1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao chất lượng dạy học dạng bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5

20 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 219,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở phân môn Tập làm văn các kiểu bài miêu tả tả cảnh đợc học nhiều nhất, nó giúp cho học sinh tái hiện lại cuộc sống con ngời, phong cảnh thiên nhiên.[ 2 ] Từ thực tiễn dạy học ở Tiểu học

Trang 1

MỤC LỤC

Mục lục 01

I MỞ ĐẦU……….………02

1 Lí do chọn đề tài………… ……….……….02

2 Mục đích nghiên cứu… ……… ……….………… 02

3 Đối tượng nghiên cứu……… ……… ….02

4 Phương pháp nghiên cứu ……….……… 02

II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU… ……….……… 04

1 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu……….……… 04

2 Thực trạng của việc dạy - học Tập làm văn lớp 5 ở trường Tiểu học Hà Lĩnh 1.……… … 04

3 Các giải pháp tổ chức thực hiện……….……… 05

3.1 Giải pháp 1:……… 05

3.2 Giải pháp 2:……… 06

3.3 Giải pháp 3:……… 07

3.4 Giải pháp 4:……… 07

3.5 Giải pháp 5:……… 07

3.6 Giải pháp 6:……… 08

3.7 Giải pháp 7:……… 09

3.8 Giải pháp 8:……… 10

3.9 Giải pháp 9:……… 12

3.10 Giải pháp 10: … ……….……… 13

3.11 Giải pháp 11:……… 13

3.12 Giải pháp 12:……… 14

3.13 Giải pháp 13:……… 15

4 Kết quả thực hiện:……….………16

III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………….……… 18

1 Kết luận chung……… ….18

2 Kiến nghị và đề xuất……… ……18

Tài liệu tham khảo……… … 20

Trang 2

I MỞ ĐẦU

1 Lớ do chọn đề tài.

Trong chương trỡnh Tiểu học, Tiếng Việt là một mụn học cú tầm quan trọng đặc biệt Mụn Tiếng Việt giỳp học sinh làm chủ một cụng cụ để sử dụng trong học tập và giao tiếp Đặc biệt lớp 5 là lớp cuối cấp Tiểu học, cần hoàn thành mục tiờu đặt ra cho mụn Tiếng Việt ở toàn cấp Trong mụn Tiếng Việt cú nhiều phõn mụn, mỗi phõn mụn mang một kiến thức nhất định, chỳng bổ trợ cho nhau giỳp người học cú thể học tốt mụn Tiếng Việt Phõn mụn Tập làm văn mang tớnh chất thực hành, tổng hợp, rốn cả 4 kĩ năng nghe, núi, đọc, viết Học sinh lớp 5 được học cả 4 kĩ năng kể chuyện, miờu tả người, cảnh vật Ở phân môn Tập làm văn các kiểu bài miêu tả (tả cảnh) đợc học nhiều nhất, nó giúp cho học sinh tái hiện lại cuộc sống con ngời, phong cảnh thiên nhiên.[ 2 ]

Từ thực tiễn dạy học ở Tiểu học những năm qua, tôi nhận thấy: Học sinh lớp 5 khi thực hiện bài văn miêu tả còn gặp rất nhiều khó khăn, chất lợng bài làm cha cao Nguyên nhân chủ yếu là do vốn sống, vốn hiểu biết của các em cha phong phú, vốn từ của các em còn nghèo nàn thiếu cảm xúc, lại cha biết chắt lọc, việc sử dụng ngụn ngữ, các biện pháp tu từ còn cha cao Bờn cạnh đú, nhiều em cũn chưa nắm vững cỏch làm cỏc kiểu bài văn miờu tả, cũn yếu trong kĩ năng xõy dựng bố cục, chọn ý và sắp xếp ý trong dựng từ diễn đạt Từ đú cỏc bài viết thường rơi vào tỡnh trạng liệt kờ, khụ cứng, thiếu hỡnh ảnh, thiếu cảm xỳc và gượng ộp Mặt khỏc cỏc tài liệu hướng dẫn giảng dạy chỉ mang tớnh chất chung chung, chưa cú những giải phỏp cụ thể để giỳp giỏo viờn

và học sinh vận dụng trong quỏ trỡnh dạy học Tập làm văn núi chung, dạng văn

tả cảnh núi riờng

Giỳp học sinh học tốt mụn Tập làm văn dạng văn tả cảnh là một việc làm

cú ý nghĩa thiết thực nhằm gúp phần thực hiện tốt mục tiờu mụn Tiếng Việt núi chung và phõn mụn Tập làm văn núi riờng Là một giỏo viờn lớp 5, tụi luụn trăn trở vấn là làm thế nào để nõng cao hiệu quả dạy và học phõn mụn Tập làm văn của lớp mỡnh phụ trỏch Do đú tụi đó học hỏi đồng nghiệp, nghiờn cứu, tỡm tũi

vận dụng đổi mới phương phỏp dạy học và mạnh dạn đề xuất: “Một số giải phỏp nõng cao chất lượng dạy - học dạng bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5” nhằm gúp phần nõng cao chất lượng làm văn miờu tả cho học sinh lớp 5.

2 Mục đớch nghiờn cứu.

Tỡm ra một số giải phỏp nhằm nõng cao chất lượng dạy học dạng bài văn

tả cảnh cho học sinh lớp 5

3 Đối tượng nghiờn cứu.

Giải phỏp nõng cao chất lượng dạy - học dạng bài văn tả cảnh cho học

sinh lớp 5A trường Tiểu học Hà Lĩnh 1

4 Phương phỏp nghiờn cứu.

4.1 Phương phỏp nghiờn cứu lớ luận:

Trang 3

Sử dụng phương pháp này khi nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa, nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài và các tài liệu khác có liên quan

4.2 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin:

Được sử dụng khi nghiên cứu thực trạng của đề tài, thu thập, sử lí thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu

4.3 Phương pháp quan sát, thống kê, sử lí số liệu:

Phương pháp này được sử dụng khi dự giờ đồng nghiệp, quan sát việc dạy

và học của giáo viên và học sinh, thống kê các nội dung liên quan đến đề tài, sử

lí số liệu của các bài kiểm tra…

4.4 Phương pháp khảo sát, thực nghiệm:

Được sử dụng khi khảo sát các giải pháp đưa ra, khi tổ chức dạy thực nghiệm, kiểm tra thực nghiệm…

II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu.

Miêu tả là “Dùng ngôn ngữ hay một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người” [1] Văn miêu tả dùng lời văn có hình ảnh, làm hiện ra trước mắt người đọc bức tranh cụ thể về một cảnh làm ta chú ý và có cảm xúc sâu sắc

Tả phải nắm được cảnh vật mình định tả có những gì nổi bật, đặc sắc và được diễn tả bằng từ ngữ giàu sức gợi cảm, giúp người đọc hình dung một cách cụ thể

về hình khối, kích thước, màu sắc, âm thanh, hương vị,… và những cảm giác vui buồn, ngạc nhiên, thích thú,… của cảnh vật thông qua những nhận xét tinh tế, rung động sâu sắc thể hiện cảm xúc thẩm mỹ của người viết [2]

Ở lớp 5, các loại bài Tập làm văn đều gắn với các chủ điểm, văn miêu tả cũng nằm trong cấu trúc đó Quá trình thực hiện các kỹ năng phân tích đề, quan sát, tìm ý, viết đoạn là những cơ hội để huy động vốn từ, tích cực hoá vốn từ để

vẽ lại được cảnh vật, đồng thời giúp trẻ hiểu biết được về cuộc sống theo các chủ điểm đã học Việc phân tích đề, lập dàn ý, chia đoạn văn miêu tả góp phần phát triển kĩ năng phân loại, phân tích, tổng hợp của học sinh Tư duy hình tượng của học sinh cũng được rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa …trong khi miêu tả

Học sinh được học văn miêu tả ngay từ tuần 1 thông qua hai loại hình bài học: loại bài hình thành kiến thức và loại bài luyện tập thực hành Gồm có các nội dung sau:

- Phân tích cấu tạo của bài văn tả cảnh

- Nhận xét bài văn theo yêu cầu

- Lập dàn ý

- Xây dựng đoạn văn trong bài văn tả cảnh

- Viết bài văn tả cảnh

- Trả bài kiểm tra viết

Như vậy về việc rèn luyện kỹ năng làm văn cho học sinh, theo chương trình sách giáo khoa hiện hành thì ngoài việc rèn luyện kỹ năng nhận xét qua

Trang 4

văn bản… cũn phải chỳ ý đến cỏc kỹ năng quan sỏt, lập dàn ý và viết đoạn văn

là cơ sở đầu tiờn và quan trọng giỳp học sinh viết bài đầy đủ, chớnh xỏc

2 Thực trạng của việc dạy - học Tập làm văn lớp 5 ở Trường Tiểu học Hà Lĩnh 1

Việc dạy học Tiếng việt núi chung và dạy học phõn mụn Tập làm văn ở lớp 5 núi riờng đạt hiệu quả chưa cao Giỏo viờn dạy học nhiệt tỡnh, tỉ mỉ, chuẩn

bị chu đỏo Việc thực hiện nội dung chương trỡnh luụn bỏm sỏt theo chỉ đạo chung của cấp trờn, bỏm sỏt mục tiờu chương trỡnh bài học theo chuẩn kiến thức

kỹ năng đồng thời thực hiện tốt cỏc nội dung tớch hợp giỏo dục kỹ năng sống, lồng ghộp giỏo dục bảo vệ mụi trường

Việc thực hiện nội dung chương trỡnh mụn Tiếng Việt là 8 tiết/tuần, trong

đú Tập làm văn lớp 5 được học 2 tiết/tuần Nội dung các bài học trong phân môn Tập làm văn lớp 5 là sự tiếp nối và nâng cao, mở rộng so với các lớp 2, 3, 4 Lên lớp 5 học sinh học tiếp về văn miêu tả Trong đó tả cảnh chiếm 18 tiết Như vậy trong phõn mụn tập làm văn ở lớp 5 thỡ văn tả cảnh chiếm thời lượng nhiều nhất Nắm bắt được tầm quan trọng đú ngay từ đầu năm học tụi đó tiến hành khảo sỏt chất lượng của lớp 5A do tụi được phõn cụng giảng dạy trong năm học này

Đề bài : Em hóy tả ngụi trường thõn yờu đó gắn bú với em trong nhiều năm qua.

Kết quả thu được như sau:

Lớp Sĩ số

Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành

Đặc biệt qua bài viết của cỏc em tụi cũn nhận thấy:

*) Về nội dung bài Tập làm văn

- 10- 15% học sinh viết văn cú bố cục rừ ràng, bài viết cụ động xỳc tớch

- 50% học sinh thực hiện được yờu cầu của đề nhưng diễn đạt ý cũn chưa rừ ràng, lụgic

- 10% học sinh cũn đụi chỗ dựng từ, đặt cõu, liờn kết cõu, đoạn chưa đạt Văn viết gũ bú thiếu tự nhiờn, ớt sỏng tạo

- 25% học sinh thỡ sao chộp nguyờn bản bài của bạn hoặc văn mẫu Thậm chớ cú

em bài viết cũn khụ khan, rời rạc, lủng củng, vay mượn

*) Về kĩ năng: - Trong bài văn của cỏc em gần như cả bài nhiều em khụng cú

một dấu chấm cõu

- Bài viết sai lỗi chớnh tả, đặc biệt là lỗi chớnh tả thụng thường, bờn cạnh những lỗi chớnh tả vốn cú của địa phương Diễn đạt vụng, luẩn quẩn, tối nghĩa

Trang 5

Tuy nhiên, trước những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, so với nhiệm vụ chung của ngành giáo dục, việc dạy và học phân môn Tập làm văn còn nhiều hạn chế, bất cập Tôi cho rằng cần phải nhìn thẳng vào sự thật để phân tích một cách thấu đáo điều này Bởi lẽ, nó có ý nghĩa về nhiều phương diện, nhất là xác định những biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng dạy và học Về giáo viên, thông qua các tiết dự giờ tôi nhận thấy đã có nhiều tiết giáo viên còn chưa có ý thức về đổi mới phương pháp dạy Qua việc

dự giờ, tôi nhận thấy rằng, việc giảng dạy và học tập phân môn Tập làm văn còn

có những vấn đề sau:

- Các tiết học thường kéo dài quá thời gian qui định

- Nhiều HS còn mơ hồ về loại văn miêu tả

- Kĩ năng làm văn của các em còn hạn chế như: chưa biết quan sát, miêu tả còn chung chung chưa thể hiện được đặc điểm nổi bật của từng chủ đề mình định tả; chưa biết sử dụng những từ gợi tả và các thủ pháp nghệ thuật trong bài văn; chưa biết thể hiện cảm xúc của mình khi miêu tả

- Vốn từ ngữ của các em còn nghèo…

Từ thực trạng việc dạy học phân môn Tập làm văn nói chung và việc dạy học dạng văn tả cảnh lớp 5 nói riêng, cùng với những nghiên cứu, tìm tòi của bản thân tôi nhận thấy cần thiết phải có một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy - học dạng bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5

3 Các giải pháp tổ chức thực hiện.

3.1 Giải pháp 1: Khơi dậy và bồi dưỡng hứng thú học tập Tiếng Việt, nhất là phân môn Tập làm văn cho học sinh Tiểu học.

Đại văn hào M.Gorki đã có câu nói nổi tiếng: “Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc” Tình yêu, niềm hứng thú là động lực, là điều kiện cũng chính là chìa khóa mở cánh cửa thành công cho bất kì công việc nào, kể cả việc học tập Tôi ví việc dạy học môn Tiếng Việt cũng giống như một con đường dài vậy Con đường ấy bắt nguồn từ việc phát hiện những học sinh có hứng thú và năng khiếu Tiếng Việt tạo điều kiện cho các em phát triển năng lực cá

nhân Trong cả hành trình, người giáo viên phải biết nuôi lớn hứng thú cho học sinh Một câu chuyện mở đầu, một câu hỏi dạng như “Các con có biết nếu như mình viết được một bài văn hay sẽ giúp chính các con điều gì không?” Hãy khôn khéo để dẫn dắt các con đến với lợi ích của việc học Tôi nghiệm ra rằng không

có con đường nào khác làm nảy sinh, duy trì hứng thú của học sinh với Tiếng Việt với miêu tả ngoài cách giúp các em thấy được sự thú vị, vẻ đẹp và sự kì diệu của miêu tả trong văn chương Việt Từng giờ, từng phút, người giáo viên phải hướng học sinh đến cái đẹp, cái hay, cái độc đáo của môn học Đó có thể là lời vào bài hấp dẫn, có thể là những ngữ liệu thú vị, là những thông tin bổ ích bên lề bài học.[5]

Hứng thú học tập trước hết được tạo ra bằng cách làm cho học sinh ý thức được lợi ích của việc học để tạo ra động cơ học tập Ngay từ những ngày đầu của năm học, giáo viên cần làm cho các em nhận thức về lợi ích của việc học một cách tích cực và thiết thực với các em

Trang 6

Hứng thú của học sinh cũng được khơi dậy từ việc chỉ ra vẻ đẹp của một

từ, cái hay của một tình tiết truyện, chẳng hạn: Tiếng hót của chim chiền chiện không phải là “ríu rít”, “thánh thót” mà “ngọt ngào”, “long lanh”, “chan chứa”, thì mới gây ấn tượng Hoa sầu riêng nở “tím ngát”, chứ không phải “tím ngắt” hay “ngan ngát” Như thế thì mới có cả màu hoa, hương hoa chỉ trong một từ

Hứng thú học Tiếng Việt, học Tập làm văn còn được tạo ra bằng cách kể cho các em nghe về cuộc đời của các nhà văn nhỏ tuổi như nhà thơ Trần Đăng Khoa, … và khuyến khích các em đọc thêm các bài văn tham khảo, bài văn hay

và những bài văn đạt giải,

3.2 Giải pháp 2: Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh.

Chúng ta đều biết rằng quá trình dạy học gồm hai hoạt động có quan hệ hữu cơ : hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Cả hai hoạt động này đều được tiến hành nhằm thực hiện mục đích giáo dục

Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức Hoạt động chỉ hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực, chủ động tự giác, với một động cơ nhận thức đúng đắn

Kết quả học tập của học sinh là thước đo kết quả hoạt động của giáo viên

và học sinh Trong quá trình dạy học, điểm tập trung là bản thân người học, chứ không phải là người dạy, tức là hoạt động dạy học cần dựa trên nhu cầu, hứng thú, thói quen và năng lực của người học ở các lứa tuổi khác nhau

Trong quá trình dạy học, người giáo viên cũng cần lưu ý rằng :

- Chương trình và kế hoạch dạy học phải căn cứ vào nhu cầu, hứng thú, năng lực của học sinh, giúp các em có được thái độ đúng và nắm được những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, phát huy đầy đủ nhất năng lực của mình.[2]

- Trong khi dạy học, cần tạo điều kiện cho học sinh chủ động tiếp thu các kiến thức, kĩ năng, biến những kiến thức, kĩ năng đó thành kiến thức, kĩ năng của mình Nói cách khác là biết biến điều được học thành cái “vốn”, cái “tài sản” của bản thân Học tập như vậy giúp sự hiểu biết của các em được vững chắc hơn, hứng thú học tập của các em được tăng cường hơn

- Khi dạy học, hoạt động tư duy của học sinh được khơi dậy, phát triển và coi trọng Đó chính là dạy học phát huy tính tích cực của học sinh

Quá trình dạy học trên lớp, thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể

Cổ nhân ta đã có câu “Học thầy không tày học bạn” Chính vì thế, học sinh có thể chia sẻ kết quả học tập với các bạn khác, như :

- Trao đổi với bạn để kiểm tra xem sự hiểu biết của mình (đúng/sai, đầy đủ/thiếu sót, …)

- Đặt câu hỏi với bạn để xem những suy nghĩ của mình, những hiểu biết của mình có giống bạn không

- Điều chỉnh, chỉnh sửa những điều mình hiểu sai thông qua trao đổi, thảo luận

3.3 Giải pháp 3: Hình thức tổ chức dạy học phù hợp, linh hoạt

Tổ chức dạy học dưới nhiều hình thức đảm bảo phù hợp và linh hoạt mang tính chất quyết định đến chất lượng dạy và học

Trang 7

Sự phối kết hợp các hình thức tổ chức lớp học khác nhau tạo nên sự mềm dẻo, linh hoạt và sinh động cho quá trình dạy học Quan trọng hơn, nó tạo điều kiện cho giáo viên cá thể hóa việc dạy học, tạo cơ hội cho mọi học sinh đều được tham gia vào hoạt động học tập, cách phối hợp với bạn bè trong công việc, cách chủ động tự tin trình bày ý kiến cá nhân Đối với việc dạy học Tiếng Việt, phối hợp các hình thức tổ chức lớp học tạo môi trường thuận lợi cho việc giao tiếp, cho việc rèn luyện 4 kĩ năng sử dụng Tiếng Việt [1]

Bên cạnh đó việc thiết lập được mối quan hệ hợp tác tích cực, tốt đẹp giữa thầy và trò, giữa các trò với nhau cũng sẽ tạo hứng thú cho học sinh Hình thức

tổ chức dạy học hấp dẫn cùng với một bầu không khí thân ái hữu nghị trong giờ học sẽ tạo ra sự hứng thú cho cả thầy và trò Giáo viên Tiểu học phải có một phẩm chất đặc biệt, biết cách cư xử đặc biệt với học sinh Đó là thái độ nâng đỡ, khích lệ, thông cảm, chú trọng vào mặt thành công của các em Đó là khả năng biết tự kiềm chế, khả năng đồng cảm với học sinh, khả năng làm việc kiên trì, tỉ

mỉ Đó là khả năng biết tổ chức quá trình dạy học một cách nhẹ nhàng tự nhiên không gây căng thẳng cho cho học sinh Chúng ta phải thực sự hiểu học sinh của mình, hình dung hết những khó khăn mà các em gặp phải trong học tập để có cách giải quyết tốt nhất trước những sai sót của các em và có biện pháp phòng ngừa

Chú trọng vào mặt thành công, đề cao và tôn trọng sức sáng tạo của học sinh Việc chú trọng vào mặt thành công của học sinh, đòi hỏi chúng ta phải xây dựng các nhiệm vụ dạy học sao cho đảm bảo để các em có những thành công chắc chắn đầu tiên

3.4 Giải pháp 4 : Hướng dẫn học sinh nhận diện đặc điểm loại văn tả cảnh.

Ở các bài hình thành kiến thức làm văn, tôi thường tiến hành hướng dẫn học sinh nhận diện đặc điểm loại văn thông qua gợi ý nhận xét trong sách giáo khoa Các thao tác cần được thực hiện theo trình tự sau :

- Yêu cầu học sinh đọc mục nhận xét trong sách giáo khoa, khảo sát văn bản để trả lời từng câu hỏi gợi ý

- Hướng dẫn học sinh trao đổi, thảo luận nhằm rút ra những nhận xét về đặc điểm loại văn tả cảnh (kiến thức cần ghi nhớ)

3.5 Giải pháp 5 : Giúp học sinh biết cách quan sát đối tượng miêu tả.

Muốn tả được trước hết các em phải biết quan sát được đối tượng miêu tả

Do đó với mỗi bài tôi thường hướng dẫn học sinh cần quan sát tỉ mỉ (từng bộ phận), theo trình tự hợp lí (từ ngoài vào trong, từ bộ phận chủ yếu đến các bộ phận thứ yếu, ), hoặc sự thay đổi của cảnh theo thời gian (sáng, trưa, chiều, tối) Hướng dẫn các em quan sát bằng nhiều cách khác nhau (mắt nhìn, tai

nghe, ) Chú ý phát hiện những đặc điểm riêng phân biệt đối tượng được tả với những đối tượng khác cùng loại

Khi làm bài văn tả cảnh phải có yếu tố tưởng tượng, nhưng bất kỳ một sự tưởng tượng nào cũng đều bắt đầu từ thực tế nên hình ảnh được miêu tả phải có tính chân thực, bắt đầu bằng sự quan sát, không tô đẹp quá, không bóp méo và quá hư cấu Muốn quan sát đạt kết quả thì giáo viên phải hướng cho học sinh khi

Trang 8

quan sát luôn biết cách chọn một điểm nhìn, một góc nhìn hợp lí Từ đó sẽ đem đến những sản phẩm quan sát với những hình ảnh khác nhau

Cách nhìn, góc nhìn của học sinh khác với người lớn, của trẻ nông thôn khác với trẻ thành phố Góc nhìn, cách nhìn còn là quan điểm, thái độ của riêng mỗi chủ thể, song cần phải hướng dẫn học sinh thể hiện nó bằng cách nhìn thẩm

mĩ, kết hợp nhiều giác quan

Ví dụ : Dựa vào kết quả quan sát của mình, em hãy lập dàn ý bài văn

miêu tả một cảnh sông nước (một vùng biển, một dòng sông, một con suối hay một hồ nước)

Đối với đề bài này, giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát bằng các giác quan :

- Quan sát bằng thị giác :

+ Ánh nắng ban mai, sương sớm, mặt nước, bãi ngô, bãi dâu, bãi mía, lũy tre xanh rì, người đi thăm bãi (Nếu học sinh quan sát vào buổi sáng sớm)

+ Ánh nắng lúc hoàng hôn, mặt nước, con người, con vật trên sông như : Mấy đứa trẻ thả trâu bò tắm mát ; bãi ngô, bãi dâu, bãi mía, lũy tre xanh rì, (Nếu học sinh quan sát vào buổi chiều lúc hoàng hôn)

- Tri giác bằng thính giác : Tiếng chim hót trên rặng tre, cây gạo, tiếng người nói chuyện khi đi làm bãi, tiếng gió thổi,

- Tri giác bằng khứu giác : Mùi của đất phù xa bãi bồi trên sông, mùi ngọt của những bãi mía, bãi ngô,

Giáo viên hướng dẫn các em học cách quan sát của các nhà văn, từ những hình ảnh thân quen hằng ngày, cách quan sát từ bên ngoài và từ bên trong để đoạn văn miêu tả thêm sinh động, gợi cảm và gây được sự chú ý, cuốn hút người nghe

Quan sát phải gắn liền với so sánh và liên tưởng : Tìm ra những nét đồng nhất, độc đáo của các sự vật gắn liền với tình yêu thái độ

Đặc biệt quan trọng là quan sát là phải có sự lựa chọn, không nên thấy cái

gì tả cái đó mà phải biết chọn lọc chi tiết, tìm ra nét đặc biệt, nét chủ yếu của sự vật, hiện tượng, tránh liệt kê, kể lể khô khan, vô hồn

3.6 Giải pháp 6 : Hướng dẫn học sinh sử dụng dấu câu trong đoạn văn

Hiện nay, hiện tượng học sinh không sử dụng hoặc ít sử dụng dấu câu trong bài viết xảy ra không ít Hiện tượng này chứng tỏ học sinh chỉ quan tâm đến nội dung bài viết mà không nhận thức rõ tầm quan trọng của dấu câu, khiến việc không dùng dấu câu khi tạo lập đoạn văn, bài văn đã trở thành thói quen ở các em

* Sử dụng dấu câu tùy tiện, nhiều sai sót : Hiện tượng học sinh thiếu ý thức trong việc sử dụng dấu câu dẫn đến sai sót về dấu câu trong bài viết cũng khá phổ biến Đó là những trường hợp bài viết của các em sử dụng thiếu hoặc thừa dấu câu Nhiều bài làm của học sinh chỉ sử dụng dấu câu để kết thúc mà không sử dụng loại dấu câu khác trong câu, khiến cho các ý diễn đạt kém mạch lạc Ngược lại, có những trường hợp, đã sử dụng từ ngữ liên kết các thành phần câu nhưng các em vẫn đánh dấu câu trước hoặc sau các từ nối đó Đặc biệt,

Trang 9

trong các bài viết của các em còn có hiện tượng sử dụng dấu câu mang tính chất ngẫu hứng, không theo quy tắc nào và không đúng với chức năng của chúng Đoạn văn dưới đây của học sinh là một ví dụ :

Các bác nông dân lại bận rộn với việc ra đồng, nào là, cắt lúa, bó lúa, ôm lúa Đến trưa, thì xe lúa trở về nhà Mấy cu cậu, được ngồi trên xe, thì ngất ngưỡng thổi sáo, vui tươi , [6]

Các hiện tượng sử dụng dấu câu có nhiều sai sót nêu trên cho thấy học sinh

đã có ý thức phải sử dụng dấu câu khi viết xong các em chưa hiểu đúng vai trò, chức năng, tác dụng của dấu câu nên đã mắc các lỗi đáng tiếc

* Sử dụng dấu câu đơn diệu : Hiện tượng bài viết của học sinh chỉ sử dụng hai loại dấu câu (dấu chấm, dấu phẩy) rất phổ biến Thực tế cho thấy loại dấu học sinh hay dùng sai là dấu phẩy và dấu chấm

Các lỗi học sinh thường mắc phải khi sử dụng dấu phẩy là :

- Không sử dấu phẩy để tách trạng ngữ với nòng cốt câu

Ví dụ : Sáng nay trên cánh đồng các bác nông dân đang nhanh tay gặt lúa.

- Không dùng dấu phẩy để tách các vế câu, các bộ phận đẳng lập hay đồng chức với nhau

- Sử dụng dấu phẩy thay cho dấu chấm (với chức năng của dấu chấm)

- Dấu phẩy đặt lung tung không theo nguyên tắc nào

Các loại lỗi học sinh thường mắc phải khi sử dụng dấu chấm là :

- Không biết chấm câu khi kết thúc câu

- Sử dụng dấu chấm thay cho dấu chấm hỏi hoặc dấu chấm than

Ví dụ : Bác Điền ơi Lúa vụ này được mùa không ạ.

- Đặt dấu chấm tùy tiện

Bên cạnh các loại lỗi về dấu câu nói trên, học sinh lớp tôi còn mắc một hạn chế nữa trong việc sử dụng dấu câu, đó là : chưa phát huy thế mạnh của dấu câu trong văn viết Khi tạo lập bài văn học sinh chủ yếu tập trung tìm ý, diễn đạt

ý bằng lời văn mà chưa có ý thức phát huy tác dụng của dấu câu trong việc nâng cao hiệu quả biểu đạt của văn viết

Như vậy dấu câu có chức năng rất quan trọng trong việc tạo câu và biểu hiện ý nghĩa , ngữ điệu của câu Chính vì thế mà người giáo viên cần hướng dẫn

để học sinh hiểu và biết sử dụng dấu câu cho đúng, cho thành thạo để câu văn, đoạn văn liên kết với nhau một cách chặt chẽ, lô gic Bài văn sẽ mượt mà và hay hơn

3.7 Giải pháp 7 : Giúp học sinh viết thêm thành phần phụ (trạng ngữ) cho câu.

Hiện nay không ít học sinh khi viết văn không sử dụng hoặc ít sử dụng đến trạng ngữ, như vậy câu văn sẽ không hay, tạo cảm giác khô cứng và hơn nữa nhất là thể loại văn tả cảnh lại cần đến trạng ngữ rất nhiều Do vậy mà trong quá trình dạy, người giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ trạng ngữ và biết sử dụng trạng ngữ trong câu cho đúng, hợp lí

Trong câu, trạng ngữ có khi đứng đầu câu, có khi đứng ở cuối, cũng có khi xen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ

Trang 10

Ví dụ 1 : Sáng nay, bác Dung đánh trâu ra đồng thật sớm (trạng ngữ ở đầu

câu)

Ví dụ 2 : Mặt trời mọc ở đằng đông ( trạng ngữ ở cuối câu)

Ví dụ 3 : Làng tôi năm nay được mùa to (trạng ngữ ở giữa câu)

3.8 Giải pháp 8 : Hướng dẫn học sinh sử dụng từ ngữ và phép tu từ so sánh, nhân hóa trong bài văn miêu tả cảnh.

- Như chúng ta đã biết vốn từ ngữ của các em còn nghèo nàn nên việc cung cấp cũng như hướng dẫn các em cách sử dụng từ ngữ để miêu tả là rất quan trọng Bởi vậy giáo viên cần giúp học sinh tích lũy vốn từ từ nhiều nguồn: trong giao tiếp hàng ngày ; qua đọc sách, báo ; qua xem ti vi, nghe đài ; trao đổi với bạn bè ; thầy cô giáo cung cấp…

Những từ ngữ sẽ được các em tích lũy và ghi lại mỗi ngày một ít, (có thể

là một từ, hai từ/ngày) ngay trong góc Tiếng việt được trình bày và trang trí rất đẹp ở cuối lớp

Ví dụ : + Các từ dùng để miêu tả cây cối: xanh mướt, xanh rì, xanh mơn mởn,

xanh non, xanh lá mạ, xanh biếc, xanh lục, … rung rinh, um tùm, sum suê, khẳng khiu, rực rỡ, mỡ màng, vàng úa, xơ xác, trơ trụi, lác đác, xào xạc,…

+ Các từ ngữ dùng để miêu tả âm thanh: vi vu, ầm ầm, đì đùng, xoèn xoẹt, lách cách, cót két, phành phạch, râm ran, ríu rít, rào rào, tí tách , lách tách, lẹt đẹt, đồm độp, loong boong, loảng xoảng,…

Ví dụ : Mưa đến rồi, lẹt đẹt…lẹt đẹt mưa giáo đầu Những giọt nước lăn

xuống mái phên nứa : mưa thực rồi Mưa ù xuống khiến cho mọi người không tưởng được là mưa lại kéo đến chóng thế Lúc nãy là mấy giọt lách tách, bây giờ bao nhiêu nước tuôn rào rào Nước xiên xuống, lao xuống, lao vào trong bụi cây Lá đào, lá na, lá sói vẫy tai run rẩy Con gà trống ướt lướt thướt ngật

ngưỡng tìm chỗ trú Mưa xuống sầm sập, giọt ngã, giọt bay, bụi nước tỏa trắng xóa…Mưa đồm độp trên phên nứa, đập bùng bùng vào lòng lá chuối Tiếng giọt

tranh đổ ồ ồ … [3]

(Tiếng việt 5, tập 1, trang 31)

+ Các từ dùng để tả mùi vị: thơm thoang thoảng, ngòn ngọt, chan chát, nồng nồng, cay xè, ngai ngái, hăng hắc, dìu dịu, ngào ngạt, sực nức, ngọt mát,…

- Cách vận dụng linh hoạt, phù hợp với các biện pháp tu từ như : so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, khi viết văn miêu tả góp phần tạo nên sự hòa đồng , vừa dễ nhận thấy vừa giàu cảm xúc gợi cảm, vừa gần gũi, vừa gợi tả

Chẳng hạn, khi tả trăng ta có thể so sánh với những sự vật như con

thuyền, cánh diều, quả bóng, cái đĩa, … Tả chiếc lá bàng ta có thể so sánh với cái quạt, chiếc bánh đa, … Hay khi tả những chùm hoa phượng ta có thể so sánh với những đốm lửa hồng bập bùng ; tả những quả bàng xanh tại sao ta lại không

so sánh với những chú rùa con bé xíu … Hay trong bài “Sắc màu em yêu ” (tác giả Phạm Đình Ân) sử dụng so sánh rất hay :

“Em yêu màu vàng : Lúa đồng chín rộ - Hoa cúc mùa thu - Nắng trời rực rỡ.

Em yêu màu trắng : Trang giấy tuổi thơ, Đóa hoa hồng bạch, Mái tóc của

bà”…

Ngày đăng: 30/10/2019, 18:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w