1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp nâng cao chất lượng phân môn LTVC cho HS lớp 4 ở trường TH thiệu khánh

21 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 6,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự hỗ trợ và giúp đỡ của đồng nghiệp, của lãnh đạo nhàtrường, thông qua cuộc họp Cha mẹ học sinh đầu năm học tôi mạnh dạn đề ramột số biện pháp khắc phục, cách dạy phù hợp với nhận

Trang 1

2.3.3 Vận dụng linh hoạt và hiệu quả một số phương pháp và kỹ

thuật dạy học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 92.2.4 Sử dụng cách đánh giá thường xuyên học sinh một cách hiệu

Trang 2

1.1 Lí do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết mục tiêu trường Tiểu học là giáo dục toàn diện cho trẻ

từ 6 đến 11 tuổi, có những hiểu biết cơ bản về: Khoa học tự nhiên, khoa học xãhội và chăm sóc sức khỏe ban đầu Thực hiện chủ trương dạy đủ môn ở trườngTiểu học, ngành giáo dục đã không ngừng đổi mới phương pháp dạy học trongtất cả các môn học nói chung Mỗi môn học đều góp phần hình thành và pháttriển nhân cách của trẻ, cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để phục vụcho cuộc sống, học tập và sinh hoạt sao cho tốt nhất và có hiệu quả cao

Môn Tiếng Việt rất quan trọng đối với học sinh cấp bậc tiểu học nói chung,

ở lớp tôi nói riêng Nếu học tốt bộ môn này nó sẽ giúp các em học tốt hơn cácphân môn của bộ môn Tiếng Việt như: Nó sẽ giúp thêm cho môn Tập làm văn,

về câu văn sẽ trau chuốt hơn, diễn đạt bằng ngôn ngữ rõ ràng mạch lạc, biết sànglọc để đưa hình ảnh hay vào trong bài Nó còn giúp cho bộ môn chính tả nhưviết đúng Trong bộ môn kể chuyện, các em sẽ biết cách kể hay, hấp dẫn ngườinghe Học tốt bộ môn này nó còn giúp cho việc học và nắm bắt kiến thức cácmôn học khác một cách dể dàng hơn

Trong bộ môn Tiếng Việt thì phân môn Luyện từ và câu có một nhiệm vụ

đó là cung cấp nhiều kiến thức sơ giản về viết Tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng

dùng từ đặt câu (nói- viết), kĩ năng đọc cho học sinh, cụ thể là:

1- Mở rộng hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu biết cơbản về từ và câu

2- Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu.3- Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu,

có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp

Nhận thức rõ được tầm quan trọng của phân môn Luyện từ và câu đối với

học sinh, tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến kinh nghiệm: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4 Trường Tiểu học Thiệu Khánh”.

1.3 Đối tượng nghiên cứu :

Nghiên cứu về nội dung, kiến thức chương trình, phương pháp dạyhọc luyện từ và câu lớp 4 để nâng cao chất lượng phân môn luyện từ và câuđối với học sinh lớp 4B, trường Tiểu học Thiệu Khánh

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp thảo luận

- Phương pháp đặt vấn đề

- Phương pháp thực hành

Trang 3

- Phương phỏp trũ chơi.

2 nội dung sỏng kiến kinh nghiệm:

2.1 Cơ sở lý luận của sỏng kiến kinh nghiệm

Mục tiờu của mụn Tiếng Việt ở tiểu học là: Hỡnh thành và phỏt triển ở họcsinh cỏc kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, núi, đọc, viết) để học tập và giao tiếptrong cỏc mụi trường hoạt động của lứa tuổi Trong chương trỡnh “ Luyện từ vàcõu lớp 4” khụng những cung cấp cho học sinh vốn từ ngữ, giải nghĩa từ, kỹnăng dựng từ đặt cõu, sử dụng dấu cõu mà cũn được luyện tập, thực hành sửdụng từ ngữ cung cấp, phỏt triển kĩ năng sử dụng từ cho học sinh Cỏc em thớchdiễn đạt, thớch vận dụng từ ngữ hay để núi, viết… Tuy nhiờn tư duy cỏc em phỏttriển chưa hoàn thiện, cỏc em chưa hiểu hết nghĩa của từ, chưa nắm chắc kiếnthức tiếng Việt Vỡ vậy, việc giỳp cỏc em hỡnh thành và phỏt triển kỹ năng tiếngViệt là rất quan trọng Cỏc em nắm chắc kiến thức từ ngữ và cấu trỳc cõu để họctốt mụn tiếng Việt và cỏc mụn học khỏc, là cơ sở, nền tảng cho học tập cỏc bậchọc trờn Mặt khỏc, thụng qua việc dạy học Tiếng Việt, gúp phần rốn luyện cỏcthao tỏc của tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản vềTiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xó hội, tự nhiờn và con người, vềvăn hoỏ, văn học của Việt Nam và nước ngoài

Bồi dưỡng tỡnh yờu Tiếng Việt và hỡnh thành thúi quen giữ gỡn sự trongsỏng, giàu đẹp của Tiếng Việt, gúp phần hỡnh thành nhõn cỏch con người ViệtNam trong giai đoạn mới

Phõn mụn Luyện từ và cõu đóng vai trò rất lớn trong việc thựchiện các mục tiêu giỏo dục đó

2.2 Thực trạng của vấn đề nghiờn cứu:

2.2.1 Thuận lợi

Nhà trường luụn tạo điều kiện tốt nhất cho cụng tỏc giảng dạy, thườngxuyờn tổ chức cỏc chuyờn đề, cỏc buổi sinh hoạt chuyờn mụn trao đổi về kinhnghiệm, phương phỏp, hỡnh thức dạy học nhằm nõng cao trỡnh độ chuyờn mụnnghiệp vụ

Giỏo viờn trong trường đều cú trỡnh độ chuyờn mụn cao, đạt chuẩn và trờnchuẩn Giỏo viờn là người cú tay nghề, cú đầy đủ SGK, sỏch hướng dẫn, tài liệu.Đội ngũ giỏo viờn luụn nhiệt tỡnh, yờu nghề, cú năng lực sư phạm

Điều kiện cơ sở vật chất nhà trường đảm bảo Lớp học được trang bịtương đối đầy đủ về cơ sở vật chất như: bàn ghế hợp qui chuẩn, bảng từ, thiết bịchiếu sỏng đầy đủ Phõn mụn Luyện từ và cõu ở lớp 4 nhỡn chung ngắn gọn, cụthể đó được giảm bớt nhiều so với chương trỡnh Từ ngữ - Ngữ phỏp của lớp 4trước đõy, phõn mụn đó chỉ rừ 2 dạng bài đú là: Bài lý thuyết và bài tập thựchành với định hướng rừ ràng

- Học sinh cú đầy đủ đồ dựng học tập, sỏch giỏo khoa

- Hầu hết cỏc em học sinh đều ngoan ngoón, chăm chỉ học tập, chỳ ý nghegiảng, ý thức học tập tốt

Trang 4

- Kiến thức về từ vựng, ngữ nghĩa học của một số giáo viên ít nhiều cònhạn chế nên bộc lộ những sơ xuất khi dạy phân môn luyện từ và câu

- Giáo viên đôi lúc lựa chọn hình thức tổ chức dạy học chưa phù hợp vóidạng bài, việc phân chia thời lượng lên lớp ở môn dạy đôi khi còn dàn trải, hoạtđộng của cô- trò có lúc thiếu nhịp nhàng, nặng tính hình thức

- Do điều kiện kinh tế một số phụ huynh phải đi làm ăn xa cả năm để con ởnhà với ông bà già yếu không kèm cặp được cho các cháu học hành Ông bà chỉ

còn một cách duy nhất là “Trăm sự nhờ nhà trường, nhờ cô giáo” Đây là lý do

không nhỏ làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập của phân môn Luyện từ vàcâu

- Có một số học sinh chưa thật sự chú trọng khi học môn Tiếng Việt nóichung, môn Luyện từ và câu nói riêng Trong tâm tưởng của các em và một sốphụ huynh học sinh đều hướng cho con em học môn Toán nhiều hơn mà chưathật sự chú trọng môn Tiếng Việt, coi nhẹ môn Tiếng Việt, cho rằng, các em chỉcần đọc được, viết được là được Chính vì vậy nhiều học sinh không hứng thúvới môn học, thờ ơ với môn học và lệ thuộc vào các loại sách tham khảo, sáchbồi dưỡng, sách bài tập có sẵn đáp án, không chịu khó học, suy nghĩ hay chútâm vào môn học, nhất là đối với phân môn Luyện từ và câu Do đó các em chưathật sự hứng thứ với môn học này

Tôi đã đưa ra bài khảo sát đầu năm như sau:

Bài 1: Dùng dấu gạch chéo tách từ láy, từ ghép trong đoạn văn sau:

Mưa mùa xuân xôn xao, phơi phới…Những hạt mưa bé nhỏ, mềm mại, rơi

mà như nhảy nhót

Bài 2: Xếp các từ có tiếng nhân ( nhân dân, nhân hậu, nhân ái, công nhân,nhân loại, nhân đức, nhân từ, nhân tài) thành hai nhóm:

a Từ có tiếng nhân có nghĩa là người:

b Từ có tiếng nhân có nghĩa là lòng thương người :

Bài 3: Em hãy đặt một câu với từ ngay thẳng.

Theo kết quả khảo sát lần thứ nhất, vào tuần 4 (cuối tháng 9) kết quả tôithu được như sau :

2.2.3 Nguyên nhân :

- Vì cho rằng phân môn Luyện từ và câu là môn học khô khan, không gâyđược hứng thú với học sinh Bên cạnh đó sự tập trung của học sinh lại chưa bền

Trang 5

vững, khả năng tập trung chưa cao, hay nóng vội, khả năng ngôn ngữ còn thấpcũng làm ảnh hưởng đến chất lượng môn học.

- Mặc dù học sinh có đủ sách vở học tập nhưng nhiều em không chịu học

mà phụ thuộc hoàn toàn vào sách có đáp án được in, bán sẵn

- Cha mẹ học sinh không kịp thời khuyến khích, động viên con em học tập.Thời gian dành cho việc học ở nhà còn ít Đa số phụ huynh học sinh lại cónguyện vọng cho con em học thiên về môn Toán nhiều hơn

- Bên cạnh đó còn một bộ phận học sinh do bị hổng kiến thức từ lớp dưới,

do khả năng tiếp thu bài hạn chế Từ những tồn tại nêu trên tôi đã trăn trở, luônsuy nghĩ để tìm ra nguyên nhân dẫn đến chất lượng môn Luyện từ và câu Mặc

dù trong giảng dạy phân môn này có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khókhăn Song khó khăn nào cũng có hướng giải quyết, thuận lợi nào đều có thểphát huy được Được sự hỗ trợ và giúp đỡ của đồng nghiệp, của lãnh đạo nhàtrường, thông qua cuộc họp Cha mẹ học sinh đầu năm học tôi mạnh dạn đề ramột số biện pháp khắc phục, cách dạy phù hợp với nhận thức của học sinh nhằmgiúp học sinh có hứng thú với môn học và nắm bắt bài một cách tốt hơn, nângcao chất lượng, hiệu quả của phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4B trường Tiểuhọc Thiệu Khánh, năm học 2017 - 2018

2.3 Các giải pháp thực hiện:

Qua thực tế giảng dạy bản thân rút ra một số giải pháp để nâng cao chất

lượng dạy phân môn luyện từ và câu lớp 4 như sau::

2.3.1Giáo viên cần làm tốt công tác chuẩn bị

* Nắm vững qui trình dạy luyện từ và câu ở lớp 4.

Để dạy phân môn luyện từ và câu lớp 4 đạt hiệu quả cao, giáo viên cần nắmvững qui trình dạy hai dạng bài lí thuyết và bài thực hành

Cách dạy theo 2 dạng bài lí thuyết và bài thực hành như sau:

Quy trình dạy bài lí thuyết Quy trình dạy bài thực

hành

1 Củng cố kiến thức:

2 Dạy bài mới:

a Giới thiệu bài

2 Dạy bài mới:

a Giới thiệu bài

b Hướng dẫn thực hành theonội dung, yêu cầu của bài

- Củng cố, dặn dò: Khắc sâunội dung bài

* Nghiên cứu kỹ và xác định nội dung trọng tâm của bài theo chuẩn kiến thức, kỹ năng

Giáo viên cần nắm vững nội dung cơ bản của từng bài học trong SGK vànhững mục tiêu cần đạt của yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng Tuỳ theo đặcđiểm của từng bài học mà xây dựng kế hoạch bài học cho phù hợp Song, cho dù

Trang 6

thế nào cũng cần có đầy đủ các hoạt động lớp và tổ chức các hoạt động đó mộtcách phong phú, phối hợp linh hoạt các phương pháp và hình thức cho phù hợpvới nội dung của bài dạy và chủ điểm của bài đó.

* Lập kế hoạch bài học :

Để có kết quả cao trong tiết dạy Luyện từ và câu giáo viên cần lập kế hoạchbài học chu đáo, cẩn thận chuẩn bị về mọi mặt cho tiết dạy Vì vậy việc lập kếhoạch bài học của giáo viên phải lôgíc, tích hợp đầy đủ các nội dung dạy học,phải có đầy đủ mục đích, yêu cầu, cũng như qui trình một bài dạy sao cho phùhợp Khi lập kế hoạch bài học, giáo viên phải đặt ra những tình huống trong giờhọc ngoài dự kiến của mình để kịp thời xử lí, đồng thời tạo cho giờ học sinhđộng, hấp dẫn Việc làm này phải diễn ra trước khi thi công bài dạy trên lớp học.Phát huy ý thức học tập của học sinh từ đó bồi dưỡng hứng thú học tập chohọc sinh qua các bài học

Làm cho học sinh ý thức được ích lợi của việc học để tạo động cơ học tập.Cho nên ở mỗi tiết dạy người giáo viên đều cần hướng đến việc hình thành vàduy trì hứng thú cho học sinh Dạy Luyện từ và câu chính là dạy cho các emkiến thức về từ ngữ và ngữ pháp nhưng giáo viên cần đưa ra một số thủ phápdạy học, hình thức dạy học phù hợp với sở thích của các em, đó chính là các tròthi đố, các trò chơi để gây hứng thú cho học sinh trong giờ học, giảm bớt sựcăng thẳng, nhàm chán Khi lập kế hoạch bài học, giáo viên cần lưu ý:

- Lựa chọn hình thức và phương pháp dạy học phù hợp:

Giáo viên phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học sẽ làm cho lớphọc sôi nổi, gây hứng thú cho học sinh sẽ giúp học sinh tiếp thu bài học mộtcách tốt hơn, nắm vững nội dung của bài học Bên cạnh đó, giáo viên cần phải

có dự kiến về các câu trả lời của học sinh và các tình huống sư phạm có thể xảy

ra trong mỗi hoạt động từ đó có biện pháp giải quyết, điều chỉnh kịp thời Việc

tổ chức các hoạt động học tập có tác dụng rất lớn đến việc giảng dạy phân mônLuyện từ và câu, giúp học sinh biết quý trọng và giữ gìn sự trong sáng của tiếngViệt từ đó hình thành cho các em nhân cách sống và kĩ năng sống

Có thể sử dụng linh hoạt nhiều hình thức dạy học trong cùng một tiết dạy

Đó là các hình thức tổ chức: làm việc cá nhân, trò chơi, trao đổi nhóm, đàmthoại gây hứng thú cho học sinh tránh nhàm chán đơn điệu

VD: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ Ước mơ (tuần 9) Trang 87

Bài tập 2: Tổ chức trò chơi:” Truyền điện”

Tìm thêm những từ cùng nghĩa với “ước mơ”

- HS 1 tìm từ bắt đầu từ tiếng “ước”: ước ao, …

- HS 2 tìm từ bắt đầu từ tiếng ‘‘mơ’’: mơ mộng,

- HS 3 tìm từ bắt đầu từ tiếng “ước”: ước mong,

- HS 4 tìm từ bắt đầu từ tiếng ‘‘mơ’’: mơ ước,

BT 3 : Nêu yêu cầu viết thêm những từ : đẹp đẽ, viển vông, cao cả, lớn, nho nhỏ, kì quặc, dại dột, chính đáng vào sau từ ước mơ thể hiện sự đánh giá :+ HS thảo luận nhóm 4

- Đánh giá cao: ước mơ đẹp, ước mơ chính đáng, ước mơ cao cả, ước mơ lớn, ước mơ đẹp đẽ.

- Đánh giá không cao: ước mơ bình thường, ước mơ nho nhỏ.

Trang 7

- Đánh giá thấp: ước mơ kì quặc, ước mơ dại dột, ước mơ viển vông, ước mơ tầm

thường.

BT 4 : Nêu VD về 1 loại ước mơ nói trên.

Bài này cho học sinh làm việc cá nhân

VD: + Ước mơ được đánh giá cao: Đó là những ước mơ vươn lên làmnhững việc có ích cho mọi người như:

- Ước mơ học giỏi để trở thành bác sĩ/ kĩ sư…

- Ước mơ chinh phục vũ trụ…

+ Ước mơ được đánh giá không cao: Đó là những ước mơ giản dị, thiếtthực, có thể thực hiện được không cần nỗ lực lớn:

- Ước mơ có truyện đọc/ có xe đạp/ có một đồ chơi…

+ Ước mơ bị đánh giá thấp: Đó là những ước mơ phi lí, không thể thực hiệnđược hoặc là những ước mơ ích kỉ, có lợi cho bản thân nhưng gây hại cho ngườikhác:

- Ước mơ được xem ti vi suốt ngày/ ước không phải học mà vẫn được côgiáo nhận xét tốt

- Ước mơ thể hiện lòng tham không đáy của vợ ông lão đánh cá

- Ước mơ tầm thường – ước được ăn dồi chó – Ba điều ước.v.v…

- Chuẩn bị tài liệu giảng dạy, đồ dùng học tập

Vì đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học là tư duy cụ thể, dựa vàonhững trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể nên giáo viên cần tận dụng

và sử dụng một cách triệt để các đồ dùng và trang thiết bị dạy học Với đốitượng học sinh tiếp thu bài chậm, khả năng tư duy trừu tượng thấp do đó cầntăng cường, hỗ trợ các em về khả năng tư duy bằng hình ảnh, bằng âm thanh…bằng trực quan sinh động sẽ giúp các em tiếp thu bài tốt hơn, hiệu quả hơn.Đặc biệt, để giờ học gây hứng thú học tập cho học sinh giáo viên nên ứngdụng công nghệ thông tin vào dạy học

Giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung bài học để giao nhiệm vụ cho họcsinh chuẩn bị thêm đồ dùng, dụng cụ học tập Các em có thể tự tìm tòi, tự làmlấy để trở thành đồ dùng học tập hữu ích Quá trình tự chuẩn bị này sẽ giúp họcsinh chủ động , hứng thú hơn với môn học, tiếp thu bài tốt hơn

Ví dụ: Khi dạy bài: “ Danh từ chung và danh từ riêng”

GV nên sử dụng công nghệ thông tin đưa một số danh lam thắng cảnh, ditích lịch sử, một số địa danh ở địa phương, trong tỉnh, trong nước, một số danhlam thắng cảnh, địa danh nổi tiếng trên thế giới lên màn hình máy chiếu cho họcsinh quan sát Ngoài ra, giáo viên có thể giao việc cho học sinh về nhà sưu tầmtranh ảnh về một số danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, một số địa danh ở địaphương, trong tỉnh, trong nước, một số danh lam thắng cảnh, địa danh nổi tiếngtrên thế giới cho giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn gây hứng thú học tập chohọc sinh

- Phân chia đối tượng học sinh theo mức độ.

Đổi mới phương pháp dạy học là phải phát huy tính tích cực của học sinh,giáo viên cần chú ý đến mọi đối tượng học sinh, vì vậy có thể phân chia học sinh

Trang 8

ra nhiều mức độ để có phương pháp dạy thích hợp Muốn phát huy được tínhtích cực chủ động của học sinh người giáo viên phải có hệ thống câu hỏi trongmỗi bài thật cụ thể phù hợp với từng đối tượng học sinh cụ thể.

Giáo viên cần chú ý đến mọi đối tượng học sinh trong giờ học để cho tất cảcác em đều được nói, đều được làm việc phù hợp với khả năng tư duy

- Phân bố thời gian học tập cho từng hoạt động dạy học hợp lý.

Để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 4, việcphân bố thời gian học tập cho học sinh một cách hợp lí cũng là một yếu tố quantrọng của sự thành công Người giáo viên phải biết phối kết hợp nhịp nhàng cáchoạt động dạy học và phân chia thời gian của từng hoạt động đó phù hợp trongmỗi tiết học, mỗi bài học cụ thể Tránh tình trạng hết tiết học mà không hết bàihoặc ngược lại tạo cơ hội cho học sinh không làm việc Điều này cũng giúp íchcho học sinh trong việc tự phân bố thời gian học ở nhà hợp lí, mang lại hiệu quả

2.3.2 Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong mỗi tiết học

* Thiết lập được mối quan hệ hợp tác tích cực và tốt đẹp :

Giữa cô và trò, giữa các trò với nhau cũng sẽ tạo được hứng thú học tập chohọc sinh Hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn cùng với một bầu không khí thân áihữu nghị trong giờ học sẽ tạo hứng thú cho cả cô và trò Vì vậy, bên cạnh việcgiáo dục tính mục đích kỉ luật, ý thức về trách nhiệm v.v…cho học sinh, với mỗigiáo viên trực tiếp giảng dạy trong nhà trường phải là người tổ chức cuộc sống ở

trường thật hấp dẫn, tạo niềm vui, phải phấn đấu sao cho Mỗi ngày các em đến trường là một ngày vui Mỗi học sinh sẽ luôn mong muốn phải là người được

hạnh phúc ngay ngày hôm nay Bởi vậy, giáo viên phải thường xuyên tìm hiểuhọc sinh muốn việc học diễn ra như thế nào? cái gì làm các em thích? cái gì làmcác em không thích? để có thể tổ chức quá trình dạy học như các em mong đợi.Trong quá trình dạy học người giáo viên cần chú trọng vào mặt thành công

của trẻ, nhìn nhận các em theo cách nhìn: em nào cũng ngoan, em nào cũng giỏi, em nào cũng cố gắng Chỉ có em này ngoan, hoàn thành tốt, cố gắng nhiều

hơn, em kia ngoan, hoàn thành, cố gắng ít hơn mà thôi Bên cạnh đó giáo viên làngười luôn nâng đỡ, khích lệ, thông cảm chú trọng vào mặt thành công của các

em, đề cao tính sáng tạo của các em Đôi lúc cô giáo cũng cần tỏ ra ngạc nhiên,vui sướng, tôn trọng những sáng tạo của các em dù là rất nhỏ, giúp các em tựphát hiện ra chân lí Sau cùng là cách kiểm tra đánh giá của cô giáo đối với các

em Việc đánh giá trong dạy học đòi hỏi phải nghiêm khắc nhưng không cónghĩa là khắt khe và quá chặt chẽ Khi nhận xét bài làm của các em giáo viênnên có những lời động viên khéo léo để khích lệ các em cố gắng hơn ở nhữngbài làm tiếp theo.Giáo viên phải là người luôn thắp sáng ước mơ cho các em Có

thể đặt ra câu hỏi ‘‘Cần đặt ra yêu cầu gì với các em để đánh giá hợp lí nhằm khuyến khích, học sinh học tốt hơn?’’ Thành quả mà các em thấy được qua sự

học tập của mình được thể hiện bằng những lời nhận xét, đánh giá tốt, gần gũi,thân tình của cô giáo Để tạo hứng thú trong học tập cho học sinh cũng là mộtnghệ thuật trong quá trình dạy học của người giáo viên Tạo hứng thú cho họcsinh trong học tập cũng chính là làm cho các em thấy hạnh phúc trong học tập,bởi vì học là hạnh phúc không chỉ vì những lợi ích mà nó mang lại mà hạnh

Trang 9

phúc còn nằm ngay trong chính sự học từ đó mà các em nâng cao ý thức tronghọc tập.

Giáo viên cũng cần tranh thủ sự trao đổi thông tin, học hỏi lẫn nhau giữahọc sinh với học sinh Đôi khi qua cách nói nôm na của bạn bè lại giúp cho đốitượng học sinh yếu thấy đơn giản và dễ hiểu hơn Chẳng phải “Học thầy khôngtày học bạn” đó sao Giao cho học sinh hoàn thành tốt thường xuyên kèm cặphọc sinh chưa hoàn thành cùng hưởng ứng thi đua “Đôi bạn cùng tiến” Cùngnhau tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp như các giờ chơi, giờ chào cờ,các cuộc tọa đàm, trao đổi, sinh hoạt, các em sẽ thấy thích thú và tự giác tích luỹđược vốn từ, vốn kiến thức cho mình

VD: Qua bài Mở rộng vốn từ Đồ chơi – Trò chơi các em cũng thấy được

những trò chơi nào có lợi, những trò chơi nào có hại, nên tránh

Thông qua các cuộc tọa đàm trao đổi đó, các em sẽ học được ở bạn bè đểđặt câu hỏi một cách lịch sự, tránh hỏi trống không hoặc những câu hỏi tò mòthiếu tế nhị Biết giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu, đề nghị với mọi ngườixung quanh

2.3.3 Vận dụng linh hoạt và hiệu quả một số phương pháp và kỹ thuật dạy học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4

* Phương pháp vấn đáp (nêu câu hỏi)

Phương pháp gợi mở vấn đáp nhằm tăng cường kĩ năng suy nghĩ, tư duysáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và xác định mức độ hiểu bài cũng nhưkinh nghiệm đã có của học sinh Giúp các em hình thành khả năng tự lực tìm tòikiến thức Qua đó học sinh ghi nhớ tốt hơn, sâu sắc hơn

Yêu cầu khi sử dụng giáo viên phải lựa chọn những câu hỏi theo đúng nộidung bài học, câu hỏi đưa ra phải rõ ràng, dễ dàng phù hợp với mọi đối tượnghọc sinh trong cùng một lớp Giáo viên dành thời gian cho học sinh suy nghĩ sau

đó cho học sinh trả lời, các em khác nhận xét bổ sung Phương pháp này phùhợp với cả hai loại bài lí thuyết và thực hành

VD: Khi dạy bài Danh từ (tuần 5) mục đích của bài là học sinh phải nắmđược Danh từ là gì?

- Giáo viên đưa ra ví dụ:

Bài : Truyện cổ nước mình Mang theo truyện cổ tôi đi Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng xưa

Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi

Đời cha ông với đời tôi Như con sông với chân trời đã xa

Chỉ còn truyện cổ thiết tha Cho tôi nhận mặt ông cha của mình.

LÂM THỊ MỸ DẠ

Câu hỏi 1: Em hãy tìm những từ chỉ sự vật trong đoạn thơ?

Dòng 3: Cơn nắng, cơn mưa

Dòng 4: Con sông, rặng dừa

Trang 10

Dòng 5: cha ông

Dòng 8: Ông cha.

Câu hỏi 2: Hãy sắp xếp các từ vừa tìm được vào từng nhóm sau cho thích hợp:

- Từ chỉ người : Ông cha- Cha ông

- Từ chỉ vật : sông, dừa, chân trời.

- Từ chỉ hiện tượng : mưa, nắng

- Từ chỉ đơn vị : Cơn, con, rặng.

Câu hỏi 3: Những từ đó thuộc loại từ gì? (Danh từ)

Câu hỏi 4: Vậy danh từ là gì? (Danh từ là những từ chỉ sự vật: người, vật hiện

tượng hoặc đơn vị).

Như vậy, qua 4 câu hỏi gợi mở cho các em hình thành một khái niệm ngữpháp mà nội dung của bài đề ra

Tóm lại: Phương pháp gợi mở vấn đáp được sử dụng trong tất cả tiết học

và phát huy được tính chủ động sáng tạo của học sinh

* Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề

Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề là cách mà giáo viên đưa ra nhữngtình huống gợi vấn đề điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, tự giác hoạt động,trực tiếp chủ động và sáng tạo để giải quyết vấn đề thông qua đó mà kiến tạo trithức, rèn luyện kĩ năng

Tăng thêm sự hiểu biết và khả năng áp dụng lí thuyết vào giải quyết vấn đềcủa thực tiễn Nâng cao kĩ năng phân tích và khái quát từ tình huống cụ thể vàkhả năng độc lập cũng như khả năng hợp tác trong quá trình giải quyết vấn đề.Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần chuẩn bị trước câu hỏi sao chophù hợp với mục đích, yêu cầu và nội dung của bài đảm bảo tính sư phạm, đápứng với các đối tượng học sinh, giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức để giảiquyết vấn đề mà học sinh đưa ra

VD: Khi dạy bài mở rộng vốn từ “Đồ chơi- trò chơi” (tuần 16)

Giáo viên đưa ra một số thành ngữ - tục ngữ sau: “Chơi với lửa”, “Ở chọn nơi, chơi chọn bạn”, “Chơi diều đứt dây”, “Chơi dao có ngày đứt tay”, hãy

chọn câu thành ngữ, tục ngữ thích hợp để khuyên bạn:

a) Nếu bạn em chơi với một số bạn hư nên học kém hẳn đi

b) Nếu bạn em thích trèo lên một chỗ cao chênh vênh, rất nguy hiểm để tỏmình gan dạ

- Với tình huống (a) các em có thể chọn thành ngữ tục ngữ: “Ở chọn nơi, chơi chọn bạn” Nhưng với tình huống (b) các em có thể chọn 1 hoặc 2 thành ngữ tục ngữ như:“Chơi với lửa” hoặc “Chơi dao có ngày đứt tay” đều được.

Tóm lại : Với phương pháp này người giáo viên cần hiểu rằng trong từng

tình huống cụ thể sẽ có nhiều cách giải quyết hay, thích hợp để học sinh có thểứng dụng vào trong học tập, trong cuộc sống

Ngày đăng: 30/10/2019, 18:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w