực trong công tác tự học, tự rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn

2.2.2 Thực trạng về chất lượng học sinh đại trà tại huyện Quan Hóa

Quan Hóa là một huyện miền núi còn nghèo, trình độ dân trí còn có khoảng cách với các vùng đồng bằng Qua khảo sát tình trạng học tập của các

em đa phần là tính toán còn chậm, nhút nhát, hơi khó gần, trong số đó học sinh yếu khá nhiều Mặt khác gia đình chưa quan tâm trong quá trình học tập, phó mặc cho thầy giáo, cô giáo Việc học tập của học sinh chỉ có sự đóng góp duy nhất từ người thầy

Nhiều học sinh đến mùa vụ, hay gieo trồng, hoàn cảnh gia đình khó khăn phải ở nhà gần cả tuần học và kiến thức học sinh đó cũng bỏ qua mà không xem lại

Học sinh chuyển cấp chất lượng tương đối thấp Từ đó tác động không nhỏ tới kết quả học tập của các em ở THCS

Chất lượng học sinh của các trường trung tâm: THCS Hồi Xuân, THCS Thị trấn, PTDTNT THCS Quan Hóa cao hơn khá nhiều các khu vực khác Do

đó khó khăn cho công tác ra đề thi học kì chung cho cả huyện

Từ những thực trạng trên tôi đề xuất một số biện pháp và giải pháp sau

2.3 CÁC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM HOẶC CÁC GIẢI PHÁP

ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

2.3.1 Các bước biên soạn đề kiểm tra

Bước 1 Xác định mục đích của đề kiểm tra

Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kì, một lớp hay một cấp học nên người biên soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào mục đích yêu cầu cụ thể của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình và thực

tế học tập của học sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp

Bước 2 Xác định hình thức đề kiểm tra

Đề kiểm tra (viết) có các hình thức sau:

1 Đề kiểm tra tự luận;

2 Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan;

Trang 6

3 Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên: có cả câu hỏi dạng tự luận

và câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan

Mỗi hình thức đều có ưu điểm và hạn chế riêng nên cần kết hợp một cách hợp lý các hình thức sao cho phù hợp với nội dung kiểm tra và đặc trưng môn học để nâng cao hiệu quả, tạo điều kiện để đánh giá kết quả học tập của học sinh chính xác hơn

Bước 3 Thiết lập ma trận đề kiểm tra (bảng mô tả tiêu chí của đề kiểm tra)

Lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức, kĩ năng chính cần đánh giá, một chiều là các cấp độ nhận thức của học sinh theo các cấp độ: nhận biết, thông hiểu và vận dụng (gồm có vận dụng ở cấp độ thấp và vận dụng ở cấp độ cao) Trong mỗi ô là chuẩn kiến thức kĩ năng chương trình cần đánh giá, tỉ lệ % số điểm, số lượng câu hỏi và tổng số điểm của các câu hỏi

Số lượng câu hỏi của từng ô phụ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi chuẩn cần đánh giá, lượng thời gian làm bài kiểm tra và trọng số điểm quy định cho từng mạch kiến thức, từng cấp độ nhận thức

Các bước cơ bản thiết lập ma trận đề kiểm tra:

B1 Liệt kê tên các chủ đề (nội dung, chương ) cần kiểm tra;

B2 Viết các chuẩn cần đánh giá đối với mỗi cấp độ tư duy;

B3 Quyết định phân phối tỉ lệ % tổng điểm cho mỗi chủ đề (nội dung, chương );

B4 Quyết định tổng số điểm của bài kiểm tra;

B5 Tính số điểm cho mỗi chủ đề (nội dung, chương ) tương ứng với tỉ lệ %; B6 Tính tỉ lệ %, số điểm và quyết định số câu hỏi cho mỗi chuẩn tương ứng;

B7 Tính tổng số điểm và tổng số câu hỏi cho mỗi cột;

B8 Tính tỉ lệ % tổng số điểm phân phối cho mỗi cột;

B9 Đánh giá lại ma trận và chỉnh sửa nếu thấy cần thiết

Cần lưu ý:

- Khi viết các chuẩn cần đánh giá đối với mỗi cấp độ tư duy:

+ Chuẩn được chọn để đánh giá là chuẩn có vai trò quan trọng trong chương trình môn học Đó là chuẩn có thời lượng quy định trong phân phối chương trình nhiều và làm cơ sở để hiểu được các chuẩn khác

+ Mỗi một chủ đề (nội dung, chương ) nên có những chuẩn đại diện được chọn để đánh giá

+ Số lượng chuẩn cần đánh giá ở mỗi chủ đề (nội dung, chương ) tương ứng với thời lượng quy định trong phân phối chương trình dành cho chủ đề (nội dung, chương ) đó Nên để số lượng các chuẩn kĩ năng và chuẩn đòi hỏi mức

độ tư duy cao (vận dụng) nhiều hơn

Trang 7

- Quyết định tỉ lệ % tổng điểm phân phối cho mỗi chủ đề (nội dung, chương ):

Căn cứ vào mục đích của đề kiểm tra, căn cứ vào mức độ quan trọng của mỗi chủ đề (nội dung, chương ) trong chương trình và thời lượng quy định trong phân phối chương trình để phân phối tỉ lệ % tổng điểm cho từng chủ đề

- Tính số điểm và quyết định số câu hỏi cho mỗi chuẩn tương ứng

+ Căn cứ vào mục đích của đề kiểm tra để phân phối tỉ lệ % số điểm cho mỗi chuẩn cần đánh giá, ở mỗi chủ đề, theo hàng Giữa ba cấp độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng theo thứ tự nên theo tỉ lệ phù hợp với chủ đề, nội dung và trình độ, năng lực của học sinh

+ Căn cứ vào số điểm đã xác định ở B5 để quyết định số điểm và câu hỏi tương ứng, trong đó mỗi câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan phải có số điểm bằng nhau

+ Nếu đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận thì cần xác định tỉ lệ % tổng số điểm của mỗi một hình thức cho thích hợp

Bước 4 Biên soạn câu hỏi, bài tập theo ma trận

Việc biên soạn câu hỏi theo ma trận cần đảm bảo nguyên tắc: loại câu hỏi,

số câu hỏi và nội dung câu hỏi do ma trận đề quy định, mỗi câu hỏi trắc nghiệm khách quan chỉ kiểm tra một chuẩn hoặc một vấn đề, khái niệm

Để các câu hỏi biên soạn đạt chất lượng tốt, cần biên soạn câu hỏi thoả

mãn các yêu cầu sau: (ở đây trình bày 2 loại câu hỏi thường dùng nhiều trong

các đề kiểm tra)

a) Các yêu cầu đối với câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

1 Câu hỏi phải đánh giá những nội dung quan trọng của chương trình;

2 Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày và

số điểm tương ứng;

3 Câu dẫn phải đặt ra câu hỏi trực tiếp hoặc một vấn đề cụ thể;

4 Không nên trích dẫn nguyên văn những câu có sẵn trong sách giáo

khoa;

5 Từ ngữ, cấu trúc của câu hỏi phải rõ ràng và dễ hiểu đối với mọi học sinh;

6 Mỗi phương án nhiễu phải hợp lý đối với những học sinh không nắm vững kiến thức;

7 Mỗi phương án sai nên xây dựng dựa trên các lỗi hay nhận thức sai lệch của học sinh;

8 Đáp án đúng của câu hỏi này phải độc lập với đáp án đúng của các câu hỏi khác trong bài kiểm tra;

Trang 8

9 Phần lựa chọn phải thống nhất và phù hợp với nội dung của câu dẫn;

10 Mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng, chính xác nhất;

11 Không đưa ra phương án “Tất cả các đáp án trên đều đúng” hoặc

“không có phương án nào đúng”.

b) Các yêu cầu đối với câu hỏi tự luận

1 Câu hỏi phải đánh giá nội dung quan trọng của chương trình;

2 Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày và

số điểm tương ứng;

3 Câu hỏi yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức vào các tình huống mới;

4 Câu hỏi thể hiện rõ nội dung và cấp độ tư duy cần đo;

5 Nội dung câu hỏi đặt ra một yêu cầu và các hướng dẫn cụ thể về cách thực hiện yêu cầu đó;

6 Yêu cầu của câu hỏi phù hợp với trình độ và nhận thức của học sinh;

7 Yêu cầu học sinh phải hiểu nhiều hơn là ghi nhớ những khái niệm, thông tin;

8 Ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi phải truyền tải được hết những yêu cầu của cán bộ ra đề đến học sinh;

9 Câu hỏi nên gợi ý về: Độ dài của bài luận; Thời gian để viết bài luận;

Các tiêu chí cần đạt

10 Nếu câu hỏi yêu cầu học sinh nêu quan điểm và chứng minh cho quan điểm của mình, câu hỏi cần nêu rõ: bài làm của học sinh sẽ được đánh giá dựa trên những lập luận logic mà học sinh đó đưa ra để chứng minh và bảo vệ quan điểm của mình chứ không chỉ đơn thuần là nêu quan điểm đó

Bước 5 Xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm

Việc xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm đối với bài kiểm tra cần đảm bảo các yêu cầu:

Nội dung: khoa học và chính xác Cách trình bày: cụ thể, chi tiết nhưng ngắn gọn và dễ hiểu, phù hợp với ma trận đề kiểm tra

Cần hướng tới xây dựng bản mô tả các mức độ đạt được để học sinh có thể

tự đánh giá được bài làm của mình

Cách tính điểm

a) Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan

Cách 1: Lấy điểm toàn bài là 10 điểm và chia đều cho tổng số câu hỏi.

Ví dụ: Nếu đề kiểm tra có 40 câu hỏi thì mỗi câu hỏi được 0,25 điểm.

Cách 2: Tổng số điểm của đề kiểm tra bằng tổng số câu hỏi Mỗi câu trả

lời đúng được 1 điểm, mỗi câu trả lời sai được 0 điểm

Trang 9

Sau đó qui điểm của học sinh về thang điểm 10 theo công thức:

max

10X

X , với

+ X là số điểm đạt được của HS;

+ X max là tổng số điểm của đề

Ví dụ: Nếu đề kiểm tra có 40 câu hỏi, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm,

một học sinh làm được 32 điểm thì qui về thang điểm 10 là: 10.32 8

40  điểm.

b) Đề kiểm tra kết hợp hình thức tự luận và trắc nghiệm khách quan

Cách 1: Điểm toàn bài là 10 điểm Phân phối điểm cho mỗi phần tự luận,

trắc nghiệm khách quan theo nguyên tắc: Số điểm mỗi phần tỉ lệ thuận với thời gian dự kiến học sinh hoàn thành từng phần và mỗi câu trắc nghiệm khách quan

có số điểm bằng nhau

Ví dụ: Nếu đề dành 30% thời gian cho trắc nghiệm khách quan và 70%

thời gian dành cho tự luận thì điểm cho từng phần lần lượt là 3 điểm và 7 điểm Nếu có 12 câu trắc nghiệm khách quan thì mỗi câu trả lời đúng sẽ được 3 0,25

12  điểm.

Cách 2: Điểm toàn bài bằng tổng điểm của hai phần Phân phối điểm cho

mỗi phần theo nguyên tắc: số điểm mỗi phần tỉ lệ thuận với thời gian dự kiến học sinh hoàn thành từng phần và mỗi câu trắc nghiệm khách quan trả lời đúng được 1 điểm, sai được 0 điểm

Khi đó cho điểm của phần trắc nghiệm khách quan trước rồi tính điểm của phần tự luận theo công thức sau:

T TL

TN

TN.TL

X

T

X

+ X TN là điểm của phần TNKQ;

+ X TL là điểm của phần TL;

+ T TL là số thời gian dành cho việc trả lời phần TL

+ T TN là số thời gian dành cho việc trả lời phần TNKQ Chuyển đổi điểm của học sinh về thang điểm 10 theo công thức:

max

10X

X , với

+ X là số điểm đạt được của HS;

+ X max là tổng số điểm của đề

Ví dụ: Nếu ma trận đề dành 40% thời gian cho trắc nghiệm khách quan và

60% thời gian dành cho tự luận và có 12 câu trắc nghiệm khách quan thì điểm của phần trắc nghiệm khách quan là 12; điểm của phần tự luận là: TL

12.6

1

40

  Điểm của toàn bài là: 12 + 18 = 30 Nếu một học sinh đạt được 27 điểm thì qui về thang điểm 10 là: 10.27 9

30  điểm

Trang 10

c) Đề kiểm tra tự luận

Cách tính điểm tuân thủ chặt chẽ các bước từ B3 đến B7 phần Thiết lập

ma trận đề kiểm tra, khuyến khích giáo viên sử dụng kĩ thuật Rubric trong việc

tính điểm và chấm bài tự luận (tham khảo các tài liệu về đánh giá kết quả học tập của học sinh).

Bước 6 Xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra

Sau khi biên soạn xong đề kiểm tra cần xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra, gồm các bước sau:

1 Đối chiếu từng câu hỏi với hướng dẫn chấm và thang điểm, phát hiện những sai sót hoặc thiếu chính xác của đề và đáp án Sửa các từ ngữ, nội dung nếu thấy cần thiết để đảm bảo tính khoa học và chính xác

2 Đối chiếu từng câu hỏi với ma trận đề, xem xét câu hỏi có phù hợp với chuẩn cần đánh giá không? Có phù hợp với cấp độ nhận thức cần đánh giá không? Số điểm có thích hợp không? Thời gian dự kiến có phù hợp không?

3 Thử đề kiểm tra để tiếp tục điều chỉnh đề cho phù hợp với mục tiêu, chuẩn chương trình và đối tượng học sinh

4 Hoàn thiện đề, hướng dẫn chấm và thang điểm

2.3.2 Một số kinh nghiệm ra đề thi học kì lớp 7

Một là: Nắm vững các bước biên soạn đề kiểm tra.

Hai là: Ra đề đảm bảo tính phân hóa học sinh Học sinh trung bình dễ

làm được 5 - 6 điểm, học sinh khá làm được 7 - 8 điểm, học sinh giỏi làm

được 9 điểm, học sinh xuất sắc làm được 10 điểm (Theo mặt bằng chung của huyện Quan Hóa)

Ba là: Đối với đối tượng học sinh trên địa bàn huyện Quan Hóa, giáo viên

nên linh hoạt trong cách ra câu hỏi, bài tập Chỉ cần đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng, không nặng nề về kiến thức, kĩ năng trình bày

Ví dụ:

Bài 1: Tìm x, biết: x 1=

4 2. Bài 2: Tìm x, biết:

=

5 2,5

Cùng một dạng toán, kiểm tra cùng một lượng kiến thức nhưng chắc rằng

chúng ta, đều thấy rằng bài 2 khó hơn, "đánh đố" học sinh hơn Chỉ thay dấu và

đưa về số nguyên chắc rằng rất nhiều học sinh sẽ thực hiện tốt Mà vẫn bảo đảm yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng

Bốn là: Đảm bảo phù hợp đối tượng học sinh, chuẩn kiến thức kĩ năng.

Lên ma trận chuẩn thì việc áp bài toán vào là công việc dễ dàng hơn rất nhiều

Giáo viên nên linh hoạt (cộng trừ 0,5 điểm) trong việc chia tỉ lệ điểm tùy theo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng và đối tượng học sinh Theo khung sau:

Ngày đăng: 31/10/2019, 10:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w