Nghiên cứu một số yếu tố dự báo sớm khối máu tụ lan rộng ở bệnh nhân chảy máu não tự phát.. Vai trò của dấu hiệu “spot”, thang điểm “spot sign” trên chụp cắt lớp vi tính mạch não trong d
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN SONG HÀO
mét sè yÕu tè dù b¸o sím khèi m¸u tô
TRONG TI£N L¦îNG ch¶y m¸u n·o Tù PH¸T
GIAI §O¹N CÊP
Chuyên ngành : Hồi sức cấp cứu
Mã số : 62720122
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS Nguyễn Đạt Anh
2 PGS.TS Vũ Đăng Lưu
Phản biện 1: PGS.TS Mai Xuân Hiên
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Văn Chi
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Văn Liệu
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước
Họp tại: Trường Đại học Y Hà Nội
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội
Trang 3NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
ĐÃ CÔNG BỐ
1 Nguyễn Song Hào, Nguyễn Đạt Anh, Vũ Đăng Lưu (2019) Nghiên cứu một số yếu tố dự báo sớm khối máu tụ lan rộng ở bệnh nhân
chảy máu não tự phát Tạp chí y học Việt Nam, tập 481 (1), 75-80
2 Nguyễn Song Hào, Nguyễn Đạt Anh, Vũ Đăng Lưu (2019) Vai trò của dấu hiệu “spot”, thang điểm “spot sign” trên chụp cắt lớp vi tính mạch não trong dự báo sự lan rộng của khối máu tụ và kết cục lâm sàng ở
bệnh nhân chảy máu não Tạp chí y học Việt Nam, tập 477 (1),
117-122
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Tính cấp thiết của đề tài
Chảy máu não (CMN) là một bệnh lý thần kinh thường gặp, có tỷ lệ
tử vong cao, di chứng nặng nề, là gánh nặng lớn cho gia đình và xã hội Trên thế giới mỗi năm có khoảng 2 triệu người bị CMN Mặc dù đã có nhiều phương tiện hiện đại được ứng dụng trong chẩn đoán, điều trị và hồi sức BN đột quỵ nhưng tỷ lệ tử vong trong 30 ngày còn cao, lên đến
30 - 50% Trong đó khoảng một nửa số trường hợp tử vong trong pha
cấp, đặc biệt là trong 48 giờ đầu
Khối máu tụ (KMT) lan rộng là biến chứng thường xảy ra sớm và trầm trọng sau CMN Mặc dù KMT lan rộng là một trong những cơ chế bệnh sinh chính trong các pha của CMN nhưng cũng là biến chứng nghiêm trọng sau pha cấp Cơ chế của KMT lan rộng trong pha cấp cho đến nay vẫn còn chưa được giải thích rõ ràng KMT lan rộng là yếu tố tiên lượng độc lập dự báo nguy cơ tử vong và kết cục xấu ở BN CMN Nhiều yếu tố dự báo sớm KMT lan rộng đã được xác định như: thể tích KMT ban đầu, hình dạng KMT không đều, rối loạn ý thức khi nhập viện, thời gian từ khi khởi phát đến khi nhập viện ngắn, sử dụng thuốc chống đông, tỷ trọng KMT không đồng nhất Một số nghiên cứu gần đây cho thấy một chỉ điểm mới dự báo sớm KMT lan rộng là sự thoát thuốc cản quang “contrast extravasation” hay dấu hiệu “spot” trên chụp cắt lớp
vi tính (CTA) mạch máu não trong CMN cấp tính Dấu hiệu “spot” là sự thoát mạch của thuốc cản quang nằm ở vùng rìa hoặc trung tâm KMT nhu mô não, mà có thể quan sát thấy bằng mắt thường trên phim chụp CLVT mạch não Delgado Almandoz và CS (2010) đã công bố rằng, dấu hiệu “spot” và giá trị thang điểm “spot sign” là yếu tố tiên lượng độc lập,
dự đoán nguy cơ tử vong trong điều trị nội trú và kết cục tồi ở những BN
sống sót
Trong thực hành lâm sàng, các thang điểm giúp cho người thầy thuốc lâm sàng đánh giá BN nhanh chóng, hiệu quả để kịp thời để có các biện pháp xử trí tốt nhất cho BN, góp phần quan trọng nâng cao chất
lượng chuyên môn, làm tăng khả năng cứu chữa
Trang 5Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Ở Việt Nam cũng có một vài nghiên cứu về một số yếu tố tiên lượng trong CMN do tăng HA, nhưng chưa có nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ tác động của các yếu tố nguy cơ dự báo sớm KMT lan rộng cũng như giá trị của thang điểm “spot sign” để tiên lượng mức độ nặng, nguy cơ tử vong và tàn phế
ở bệnh nhân CMN Phát hiện các yếu tố nguy cơ dự báo sớm KMT lan rộng, đồng thời có được thang điểm tiên lượng thực sự có giá trị là một yêu cầu cấp thiết đối với các thầy thuốc lâm sàng, nhất là trong xử trí cấp
cứu đột quỵ
Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Một
số yếu tố dự báo sớm khối máu tụ lan rộng và giá trị của thang điểm
“spot sign” trong tiên lượng chảy máu não tự phát giai đoạn cấp”, nhằm
(Tiếng Việt, tiếng Anh)
3 Những đóng góp mới của luận án
Đây là nghiên cứu đầu tiên trong nước đề cập đầy đủ về các yếu tố
dự báo sớm KMT lan rộng ở các bệnh nhân Việt Nam Kết quả nghiên
cứu không trùng lặp với các nghiên cứu khác trong và ngoài nước
Nghiên cứu đã xác định được giá trị của thang điểm “spot sign” trong tiên lượng tử vong, kết cục tàn phế trong điều trị nội trú cũng như
sau 3 tháng điều trị ở bệnh nhân CMN
Nghiên cứu này là đóng góp mới trong thực hành lâm sàng, giúp cho các bác sỹ lâm sàng, nhất là các bác sỹ tại các khoa Hồi sức cấp cứu mà
Trang 6không phải chuyên khoa thần kinh có thêm cơ sở để đánh giá tiên lượng BN,
từ đó có các chiến lược xử trí sớm và phù hợp cho bệnh nhân CMN cấp
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ KHỐI MÁU TỤ LAN RỘNG
1.1.1 Thuật ngữ và định nghĩa
Thuật ngữ về hiện tượng KMT lan rộng sau CMN tự phát chưa từng được sử dụng một cách thống nhất trong các tài liệu khoa học Vì thế, nhiều tác giả đã định nghĩa KMT lan rộng là tất cả hình thái của sự mở rộng theo chiều không gian của chảy máu ban đầu gồm có; tăng thể tích KMT trong nhu mô não, chảy vào trong não thất hoặc chảy vào trong khoang dưới nhện sát ngay cạnh nguồn chảy máu ban đầu và không bao gồm hình thành phù não quanh KMT
KMT được xác định là lan rộng sớm khi xảy ra trong vòng 24 giờ
đầu sau khi khởi phát CMN tự phát
1.1.2 Ngưỡng xác định khối máu tụ lan rộng
Ngưỡng xác định KMT lan rộng còn chưa thống nhất qua các nghiên cứu Theo Steiner T (2010) sử dụng ngưỡng cut - off để xác định
sự lan rộng có ý nghĩa là >33% hoặc >12,5 ml Theo Wada R (2007), sử dụng định nghĩa > 30% hoặc > 6ml và được hỗ trợ bởi các nghiên cứu trước đây về CMN do chấn thương thể hiện nhu cầu can thiệp phẫu thuật khi KMT tăng thêm 5ml Theo Kazui (1996), KMT được xác định là lan rộng khi tăng 12,5ml hoặc 1,4 lần, là ngưỡng điểm cắt tối ưu cho đánh
giá KMT lan rộng bằng mắt thường
1.1.3 Phân biệt chảy máu não nguyên phát và thứ phát
Chảy máu não không do chấn thương được chia làm 2 phân nhóm
chính chảy máu não nguyên phát và chảy máu não thứ phát:
CMN nguyên phát chiếm khoảng 78-88% các trường hợp, bắt nguồn
từ sự vỡ các mạch máu nhỏ mà bệnh lý nền không rõ ràng do tăng HA hoặc bệnh mạch máu não nhiễm bột Các yếu tố nguy cơ chính gây CMN nguyên phát là do tăng HA, bệnh mạch máu não nhiễm bột, cholesterol
máu thấp, rượu, thuốc lá
CMN thứ phát xảy ra trong số lượng ít hơn chiếm khoảng 20% do bất thường về mạch máu (dị dạng động tĩnh mạch não, phình động mạch,
Trang 7cavernome mạch não), u não tân sinh, rối loạn đông máu, chấn thương,
lạm dụng ma túy
1.2 MỘT SỐ YẾU TỐ DỰ BÁO KHỐI MÁU TỤ LAN RỘNG
1.2.1 Thời gian từ khi khởi phát đến khi nhập viện ngắn
Nghiên cứu hồi cứu Fujii Y (1994) hay Kazui (1996) đã chứng minh rằng những BN nhập viện sớm, thời gian từ khi khởi phát triệu chứng đến chụp CT lần đầu ngắn có nguy cơ KMT lan rộng cao hơn trên chụp
1.2.2 Tình trạng rối loạn ý thức khi nhập viện
Fujii Y (1998) cho rằng, sự hiện diện của rối loạn ý thức là yếu tố
dự báo độc lập KMT lan rộng, có nghĩa là BN bị rối loạn ý thức có khả năng KMT lan rộng sau khi nhập viện Không có nghiên cứu nào trước
đó đã tìm thấy mối liên quan giữa KMT lan rộng và mức độ rối loạn ý thức Mặc dù lý giải về tỷ lệ cao KMT lan rộng cho BN điều trị nội trú có tình trạng rối loạn ý thức là không rõ ràng Tình trạng rối loạn ý thức là
đại diện cho một số yếu tố trong đó có kích thước KMT
1.2.3 Hình dạng và tỷ trọng khối máu tụ
Chảy máu mà bắt nguồn từ một điểm đơn độc thì có xu hướng xuất hiện tổn thương mở rộng có bờ đều, phát triển từ vùng trung tâm của KMT, tỷ trọng của máu đồng nhất hơn Khi một sự chảy máu bắt nguồn
từ nhiều điểm thì hầu như xuất hiện một tổn thương có bờ không đồng đều, và được phát triển từ mặt tiếp giáp của KMT với tổ chức não Tỷ trọng không đồng nhất trên chụp CT sọ não có thể phản ánh sự chảy máu đang diễn ra, thời gian chảy máu biến đổi hơn và nhiều điểm Máu chảy không đồng nhất được tạo ra từ nhiều mạch máu đang chảy, với những vết đốm tỷ trọng thấp, máu loãng vừa chảy bên cạnh những cục máu
đông tỷ trọng cao
Trang 8Theo Barras C.D (2009), tiến hành nghiên cứu khái niệm hình dạng
và tỷ trọng KMT bất thường trên chụp CT sọ não có thể dự đoán nguy cơ KMT lan rộng Khái niệm này xuất phát từ quan điểm cho rằng KMT không đồng đều và không đồng nhất có thể là kết quả của nhiều điểm
chảy máu dẫn tới tăng nguy cơ lan rộng KMT sau đó
1.2.4 Nồng độ Fibrinogen thấp
Fujii Y (1998), phân tích đa biến về các yếu tố dự báo KMT lan rộng, đã công bố có năm yếu tố tiên lượng độc lập liên quan đến KMT lan rộng, trong đó nồng độ fibrinogen thấp là yếu tố tiên lượng độc lập
dự báo KMT lan rộng Do đó, nồng độ giảm fibrinogen có thể kết hợp với sự suy giảm của cả hai cơ chế đông máu nội sinh và ngoại sinh Do
đó, nồng độ fibrinogen thấp được xem như là một yếu tố nguy cơ cũng
như là yếu tố dự báo KMT lan rộng
1.2.3 Dấu hiệu “spot” và dự báo khối máu tụ lan rộng
Dấu hiệu “spot” được Becker K.J mô tả lần đầu tiên năm 1999 Kỹ thuật được tiến hành ngay khi chẩn đoán CMN, phát hiện sự thoát thuốc cản quang vào trong KMT Dấu hiệu “spot” được xác định một cách chính xác khi có tỷ trọng thuốc cản quang ở bên trong của KMT nhu mô não mà không có sự liên hệ với mạch máu ở bên ngoài trên chụp CT mạch máu, được mô tả như giọt, điểm ngoằn nghèo, hoặc nhiều điểm Dấu hiệu “spot” có tỷ trọng tối đa thường gấp đôi tỷ trọng của KMT, trong dải rộng từ 100 - 200 đơn vị Hounsfield và kích thước >1,5mm Mặc dù mô bệnh học cơ bản về dấu hiệu “spot” còn chưa biết rõ Các nhà nghiên cứu cho rằng dấu hiệu “spot” được hình thành từ sự thay đổi bệnh học liên quan đến thoát mạch từ tổn thương mạch máu nguyên phát hoặc
thứ phát
Định nghĩa dấu hiệu “spot”: Có nhiều định nghĩa trong thực hành
lâm sàng về dấu hiệu “spot” Tuy nhiên, theo Delgado Almandoz, dấu
hiệu “spot” được xác định trên CLVT mạch não gồm bốn tiêu chuẩn sau:
- Có nhiều hơn một điểm, đọng thuốc cản quang nằm trong KMT
nhu mô não
- Tỷ trọng ≥ 120 HU
Trang 9- Không liên tục từ mạch máu bình thường hoặc mạch máu tổn
thương liền kề với KMT
CLVT sau tiêm thuốc
Dấu hiệu “spot” trên chụp CLVT mạch máu được chia làm hai nhóm: dấu hiệu “spot” trong pha sớm hay pha động mạch (fisrt- pass CTA) được thực hiện trong vòng 30 giây sau tiêm thuốc cản quang Dấu hiệu “spot” trong pha trễ hay pha tĩnh mạch (second-pass CTA) được
thực hiện trong vòng 40 giây - 2 phút sau khi tiêm thuốc cản quang Phân biệt các hình ảnh giống dấu hiệu “spot”: các bệnh lý mạch
máu và không do mạch như dị dạng động tĩnh mạch (AVM), thông (rò) động-tĩnh mạch màng cứng, vỡ phình mạch, phình mạch huyết khối khổng lồ, sự vôi hóa trong u, bệnh moyamoya là rất quan trọng bởi vì mỗi bệnh lý đều có các chiến lược quản lý khác nhau Dấu hiệu gần giống khác là vôi hoá đám rối mạch mạc và có thể phân biệt được bằng
chụp CLVT sọ não không thuốc cản quang
1.2.4 Một số yếu tố dự báo sớm khối máu tụ lan rộng khác
Thể tích KMT ban đầu: Dowlatshahi D (2011) nghiên cứu hồi cứu
trên 496 BN; những KMT có thể tích nhỏ hơn 10ml ít có nguy cơ gây KMT lan rộng và có kết cục tốt hơn, ngược lại với những KMT > 30ml
thì hầu như gây ra lan rộng KMT và có kết cục tồi Broderick (1993)
công bố, thể tích KMT dự báo tốt nhất về tỷ lệ tử vong trong 30 ngày đầu đối với tất cả các vị trí chảy máu Thể tích KMT và điểm hôn mê
Trang 10Glasgow ban đầu có tác động mạnh và dễ sử dụng dự để báo tỷ lệ tử vong và tàn phế ở bệnh nhân CMN
Vấn đề tăng huyết áp: Tăng HA là vấn đề thường gặp trong pha
cấp của CMN, chiếm tỷ lệ trên 70% trong tổng số bệnh nhân CMN Tăng
HA có thể xảy ra ngay cả khi vắng mặt của tiền sử tăng HA trước đó và
là yếu tố tiên lượng độc lập với kết cục tồi Tăng HA là yếu tố nguy cơ của KMT lan rộng và gia tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân CMN Tăng HA tâm thu kéo dài kết hợp với gia tăng phù não quanh KMT Điều trị làm giảm HA có thể làm giảm nguy cơ KMT lan rộng Mặc dù vậy, những bằng chứng có kết luận được vấn đề này còn chưa thỏa đáng
Ngoài ra, vấn đề đông máu và sử dụng thuốc chống đông, tình trạng lạm dụng rượu, các yếu tố nội môi cũng được một số tác giả đề cập có
liên quan đến KMT lan rộng sau CMN
1.3 THANG ĐIỂM “SPOT SIGN” VÀ MỘT SỐ THANG ĐIỂM TIÊN LƯỢNG
1.3.1 Cơ sở lý luận hình thành thang điểm “spot sign”
Delgado Almandoz J.E (2009), nghiên cứu và phát triển hệ thống thang điểm “spot sign”, để tìm ra những đặc trưng có giá trị nhất để dự báo KMT lan rộng, cũng như tiên lượng tử vong và kết cục tồi ở bệnh
nhân CMN Cấu trúc thang điểm “spot sign” gồm 3 thành phần:
Số “spot”: 1 -2 spot :1 điểm; ≥ 3 spot : 2 điểm
Đường kính ngang lớn nhất: 1 - 4mm: 0 điểm; ≥ 5mm: 1 điểm
Tỷ trọng lớn nhất: 120 -179 HU: 0 điểm; ≥ 180 HU: 1 điểm
Bảng 1.1 Thang điểm “Spot Sign”
Trang 11Giá trị dự báo KMT lan rộng của thang điểm “spot sign” tăng lên theo điểm số của thang điểm, khi giá trị của thang điểm là 0 thì nguy cơ KMT lan rộng là 2% nhưng giá trị thang điểm là 4 thì nguy cơ KMT lan rộng là 100%
Tương tự như vậy thang điểm “spot sign”, là yếu tố tiên lượng độc lập về nguy cơ tử vong trong bệnh viện và có kết cục tồi trong số BN
sống sót khi theo dõi tại thời điểm 3 tháng
1.3.5 Một số thang điểm tiên lượng khác
1.3.5.1.Thang điểm chảy máu trong não (ICH score)
Thang điểm ICH được được xây dựng dựa trên năm chỉ số lâm sàng: tuổi >80, thang điểm hôn mê Glasgow, thể tích KMT trên CT thường quy khi nhập viện, vị trí của KMT (trên lều hoặc dưới lều) và sự có mặt của dấu hiệu chảy máu não thất Thang điểm ICH cao nhất là 6 điểm, thấp nhất là 0 điểm Tuy nhiên với CMN dưới lều không có BN nào đạt điểm
6 vì không có thể tích KMT > 30ml
1.3.5.2 Thang điểm FUNC
Thang điểm FUNC được xây dựng bởi Rost N.S (2008), cấu trúc gồm năm thành phần: thể tích KMT ban đầu, tuổi, vị trí CMN, điểm hôn
mê Glasgow và tình trạng thiếu hụt nhận thức trước khi CMN Điểm thấp nhất là 0 điểm, cao nhất là 11 điểm Thang điểm FUNC là thang điểm dự báo kết cục trong giai đoạn cấp tính, cung cấp các hướng dẫn cơ bản thiết yếu nhất cho thầy thuốc lâm sàng và gia đình BN mà đang phải đối mặt với những quyết định về việc điều trị và chăm sóc BN và những lựa chọn
chiến lược cho các thử nghiệm lâm sàng
1.3.5.3 Thang điểm 9 điểm
Brouwers H.B (2014), xây dựng thang điểm 9 điểm dựa trên các dữ liệu gồm: sử dụng thuốc Warfarin khi khởi phát triệu chứng, thể tích KMT ban đầu, thời gian từ khi khởi phát đến khi chụp CT ban đầu, dấu hiệu “spot” trên chụpCLVT mạch não Thang điểm có giá trị cao nhất là
9 điểm, thấp nhất là 0 Từ các dữ liệu trên tác giả xây dựng thành công
thang điểm 9 điểm để dự báo KMT lan rộng
Trang 12CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Thời gian từ khi khởi phát đến khi nhập viện ≤ 6 giờ
- Tuổi ≥ 18 tuổi
- Lâm sàng: Phù hợp với cặp nhật Đột quy não của AHA/ASA
(2013): Đột quỵ não là những dấu hiệu rối loạn chức năng của não (khu trú hoặc lan tỏa) tiến triển nhanh, kéo dài quá 24 giờ hoặc dẫn đến tử vong và không có nguyên nhân rõ ràng nào khác ngoài nguồn gốc mạch máu Những triệu chứng thần kinh khu trú phù hợp với vùng não do động mạch bị tổn thương phân bố, không do nguyên nhân chấn thương
- Cận lâm sàng (tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán CMN): điển hình với hình ảnh KMT có tỷ trọng 65 - 90 HU (có hay không có máu vào não
thất) trên chụp CT sọ não không thuốc cản quang
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân ra khỏi nghiên cứu
- CMN dưới lều
- CMN thứ phát (Phình động mạch não, dị dạng động tĩnh mạch não,
do chấn thương, do lạm dụng các chất ma túy )
- Suy thận nặng, di chứng tai biến mạch não với mRS ≥ 3, bệnh ung
thư giai đoạn cuối
- Tử vong trong 24 giờ, hoặc phẫu thuật trước khi chụp CLVT lần 2
- BN hoặc gia đình BN không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả tiến cứu, theo dõi dọc 2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Công thức tính cỡ mẫu:
Trong đó:
• Mức ý nghĩa thống kê α = 0,05 Vậy 𝐙𝟏−∝/𝟐𝟐 = (1,96)2 = 3,8416
• p là tỷ lệ BN có KMT lan rộng Theo kết quả nghiên cứu của Demchuk A.M (2012), tỷ lệ BN có KMT lan rộng là 32%
Trang 132.2.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Đơn vị Đột quỵ, Khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái trong thời gian từ tháng 11 năm
2014 đến hết tháng 12 năm 2018
2.2.5 Các bước tiến hành nghiên cứu
Bệnh nhân CMN đáp ứng đủ các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ được tuyển chọn sau khi đã chấp thuận tham gia nghiên cứu Sau khi hỏi bệnh, thăm khám và thu thập số liệu về tuổi, giới, tiền sử bệnh (tăng HA, lạm dụng rượu, sử dụng thuốc chống đông máu, thuốc chống kết tập tiểu cầu, đột quỵ não, bệnh lý khác), triệu chứng và thời gian khởi phát, triệu chứng lâm sàng (điểm hôn mê Glasgow, mạch, huyết áp, các dấu hiệu thần kinh khu trú) và hình ảnh CMN trên phim chụp CLVT sọ não lần một khi vào viện (khoảng thời gian từ khi khởi phát cho tới khi chụp, tỷ trọng, hình thái và thể tích theo công thức ABC/2 của KMT), BN được làm các xét nghiệm máu (công thức máu, đông máu cơ bản, chức năng gan thận) và tiến hành chụp CLVT mạch máu não để xác định dấu hiệu “spot” theo tiêu chuẩn
Delgado Almandoz, đồng thời để loại trừ CMN thứ phát
Tất cả BN nghiên cứu được điều trị theo phác đồ chung: kiểm soát đường thở, hỗ trợ hô hấp, hỗ trợ tuần hoàn, theo dõi và đánh giá thần kinh, theo dõi và thăm khám toàn thân tại Đơn vị đột quỵ, Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái BN ổn định thì được chụp CLVT sọ não lần hai sau
24 giờ, hoặc bất cứ khi nào BN có dấu hiệu suy giảm thần kinh (điểm hôn mê Glasgow giảm ≥ 2 điểm, và/hoặc có dấu hiệu liệt mới hoặc liệt tăng lên) thì được tiến hành chụp phim CT sọ não lần hai ngay Đánh giá triệu chứng lâm sàng (điểm hôn mê Glasgow, mạch, huyết áp, các dấu hiệu thần kinh khu trú), thời gian chụp và hình ảnh CMN trên phim chụp cắt lớp vi tính sọ não lần đầu (tỷ trọng, hình thái và thể tích theo công
thức ABC/2 của KMT) BN nghiên cứu được chia làm hai nhóm: nhóm I
có KMT lan rộng; nhóm II không có KMT lan rộng KMT lan rộng được
đánh giá theo tiêu chuẩn của Wada (2007) và Park (2010): đủ tiêu chuẩn chẩn đoán CMN; thể tích KMT nhu mô não tăng > 30% hoặc > 6ml trên chụp CLVT sọ não lần hai so với lần đầu (khi nhập viện) Đánh giá hình dạng và tỷ trọng KMT theo tiêu chuẩn của Barras C.D (2009) So sánh, phân tích các yếu tố dự báo sớm KMT lan rộng và xác định giá trị của thang điểm “spot sign” theo các chỉ tiêu nghiên cứu
2.2.3 Xử lý số liệu: Số liệu nghiên cứu được thu thập theo mẫu bệnh án nghiên
cứu thống nhất, được xử lý và phân tích trên phần mềm thống kê y học