Cơ sở lý luận: Cơ sở trực tiếp và chủ yếu: - Ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa Mác – Lênin Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, được vận dụng một cá
Trang 1Chuyên đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người
I Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ
Chí Minh
1 Cơ sở lý luận
2 Cơ sở thực tiễn
II Nội dung cơ bản của tư tưởng
Hồ Chí Minh
1 Con người là vốn quý nhất, là nhân
tố quyết định thắng lợi của cách
mạng
2 Con người vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của cách mạng
3 Tư tưởng về chiến lược “trăm năm
trồng người”
I C ơ s ở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
1 Cơ sở lý luận:
Cơ sở trực tiếp và chủ yếu:
- Ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa Mác – Lênin
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung
tư tưởng của Người.
Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh dựa trên thế giới quan duy vật triệt để của chủ
nghĩa Mác - Lênin Chính vì xuất phát từ thế giới quan duy vật triệt để ấy, nên khi nhìn nhận và đánh giá vai trò của bản thân mình (với tư cách là lãnh tụ), Người không bao giờ cho mình là người giải phóng nhân dân Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, người cán bộ (kể cả lãnh tụ) chỉ là "đầy tớ trung thành" có sứ mệnh phục vụ nhân dân, lãnh tụ chỉ là người góp phần vào sự nghiệp cách mạng của quần chúng Tư tưởng này đã vượt xa và khác về chất so với tư tưởng "chăn dân" của những người cầm đầu nhà nước phong kiến
có tư tưởng yêu nước xưa kia Và đây, cũng chính là điều đã làm nên chủ nghĩa nhân văn cao cả ở Hồ Chí Minh, một chủ nghĩa nhân văn cộng sản trong cốt cách của một nhà hiền triết phương Đông
Trang 2HCM đã xem xét cong người trê cơ sở những quan niệm cơ bản của triết học Mác-Lênin
về con người, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Con người là thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội
HCM đã xem xét con người trong sự thống nhất giữa hai mặt đối lập: thiện và ác, hay và
dở, tốt và xấu, hiền và dữ…bao gồm cả tính người-mặt xã hội và tính bản năng-mặt sinh học của con người Theo HCM, con người có tốt, có xấu nhưng “dù là xấu, tốt, văn minh hay dã man đều có tình”
Thứ hai: Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ
xã hội
trong quan niệm của HCM, con người là tổng hợp các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng, chủ yếu bao gồm các quan hệ: anh, em; họ hàng; bầu bạn; đồng bào; loài người
-theo nghĩa hẹp, con người chỉ phạm vi “gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn”
-theo nghĩa rộng, trong phạm vi quốc gia là đồng bào cả nước, nghĩa rộng hơn trong phạm vi quốc tế là loài người”
Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con người một cách chung chung, trừu tượng Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi
hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng Đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao cho sự
nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân không được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không thể phát huy được
Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối
quan hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các loài người trên toàn thế giới
Thứ ba: Con người vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của lịch sử
HCM bàn đến “con người” theo nghĩa chung là “phẩm giá con người”, “giải phóng con người” Nói đến con người, HCM xem xét trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ giai cấp; theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp; trong khối thống nhất của cộng đồng dân tộc
và quan hệ quốc tế, quan điểm của Người thống nhất lập trường giai cấp, lập trường dân tộc HCM đề cập đến con người trước hết là nói đến dân, tuyệt đại đa số nhân dân bao gồm công nhân, nông dân, trí thức, vừa là lực lượng đông đảo trực tiếp tham gia lao động sản xuất, vừa là lực lượng có tinh thần, tiềm lực cách mạng to lớn nhất
+ Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh nhận thức về con
người đã mở rộng “biên độ” của nó Con người mà Hồ Chí Minh nói là nhân
dân lao động bị áp bức, bị bóc lột ở khắp mọi nơi, không phân biệt dân tộc và
màu da
Trang 3Người đã rút ra là “Dù màu da có khác nhau, trên đơi này cũng chỉ có hai giống người, giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là một
mà thôi: tình hữu ái vô sản” (trích Đoàn kết giai cấp-1924)
+ Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm “người bản xứ bị bóc lột”, “người mất
nước”, “người da đen”, “người cùng khổ”, “người vô sản”…
+ Trong quan hệ xã hội Hồ Chí Minh chia làm 2 giống người: những người làm điều thiện và những người làm điều ác
Nói tóm lại: Con người trong tư tưởng HCM không phải là con người chung chung, trừu tượng, phi lịch sử mà là con người hiện thực, cụ thể, sinh động, trước hết là nhân dân lao động và quần chúng bị áp bức ở khắp mọi nơi, không phân biệt dân tộc và màu da
Cơ sở thứ yếu, gián tiếp
Kế thừa truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, con Lạc cháu Hồng; con rồng cháu tiên Hai chữ đồng bào là khái niệm thể hiện sự yêu thương con người, giống nòi
Xuất thân trong gia đình nhà nho yêu nước, từ nhỏ Hồ Chí Minh đã được kế thừa tư tưởng yêu nước, thương dân của than phụ - phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và của các nhân sĩ yêu nước đương thời
Dựa trên lập trường của giai cấp công nhân, khi về nước lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh lại dung khái niệm “đồng bào”, “quốc dân”
Tính xã hội: Khi miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Người dùng thêm nhiều khái niệm như “công nhân”, “nông dân”, lao động trí óc”, “người chủ xã hội”…
Tấm lòng Hồ Chí Minh luôn hướng về con người Người yêu thương con người, tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết là người lao động, nhân dân mình
và nhân dân các nước Với Hồ Chí Minh, “lòng thương yêu nhân dân, thương yêu nhân loại” là “không bao giờ thay đổi”
2 C ơ sở thực tiễn:
Việt Nam:
Truyền thống nhân văn nhân ái quý trọng con người, hướng con người vào làm điều thiện, đồng thời xử lý tinh tế các mối quan hệ, gia đình, vợ chồng, anh em, họ hàng và đề cao tình nghĩa, quy tắc ứng xử trong xã hội Do đó người Việt sống tình cảm hơn, nhân nghĩa hơn, thông minh hơn
Kế thừa một cách sáng tạo truyền thống nhân văn của dân tộc: như truyền thống giàu lòng nhân ái, yêu thương con người…
Gắn với hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam thường xuyên bị thiên tai tàn phá, bị phong kiến
đô hộ hàng ngàn năm, rồi đến thực dân đế quốc xâm lược, phải gánh chịu bao nỗi mất mát đau thương, bị áp bức cùng cực, mất tự do được thể hiện rõ qua câu nói của Bác:
“trên đời ngàn vạn điều cay đắng Cay đắng chi bằng mất tự do”
Trang 4Người mang cả nỗi đau của người nô lệ mất nước, gần nhất là những nỗi đau đẫm máu và nước mắt mà người đã trực tiếp cảm nhận của những người đi phu tại Cửa Rào, những người nông dân chống thuế tại Trung kỳ và những nhà yêu nước bi tàn sát khủng bố hết sức man rợ thuở ấy Ở Người, lòng yêu nước gắn bó chặt chẽ với lòng yêu thương con người, khát vọng giải phóng dân tộc gắn liền với khát vọng giải phóng con người
Khác với giai cấp vô sản ở phương Tây, vào những năm đầu của thập niên 20 của Thế kỷ
XX, các phong trào đấu tranh của công nhân Việt Nam tuy còn rất non yếu, nhưng đã bắt đầu có những cuộc bãi công, tiêu biểu là cuộc bãi công của 600 thợ nhuộm Chợ Lớn năm
1922, điều này chứng tỏ họ đã “bắt đầu giác ngộ về lực lượng và giá trị của mình” Và
Hồ Chí Minh coi đó là “dấu hiệu của thời đại” và tin tưởng rằng cùng với dân tộc giai cấp công nhân sẽ đào mồ chôn chủ nghĩa đế quốc tại Việt Nam: “Việc đã tạo ra giai cấp vô sản và dạy cho người An Nam biêt sử dụng súng ống là một bằng cớ chứng tỏ chủ nghĩa
đế quốc tự đào hố để chôn mình” =>Đây là một sáng tạo rất quan trọng của HCM, bởi vì
cuộc đấu tranh nào cũng cần có một tầng lớp lãnh đạo mà ở Việt Nam ta không ai hết, mà
đó chính là gai cấp công nhân.
Thế giới:
Trong tinh hoa văn hóa phương Tây
Người đã tiếp thu tư tưởng nhân đạo của cách mạng tư sản Tiêu biểu là ảnh hưởng rất lớn từ cuộc cách mạng tư sản Pháp, HCM đã nghiên cứu tiếp thu TT văn hoá dân chủ và
CM của CM Pháp, CM Mỹ, trong đó có Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp
và Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ Điều đó được thể hiện rõ trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945: “Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh
ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”