1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phương pháp rèn luyện kỹ năng làm các dạng bài biểu đồ địa lí lớp 9 ở trường THCS ngọc khê

20 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Địa lí là một bộ môn khoa học với lượng kiến thức rộng bao gồm Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội là môn khoa học xuất phát từ thực tế và trở về phục vụ cho đời sống khoa học và đời số

Trang 1

MỤC LỤC

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4

2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm, giải pháp đã sử dụng để giải

quyết vấn đề

5

2.3.2 Các dạng bài tập biểu đồ và cách lựa chọn thích hợp 5 2.3.3 Nội dung cụ thể từng loại bài tập biểu đồ 6

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo

dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường

17-18

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

1.1.Lý do chọn đề tài

Địa lí là một bộ môn khoa học với lượng kiến thức rộng bao gồm Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội là môn khoa học xuất phát từ thực tế và trở về phục vụ cho đời sống khoa học và đời sống xã hội vì vậy trong quá trình biên soạn ngoài phần kiến thức lí thuyết thì trong bộ môn còn được thể hiện kiến thức Địa lí thông qua các bài thực hành được thể hiện cụ thể qua các bảng số liệu các bài tập, sơ đồ , biểu đồ Vì vậy rèn luyện các kỹ năng làm các dạng bài tập biểu đồ là một yêu cầu rất quan trọng của việc học tập môn Địa lí đặc biệt là đối với các em học sinh khối lớp 9 càng quan trọng hơn nữa, bởi ở lớp 9 không chỉ đòi hỏi các em làm các bước

cơ bản mà đòi hỏi các em phải hình thành được kỹ năng Địa lí thuần thục để từ đó học tốt bộ môn Địa lí

Trong chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 9 hiện hành gồm có 52 tiết học, thì trong đó đã có tới 11 tiết thực hành; trong đó có 6 tiết về vẽ biểu đồ và có 13 bài tập về rèn luyện kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ sau các bài học của học sinh, trong phần câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa Như vậy chúng ta thấy được môn Địa lí lớp 9 hiện nay không chỉ chú trọng đến việc cung cấp cho học sinh những kiến thức lí thuyết, mà còn giúp các em rèn luyện những kỹ năng địa lí cần thiết, đặc biệt như kỹ năng tính toán xử lí bảng số liệu, vẽ biểu đồ, nhận xét và giải thích các nguyên nhân dựa vào biểu đồ và bảng số liệu Bởi thông qua biểu đồ các

em sẽ thấy được các mối liên hệ giữa những đối tượng địa lí đã học, từ đó giải thích được và thấy được tình hình, xu hướng phát triển hoặc không phát triển của các đối tượng §ịa lí Hoặc từ các bảng số liệu, các biểu đồ mà các em vừa sử lí, phân tích, nhận xét sẽ cho các em những hiểu biết mới những kiến thức mới từ đó các em sẽ học tập ngày một tốt hơn và đặc biệt hơn nữa là sẽ tạo ra những con người có tri thức mới, năng động sáng tạo, nhạy bén, sử dụng tốt kiến thức Địa lí của mình vào các tình huống mới và giải quyết tốt các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày và nắm bắt được xu thế phát triển của xã hội đang sinh sống và sự phát triển của thế giới

Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy tại trường THCS Ngọc Khê bản thân tôi nhận thấy, với nhiều em học sinh lớp 9 của trường trong đó có cả học sinh khá, giỏi khi làm các bài thực hành, các bài tập liên quan đến kĩ năng biểu đồ thì đa số các em còn lúng túng và gặp nhiều khó khăn dẫn tới em không làm được hoặc không chịu tìm tòi để làm các bài tập liên quan đến biểu đồ Đứng trước thực trạng đó là một giáo viên trực tiếp giảng dạy các em bản thân tôi luôn trăn trở mong muốn các em học sinh đặc biệt là các em học sinh khối lớp 9 phải có một kỹ năng Địa lí thật vững để trong học tập các em có thể và sẽ làm tốt các bài tập là dạng bài biểu đồ, các bài tập có liên quan đến kỹ năng làm các bài tập biểu đồ từ

đó hình thành một kỹ nằn địa lí một cách thuần thục giúp các em học tập tốt và ngày càng yêu thích bộ môn Địa lí

Trang 3

Như vậy với mong muốn tìm tòi thêm ngững giải pháp nhằm góp phần ngày một nâng cao hơn nữa về chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, đó là lí do tôi thực hiện đề tài:

“Phương pháp rèn luyện kỹ năng làm các dạng bài biểu đồ Địa lí lớp 9 ở trường THCS Ngọc Khê” Nhằm giáo dục toàn diện kiến thức lí thuyết và kỹ năng

làm các dạng bài biểu đồ cho học sinh, khắc phục những khó khăn trên và góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường

Trong bài viết này, tôi xin đưa ra một số phương pháp nhằm giải quyết vấn đề

cụ thể mà bản thân tôi đã áp dụng trong quá trình dạy học với các tiết học bài học Địa lí 9 cụ thể

1.2.Mục đích nghiên cứu của đề tài.

Rèn luện các kỹ năng làm các dạng bài tập biểu đồ trong sách giáo khoa địa lí lớp 9 nhằm giúp cho giáo viên và học sinh có những biện pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và học tập, đặc biệt tạo cho các em sự hứng thú trong

họ tập, yêu thích, say mê, tìm tòi những điều thú vị từ môn Địa lí từ việc yêu thích

bộ môn sẽ giúp các em học tập ngày một tốt hơn đó củng cố, nâng cao việc rèn luyện kỹ năng làm các dạng bài biểu đồ cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Địa lí trong nhà trường

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu: Các bài thực hành, các dạng bài tập biểu đồ trong sách giáo khoa địa lí lớp 9 và các đề kiểm tra 45 phút, bài thi học kỳ, bộ đề thi học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh qua các năm

- Khách thể nghiên cứu: 90 em học sinh lớp 9 - Trường THCS Ngọc Khê – Ngọc Lặc

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

- Phương pháp quan sát: nhằm tìm hiểu việc rèn luyện kỹ năng làm các dạng bài tập biểu đồ của học sinh trong giờ học

- Phương pháp điều tra: nhằm đánh giá thực trạng có bao nhiêu học sinh còn yếu - kém khi thực hành kỹ năng làm các dạng biểu đồ

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Thông qua kết quả các bài kiểm tra có thể đánh giá chất lượng và hiệu quả các bài tập về kỹ năng vẽ biểu đồ của học sinh

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Trong quá trình hội nhập nền kinh tế ngày nay, giáo dục được coi là một lĩnh vực rất quan trọng và luôn đi trước một bước trong sự nghiệp phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Vì vậy, vấn đề chất lượng dạy và học nói chung và dạy học địa lí nói riêng ngày càng trở thành mối quan tâm chung của các nhà sư phạm cũng như các nhà quản lý giáo dục và xã hội

Đảng và nhà nước ta đã khẳng định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển" điều đó đã thể hiện trong các nghị quyết TW;

Trang 4

nghị quyết TW 4 khóa VII đã chỉ rõ " Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học Kết hợp học với hành, học tập với lao động động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề"

Môn Địa lí có khả năng cung cấp cho học sinh một khối lượng tri thức phong phú về mặt tự nhiên, về kinh tế - xã hội và những kĩ năng , kĩ xảo Môn Địa lí cung cấp cho học sinh những kiến thức về khoa học tự nhiên, dân cư, chế độ xã hội và các hoạt động kinh tế của con người ở khắp nơi trên Trái đất Môn Địa lí

Cũng trang bị cho học sinh một số kĩ năng kĩ xảo để học sinh vận dụng các kiến thức của khoa học địa lí vào thực tiễn, làm quen với các phương pháp nghiên cứu, quan sát, điều tra, làm việc với bản đồ, số liệu thống kê để các có thể vân dụng trong thực tiễn

Đối với môn Địa lý lớp 9 hiện hành có những kiến thức cơ bản về địa lí dân

cư, địa lí các nghành kinh tế, sự phân hoá lãnh thổ bao gồm 7 vùng về tự nhiên, kinh tế xã hội của nước ta và địa lí địa phương nơi các em đang sinh sống và học tập Bộ môn Địa lí 9 góp phần hình thành cho học sinh thế giới quan khoa học, giúp các em có kiến thức về tkhoa học tự nhiên và khoa học xã hội từ đó vận dụng những kiến thức mình đã học vào trong thực tiễn cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày

và có những ứng xử phù hợp với những yêu cầu phát triển của xã hội hiện nay Trong dạy học nói chung và giảng dạy bộ môn địa lí nói riềng mỗi một môn học đều có những phương pháp đặc trưng riêng của bộ môn mình nhưng trong đó không thể thiếu được phương ph¸p dạy học theo định hướng tÝch cực hóa hoạt động học tập của học sinh từ phương pháp này các em sẽ tự mình được tìm tòi, tư duy sáng tạo để bài học đạt kết quả cao Vì vậy để hình thành được kĩ năng địa lí cho các em học sinh đó chính là các bảng số liệu thống kê, các bài tập biểu đồ Từ các dạng biểu đồ, lược đồ đó được xem là phương tiện trực quan giúp học sinh tìm tòi khám phá khai thác và lĩnh hội kiến thức, các em có thể nhận xét, giải thích, chứng minh của các sự vật hiện tượng địa lí, tìm ra mối liên hệ mật thiết giữa các

sự vật và hiện tượng đó với nhau từ đó rút ra được những tri thức mới Tuy nhiên

để đạt được kết quả cao đòi hỏi giáo viên phải có các phương pháp rèn luyện cho học sinh các kỹ năng nhận biết, nhận xét biểu đồ, từ đó hình thành cho các em có được những kĩ năng địa lí một cách tốt nhất

Từ những vấn đề nêu trên bản thân tôi nhận thấy trong quá trình dạy học Địa

lí việc rèn các kỹ năng cho học sinh làm các bài tập biểu đồ là vô cùng cần thiết

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

2.2.1 Về giáo viên.

Thông qua thực tiễn dạy học, qua tìm hiểu một số giáo viên dạy địa lí ở các bạn đồng nghiệp và một số trường trong cụm chuyên môn cho thấy hầu hết các giáo viên đều thấy rằng việc hình thành kĩ năng cho học sinh thực sự chưa được chú trọng đúng mức do thực tiễn vẫn còn có tình trạng giáo viên phải dạy chéo

môn học chưa thực sự hiểu thấu đáo tinh thần đổi mới phương pháp phù hợp với

đặc trưng từng bộ môn, cũng có giáo viên dạy đúng chuyên môn của mình nhưng

Trang 5

chưa thật sự chú trọng trong việc hình thành kĩ năng địa lí cho học sinh nên trong quá trình giảng dạy thường không giành nhiều thời gian cho các bài kĩ năng, hoặc thậm trí có những giáo viên còn xác định sai cách vẽ biểu đồ hoặc sử lí số liệu dẫn tới việc lúng túng trong soạn giảng cũng như thực hiện giờ dạy trên lớp làm cho giờ học trở nên nặng nề, nhàm chán Đặc biệt là các tiết thực hành có các bài tập về

vẽ và nhận xét biểu đồ giáo viên còn xem nhẹ việc rèn kĩ năng cho học sinh, hoặc chỉ hướng dẫn qua loa rồi tự cho học sinh làm, chưa kiểm tra đầy đủ và uốn nắn kịp thời

2.2.2 Về học sinh.

Trên thực tế giảng dạy, phần lớn học sinh lớp 9 còn bản thân tôi nhận thấy đa số các em học sinh lúng túng trong cách xứ lí số liệu, chọn biểu đồ không đúng; vẽ các dạng biểu đồ chưa khao học, đa số các em không có hứng thú và thậm trí các

em cho biết là thường bỏ qua các bài tập biểu đồ, một số em thì cho rằng đó là các bài tập biểu đồ chỉ giành cho đối tượng học sinh giỏi Kết quả khảo sát về nội dung làm các bài tập biểu đồ về vẽ và nhận xét biểu đồ thường đạt kết quả thấp cụ thể:

* K t qu kh o sát h c t p c a h c sinh trọc tập của học sinh trường THCS Ngọc Khê trước khi thực ập của học sinh trường THCS Ngọc Khê trước khi thực ủa học sinh trường THCS Ngọc Khê trước khi thực ọc tập của học sinh trường THCS Ngọc Khê trước khi thực ường THCS Ngọc Khê trước khi thựcng THCS Ng c Khê trọc tập của học sinh trường THCS Ngọc Khê trước khi thực ước khi thựcc khi th cực

hi n sáng ki n kinh nghi m.ện sáng kiến kinh nghiệm ện sáng kiến kinh nghiệm

Khối

lớp

Tổng số học sinh

KẾT QUẢ XẾP LOẠI

Như vậy, việc rèn luyện những kỹ năng làm các dạng bài tập biểu đồ địa lý là rất cần thiết cho việc học tập đồng thời cũng chuẩn bị kỹ năng cho việc tiếp thu kiến thức một tốt hơn

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

2.3.1 “Biểu đồ” là gì?

- Biểu đồ là một hình vẽ, cho phép mô tả một cách dễ dàng động thái phát triển của một hiện tượng (như quá trình phát triển công nghệ qua các năm, dân số qua các năm, mối tương quan về độ lớn giữa các đại lượng (như so sánh sản lượng lương thực giữa các vừng…) hoặc cơ cấu thành phần của một tổng thể (ví dụ như

cơ cấu của nền kinh tế )

- Các loại biểu đồ rất phong phú, đa dạng Mỗi loại biểu đồ lại có thể được dùng để biểu hiện nhiều chủ đề khác nhau Vì vậy, khi vẽ biểu đồ, việc đầu tiên là phải đọc kỹ đề bài để tìm hiểu chủ đề định thể hiện trên biểu đồ sau đó căn cứ vào chủ đề đã được xác định để lựa chọn loại biểu đồ thích hợp nhất để vẽ

2.3.2 Các dạng bài tập biểu đồ và cách lựa chọn thích hợp.

a.Các dạng bài tập biểu đồ cơ bản trong sách giáo khôa địa lí 9: Biểu đồ

cột, biểu đồ cột chồng, biểu đồ kết hợp biểu đồ tròn, biểu đồ đường, biểu đồ miền

b.Cách lựa chọn biểu đồ thích hợp:

Trang 6

* Khi nào vẽ biểu đồ cột?

- Khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ cột hay vẽ biểu đồ thể hiện quy mô, tình hình phát triển của một hay một số đối tượng địa lí hoặc để so sánh độ lớn của các đối tượng

- Đề bài thường có các từ: Tình hình, sự phát triển, so sánh( sản lượng, số lượng, khối lượng, diện tích )

- Một số dạng biểu đồ thường gặp gồm: Biểu đồ cột đơn, biểu đồ cột chồng, biểu đồ nhóm cột, biểu đồ thanh ngang

* Khi nào vẽ biểu đồ tròn?

- Khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ tròn hay biểu đồ cơ cấu, tỉ lệ các thánh phần trong 1-3 mốc thời gian Biểu đồ tròn có thể vừa thể hiện quy mô, vừa thể hiện cơ cấu đối tượng

- Dấu hiệu nhận biết: đề bài thường có từ: Cơ cấu, tỉ trọng, tỉ lệ

* Khi nào vẽ biểu đồ đường?

- Vẽ biểu đồ đường khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ đường hay biểu đồ thể hiện

sự phát triển, tốc độ tăng trưởng qua các mốc thời gian

- Đề bài thường có các cụm từ: Tốc độ phát triển, tăng trưởng, biến động, phát triển

- Các loại biểu đồ dạng đường gồm: đường theo giá trị tuyệt đối, và đường theo giá trị tương đối

* Khi nào vẽ biểu đồ miền?

- Khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ miền hay biểu đồ cần thể hiện cơ cấu tỉ lệ của các thành phần đại lượng qua 4 mốc thời gian trở lên

Lưu ý khi vẽ biểu đồ là: Đối với mỗi dạng biểu đồ đều có phương pháp vẽ

khác nhau Tuy nhiên yêu cầu chung cho các dạng biểu đồ là:

- Biểu đồ gồm đơn vị, năm, tên biểu đồ, bảng chú giải

- Biểu đồ phải có tính mỹ quan và đảm bảo chính xác

-Trong khi làm bài tập, bài kiểm tra nếu đề bài yêu cầu vẽ cụ thể là biểu đồ tròn, cột thì chúng ta theo thứ tự các bước để thực hiện, còn nếu đề bài chưa yêu cầu vẽ cụ thể thì học sinh phải căn cứ vào bảng số liệu để lựa chọn biểu đồ sao cho phù hợp với nội dung, yêu cầu của đề bài

2.3.3 Nội dung cụ thể từng loại bài tập biểu đồ

Đối với mỗi bài tập biểu đồ khi hướng dẫn cho học sinh giáo viên cần lần lượt thực hiện các nội dung sau:

2.3.3.1 Biểu đồ cột: là dạng biểu đồ mà học sinh đã được học ở các lớp dưới.

* Biểu đồ cột đơn

- Ý nghĩa: So sánh các đại lượng, động thái theo thời gian của một đối tượng địa lí.

VD: Tình hình dân số qua một số năm, thu nhập bình quân đầu người một số nước Đông Nam Á

- Cách vẽ:

+ Trục ngang: Chỉ thời gian (cần chia đơn vị thời gian nếu có) hoặc biểu hiện các đối tượng

+ Trục dọc: Chỉ số lượng (cần ghi chú đầu trục: biểu hiện đơn vị)

Trang 7

+ Chọn gốc toạ độ

+ Vẽ các cột theo số liệu: Bề rộng các cột bằng nhau, giá trị ghi trên đầu cột, không nối đỉnh cột

- Lưu ý: Các biểu đồ cột đơn biểu hiện các đối tượng khác nhau có thể vẽ cạnh

nhau để dễ so sánh (cần làm kí hiệu khác nhau)

Ví dụ: So sánh diện tích cây công nghiệp và cây lương thực qua một số năm

* Biểu đồ cột chồng

- Ý nghĩa:

+ Vẽ theo giá trị tuyệt đối: Thể hiện quy mô và các thành phần của tổng thể

+ Vẽ theo giá trị tương đối: Thể hiện cơ cấu và sự thay đổi cơ cấu theo thời gian, không gian

- Cách vẽ:

+ Vẽ hệ thống trục: Như trường hợp biểu đồ cột đơn

+ Vẽ chồng nối tiếp giá trị các thành phần của tổng thể trên một cột (theo thời gian, không gian)

Ví dụ: Sản lượng tôm nuôi năm 1995 và 2002 phân theo vùng

* Biểu đồ thanh ngang

- Ý nghĩa: Để so sánh các đại lượng

- Cách vẽ: Đây là dạng biểu đồ cột được vẽ trên hệ thống trục ngược với biểu đồ

cột đơn:

+ Trục ngang: Biểu hiện giá trị

+ Trục dọc: Biểu hiện các đối tượng vùng so sánh

Ví dụ: Tỉ lệ thất nghiệp các vùng

* Yêu cầu chung:

- Biểu đồ gồm hệ trục tọa độ ox, oy vuông góc với nhau: ox biểu thị đơn vị,

oy biểu thị năm hoặc vùng miền

- Tên biểu đồ

- Bảng chú giải

Cụ thể: Ví dụ: Dựa vào bảng 18.1 vẽ biểu đồ hình cột và nhận xét về giá trị sản xuất công nghiệp ở hai tiều vïng Đông Bắc và Tây Bắc.

B ng 18.1: Giá tr s n xu t công nghi p Trung Du v mi n núi B c Bị sản xuất công nghiệp ở Trung Du và miền núi Bắc Bộ ất công nghiệp ở Trung Du và miền núi Bắc Bộ ện sáng kiến kinh nghiệm ở Trung Du và miền núi Bắc Bộ à miền núi Bắc Bộ ền núi Bắc Bộ ắc Bộ ộ (đơn vị: tỉ đồng).n v : t ị sản xuất công nghiệp ở Trung Du và miền núi Bắc Bộ ỉ đồng) đồng).ng)

Năm

Tiểu vùng

Cách vẽ:

Bước 1: Học sinh nghiên cứu bảng 18.1 ( Đơn vị, số liệu)

-Vẽ hệ trục tọa độ:

+ Trục tung đơn vị ( tỉ dồng)

+ Trục hoành: (năm)

Bước 2: Tiến hành vẽ theo năm: năm 1995 sau đó đến năm 2000 , 2002.

Dùng kí hiệu riêng để phân biệt hai tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc

Trang 8

2000

4000

6000

8000

10000

12000

14000

6179.2

10657.7

14301.3

320.5

Năm

Bước 3: Viết tờn biểu đồ; Lập bảng chỳ giải

BIỂU ĐỒ GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CễNG NGHIỆP GIỮA HAI

TIỂU VÙNG ĐễNG BẮC VÀ TÂY BẮC GIAI ĐOẠN NĂM 1995 - 2000

Tỉ đồng

Chú thích: Đông Bắc

Tây Bắc

Nhận xột : Khi nhận xột GV cần cho HS nhận xột về sự biến động về số liệu

của cả hai vựng trước bằng cỏc cõu hỏi: tăng hay giảm?, tăng giảm nhanh hay chậm? Cú vừa tăng lại vừa giảm khụng? Sau đú mới cho HS so sỏnh sự khỏc nhau giữa hai vựng bằng cỏch quan sỏt biểu đồ và bảng số liệu, tớnh toỏn để cú được nhận xột cụ thể (hơn kộm nhau bao nhiờu lần), cú thể hỏi thờm về nguyờn nhõn dẫn đến sự khỏc nhau đú để củng cố kiến thức cũ Cụ thể:

- Từ 1995 – 2002 giỏ trị sản xuất cụng nghiệp ở hai tiều vựng Đụng Bắc và Tõy Bắc đều liờn tục tăng , tính đến năm 2002

+ Đụng bắc tăng gấp 2,17 lần so với năm 1995

+ Tõy Bắc tăng gấp 2,3 lần so với năm 1995

- Giỏ trị sản xuất cụng nghiệp ở tiểu vựng Đụng Bắc luôn cao hơn giỏ trị

sản xuất cụng nghiệp ở Tõy Bắc

+ Năm 1995 gấp 19,3 Năm 2000 gấp 19,7 lần Năm 2002 gấp 20,5 lần

Kết luận: Biều đồ cột là dạng biểu đồ dễ vẽ và dễ hiểu Thụng qua biều đồ cột

học sinh cú thề nhận xột cỏc đối tượng, yếu tố địa lý một cỏch trực quan nhất, nhận xột và so sỏnh dễ dàng hơn bảng số liệu

2.3.3.2.Biểu đồ trũn

- í nghĩa: So sỏnh cỏc thành phần trong một cơ cấu (tớnh theo %) Hai hay nhiều

biểu đồ trũn so sỏnh quy mụ, sự thay đổi tỉ trọng cỏc thành phần trong cơ cấu theo thời gian (hoặc khụng gian)

Vớ dụ: Biểu đồ cơ cấu cụng nghiệp qua 2 năm 1989, 1993 hoặc biểu đồ cơ cấu giỏ trị sản xuất ngành trồng trọt

Trang 9

- Cách vẽ: Một vòng tròn biểu hiện 100% Bắt đầu vẽ đường bán kính thẳng đứng.

Vẽ các thành phần theo đúng tỉ lệ (1% tương ứng 3.60) theo thứ tự đề bài và chiều

kim đồng hồ Ghi chú: Giải thích các kí hiệu đã vẽ, ghi số liệu ngay trên hình vẽ.

- Lưu ý: Khi vẽ từ 2 vòng tròn trở lên, cần chú ý vẽ độ lớn các vòng tròn theo giá

trị so sánh (quy mô, cơ cấu)

Cụ thề:

Cho bảng số liệu sau:

Giá trị xuất khẩu hàng hoá phân theo nhóm hàng

của nước ta năm 2010 và năm 2014

( Đơn vị: Triệu USD)

Năm

Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản 22402,9 66546,2

Hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp 33336,9 57983,8

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2014, Nhà xuất bản thống kê năm 2015)

1 Vẽ biểu đồ thích hợp nhất thể hiện cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng hoá phân

theo nhóm hàng của nước ta năm 2010 và năm 2014

2 Từ bảng số liệu và biểu đồ đã vẽ rút ra nhận xét

Bước 1: GV yêu cầu, hướng dẫn học sinh sử lí số liệu

- Xử lí số liệu:

Bảng số liệu cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng hoá phân theo nhóm hàng của nước ta

năm 2010 và năm 2014

(Đơn vị: tỉ đồng).n v : %)ị sản xuất công nghiệp ở Trung Du và miền núi Bắc Bộ

Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản 31,0 44,3

Hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công

nghiệp

46,2 38,6

Bước 2: Tính bán kính đường tròn theo công thức:

R R n

1

2 

- Tính qui mô v bán kính:à miền núi Bắc Bộ

Bước 3 : Vẽ biểu đồ

Trang 10

Đối với biểu đồ cho bán kính trước để vẽ được chính xác giáo viên nên hướng dẫn học sinh dùng thước kẻ có chia mm, vẽ đường bán kính trước ( một đường độ dài 20mm, một đường dài 28mm) Sau đó dùng compa đặt đúng vào hai đầu của đường bán kính rồi quay ta được đường tròn chính xác Nếu học sinh vẽ theo cách

đo bán kính 20mm vào thước sau đó đặt compa vào giấy quay thì khi quay thường compa không được độ chính xác như ta kẻ bán kính trước

+ Biểu đồ tròn Có thể tham khảo biểu đồ sau:

Biểu đồ thể hiện cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng hoá phân theo nhóm hàng của nước

ta năm 2010 và năm 2014

+ Yêu cầu: Chính xác, khoa học, có tên biểu đồ, năm, chú giải, số liệu ghi trên biểu đồ…

*Nhận xÐt:

- Đây là những mặt hàng chính trong xuất khẩu của nước ta hiện nay

- Tổng giá trị hàng xuất khẩu tăng (dẫn chứng)

+ Giá trị xuất khẩu theo nhóm hàng ở nước ta đều tăng nhanh, tuy nhiên có sự khác nhau

∙ Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản tăng (gấp 2,97 lần); Hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng (1,74 lần); Hàng nông, lâm, thuỷ sản tăng (1,56 lần)

∙ Tăng nhanh nhất là hàng công nghiệp nặng và khoáng sản; hàng nông, lâm, thuỷ sản tăng chậm nhất

- Trong cơ cấu giá trị xuất khẩu phân theo nhóm hàng ở nước ta có sự thay đổi + Năm 2010 tỉ trọng hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất; thấp nhất là tỉ trọng nhóm hàng nông, lâm, thủy sản Năm 2014 tỉ trọng hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm cao nhất; thấp nhất vẫn là tỉ trọng nhóm hàng nông, lâm, thủy sản

+ Tỉ trọng hàng công nghiệp nặng và khoáng sản tăng; tỉ trọng hàng công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp và hàng nông, lâm, thủy sản giảm (dẫn chứng)

Kết luận:

Biểu đồ tròn là dạng biểu đồ được áp dụng nhiều trong môn địa lý lớp 9 THCS và THPT, được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế Nhìn vào biểu đồ tròn

Ngày đăng: 31/10/2019, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w