Đặc biệt, trong những năm học vừa qua ngành đã tổ chức cuộc thi Dạy học tích hợp dành cho giáo viên và cuộc thi Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống trong thực tiễn d
Trang 12.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
3
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN THƯỜNG XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN VÀO GIẢNG DẠY BÀI
“SƠ LƯỢC MĨ THUẬT VIỆT NAM THỜI KÌ CỔ ĐẠI” MÔN MĨ THUẬT LỚP 6 Ở TRƯỜNG THCS XUÂN DƯƠNG,
HUYỆN THƯỜNG XUÂN
Trang 22.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 17
Trang 31 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài.
Mĩ thuật là một nghệ thuật tạo ra cái đẹp nhằm phục vụ nhu cầu vậtchất và tinh thần của con người Mĩ thuật đã gắn bó với con người từ rất lâu,ngay từ buổi đầu của nhân loại, khi con người phát hiện ra vẻ đẹp của thiênnhiên, với ý thức tự giác và sự ngưỡng mộ của mình trước thế giới, conngười đã đưa cái đẹp gần hơn với cuộc sống bằng những hình thức thể hiệnthật đơn giản như các nét vẽ trên các vách đá hay các đồ trang sức bằngxương động vật Từ những văn hoá trang trí đơn sơ, mộc mạc, đến nhữnghoạ tiết tinh vi, phong phú như trên mặt trống đồng Đông Sơn cũng từ đó
Mĩ thuật luôn luôn gắn bó khăng khít với lịch sử phát triển của con người vàcàng đạt tới mức độ nghệ thuật cao Hay nói cách khác đời sống xã hội pháttriển ngày càng cao thì nhu cầu thẩm mĩ của con người càng cao hơn Hơnthế, Mĩ thuật là kho tàng hình ảnh phản ánh rõ nét văn hóa và đời sống củatừng thời kỳ, từng chế độ xã hội Qua nhiều thời đại, những nền nghệ thuậtđặc sắc, độc đáo của Mĩ thuật Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đượcđịnh hình và mang những bản sắc riêng biệt Những chuyển biến lớn trongsản xuất và xã hội dẫn đến sự kiện có ý nghĩa hết sức quan trọng đối vớingười dân việt cổ: sự ra đời của nhà nước Văn Lang, mở đầu cho một thờiđại mới cũng như bước tiến mới của nền Mĩ thuật dân tộc
Nhưng hiện nay việc giảng dạy Mĩ thuật nói chung và phân mônthường thức mĩ thuật nói riêng chưa được phát huy bởi nhiều nguyên nhân
Do vậy, tình trạng chung của giờ thường thức mĩ thuật là đơn điệu nhàmchán, học sinh thường có thái độ thờ ơ với giờ học này và các em dần quên
đi nguồn gố ra đời của nền Mĩ thuật Việt Nam Điều đó cho thấy việc đổimới phương pháp dạy – học trong trường THCS đối với phân môn này cònchậm chạp, chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành giáo dục đào tạo nước tahiện nay Để khắc phục vấn đề này các giáo viên Mĩ thuật cần phải đưa racác phương án thích hợp làm cho giờ học thường thức mĩ thuật trở nên sinhđộng, tạo sự hứng thú cho học sinh khi học phân môn này Muốn đạt đượcmục đích đó, trước hết những người làm công tác giảng dạy phải là nhữngcon người yêu nghề có tinh thần nhiệt tình trong công tác giảng dạy, quantâm đến các em học sinh, bồi dưỡng cho học sinh tinh thần ham hiểu biết,đức tính hiếu học, ý thức trân trọng các tác phẩm công trình mĩ thuật và luônghi nhớ về sự ra đời của nền Mĩ thuật Việt Nam
Trăn trở với những điều trên, tôi đã chọn đề tài: Tích hợp kiến thức
liên môn vào giảng dạy bài “ Sơ lược Mĩ thuật Việt Nam thời kì cổ đại” môn Mĩ thuật lớp 6 ở trường THCS Xuân Dương, huyện Thường Xuân.
Để đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy thường thức
mĩ thuật trong môn học Mĩ thuật và sau tiết học các em sẽ nhớ lại kiến thức của nhiều môn học có liên quan trong bài như: Kiến thức về lịch sử, ngữ
Trang 4văn, điều đó giúp các em củng cố và hoàn thiện vốn kiến thức THCS nóichung và kiến thức môn Mĩ thuật nói riêng
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Nhằm nâng cao chất lượng, đổi mới phương pháp dạy và học môn Mĩ
thuật ở trường THCS, từ những kinh nghiệm giảng dạy Mĩ thuật lâu năm tôimuốn bổ sung cho kiến thức mà các em được học ở các môn khác giúp choviệc tiếp thu kiến thức môn Mĩ thuật của các em sẽ được sâu sắc hơn, giúpcác em không còn cảm thấy ngại và buồn ngủ mỗi khi học phân môn thườngthức mĩ thuật Làm nền tảng cho việc giáo dục thẩm mĩ cho học sinh, ít phảighi nhớ kiến thức một cách máy móc khi học ở các lớp trên trong bậchọc
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Trong quá trình giảng dạy môn Mĩ thuật ở trường THCS Xuân Dương tôichọn đối tượng nghiên cứu là học sinh khối lớp 6 vì đây là những học sinh mớilàm quen và chập chững bước vào môi trường THCS có nhiều bỡ ngỡ, khó khănnên ngay từ buổi ban đầu tôi muốn tích hợp các môn học khác nhau để tạo chocác em hứng thú học tập và niềm đam mê tìm hiểu về lịch sử nghệ thuật cổ ViệtNam
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Khi nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu:Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết; Phương pháp điều trakhảo sát thực tế, thu thập thông tin; Phương thống kê, xử lí số liệu Dạy họctheo phương pháp gợi mở, nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, chia nhóm tìmhiểu, học sinh áp dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động nhóm, tíchhợp liên môn, ứng dụng CNTT và phương tiện dạy học, hợp tác nhóm, củng
cố, luyện tập, kiểm tra, đánh giá
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm:
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
* Môn Mĩ thuật THCS có 4 phân môn: vẽ trang trí, vẽ theo mẫu, vẽ
tranh đề tài, thường thức mĩ thuật trong đó có 3 phân môn rất được học sinhyêu thích học riêng có phân môn: thường thức mĩ thuật là phân môn ít đượchọc sinh quan tâm và ít hứng thú học
* Căn cứ vào các văn bản chỉ đạo, Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về đổi mớicăn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong những năm qua, Bộ Giáo dục
và Đào tạo có chỉ đạo, tổ chức tập huấn giáo viên về đổi mới phương phápdạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực họcsinh Theo đó, Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, Phòng Giáo dục và Đàotạo Thường Xuân, trường Trung học cơ sở Xuân Dương cũng đã có hướngdẫn, chỉ đạo chuyên môn về việc xây dựng và thực hiện dạy học theo hướngtích hợp Đặc biệt, trong những năm học vừa qua ngành đã tổ chức cuộc thi
Dạy học tích hợp dành cho giáo viên và cuộc thi Vận dụng kiến thức liên
môn để giải quyết các tình huống trong thực tiễn dành cho học sinh Bản
Trang 5thân tôi đã tham gia cuộc thi đã rút ra được kinh nghiệm giảng dạy cho bảnthân và cảm thấy rất cần phải tích hợp nhiều môn học để giúp học sinh nắmvững những kiến thức về lịch sử mĩ thuật cổ đại và có ý thức giữ gìn, bảo vệnhững vật dụng, những di tích, những công trình thời kĩ đồ đá, đồ đồng.
* Mĩ thuật là môn học bao gồm rất nhiều loại hình nghệ thuật như:Kiến trúc, điêu khắc, chạm khắc, trang trí, hội họa Các loại hình này luôngắn kết và tạo thành một chuỗi móc xích kết hợp hài hòa với nhau tạo nêncái đẹp Bằng ngôn ngữ tạo hình về đường nét, về màu sắc, hình khối, cácmảng đậm nhạt, sáng tối, các nghệ nhân trong giai đoạn này đã diễn tả cảmxúc của mình trước vẻ đẹp con người, thiên nhiên xã hội trong giai đoạn lịch
sử này
* Theo các nhà tâm lí học, ở lứa tuổi tiểu học (cũng là thời điểm khicác em bắt đầu vào lớp 6), sự tri giác của các em có các đặc điểm sau: Trigiác: tri giác của các em mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết, tri giácnhững gì gây ấn tượng mạnh đối với các em hoặc các em tri giác những gìmình thích Tình cảm có ảnh hưởng đến độ nhanh, độ bền trong trí nhớ củacác em Các em có thể nhớ rất nhanh và làm những gì mình thích Do đó, khidạy học sinh lớp 6, ta lợi dụng đặc điểm tâm lí trên để hướng trẻ có cái nhìntích cực hơn về học Lịch sử Mĩ thuật
Trên đây là những cơ sở lý luận có tác dụng định hướng cho công tácgiảng dạy theo hướng tích hợp nhiều môn học trong bài: Sơ lược Mĩ thuậtViệt Nam thời kì cổ đại
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Có thể nói phân môn thường thức mĩ thuật là một phân môn tương đốikhó dạy đối với các giáo viên Mĩ thuật bởi khi giảng dạy phân môn này cácgiáo viên THCS thường gặp những hạn chế sau: Lịch sử Việt Nam vô cùngphong phú và đa dạng Từ xã hội nguyên thuỷ cho đến ngày nay, Mĩ thuậtphát triển liên tục, không ngừng, loài người đã chứng kiến sự ra đời củanhiều trào lưu, nhiều phong cách nghệ thuật trải qua các thời kỳ khác nhau.Các tác phẩm Mĩ thuật đa dạng được lưu giữ rất nhiều ở các bảo tàng Mĩthuật Không ai có thể nói rằng mình đã được chiêm ngưỡng thưởng thức tất
cả các tranh, tượng nguyên bản trong kho tàng đồ sộ đó của Mĩ thuật ViệtNam
* Đồ dùng dạy học, tài liệu liên quan đến bài dạy đồ dùng dạy học cómột ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc dạy và học môn Mĩ thuật nóichung và phân môn thường thức mĩ thuật nói riêng Bởi nó là sự hiện diệncủa kiến thức các đường nét, hình mảng, hình khối, đậm nhạt, màu sắc, bốcục, các công trình, các tác phẩm Mĩ thuật nổi tiếng của các họa sĩ Nếuthiếu đồ dùng dạy học, học sinh khó có thể lĩnh hội đầy đủ kiến thức ngônngữ Mĩ thuật nhất là phân môn này Thế nhưng đây lại là mặt hạn chế lớnđối với các giáo viên khi giảng dạy phân môn này như việc sưu tầm các vậtdụng, đồ dùng của thời kì đồ đá, thời kì đồ đồng, các tài liệu, tranh ảnh liên
Trang 6quan đến bài học là rất khó và tốn kém Bởi vì có rất nhiều công trình, tácphẩm Mĩ thuật, kiến trúc, các vật dụng của người Việt Nam thời kì đồ đá,thời kì đồ đồng chỉ còn lại trong sách vở nên việc cho học sinh xem cáctranh ảnh liên quan là điều khó thực hiện.
* Hơn nữa việc phải đầu tư thời gian, công sức để sưu tầm các tài liệuđòi hỏi phải có thời gian nên dẫn đến việc các giáo viên không quan tâm sưutầm tài liệu mà chỉ dựa vào số lượng kiến thức, tranh ảnh ít ỏi trong sáchgiáo khoa và sách giáo viên để giảng dạy cho học sinh Giáo viên thường bỏqua, coi nhẹ phân môn này Giáo viên thường cho rằng các phân môn trangtrí, vẽ theo mẫu, vẽ tranh mới thực sự quan trọng, giúp cho các em cảm thụthẩm mĩ và vẽ đựơc một bức tranh đẹp Còn phân môn thường thức mĩ thuậtchỉ nhằm giới thiệu một số công trình, tác phẩm Mĩ thuật cho học sinh Dovậy tình trạng chung hiện nay của giờ thường thức mĩ thuật là đơn điệunhàm chán, học sinh thường có thái độ thờ ơ với giờ học này Với những giờhọc, giáo viên chỉ cung cấp một số lượng kiến thức bằng lý thuyết mà khôngcho học sinh xem hay chỉ xem một số ít hình ảnh nhỏ bé trong sách giáokhoa nên đa số học sinh sau khi học thường không nhớ đựơc những tácphẩm, công trình Mĩ thuật của Việt Nam Nhưng cũng có rất nhiều giáo viênchịu khó quan tâm và sưu tầm tranh ảnh liên quan đến bài học Tuy nhiên đaphần là những tranh ảnh trong sách báo, tạp chí có khung hình nhỏ bé chỉphù hợp cho giáo viên tham khảo còn nếu dùng làm trực quan giảng dạy thìkhông phù hợp Hiện nay công nghệ thông tin phát triển internet hỗ trợ rấtnhiều cho việc tìm kiếm tài liệu minh họa nhưng một số tranh lại không cótrên mạng hoặc là do trình độ sử dụng của giáo viên còn hạn chế hoặc là nếutìm có thì cũng khó bởi giáo viên không thể in tranh màu khổ lớn để dạyđược vì rất tốn kém hơn nữa trường thuộc xã miền núi nên việc đi lại intranh cũng gặp nhiều khó khăn
Về phía học sinh đa phần là con em nhà nông kinh tế gia đình còn khókhăn, chưa có điều kiện tiếp xúc với công nghệ thông tin nhiều, sách báo cònhạn chế, có một số em có cơ hội tiếp xúc với CNTT nhưng các em lại khôngtìm hiểu về bài học mà ham mê chơi điện tử nên chưa tìm hiểu sâu hơn cáctác phẩm, tác giả trong phân môn thường thức mĩ thuật nên khó khăn trongtiết học thường thức mĩ thuật
Trước tình trạng trên, là một giáo viên giảng dạy bộ môn Mĩ thuật đểthực hiện một tiết dạy thường thức mĩ thuật và học sinh thích học phân mônthường thức mĩ thuật đó mới là mục đích chính của phân môn này rất cầntích hợp kiến thức nhiều môn học có nội dung kiến thức liên là điều rất cầnthiết trong tiết dạy về Mĩ thuật thời kì cổ đại
Sau khi học xong bài: Sơ lược Mĩ thuật Việt Nam thời kì cổ đại tôi làmtrắc nghiệm nhỏ như sau:
+ Qua tiết học em hiểu được những gì nghệ thuật cổ Việt Nam?
+ Em có thích học phân môn này không?
Trang 7Đa số các em không thích học phân môn này, với các em thích học chỉ
từ 35- 40% học sinh, với kết quả như thế tôi quyết đinh tích hợp các môn:Ngữ Văn, Lịch Sử, Địa Lí vào giảng dạy bài: Sơ lược Mĩ thuật Việt Namthời kì cổ đại để giúp học sinh học tốt hơn phân môn này để cuối cùng lấykết quả điều tra so sánh với kết quả ban đầu
Bảng tổng hợp số lượng học sinh (Khối 6 - Trường THCS XuânDương) trong việc hiểu và vận dụng nội dung bài học trước khi thực nghiệm:
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Xác định rõ những yêu cầu cơ bản trong việc vận dụng phương pháp dạy học tích hợp:
* Nâng cao nhận thức của giáo viên về sự cần thiết phải đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng tích hợp liên môn:
Dạy học tích hợp, liên môn xuất phát từ yêu cầu của mục tiêu dạyhọc phát triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải tăng cường yêu cầu học sinhvận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn Khi giải quyếtmột vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi hỏi học sinhphải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học Vì vậy, dạyhọc cần phải tăng cường theo hướng tích hợp, liên môn Dạy học tích hợp cónghĩa là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình dạy học cácmôn học như: tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáodục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo
Dạy học liên môn là phải xác định các nội dung kiến thức liên quanđến hai hay nhiều môn học để dạy học, tránh việc học sinh phải học lại nhiềulần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau Đối với nhữngkiến thức liên môn nhưng có một môn học chiếm ưu thế thì có thể bố trí dạytrong chương trình của môn đó và không dạy lại ở các môn khác Trườnghợp nội dung kiến thức có tính liên môn cao hơn thì sẽ tách ra thành các chủ
đề liên môn để tổ chức dạy học riêng vào một thời điểm phù hợp, song songvới quá trình dạy học các bộ môn liên quan
* Ưu điểm khi dạy tích hợp liên môn
- Với học sinh:
Trước hết, các chủ đề liên môn, tích hợp có tính thực tiễn nên sinhđộng, hấp dẫn đối với học sinh, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thúhọc tập cho học sinh Học các chủ đề tích hợp, liên môn, học sinh được tăngcường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn,
ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc Điều quan trọng hơn là các chủ
đề tích hợp, liên môn giúp cho học sinh không phải học lại nhiều lần cùng
Trang 8một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàmchán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụngcủa kiến thức tổng hợp vào thực tiễn.
- Với giáo viên:
Đối với giáo viên thì ban đầu có thể có chút khó khăn do việc phảitìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác Tuy nhiên khókhăn này chỉ là bước đầu và có thể khắc phục dễ dàng bởi hai lý do: Một là, trong quá trình dạy học môn học của mình, giáo viên vẫnthường xuyên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác
và vì vậy đã có sự am hiểu về những kiến thức liên môn đó;
Hai là, với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò củagiáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểmtra, định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học; Vìvậy, giáo viên các bộ môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sựphối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy học
Như vậy, dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tảicho giáo viên trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình
mà còn có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm chogiáo viên, góp phần phát triển đội ngũ giáo viên bộ môn hiện nay thành độingũ giáo viên có đủ năng lực dạy học kiến thức liên môn, tích hợp Thế hệgiáo viên tương lai sẽ được đào tạo về dạy học tích hợp, liên môn ngay trongquá trình đào tạo giáo viên ở các trường Sư phạm
*Khó khăn khi triển khai:
Khó khăn của giáo viên hiện nay nếu có chỉ là vấn đề tâm lí Về thựcchất thì không có nhiều khó khăn cả về kiến thức lẫn phương pháp dạy học.Môn học Mĩ thuật là môn học không có chuẩn mực nhất định mà đánh giábằng tình cảm, cảm xúc và tri thức thẩm mỹ; nhu cầu sử dụng của từng đốitượng Những vấn đề cần diễn đạt, cần thể hiện trong cuộc sống khó có thểdiễn tả bằng ngôn ngữ: nói, viết, âm nhạc, cơ thể thì con người có thể diễnđạt, thể hiện bằng ngôn ngữ tạo hình
Phụ huynh học sinh thường định hướng cho con học những môn toán,văn, ngoại ngữ phục vụ cho việc thi vào cấp 3 Họ chưa hiểu biết được tầmquan trọng của môn Mĩ thuật áp dụng vào cuộc sống, họ chỉ coi đây là mônhọc bắt buộc trong trường học mà họ không nghĩ đến hiệu quả rất cao củamôn học Mĩ thuật mang lại đó là sự phát triển tư duy trí tuệ của học sinh đểhọc tốt các môn học khác, khơi gợi cảm xúc tình cảm của con người đối vớithiên nhiên với những giá trị văn hóa của nhân loại
* Xác định ý nghĩa thực tiễn của việc áp dụng đổi mới theo hướng tích hợp, liên môn.
- Đây là một tiết dạy về phân môn thường thức Mĩ thuật trong chươngtrình Mĩ thuật lớp 6 có tích hợp môn Ngữ văn, Địa lý, Lịch sử nhằm giớithiệu và giáo dục các em hiểu biết và tiếp thu kiến thức bài học đạt hiệu quảcao:
Trang 9Về phía giáo viên: Không chỉ nắm chắc kiến thức môn dạy trong sách
giáo khoa mà còn phải tìm hiểu sâu rộng kiến thức thực tế của địa phương,hướng dẫn các em giải quyết các tình huống, các vấn đề đặt ra trong mônhọc một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất
Về phía học sinh: Tích hợp trong giảng dạy sẽ giúp học sinh phát huy
sự suy nghĩ, tìm tòi, tư duy, sáng tạo trong học tập Biết tìm hiểu những vấn
đề có liên quan đến bài học, có kỹ năng giao tiếp, trình bày tự tin Cảm nhậnđược giá trị nghệ thuật
Việc sử dụng hợp lí các tài liệu liên môn trong dạy học Mĩ thuật giúphọc sinh củng cố, phát triển kiến thức Mĩ thuật, tạo ra không khí thoải máikhi học Tích hợp trong giảng dạy còn làm cho học sinh phát huy sự suynghĩ, tư duy, sáng tạo trong học tập và ứng dụng vào thực tế cuộc sống vàluôn luôn tự hào về truyền thống yêu nước, ý thức đoàn kết dân tộc, lịch sửphát triển của dân tộc Bên cạnh đó các em có ý thức rèn luyện các kĩ năngsống cho bản thân như: kĩ năng phát hiện vấn đề, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩnăng thuyết trình, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giải quyết tình huống
2.3.2 Các bước cụ thể trong việc thiết kế tiến trình dạy học bài: Sơ lược Mĩ thuật Việt Nam thời kì cổ đại- Mĩ thuật Lớp 6.
* Những kiến thức, kĩ năng, thái độ cần đạt:
- Xác định được vị trí của nhà nước Văn Lang trên lược đồ Địa lý
c Thái độ.
- Cảm thụ được vẻ đẹp, có ý thức giữ gìn và trân trọng những giá trị nghệ
thuật cha ông để lại
- Học sinh nhận thức đúng đắn và có ý thức học tập, giữ gìn, phát triểnnhững giá trị về truyền thống nghệ thuật dân tộc
* Xác định những kiến thức liên môn cần vận dụng để giải quyết các vấn đề của bài học:
* Môn Mĩ thuật :
- Học sinh hiểu sự xuất hiện và sơ lược về Mĩ thuật Việt Nam từ khi hìnhthành loài người ở Việt Nam
- Hiểu được sơ lược về Mĩ thuật Việt Nam thời đại đồ đá, đồ đồng.
Trang 10* Môn Địa lý:
- Giúp học sinh hiểu biết về đền Hùng tỉnh Phú Thọ và vị trí Địa Lí của nhànước Văn Lang tích hợp qua Tiết 47: Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ( Địa lí6)
- Giúp HS biết được những địa danh xuất hiện những di vật thời đại đồ đá,
đồ đồng
* Môn Văn học:
- Giúp học sinh cảm nhận được niềm tự hào của dân tộc được thể hiện quangòi bút tài hoa, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh trong những bài văn, thơ nói vềnước Văn Lang
- Giúp HS hiểu được từ thuở sơ khai của nước Văn Lang đã biết sử dụng vàphát triển nghệ thuật đồ dá, đồ đồng tích hợp qua tiết 9, 10: Sơn tinh, Thủytinh ( Ngữ văn 6)
* Môn Lịch sử:
- Giúp học sinh hiểu biết về sự hình thành và cơ cấu tổ chức của bộ máy nhànước Văn Lang tích hợp qua tiết 13: Nước Văn Lang ( Lịch sử 6)
- Giúp HS hiểu được sự ra đời của lịch sử Mĩ thuật Việt Nam cổ đại
* Xác định đối tượng dạy học của bài học:
* Đối tượng dạy học là HS khối 6- Trường THCS Xuân Dương
- Số lượng học sinh: 77 em
- Số lớp thực hiện: 02 lớp
* Đặc điểm cần thiết khác của học sinh:
- Học sinh có hứng thú học tập, thích được tìm tòi, nghiên cứu, thểhiện khả năng của bản thân và có nguyện vọng muốn tham gia học tập
* Xác định, lựa chọn phương pháp dạy học, xây dựng hệ thống câuhỏi, nội dung kiến thức, tư liệu, hình ảnh phù hợp và dự kiến các tình huốngphát sinh trong thực tiễn để có cách xử lí phù hợp
+ Phương pháp; kĩ thuật dạy học; phương pháp kiểm tra, đánh giá:
Dạy học theo phương pháp gợi mở, nêu vấn đề và giải quyết vấn đề,chia nhóm tìm hiểu, học sinh áp dụng công nghệ thông tin vào các hoạt độngnhóm, tích hợp liên môn, ứng dụng CNTT và phương tiện dạy học, hợp tácnhóm, củng cố, luyện tập, kiểm tra, đánh giá
+ Chuẩn bị thiết bị dạy học, học liệu:
- Máy tính, máy chiếu - kỹ năng trình chiếu powerpoint; Kỹ năng sọangiảng bằng chương trình word, phần mềm hỗ trợ cắt nhạc
- Sách giáo khoa: Âm nhạc và Mĩ thuật 6; Địa lí 6, Ngữ văn 6
- Tài liệu Lịch sử Việt Nam, Bản đồ Việt Nam, tranh ảnh
- Đồ dùng hoạt động nhóm: Giấy A3, bút dạ
+ Ứng dụng công nghệ thông tin:
- Sử dụng phần mềm Microsoft Office PowerPoint 2003, soạn giảngbằng các slides chứa thông tin, hình ảnh
Trang 11- Sử dụng phần mềm Violet bản dùng thử tải từ Internet.
2.3.3 Soạn giáo án theo hướng dạy học tích hợp:
Bài 2 - Tiết 2: Sơ lược Mĩ thuật Việt Nam thời kì cổ đại.
- Xác định được vị trí của nhà nước Văn Lang trên lược đồ Địa lý
c Thái độ.
- Cảm thụ được vẻ đẹp, có ý thức giữ gìn và trân trọng những giá trị nghệ
thuật cha ông để lại
- Học sinh nhận thức đúng đắn và có ý thức học tập, giữ gìn, phát triểnnhững giá trị về truyền thống nghệ thuật dân tộc
II CHUẨN BỊ.
1 Giáo viên.
- Tranh ảnh, máy chiếu
- Tài liệu tham khảo Mĩ thuật của người Việt, bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam,tranh ảnh về Mĩ thuật cổ đại, Tranh trống đồng cỡ lớn, bản đồ khu vực Châu
Á, SGK, Giáo án
2 Học sinh.
- SGK, vở ghi
- Giấy A3, bút dạ
III TIẾN TRÌNH DẠY- HỌC.
1 Kiểm tra ? Nêu cách chép hoạ tiết trang trí dân tộc?
2 Bài mới Thời kì cổ đại qua đi để lại cho Mĩ thuật Việt Nam những sản
phẩm vô giá Đó là những sản phẩm về điêu khắc chạm khắc mạng đậm néthào hùng và tinh thần dân tộc sâu sắc
Hoạt động của GV và HS Yêu cầu cần đạt
Hoạt động 1 Sơ lược về bối cảnh
lịch sử.
- Tích hợp kiến thức môn Lịch sử
( Bài 12, Tiết 13- Lịch sử 6):
? Nhà nước đầu tiên của người Lạc
Việt có tên là gì? ra đời khoảng thời
gian nào?
I Sơ lược về bối cảnh lịch sử