Môn Tiếng Việt trong trường tiểu học không thể là bảnsao từ chương trình khoa học Tiếng Việt vì trường có nhiệm vụ riêng của mình.Nhưng với tư cách là một môn học độc lập, Tiếng Việt có
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU:
1 Lý do chọn đề tài:,
1.1 Tầm quan trọng của vấn đề cần được nghiên cứu :
Trường Tiểu học là nơi đầu tiên trẻ em được học tập Tiếng Việt, chữ viếtvới phương pháp nhà trường, phương pháp học tập tiếng mẹ đẻ một cách khoahọc Học sinh tiểu học chỉ có thể học tập các môn khác khi có kiến thức TiếngViệt Bởi đối với người Việt, tiếng Việt là phương tiện giao tiếp, là công cụ traođổi thông tin và chiếm lĩnh tri thức Hơn nữa, con người muốn tư duy phải cóngôn ngữ Cả những lúc chúng ta nghĩ thầm trong bụng, chúng ta cũng “bụngbảo dạ” cũng nói thầm, tức là cũng sử dụng ngôn ngữ, một hình thức ngôn ngữ
mà các nhà chuyên môn gọi là ngôn ngữ bên trong Còn thông thường thì chúng
ta thể hiện ra ngoài kết quả của hoạt động tư duy, những ý nghĩ tư tuởng củachúng ta thành những lời nói, những thực thể ngôn ngữ nhất định Ngôn ngữ làcông cụ, là hiện thực của tư duy Bởi lẽ đó, tư duy và ngôn ngữ có quan hệ chặtchẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Người có tư duy tốt sẽ nói năng mạchlạc, trôi chảy và nếu trau dồi ngôn ngữ được tỉ mỉ, chu đáo thì sẽ tạo điều kiệncho tư duy phát triển tốt Môn Tiếng Việt trong trường tiểu học không thể là bảnsao từ chương trình khoa học Tiếng Việt vì trường có nhiệm vụ riêng của mình.Nhưng với tư cách là một môn học độc lập, Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấpcho HS những tri thức về hệ thống Tiếng Việt (hệ thống âm thanh, cấu tạo từ,cấu trúc ngữ pháp, khả năng biểu cảm của ngôn ngữ, quy tắc hoạt động củangôn ngữ) Đồng thời, kiến thức môn Tiếng Việt hình thành cho HS kĩ năng giaotiếp (nghe, nói, đọc, viết) Ngoài ra, Tiếng Việt còn là công cụ giao tiếp và tưduy cho nên nó còn có chức năng kép mà các môn học khác không có được, đólà: trang bị cho HS một số công cụ để tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoahọc trong nhà trường, là công cụ để học các môn học khác; kĩ năng nghe, nói,đọc, viết là phương tiện là điều kiện thiết yếu của quá trình học tập Bên cạnhchức năng giao tiếp, tư duy ngôn ngữ còn có chức năng quan trọng nữa đó làthẩm mĩ, ngôn ngữ là phương tiện để tạo nên cái đẹp, hình tượng nghệ thuật.Trong văn học, HS phải thấy được vẻ đẹp của ngôn ngữ Vì thế ở trường tiểuhọc, Tiếng Việt và văn học được tích hợp với nhau, văn học giúp HS có thẩm mĩlành mạnh, nhận thức đúng đắn, có tình cảm thái độ hành vi của con người ViệtNam hiện đại, có khả năng hòa nhập và phát triển cộng đồng nên hiểu được cácvăn bản văn học hoặc hiểu được ngôn ngữ trong giao tiếp thì học sinh cần phảihiểu được nghĩa của từ và các lớp nghĩa của từ
1.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Với mục tiêu được quy định thì môn Tiếng Việt có vai trò hết sức quantrọng, giúp trẻ chiếm lĩnh tri thức mới, hình thành và phát triển năng lực sử dụngtiếng Việt trong học tập và trong giao tiếp Ngay từ bậc tiểu học, học sinh được
Trang 2chú trọng dạy từ, trong đó dạy giải nghĩa của từ và các lớp từ có quan hệ về ngữnghĩa là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
2.1 Mục tiêu:
Mục tiêu của đề tài là tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn về giải nghĩa
từ Tạo hứng thú khi học Tiếng Việt nói chung và phần nghĩa của từ có quan hệ
về ngữ nghĩa, giúp học sinh không còn ngại nói, ngại phát biểu trong Tiếng Việt
để nâng cao chất lượng học cho học sinh học môn Tiếng Việt lớp 5
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh lớp 5
- Thực trạng của việc dạy Tiếng Việt lớp 5 của trường Tiểu học HoàngGiang
- Khảo sát điều tra thực tế
- Nghiên cứu nội dung chương trình phân môn Tiếng Việt lớp 5
- Dạy thực nghiệm
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh lớp 5 trường Tiểu học Hoàng Giang
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
+ Giới hạn:
Một số biện pháp để dạy nghĩa của từ và các cụm từ có quan hệ về nghĩacho học sinh lớp 5
+ Phạm vi:
Môn Tiếng Việt lớp 5 (về nội dung chương trình, phương pháp dạy học
và tâm lí của học sinh tiểu học).
+ Thời gian:
Từ tháng 8/2016 đến tháng 3/2017
5 Phương pháp nghiên cứu:
a Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết để tìm ra cơ sở khoa họcchi phối việc lựa chọn nội dung và xác định hệ thống nguyên tắc, phương phápdạy học môn Tiếng Việt
b Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp khảo sát điều tra thực tế
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích số liệu
Trang 3II PHẦN NỘI DUNG:
1 Cơ sở lí luận :
Ngôn ngữ văn học còn là biểu hiện bậc cao của nghệ thuật ngôn từ nênkhi dạy văn là cách bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ tối ưu cho người học DạyTiếng Việt là đưa các em hoà nhập vào một môi trường sống của thời kì hộinhập Còn hiểu sâu sắc về Tiếng Việt là tác động đến kĩ năng cảm thụ thơ văncủa HS Kết hợp giữa dạy văn và dạy tiếng sẽ tạo được hiệu quả cao giữa haimôn văn - Tiếng Việt để HS lớn lên trở thành những con người hiện đại, đượcgiáo dục toàn diện Về bản chất giáo dục là sự chuyển giao các giá trị văn hoáđông - tây, kim - cổ, một sự giao tiếp mà phương tiện chủ yếu là lời nói của cha
mẹ, thầy cô là sách báo các loại Trong giáo dục, việc nắm vững tiếng nói (trướchết là tiếng mẹ đẻ) có ý nghĩa quyết định Nếu học sinh yếu kém về ngôn ngữ,nghe nói chỉ hiểu lơ mơ, nói viết không chính xác, không thể hiện được ý mìnhcho suôn sẻ, thì không thể nào khai thác đầy đủ các thông tin tiếp nhận từ ngườithầy, từ sách vở được Bởi vậy, trong nội dung giáo dục, chúng ta cần phải hếtsức coi trọng việc đào tạo về mặt ngôn ngữ, xem đó là điều kiện không thể thiếu
để bảo đảm thành công trong thực hiện sứ mệnh trong đại của mình
Nhận thức của trẻ từ 6 đến 11 tuổi còn mang tính cụ thể, gắn với các hìnhảnh và hiện tượng cụ thể Trong khi đó kiến thức về nghĩa của từ và các lớp từ
có quan hệ về ngữ nghĩa có tính trừu tượng và khái quát cao Do vậy, các emthường không thích học, ngại suy nghĩ dẫn đến tiết học kém hiệu quả, học sinhnắm kiến thức hời hợt Mặt khác, học sinh lớp 5 được tiếp xúc với những từ mới
có những bước nhảy vọt về kiến thức nên các em thường có hiện tượng lười học,
sợ giải nghĩa từ, sợ học các bài về các lớp từ Chính vì lẽ đó, người giáo viên làngười dạy phải biết khơi dậy niềm say mê học, óc tư duy, sáng tạo của mỗi họcsinh Làm thế nào để đạt được điều đó?
Do đặc điểm của môn học và đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 5 maunhớ nhưng lại nhanh quên, không thích những hoạt động kéo dài, thích nhữnghình ảnh trực quan sinh động , người giáo viên cần lựa chọn phương pháp, hìnhthức tổ chức dạy học phù hợp với các đối tượng học sinh trong lớp để học sinhnào cũng nắm chắc kiến thức về từ, củng cố tri thức mới, rèn luyện các kỹ năng
cơ sở, phát triển tư duy, ngôn ngữ giúp học sinh tự tin hơn khi giao tiếp
* Cơ sở thực tiễn :
Chương trình các môn học ở trường tiểu học hiện nay đã được sắp xếp mộtcách khoa học hệ thống song đối với học sinh tiểu học là bậc học nền tảng, đếntrường là một bước ngoặt lớn của các em trong đó hoạt động học là hoạt độngchủ đạo, kiến thức các môn học về tự nhiên và xã hội chưa được bao nhiêu, vốn
từ sử dụng vào trong cuộc sống để diễn đạt trình bày tư tưởng, tình cảm củamình còn quá ít Mặc dù vấn đề nghĩa của từ, các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa
Trang 4và việc dạy vấn đề này ở trường tiểu học không gây nhiều tranh cãi như việc dạynội dung cấu tạo từ nhưng đây lại là công việc không mấy dễ dàng bởi vì nghĩacủa từ là một vấn đề phức tạp, trừu tượng, khó nắm bắt trong khi đó tư duy củahọc sinh tiểu học chủ yếu thiên về cụ thể tư duy trừu tượng phát triển nhưng ởmức độ thấp Các em thường lẫn lộn giữa từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từđồng âm, giải nghĩa từ còn mang tính chung chung, không chính xác Hơn thếnữa, các em chưa ý thức được vai trò xã hội của ngôn ngữ, chưa nắm được cácphương tiện kết cấu và quy luật cũng như họat động chức năng của nó Mặtkhác, HS cần hiểu rõ người ta nói và viết không chỉ cho riêng mình mà chongười khác nên ngôn ngữ cần chính xác, dễ hiểu, tránh làm cho người khác hiểusai nội dung câu, từ, ý nghĩa diễn đạt Chính vì vậy việc dạy nghĩa của từ và cáclớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa có rất nhiều giáo viên trong trường quan tâmsong chưa có ai nghiên cứu nên tôi đã chọn vấn đề này giúp học sinh tháo gỡnhững khó khăn, vướng mắc khi học mảng kiến thức này của môn Tiếng Việt.
- Luôn quan tâm đến chất lượng dạy của GV và chất lượng học của HS
- Đầu tư đầy đủ cơ sơ vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác dạy vàhọc
- Hàng tuần có các buổi sinh hoạt chuyên môn để GV trao đổi kinh nghiệm, thảo luận bài để tìm ra phương pháp, hình thức dạy học tối ưu trong quátrình dạy
- Tổ chức thao giảng các cấp để giáo viên được cọ sát, học hỏi kinhnghiệm của đồng nghiệp
+ Về phía giáo viên:
- Phần lớn giáo viên của trường có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đạt
và vượt chuẩn, nhiều giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi các cấp
- Giáo viên trong các tổ, khối chuyên môn luôn tự học hỏi để bổ sung,cập nhật kiến thức phục vụ cho công tác giảng dạy của mình
- Giáo viên quan tâm đến các đối tượng học sinh, nhiệt tình trong công tácgiảng dạy
+ Về phía học sinh:
- Phần nhiều học sinh ngoan, tích cực trong học tập và rèn luyện
Trang 5- Các em có đầy đủ đồ dùng học tập, sách giáo khoa, vở viết đúng quyđịnh.
- Phụ huynh học sinh luôn quan tâm đến việc rèn luyện học tập HS, có sựkết hợp giữa phụ huynh, giáo viên và các lực lượng giáo dục trong, ngoài Nhàtrường
* Khó khăn:
+ Về phía giáo viên:
- Đôi khi ở một số tiết giáo viên chuẩn bị đồ dùng dạy học còn sơ sài chưakích thích được sự hứng thú, tìm tòi, sáng tạo của học sinh
- Một vài giáo viên chưa nhanh nhạy trong việc đổi mới phương pháp dạyhọc theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm
- Giáo viên đã chú trọng đến việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học,vận dụng được nhiều phương pháp dạy học như: vấn đáp, trực quan, giảnggiải giúp học sinh chiếm lĩnh được kiến thức mới
- Đa số giáo viên đã quan tâm đến việc bồi dưỡng các đối tượng học sinhtrong lớp Giáo viên đã chú trọng tới đổi mới các hình thức tổ chức dạy học, dạyhọc có sử dụng đồ dùng, mô hình, vật thật
- 95% GV có kiến thức về tin học và 80% GV đã thiết kế bài giảng điệntử
- Đôi khi điều kiện giảng dạy của giáo viên còn hạn chế, các tài liệu
tham khảo phục vụ việc giảng dạy chưa phong phú
Trang 61 - Khả năng vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học chưa cao.
- Một số giáo viên phụ thuộc theo sách giáo khoa, áp đặt học sinh tiếp thukiến thức thụ động không mang tính sáng tạo, tích cực
1 Đó đây vẫn còn giáo viên chưa tâm huyết với nghề, với học sinh, chưachuẩn bị kĩ lưỡng cho bài dạy, mỗi tiết dạy và nhất là dạy chay
* Nguyên nhân:
- Một số giáo viên có tuổi đời, tuổi nghề cao nên phương pháp dạy họctruyền thống đã ăn sâu vào tiềm thức khó thay đổi hoặc thay đổi chậm Việc tiếpcận vấn đề lí luận chung về đổi mới phương pháp còn gặp khó khăn, lúng túng
- Khi dạy, số ít giáo viên còn chưa nghiên cứu thật kỹ nội dung bài, việcsoạn bài với giáo viên là hình thức sao chép Khi dạy giáo viên còn lệ thuộc vàotài liệu có sẵn, hình thức lựa chọn còn sơ sài, chưa cuốn hút học sinh vào bàihọc, kiến thức truyền thụ chưa trọng tâm
- Việc chọn lựa các hình thức dạy học chưa phù hợp với đối tượng họcsinh, chưa phù hợp với bài dạy nên dẫn đến tình trạng học sinh nhàm chán.Trong tiết học thì dạy chay là chủ yếu vì ngại hướng dẫn bằng đồ dùng mấtnhiều thời gian sẽ vi phạm thời gian trong tiết dạy
2.3 Thực trạng học của học sinh
*Ưu điểm:
- Phần nhiều học sinh tiếp thu bài tương đối nhanh
- Học sinh có phương pháp học tập tốt, có đầy đủ góc học tập
- Nhiều học sinh được gia đình quan tâm, mua đủ sách giáo khoa, các đồ dùng học tập cần thiết cho môn học
* Tồn tại:
Ở lớp 5, các em được làm quen nhiều hơn với mảng kiến thức mới: Bồi
dưỡng năng lực cảm thụ văn học nhưng ở một số học sinh còn thiếu sự say mêcần thiết, chưa biết đọc diễn cảm bài văn hay, chưa thể xúc động thật sự vớinhững gì đẹp đẽ được tác giả diễn qua bài văn ấy
- Kỹ năng trình bày bài của học sinh chưa tốt, có học sinh hiểu bài nhưngdiễn đạt không thoát ý, học sinh chưa sáng tạo khi làm bài
- Học sinh còn khó khăn trong việc giải nghĩa các từ: giải nghĩa từ sai,lúng túng và nghĩa còn lủng củng
- Nhiều học sinh chưa biết phân biệt nghĩa gốc và một số nghĩa chuyểncủa từ nên còn làm sai bài tập
- Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa còn mơ hồ, định tính
- Đặt câu có sử dụng từ nhiều nghĩa chưa hay, chưa đúng với nét nghĩayêu cầu Vả lại, cách dạy của giáo viên thì nặng về giảng giải khô khăn, áp đặt.Điều này gây tâm lý mệt mỏi, ngại học trong học sinh
* Nguyên nhân:
Trang 7- Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi và đặc điểm nhận thức của học sinh tiểuhọc.
- Vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thiếu sự quan tâm của phụ huynh đếnviệc học của con - em mình
- Cách dạy của nhiều giáo viên trong giờ luyện từ và câu, giải nghĩa từtrong giờ tập đọc còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo viên,hầu như rất ít sáng tạo, chưa sinh động, chưa cuốn hút được học sinh
- Vốn từ ngữ của một số giáo viên chưa phong phú, chưa đáp ứng đượcyêu cầu hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ Kiến thức về từvựng - ngữ nghĩa học của một số giáo viên còn hạn chế, nên bộc lộ những sơsuất, sai sót về kiến thức
- Học sinh ít hứng thú học phân môn này Hầu hết các em được hỏi ý kiếnđều cho rằng: Luyện từ và câu và giải nghĩa từ là phần học khô và khó Một sốchủ đề còn trừu tượng, khó hiểu, không gần gũi, quen thuộc
Do vậy, để dạy và học phần nghĩa của từ và các lớp từ có quan hệ về ngữnghĩa đạt hiểu quả cao, cần chú trọng đến hình thức truyền thụ kiến thức để gâyhứn g thú nâng cao chất lượng học cho học sinh Qua tìm hiểu và áp dụng một
vài biện pháp dạy - học về vấn đề “Dạy nghĩa của từ và các cụm từ có quan
hệ về ngữ nghĩa cho học sinh lớp 5” trong năm học 2016 - 2017, tôi nhận thấy
hiệu quả giờ học cao hơn, học sinh hứng thú học, giờ học thật vui, thật nhẹnhàng, sôi nổi đặc biệt mỗi học sinh đều được bộc lộ suy nghĩ về vốn sống, vốn
từ của mình
3.Biện pháp dạy nghĩa của từ và các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa:
Nghĩa của từ được hiểu là nội dung đối tượng vật chất, là sự phản ánh đốitượng của hiện thực (một hiện tượng, một quan hệ, một tính chất, hay một quátrình) trong nhận thức, được ghi lại bằng một tổ hợp âm thanh xác định Để tăngvốn từ cho học sinh, ngoài việc hệ thống hóa vốn từ, công việc quan trọng là làmcho học sinh hiểu nghĩa từ, phân biệt được các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa.Đây là nhiệm vụ quan trọng trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em Việc dạynghĩa của từ được tiến hành trong tất cả các giờ học, bất cứ ở đâu có cung cấp từngữ, thuật ngữ, khái niệm, thì ở đó có dạy nghĩa từ Bài tập giải nghĩa từ xuấthiện trong phân môn LTVC không nhiều nhưng việc giải nghĩa từ lại chiếm vị trírất quan trọng trong các bài học MRVT Việc cho các em hiểu nghĩa các từ chủđiểm, từ trung tâm của mỗi trường nghĩa là vô cùng cần thiết
4 Mục tiêu của biện pháp dạy nghĩa của từ cho học sinh lớp 5.
- Chia nhóm từ và xác định biện pháp giải nghĩa từ tương ứng với cácnhóm
Trang 8- Định hướng các biện pháp giải nghĩa từ thích hợp với lượng từ ngữ cầncung cấp cho học sinh lớp 5 và các biện pháp tìm hiểu từ ngữ nghệ thuật trongcác văn bản Tập đọc của khối lớp 5.
- Dạy các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa
5 Nội dung và cách thực hiện biện pháp:
Biên p há p 1: Giải nghĩa từ cho học sinh lớp 5.
Qua 16 tiết MRVT và 69 văn bản tập đọc, tôi thống kê được hơn 200 từhọc sinh cần hiểu nghĩa Đây là số lượng từ khá lớn so với khả năng giải nghĩacủa học sinh độ tuổi 11,12 Trong một số công trình nghiên cứu về PPDH TV vàmột số tài liệu hướng dẫn giáo viên tiểu học dạy từ ngữ đã nêu một số cách giảinghĩa sau:
“Giải nghĩa bằng trực quan; giải nghĩa bằng cách đối chiếu so sánh với các từ khác; giải nghĩa bằng các từ đồng nghĩa, trái nghĩa; giải nghĩa từ bằng cách phân tích từ các thành tố và giải nghĩa từng thành tố này; giải nghĩa bằng định nghĩa
Tôi đã chia các từ mà sách giáo khoa TV5 yêu cầu học sinh hiểu nghĩathành các nhóm và xác định biện pháp giải nghĩa từ tương ứng với mỗi nhóm
A Giải nghĩa bằng định nghĩa
Giải nghĩa bằng định nghĩa là biện pháp giải nghĩa bằng cách nêu nộidung nghĩa, gồm tập hợp các nét nghĩa bằng một định nghĩa Tập hợp nét nghĩađược liệt kê theo sự sắp xếp nét nghĩa khái quát, cũng là nét nghĩa từ loại lêntrước hết và các nét nghĩa càng hẹp, càng riêng thì càng ở sau Tôi đã hướng dẫnHS:
- Nhận dạng được ý nghĩa phạm trù của từ
- Xác định tiểu loại của từ
Tạm thời phân biệt cách giải nghĩa các nhóm từ như sau:
a Nhóm các từ thuộc từ loại danh từ
* Danh từ trừu tượng
Khi giải nghĩa các danh từ trừu tượng, tôi hướng dẫn HS làm như sau:
- Chọn được các từ gọi tên các nét nghĩa khái quát
- Xác định rõ phạm trù nghĩa của các từ cần giải nghĩa
- Tùy đặc điểm riêng từng từ mà có thể chọn một trong các từ sau: sự, cuộc, những, phạm vi, lĩnh vực, nơi làm từ công cụ để mở đầu nét nghĩa khái
quát cho mỗi từ
Ví dụ: Tôi hướng dẫn HS giải nghĩa từ: “Tư tưởng”:
- Chọn được các từ gọi tên các nét nghĩa khái quát: suy nghĩ hoặc ý nghĩ(tập trung tư tưởng)
Trang 9- Xác định rõ phạm trù nghĩa của các từ cần giải nghĩa: quan điểm và ý
nghĩa chung của người đối với hiện thực khách quan (tư tưởng tiến bộ, tư tưởng phong kiến )
- Chọn từ công cụ để mở đầu cho nét nghĩa “sự”
Vậy, “tư tưởng” là sự suy nghĩ hoặc ý nghĩ (tập trung tư tưởng),
quan điểm và ý nghĩa chung của người đối với hiện thực khách quan (tư
tưởng tiến bộ, tư tưởng phong kiến )
Khi dạy bài Cửa sông (TV5- T2 - Tr 75), tôi đã hướng dẫn HS giải nghĩa
từ “Tôm rảo” : một loại tôm (nghĩa khái quát) sống ở vùng nước lợ, thân nhỏ và
dài
Với các từ chỉ đồ vật, dụng cụ, đồ dùng hoặc phương tiện sản xuất, sau nét nghĩa phạm trù là nét nghĩa hình dáng, kích thước, cấu tạo và cuối cùng là nét nghĩa chức năng.
Ví dụ: (cái) Bay (TV5- T1- Tr 148): đồ vật (nét nghĩa phạm trù), dụng cụ của thợ nề, gồm một miếng thép mỏng hình lá lắp vào cán (nét nghĩa hình dáng, kích thước, cấu tạo) , dùng để xây, trát, láng ( nét nghĩa chức năng)
Khi giải nghĩa các từ bàn, ghế, sập, các em sẽ miêu tả cấu tạo các đồ vật này na ná như nhau, nhưng nhất thiết các em phải nói được bàn dùng để kê viết hoặc đặt đồ đạc, ghế dùng để ngồi, sập dùng để nằm Các đồ vật này khác nhau
về chức năng Thực tế ở tiểu học, rất nhiều trường hợp học sinh thậm chí cả giáoviên chỉ nêu được nét nghĩa chức năng khi giải nghĩa danh từ chỉ đồ vật dụng cụ
Ví dụ: men: (TV 5 - T1 - Tr118j chất được dùng trong quá trình làm bia ,
rượu; chất gây say
- Cách giải nghĩa các từ chỉ động, thực vật
Khi giải nghĩa các từ thuộc loại này, giáo viên có thể nêu đây là một loại
động vật, thực vật, thuộc họ Tuy nhiên để giảng nghĩa ngắn gọn, giáo viên nên nêu trực tiếp nghĩa khái quát của từng loại, tiếp đến là các nét nghĩa hình dáng, kích thước, môi trường sống hoặc tính năng của loài động vật, thực vật đó.
Ví dụ: Con mang (con hoẵng) (TV5- T1- Tr 75): Loài thú rừng(nghĩa
khái quát ), cùng họ với hươu (thuộc họ), sừng bé có hai nhánh và lông vàng
đỏ (hình dáng, kích thước).
Trang 10Danh từ có nhiều tiểu loại, với mỗi tiểu loại, cách giải nghĩa bằng địnhnghĩa cũng tương tự nghĩa là đưa nét nghĩa chỉ loại lên trước hết, sau đó mới cụthể hóa.
Ví dụ: Thanh ray: (TV5 - T2 - Tr136) Thanh sắt hoặc thép ghép nối vớinhau thành hai đường song song để tạo thành đường cho tàu hoả, tàu điện hay xegoòng chạy (cụ thể hóa)
b Nhóm các từ thuộc loại động từ
Chia động từ thành ba loại: động từ chỉ hành động, động từ chỉ trạng thái
và động từ chỉ quá trình nghĩa chỉ ở loại vừa nêu chính là nét nghĩa khái quát,
mở đầu cho lời giải nghĩa động từ theo cách định nghĩa Việc xác định các nétnghĩa tiếp theo cũng căn cứ vào nét nghĩa khái quát này Chẳng hạn khi giảinghĩa một động từ hành động, người giải nghĩa phải nêu được các nét nghĩahành động tự thân hay hành động tác động, cách thức hành động và kết quả hànhđộng
Ví dụ: Trình (TV5- T2 - Tr84): hoạt động, đưa ra để người trên xem xét và
giải quyết
Đối với các động từ chỉ ý nghĩa quá trình, sau nét nghĩa phạm trù cần nêu
được nét nghĩa chỉ diễn biến hoặc kết quả của quá trình biến đổi.
Ví dụ: Hóa thân: quá trình biến đi và hiện ra lại thành một người hoặc một vật cụ thể khác nào đó (hóa thân vào nhân vật).
Riêng đối với các động từ chỉ trạng thái, việc lựa chọn từ ngữ để giảinghĩa cần chú ý sao cho các đặc điểm trạng thái của đối tượng được miêu tả rõnét, nhưng không lẫn với cách giải nghĩa các tính từ Đặc biệt là các động từ chỉ
trạng thái tâm lí, tình cảm của con người Ví dụ: Ác: tính chất gây hại, đau khổ,
tai họa cho người khác
c Nhóm từ thuộc loại tính từ
Tính từ thường được chia làm hai loại:
- Tính từ không mức độ: Để thể hiện được mức độ đặc điểm, tính chất
mà chúng biểu thị, những tính từ này có thể kết hợp với các từ: rất, quá, lắm
Ví dụ: trắng, vàng, xanh, đỏ, tròn
- Tính từ có mức độ: các tính từ này đã hàm chứa ý nghĩa mức độ nên
chúng không kết hợp được với các từ rất, quá, lắm Vì vậy khi dạy các em giải
nghĩa các từ thuộc từ loại tính từ, nét nghĩa phạm trù cần nêu trước hết chính lànét nghĩa tính chất, đặc điểm Các nét nghĩa cần trình bày theo lối miêu tả
Ví dụ: Lan man: nhiều ( nói, viết, suy nghĩ) hết cái này đến cái kia một
cách mạch lạc, không hệ thống
Giải nghĩa bằng tập hợp các nét nghĩa là cách dạy đầy đủ nhất nhưng làmột yêu cầu khó đối với học sinh tiểu học, vì vậy các bài tập giải nghĩa trong
Trang 11môn LTVC thường xây dựng dưới dạng cho sẵn từ và nghĩa của từ, các địnhnghĩa về từ yêu cầu học sinh xác lập sự tương ứng.
Loại này có 2 tiểu dạng
+ Dạng 1: Cho sẵn các từ yêu cầu học sinh tìm trong các nghĩa đã cho
nghĩa phù hợp với từ Ví dụ:
*Bài tập 1(TV5- T1- Tr 47) Dòng nào dưới đây nêu đúng nghĩa của từ hoà bình:
a, Trạng thái bình thản
b, Trạng thái không có chiến tranh
c, Trạng thái hiền hoà, yên ả
+ Dạng 2: Cho từ và nghĩa của từ, yêu cầu học sinh xác lập sự tương ứng.
sinh vật, có sinh ra, lớn lên và chếtHình thái Hình thức biểu hiện ra bên ngoài của sự vật, có thể quan sát
được
B.Giải nghĩa theo lối so sánh từ đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa
Đây là cách giải nghĩa một từ bằng cách quy nó về những từ đã biết, các
từ dùng để quy chiếu đó phải được giảng kĩ
Ví dụ: Khi dạy bài “ Tranh Làng Hồ”, tôi hướng dẫn HS giải nghĩa từ
thuần phác như sau:
+ Thuần phác (TV5- T2- Tr 88): chất phác, mộc mạc.
Vì từ đồng nghĩa thường khác nhau về sắc thái cho nên cách giảng theolối so sánh từ đồng nghĩa nên kết hợp với cách giảng định nghĩa hoặc với cáchgiả ng theo lối miêu tả Bên cạnh việc đưa ra các từ đồng nghĩa, gần nghĩa đểđối chiếu, cần bổ sung thêm những nét nghĩa riêng cho từng từ nên khi giảinghĩa chúng ta có thể chỉ cần làm rõ nghĩa một từ nhưng việc xác định loạt đồngnghĩa sẽ giúp chúng ta hiểu rõ nghĩa của từ cần giải nghĩa hơn
Ví dụ: Khi giải nghĩa từ lốc (cơn lốc), chúng ta đưa từ này về loạt đồng nghĩa: lốc, gió, bão, giông, giông tố Trong loạt từ trên, chúng ta chọn từ gió làm
từ trung tâm rồi giảng nghĩa từ thật kĩ, rồi bổ sung những nghĩa đặc thù cho các
từ lốc, bão, giông
+ gió: là hiện tượng không khí trong khí quyển chuyển động thành luồng
từ vùng có áp suất cao đến vùng có áp suất thấp