Phân loại các dạng bài trong phân môn Tập làm văn Phần a Cách viết đoạn văn miêu tả con vật Luyện viết phần thân bài 14b Cách viết đoạn văn mở bài, kết bài trong bài văn miêu tả con vật
Trang 12.3.1 Giáo viên cần hiểu được khái niệm đoạn văn, bài văn miêu tả 52.3.2 Giáo viên cần nắm vững nội dung chương trình phân môn
2.3.3 Giáo viên cần nắm vững trình tự dạy phân môn Tập làm văn
2.3.4 Cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả 82.3.5 Hướng dẫn học sinh thực hành tốt các bước làm văn miêu tả 82.3.6 Phân loại các dạng bài trong phân môn Tập làm văn (Phần
a) Cách viết đoạn văn miêu tả con vật (Luyện viết phần thân bài) 14b) Cách viết đoạn văn mở bài, kết bài trong bài văn miêu tả con vật 15c) Cách liên kết đoạn văn
1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Trong chương trình Tiểu học, cùng với môn Toán thì môn Tiếng Việtchiếm thời lượng nhiều nhất, gần bằng một nửa tổng thời lượng của các mônhọc Môn Tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ
Trang 2năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong cácmôi trường hoạt động của lứa tuổi; thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, gópphần rèn luyện các thao tác của tư duy Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinhnhững kiến thức sơ giản về Tiếng Việt những hiểu biết sơ giản về xã hội, tựnhiên và con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài Ngoài ra, nócòn bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt; hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xãhội chủ nghĩa Môn Tiếng việt gồm nhiều phân môn khác nhau như Tập đọc,Luyện từ và câu, Kể chuyện, Chính tả, Tập làm văn Song khó hơn cả đối vớingười dạy cũng như đối với người học là phân môn Tập làm văn.
Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy họcTiểu học Tập làm văn giúp học sinh tạo ra được các ngôn bản nói và viết theocác phong cách chức năng ngôn ngữ, hình thành và phát triển năng lực tạo lậpngôn bản - một năng lực được tổng hợp từ các kĩ năng bộ phận như: xác địnhmục đích nói, lập ý, triển khai ý thành lời (dạng nói, viết bằng câu, đoạn, bài).Nhiệm vụ cụ thể của phân môn Tập làm văn bao gồm:
- Cung cấp kiến thức và hình thành, phát triển các kĩ năng bộ phận, gópphần hình thành và phát triển năng lực tạo lập, sản sinh ngôn bản
- Cung cấp tri thức về các dạng nghi thức lời nói, rèn kĩ năng nói theo cácnghi thức đó
- Rèn kĩ năng nói, viết các ngôn bản thông thường và một số văn bản nghệthuật như kể chuyện, miêu tả
- Rèn các kĩ năng đặc thù phù hợp với mỗi dạng bài, kiểu bài Tập làm văn(kĩ năng quan sát trong văn tả, kể; kĩ năng xây dựng cốt truyện, chi tiết, tình tiếttrong văn kể chuyện )
Ngoài ra, phân môn Tập làm văn cũng góp phần rèn luyện tư duy (tư duyhình tượng, tư duy logic, kĩ năng phân tích - tổng hợp - phân loại - lựa chọn) vàhình thành nhân cách (lịch sự, khuôn mẫu trong giao tiếp; bồi dưỡng tình cảmđẹp và vốn sống ) cho học sinh tiểu học
Dạy tập làm văn là dạy học sinh cách nhìn nhận cuộc sống xung quanhtrong thực tế với cảm xúc thực của các em Đồng thời cũng dạy các em cách ghilại sự nhìn nhận ấy qua các văn bản - còn gọi là đoạn văn, bài văn một cáchchính xác về đối tượng quan sát
Tập làm văn lớp 4 gồm hai nội dung, một trong những nội dung chính củachương trình Tập làm văn lớp 4 là văn miêu tả Tả con vật là một kiểu bài khó vìhọc sinh thiếu khả năng quan sát tinh tế Mặt khác, mỗi con vật có hình dáng vàhoạt động khác nhau nên đôi khi các em không thể quan sát hết những nét riêngbiệt của nó, không cảm nhận được vẻ đẹp của con vật cũng như những thay đổi
về hoạt động của con vật nên không biết dựa vào cảm xúc thật của mình để làm
nó trở nên đẹp hơn, sinh động hơn, gần gũi hơn
Dạy tốt phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài văn miêu tả nói riêng
là vấn đề được nhiều giáo viên Tiểu học quan tâm Là giáo viên, nhất là giáoviên dạy lớp 4 không ai tránh khỏi những trăn trở, băn khoăn là làm thế nào giúphọc sinh rèn luyện tốt kỹ năng và làm bài tập làm văn miêu tả có hiệu quả Đi
Trang 3tìm câu trả lời cho câu hỏi này là một quá trình và cũng là một lý do thúc đẩy tôinghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tập có hiệu quả
tập làm văn tả con vật”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
1.2.1.Giúp học sinh lớp 4
- Nắm được bố cục ba phần (Mở bài, thân bài, kết bài) của bài văn miêu tả con
vật; trọng tâm miêu tả của từng bài trong SGK;
- Có kĩ năng quan sát, tìm ý, lập dàn ý
- Biết dùng từ, đặt câu, viết đoạn, liên kết đoạn, diễn đạt lưu loát, mạch lạc
- Bồi dưỡng tình cảm yêu mến, gắn bó, biết trân trọng những con vật thân quen,gần gũi hàng ngày với các em
- Có cách nhìn sự vật theo hướng tích cực, ham thích quan sát, tìm tòi khám phá
- Có khả năng hoàn chỉnh một văn bản viết; yêu thích môn học
1.2.2 Giúp giáo viên
- Tự tìm tòi, nâng cao tay nghề, đúc rút kinh nghiệm trong giảng dạy Tập làmvăn nói chung và trong dạy học sinh viết văn miêu tả nói riêng
- Nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Tìm hiểu nội dung, phương pháp dạy học văn miêu tả lớp 4
- Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tập có hiệu quả Tập làm văn tả convật (Học sinh lớp 4B trường Tiểu học Xuân Thắng, Thọ Xuân, Thanh Hóa)
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Đọc tài liệu liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu nội dung chương trình Tập làm văn lớp 4, mạch kiến thức văn tảcon vật lớp 4
1.4.2 Phương pháp quan sát sư phạm
- Quan sát tinh thần, thái độ, ý thức học Tập làm văn của học sinh lớp 4B (lớp tôichủ nhiệm và trực tiếp giảng dạy) và học sinh lớp 4A, 4C trong khi đi dự giờ
1.4.3 Phương pháp thống kê
- Thống kê qua các bài kiểm tra của học sinh để đánh giá chất lượng làm bài vănmiêu tả của học sinh
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận
Tập làm văn là một phân môn mang tính tổng hợp và sáng tạo cao Tổnghợp các kiến thức, kĩ năng từ phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ
và câu để viết nên một bài Tập làm văn
Trang 4Theo quan điểm tích hợp, các phân môn được tập hợp lại xung quanh trụcchủ điểm và các bài đọc Nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng gắn
bó chặt chẽ với nhau Như vậy, muốn giúp học sinh làm bài văn miêu tả có hiệuquả nhất thiết người giáo viên phải dạy tốt các phân môn Tập đọc, Kể chuyện,Chính tả, Luyện từ và câu Vì trong các bài đọc, trong các câu chuyện, trong cácbài tập Luyện từ và câu thường xuất hiện các đoạn văn, khổ thơ có nội dungmiêu tả rất rõ về cảnh vật, thiên nhiên, con người Bài Tập làm văn nếu khôngsáng tạo sẽ trở thành một bài văn khô cứng, góp nhặt của người khác, nội dungbài văn sẽ không hồn nhiên, trong sáng, mới mẻ như tâm hồn của các tác giả nhỏtuổi Chất lượng Tập làm văn là chất lượng của cảm thụ văn học, của các kĩnăng nghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt
Mục tiêu của việc dạy học Tập làm văn ở lớp bốn là: Cung cấp, hướng dẫn cho học sinh biết lập dàn ý cho bài văn, viết được bài văn theo dàn ý đã lập có đủ
3 phần, lời văn trôi chảy, câu văn bước đầu có cảm xúc; biết nói, viết câu có dùng phép so sánh, nhân hóa; biết kiểm tra, rà soát lại bài viết về nội dung, cách diễn đạt, cách trình bày (Theo chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt- QĐ số 16/2006/QĐ- BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Văn miêu tả là thể loại văn các em được làm quen từ giữa học kì I, lớp 4.Như chúng ta đã biết, văn miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh vàcảm xúc làm cho người nghe, người đọc hình dung một các rõ rệt, cụ thể vềngười, vật, cảnh vật, sự việc như vốn có trong đời sống Một bài văn miêu tả haykhông những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả màcòn thể hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết đối vớiđối tượng được miêu tả Các bài văn miêu tả ở tiểu học chỉ yêu cầu tả những đốitượng mà các em yêu thích Vì vậy, qua bài làm của mình các em phải gửi gắmđược tình yêu thương của mình đối với những gì miêu tả
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Chúng ta đã tự hào Tiếng Việt ta phong phú, giàu hình ảnh, đa dạng vềnghĩa, có sức biểu cảm sâu sắc Nhưng một thực tế làm buồn đó là số học sinhlàm văn hay lại rất ít Khi chấm bài tập làm văn của các em, tôi nhận thấy nhiềuhọc sinh không trình bày rõ bố cục bài văn miêu tả Học sinh miêu tả hời hợt,chung chung, vốn từ còn nghèo nàn, bài văn trở thành một bảng liệt kê các đốitượng miêu tả, không làm nổi bật được đối tượng đang tả Bài văn học sinh làmthường vay mượn, bắt chước các bài văn mẫu, các em thường sao chép nhữngbài văn mẫu thành bài văn của mình không kể đầu bài quy định như thế nào Vớicách làm ấy, các em không cần biết đối tượng cần miêu tả gì, không chú ý tớiđặc điểm nổi bật tạo nên nét riêng của cảnh (của người) cũng như không có cảmxúc về nó
Mặt khác, nhiều giáo viên chỉ có một con đường duy nhất là hình thành cáchiểu biết về lí thuyết, thể loại tập làm văn, và kĩ năng làm văn qua phân tíchcác bài văn mẫu với lý thuyết khô khan, khó hiểu Giáo viên chưa chủ động sángtạo trong dạy học, chưa gây hứng thú cho học sinh khi học tập làm văn Đặcbiệt, khi học sinh đưa ra một câu văn dùng từ chưa chuẩn hay thiếu hình ảnh,chưa hợp lí thì chưa được giáo viên chỉnh sửa kịp thời
Trang 5Dạy học Tập làm văn lớp 4 phần văn miêu tả con vật là sự tiếp nối của haikiểu bài văn tả đồ vật và tả cây cối các em đã được học Chính vì vậy, dựa vào
kết quả kiểm tra cuối học kì I với đề bài nhà trường ra “Em hãy tả lại đồ vật mà
em thích”, kết quả lớp tôi đang giảng dạy đạt được như sau.
Bảng kết quả bài làm môn Tập làm văn của học sinh lớp 4B cuối học kì I
Bài viết đúng thể loại, bố cục ba phần rõ
rệt; thể hiện rõ nội dung miêu tả, tả được
những đặc điểm nổi bật; hành văn trôi chảy,
chữ viết và trình bày sạch đẹp 25
Bài văn chưa thể hiện rõ rệt bố cục ba
phần; mắc nhiều lỗi chính tả; thường kể,
liệt kê, lặp từ, chưa biết dùng từ; hành văn
lủng củng, rời rạc, chưa biết tả những đặc
điểm nổi bật
Thực trạng học sinh còn nhiều hạn chế như vậy đã làm cho tiết Tập làmvăn trở thành một gánh nặng, một thách thức đối với giáo viên Tiểu học Ý nghĩcho rằng Tập làm văn là một phân môn khó dạy, khó học và khó đạt hiệu quảcao đã là nhận thức chung của nhiều thầy, cô giáo dạy lớp 4 Qua quá trình giảngdạy lớp 4, tôi nhận thấy có các nguyên nhân sau:
+ Khi làm văn, học sinh chưa xác định được yêu cầu trọng tâm của đề bài + Học sinh không được quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả
+ Không biết hình dung bằng hình ảnh, âm thanh, cảm giác về sự vật miêu
tả khi quan sát
+ Vốn từ đã nghèo nàn lại không biết sắp xếp như thế nào để bài viết mạchlạc, chưa diễn đạt được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình về một sự vật, cảnhvật, về một con người cụ thể nào đó
+ Nguyên nhân cuối cùng là trách nhiệm của người giáo viên Phân mônTập làm văn là một môn học mang tính tổng hợp và sáng tạo nhưng lâu nayngười giáo viên (nhất là giáo viên lớp 4) chưa có cách phát huy tối đa năng lựchọc tập và cảm thụ văn học của học sinh; chưa bồi dưỡng được cho các em lòngyêu quý Tiếng Việt, ham thích học Tiếng Việt
Đứng trước thực trạng dạy và học như trên yêu cầu đặt ra cấp thiết là phảiđổi mới phương pháp dạy học để học sinh đến với phân môn Tập làm văn thểloại miêu tả một cách say mê, hứng thú để từ đó có cảm xúc viết văn Để đạtđược mục tiêu trên thì cần phải tiến hành giải quyết các vấn đề chính sau:
+ Cung cấp, khuyến khích học sinh tích lũy vốn từ ngữ, vốn sống, vốn hiểubiết khi học, đọc, viết các bài văn tả con vật hoặc khi tiếp xúc với một văn bảnmới tả con vật
+ Hướng dẫn học sinh dùng từ, đặt câu, viết đoạn và hoàn chỉnh bài văn.Chấm và chữa bài cho học sinh phải chu đáo, cẩn thận
+ Các vấn đề được nêu ở trên cần được giải quyết đồng thời, xen lẫn vàonhau một cách nhịp nhàng và linh động thì hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều
Trang 6Xuất phát từ thực trạng và nguyên nhân trên, đồng thời thấy rõ vai trò,nhiệm vụ của một giáo viên, tôi mạnh dạn đưa ra cách giúp học sinh lớp 4B,trường Tiểu học Xuân Thắng làm văn miêu tả có hiệu quả như sơ đồ sau:
2.3 Các biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học tập làm văn tả con vật cho học sinh lớp 4
Từ kinh nghiệm dạy học của mình, tôi xin đưa ra một số biện pháp để giảiquyết các vấn đề được nêu ở trên giúp học sinh làm tốt bài văn miêu tả như sau:
2.3.1 Giáo viên phải hiểu được khái niệm đoạn văn, bài văn miêu tả
- Văn miêu tả bao gồm những chi tiết lôi cuốn với năm giác quan: thị giác, vịgiác, xúc giác, khứu giác và thính giác Trong một đoạn văn miêu tả, nhà văn phảitruyền tải thông tin lôi cuốn tới tất cả các giác quan để mang lại sự miêu tả hấpdẫn nhất có thể tới độc giả Văn miêu tả thường được sử dụng trong các cuốn tiểuthuyết và những tác phẩm về người thật việc thật, để giúp độc giả đắm chìm trongthế giới của nhà văn
- Khái niệm: Miêu tả con vật là một thể loại văn bản mà trong đó, người
viết dùng ngôn ngữ có tính chất nghệ thuật của mình để tái hiện, sao chụp lạihình ảnh con vật với những đặc điểm nổi bật cả về hình dáng bên ngoài lẫnnhững hoạt động và thói quen sinh hoạt nhằm giúp người đọc, người nghe hìnhdung, tưởng tượng ra con vật ấy thông qua các giác quan của mình
- Đoạn văn, bài văn hay theo quan niệm của người viết là những đoạn văn,bài văn hay, đúng, phong phú về nội dung và có cách diễn đạt phù hợp, sinhđộng thể hiện được tình cảm của người viết Nếu như viết đoạn văn, bài văn tảcon vật mà chính mình không trực tiếp quan sát con vật để có được cảm thụ thì nộidung bài viết không những sai mà còn khiến người đọc không xúc cảm Để câu chữchứa đựng tình cảm, người viết phải quan sát kĩ con vật bằng tình cảm, yêu quýthực sự như vậy mới nhận biết được đặc điểm của nó rồi dung lời lẽ sinh động để
tả, sao cho có sự giao hoà tình cảm giữa người viết với con vật miêu tả như tâmtình giữa con người với con người
2.3.2 Giáo viên cần nắm vững nội dung chương trình phân môn Tập làm văn miêu tả con vật lớp 4
a) Nội dung chương trình Tập làm văn tả con vật lớp 4
Lí thuyết Luyện tập
3 Luyện tập miêu tả các bộ phận của
(Theo đề bài)
Hoàn thiện bài văn và nhận xét bài
Luyện tập viết câu, đoạn văn (Mở bài, thân bài, kết bài)
Trang 75 Luyện tập xây dựng mở bài, kết bài
b) Về nội dung bài tập sách Tiếng Việt 4
- Nhìn chung các bài tập trong mỗi bài học của phân môn Tập làm văn là
phù hợp, vừa sức đối với học sinh Trước hết, học sinh được trang bị những kiếnthức về văn miêu tả Đó là một số hiểu biết ban đầu về đặc điểm chính của vănmiêu tả Các kiến thức được cung cấp cho học sinh một cách có hệ thống và chỉdừng lại ở mức độ đơn giản Các kiến thức được xây dựng từ hệ thống câu hỏibài tập học sinh thực hiện các hoạt động nhằm chiếm lĩnh kiến thức và phát triển
kĩ năng Sau đó các kiến thức sẽ được củng cố và vận dụng ngay vào các bài tậpthực hành Có thể nói việc chương trình đưa kiến thức lí luận về văn miêu tả vàodạy cho học sinh là đúng đắn, cần thiết Bởi vì đây là chỗ dựa, là điểm tựa giúphọc sinh làm đúng, làm tốt bài văn miêu tả
- Sách Tiếng Việt 4 rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh trên cơ
sở, quy trình sản sinh ngôn bản Mặt khác, nó tập trung rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn miêu tả cho học sinh tuỳ theo đối tượng miêu tả giúp học sinh chủđộng, tự tin khi tạo lập bài văn miêu tả hoàn chỉnh tránh tình trạng viết văn sơsài, viết theo cảm tính hoặc sao chép của người khác
- Tiếng Việt 4 tiến hành luyện tập các kĩ năng viết văn miêu tả thông qua
hệ thống bài tập, các bài tập được sắp xếp từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, cáchgiao nhiệm vụ rõ ràng: Ví dụ: Khi dạy bài “Luyện tập quan sát con vật” (SáchTiếng Việt 4, Tập hai, trang 119), hệ thống bài tập được biên soạn như sau:
+ Bài 1: Đọc bài văn “Đàn ngan mới nở” (Tô Hoài)
+ Bài 2: Để miêu tả đàn ngan, tác giả đã quan sát những bộ phận nào ? Ghi lạinhững câu miêu tả mà em cho là hay
+ Bài 3: Quan sát và miêu tả các đặc điểm ngoại hình của con mèo (hoặc conchó) của nhà em hoặc của nhà hàng xóm
+ Bài 4: Quan sát và miêu tả hoạt động thường xuyên của con mèo (hoặc conchó) nói trên
- Bên cạnh đó, đề văn miêu tả trong SGK cũng rất phong phú, gắn bó vớivốn sống, vốn hiểu biết của học sinh, gần gũi với các em Nhiều đề bài còn mở
ra cho học sinh những khả năng lựa chọn tuỳ theo ý thích của mỗi em giúp các
em chủ động, sáng tạo, bộc lộ, thể hiện mình Sản phẩm mà các em tạo ra sẽ lànhững bài văn miêu tả chân thực, sinh động của chính các em Ngoài ra rấtnhiều bài tập luyện từ và câu đã tạo cho học sinh ý thức sử dụng ngôn ngữ khi
viết văn miêu tả Ví dụ: Viết một đoạn văn ngắn tả con vật mà em yêu thích, trong đó có ít nhất một câu có trạng ngữ chỉ phương tiện (Sách Tiếng Việt 4,
Trang 8chảy, có hình ảnh và sinh động, cảm xúc chân thực Đây cũng chính là nhữngkiến thức, kĩ năng chuẩn bị cho học sinh lên bậc trung học cơ sở học tốt các kiểubài trong thể loại văn miêu tả Tuy nhiên trong các bài học, kĩ năng lập dàn bài,viết đoạn văn đã được quan tâm đúng mức song kĩ năng viết bài văn hoàn chỉnh
và sửa lỗi thì lượng bài tập còn hạn chế (kể cả số tiết dành cho các dạng kĩ năngnày cũng còn ít)
2.3.3 Giáo viên cần nắm vững trình tự dạy phân môn Tập làm văn miêu tả con vật lớp 4
Trong phần dạy bài mới, giáo viên phải nắm vững trình tự dạy đối với
hai loại bài Tập làm văn: loại bài dạy lý thuyết và loại bài dạy thực hành Khi
dạy từng loại bài, giáo viên cần chú ý đến các đối tượng học sinh của lớp: có nộidung, yêu cầu cho học sinh có năng khiếu và có nội dung, yêu cầu cụ thể chonhững học sinh còn hạn chế khi viết văn miêu tả
a) Loại bài lý thuyết
Sau khi dạy bài lý thuyết, học sinh phải nắm được cấu tạo bài văn miêu tảgồm ba phần (mở bài, thân bài và kết bài)
Hướng dẫn học sinh nắm cấu tạo (dàn ý bài văn): Xác định bố cục một bài
văn miêu tả cụ thể từ đó luyện tập xây dựng dàn ý chi tiết của một bài văn mới
+ Xác định nội dung/ý của câu mở đầu đoạn, câu kết đoạn
2.3.4 Cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả
Việc cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả là giúp học sinh
có con đường đi đến bài văn đúng hướng, không bị sai lệch về cả nội dung vàhình thức
Học sinh cần nắm được 4 yêu cầu khi làm văn miêu tả:
+ Cụ thể hóa sự vật (tả cái gì?)
+ Cá thể hóa sự vật (tả như thế nào?):
+ Mục đích hóa sự vật (tả với mục đích gì ?)
+ Cảm xúc hóa sự vật (tả với tư tưởng, tình cảm, thái độ ra sao?)
Học sinh cần lưu ý đến những yêu cầu cần thiết khi làm văn tả con vật như sau: + Yêu cầu 1: Chọn vị trí quan sát
+ Yêu cầu 2: Quan sát nắm được đặc điểm riêng biệt của con vật
+ Yêu cầu 3: Phải viết ra hình dáng, màu sắc, động thái của con vật cụ thể + Yêu cầu 4: Câu chữ phải chứa đựng tình cảm chân thực; Dùng các biệnpháp nghệ thuật để tả (So sánh, nhân hoá…)
2.3.5 Hướng dẫn học sinh thực hành tốt các bước làm văn miêu tả
Trang 9Khi hướng dẫn học sinh làm tập làm văn miêu tả, giáo viên cần chú ý vận
dụng linh hoạt các bước sau
* Bước 1: Xác định đối tượng miêu tả (Tìm hiểu đề)
Con vật em định tả là con gì? Của ai? Nuôi đã được bao lâu?
* Bước 2: Quan sát con vật
Quan sát con vật trong môi trường sống của nó Chú ý ngoại hình với nhữngđặc điểm tiêu biểu về hình dáng, màu sắc, đường nét…
Quan sát những đặc tính bên trong của con vật, thể hiện qua tính nết, hànhđộng của con vật Chọn những nét thể hiện rõ nhất đặc tính chung của giống loài
và những nét mang tính cá thể, riêng biệt của con vật
Nhận xét về mối quan hệ giữa con vật với môi trường xung quanh và đời sống con người
* Bước 3: Lập dàn ý chi tiết, ghi rõ những nội dung cần miêu tả.
* Bước 4: Lựa chọn từ ngữ, hình ảnh để phát triển dàn ý thành một bài văn
tả loài vật hoàn chỉnh
Tóm lại, thực hiện tốt các bước này là giải quyết được các nguyên nhân học
sinh và giáo viên gặp phải mà tôi đã nêu ở trên Hiện nay, sách giáo khoa khôngcòn những tiết riêng cho việc tìm hiểu đề, quan sát tìm ý nhưng qua mỗi đề bài
cụ thể giáo viên phải hướng dẫn học sinh làm theo các bước kể trên Để rèn chohọc sinh thói quen làm tuần tự theo các bước kể trên khi làm văn thì mỗi bướclàm giáo viên cũng phải hướng dẫn học sinh một cách tỉ mỉ về phương phápcũng như cách suy nghĩ, cách thực hiện bài làm
a) Bước 1: Xác định đối tượng miêu tả (Tìm hiểu đề)
- Tác dụng: Giúp học sinh xác định được yêu cầu đề bài, tránh làm lạc đề Đây
là cách để định hướng giúp học sinh nắm được:
+ Đề bài thuộc thể loại văn nào?
+ Đề bài đòi hỏi ta giải quyết những vấn đề gì?
+ Phạm vi bài làm đến đâu?
+ Trọng tâm đề bài ở chỗ nào?
- Cách thực hiện: Giúp học sinh phân tích đề bằng cách:
+ Gạch 1 gạch dưới các từ xác định thể loại bài văn.
+ Gạch 2 gạch dưới từ xác định đối tượng miêu tả.
- Ví dụ:
Đề bài: Hãy miêu tả ngoại hình của một con vật mà em yêu thích
Với đề bài này cần chú ý cho học sinh:
+ Đề bài thuộc thể loại văn miêu tả con vật
+ Đề bài chỉ yêu cầu miêu tả ngoại hình của một con vật
+ Đặc biệt chú ý chỉ miêu tả một con vật để tránh nhầm lẫn giữa một con
vật và một đàn con vật (Miêu tả một con vịt chứ không phải cả đàn vịt)
b) Bước 2: Quan sát con vật
Muốn quan sát có hiệu quả, quan sát phải có tính mục đích, người quan sátphải có cách nghĩ, cách cảm của riêng mình Quan sát để làm văn nhằm phảnánh một đối tượng cụ thể, vừa chi tiết, vừa có tính khái quát Qua chi tiết, ngườiđọc phải thấy được bản chất của sự việc Vì vậy, quan sát phải có lựa chọn các
Trang 10chi tiết cụ thể nhưng đó không phải là những chi tiết rời rạc, tản mạn, mang tínhchất liệt kê Chi tiết không cần nhiều mà phải chọn lọc, lựa chọn những điểmriêng biệt, nổi bật, gây ấn tượng… Đó là những chi tiết lột tả được cái thần củacảnh, của người Khi quan sát, cần sử dụng đồng thời nhiều giác quan và điềuquan trọng là phải quan sát bằng cảm xúc Quan sát phải luôn gắn với việc tìm ý
và tìm từ ngữ để diễn tả Để giúp quan sát và tìm ý, với mỗi đề bài cần có một
hệ thống câu hỏi gợi ý nội dung quan sát và các ý cần xác lập
Giáo viên phải tôn trọng ý kiến của các em, không phê phán vội vàng, chủquan, phải giúp học sinh tự tin trong học tập Tuy nhiên, để miêu tả một đốitượng nào đó, giáo viên cần giúp các em biết quan sát đối tượng theo từng góc
nhìn, từng thời điểm, biết cảm nhận và chọn “điểm nhấn” của đối tượng tạo ra
nét riêng biệt trong bài văn của mình Do vậy, để đảm bảo tính chân thực của bàimiêu tả cần phải được bắt nguồn từ quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả, kết hợpvới kinh nghiệm sống, trí tưởng tượng của học sinh, thể hiện được tình cảm, cảmxúc thực của các em trước đối tượng miêu tả Tính chân thực đòi hỏi phải có chitiết thực, tả đúng bản chất của đối tượng miêu tả, thể hiện được những nét đẹp
đẽ, đúng đắn trong tư tưởng, tình cảm của người học sinh khi bộc lộ thái độ củacác em với đối tượng miêu tả
Để thực hiện những yêu cầu trên, tôi thường hướng cho học sinh thực hiệnthật tốt từng bước:
+ Xác định cụ thể và chọn một đối tượng cần quan sát (đó là con vật gì?) + Quan sát sự vật bằng các giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác và
cả xúc giác Trước tiên là quan sát bao quát đối tượng và cảm nhận (nó đẹp, dễthương, oai phong hay dữ tợn ), rồi quan sát từng bộ phận của đối tượng theomột trình tự nhất định (từ trên xuống dưới, từ trước ra sau; đầu, mình rối đếnchi…) Quan sát thật kĩ những bộ phận của sự vật mà em thích thú, ấn tượng.Khi quan sát sự vật, các em cũng có thể trao đổi theo nhóm với nhau để tìm ranhững đặc điểm của đối tượng một cách tốt nhất
+ Kết hợp quan sát là ghi chép (ghi chép những điều quan sát được) và liêntưởng (liên tưởng để so sánh, nhân hóa sự vật)
- Ví dụ 1: Khi giúp các em giải quyết bài 3: Quan sát và miêu tả các đặc điểm
ngoại hình của con mèo (hoặc con chó) của nhà em hoặc của nhà hàng xóm.
(Tiết Luyện tập quan sát con vật, Sách Tiếng Việt 4, Tập hai, trang 120), tôi sẽhướng dẫn học sinh quan sát như sau:
- Yêu cầu học sinh đọc bài tập 3 SGK - 2HS đọc yêu cẩu bài tập
H: Em hiểu yêu cầu bài tập này như thế
nào?
- Quan sát các đặc điểm ngoại hìnhcủa con chó, con mèo
- GV nhấn mạnh cho học sinh: Bài tập
yêu cầu các em quan sát các đặc điểm
ngoại hình (đặc điểm bên ngoài) mà
chúng ta có thể nhìn thấy được của các
con vật nuôi trong nhà rất gần gũi đó là
con chó và con mèo
- HS lắng nghe
- Giáo viên yêu cầu HS nhớ lại những - HS hổi tưởng và thảo luận theo
Trang 11bộ phận chủ yếu của con chó (mèo) nhà
em hoặc nhà hàng xóm (Với HS địa
phương tôi đang dạy, hai con vật này rất
gần gũi với các em)
nhóm đôi Ghi kết quả vào phiếu TG:2’
- Y/c HS kể tên những bộ phận của con
chó và con mèo mà em quan sát được
- Bộ lông, đầu, hai tai, đôi mắt, bịaria, bốn chân, cái đuôi
- Y/c HS viết những điều các em quan
sát được vào phiếu học tập TG 4’
- GV nhận xét, bổ sung, đưa ra bảng kết quả - 2HS đọc lại
Bộ lông Toàn thân màu đen (màu xám,
lông vàng mượt )
Hung hung vằn đen (màu vàngnhạt, đen như gỗ mun, mèotam thể nhị thể )
Cái đầu Trông như yên xe đạp Tròn tròn như quả cam sành,
tròn như gáo dừa, tròn như quảbóng
Hai tai Tai to, mỏng luôn cụp về phía
trước rất thính Hai tai như hai
lá mít dựng đứng
Dong dỏng, dựng đứng rấtthính Hai tai như hình tamgiác nhỏ luôn vểnh lên
Đôi mắt Trong xanh như nước biển,
mắt đen pha nâu
Tròng như hai hòn bi ve, longlanh luôn đưa đi đưa lại
Bộ ria Rất ngắn, cứng quanh mép Trứng như cước luôn vểnh lên.Bốn chân Chân cao gầy với những cái
móng đen, cong khoằm lại
Thon nhỏ bước đi êm nhẹ nhưlướt trên mặt đất, ngắn chùn vớinhững chiếc móng sắc nhọn.Cái đuôi Đuôi dài cong như cây phất
trần luôn phe phẩy
Dài, thướt tha, duyên dáng luônngoe nguẩy như con lươn
- Ví dụ 2: Để giúp học sinh làm tốt bài tập 3 (Hãy viết một đoạn văn có chứa
câu mở đoạn như sau: Chú gà nhà em đã ra dáng một chú gà trống đẹp) (Tiết
Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật, sách Tiếng Việt 4, tập hai, trang130), thì ở tiết học trước đó, tôi yêu cầu các em:
+ Chọn hoặc nhớ lại một con gà trống mà em đã gặp
+ Quan sát (hoặc nhớ lại) và ghi lại các đặc điểm của từng bộ phận của nó.Chú ý ghi thật chi tiết những bộ phận nổi bật của con gà đó
- Ví dụ 3: Cũng tả về gà, nhà văn Võ Quảng lại đi vào tả cụ thể ba con gà Mỗi
con một dáng vẻ, một đặc điểm sinh động về tính cách Trình tự miêu tả đi từtiếng gáy (thính giác), đến màu sắc, hình dáng và hoạt động (thị giác), để từ đólàm nổi bật lên tính cách của từng con (nội tâm): Con gà của anh Bốn
Linh: tiếng gáy dõng dạc, dáng đi oai vệ, kiêu hãnh, cái vẻ phớt lờ, thách thức; Còn con gà của ông Bảy Hoá lại có: bộ mã khá đẹp, lông trắng, mỏ búp chuối, mào có hai cánh như hai vỏ trai úp Đặc điểm ngoại hình ấy tạo nên ưu
thế “láo toét”, thích “tán tỉnh” này Cuối cùng là con gà của bà Kiến, một chú gà
Trang 12trống tơ, không đẹp, không khoẻ: Lông đen, chân chì, bộ giò cao, cổ ngắn Tính nết bộc lộ rất rõ trong tư thế: Nó xoè cánh, nghển cổ, chuẩn bị chu đáo, nhưng rốt cuộc chỉ rặn được ba tiếng éc, e, ê cụt ngủn.
c) Bước 3: Lập dàn ý chi tiết, ghi rõ những nội dung cần miêu tả
Sau khi quan sát và tìm ý, trước khi lập dàn bài chi tiết, học sinh cần xácđịnh trình tự miêu tả để sắp xếp các ý một cách hợp lí Đối với bài văn tả loàivật cần miêu tả ngoại hình rồi mới đến những thói quen sinh hoạt và những hoạtđộng của con vật
Có thể ví dàn bài của một bài văn giống như một cái khung nhà Có dựngđược khung rồi mới thì mới có thể lợp mái, đóng vách, ráp cửa, tô quét,
* Mở bài: Giới thiệu con vật (tên gọi) Con vật này của ai? Nuôi từ bao giờ?…
* Thân bài:
- Tả con vật (từ bao quát đến từng bộ phận cụ thể)
- Tả ngoại hình: Hình dáng, tầm vóc, màu sắc , đường nét cùng các bộ phậnđầu, tai, mũi, miệng, chân, đuôi,…
Chú ý: Tuỳ từng con vật mà hình dáng bề ngoài được nhấn mạnh vào nhữngchi tiết tiêu biểu nhất Không nhất thiết phải tả tỉ mỉ từng bộ phận
- Tả đặc tính và hoạt động của con vật: Chọn ra những điểm tiêu biểu nhất thểhiện được đặc tính chung của giống loài (mèo khác chó, bò khác heo, gà khácvịt,…) và đặc tính (tính nết) riêng của con vật trong ăn uống, hoạt động,…
- Tác dụng của con vật đối với đời sống con người
* Kết bài: Cảm nghĩ của em đối với con vật được tả
d) Bước 4: Lựa chọn từ ngữ, hình ảnh để phát triển dàn ý thành một bài văn tả loài vật hoàn chỉnh.
Đây là giai đoạn quan trọng nhất và cũng là khâu khó nhất, đòi hỏi học sinhphải linh hoạt vận dụng nhiều kiến thức để làm Học sinh phải biết:
+ Dùng từ, đặt câu, dựng đoạn.
+ Vận dụng phong cách ngôn ngữ văn bản.
+ Bám sát dàn bài để viết thành bài văn hoàn chỉnh.
Muốn học sinh làm tốt bước này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thựchiện theo các yêu cầu sau:
* Bước 4.1: Dùng từ
- Dùng từ phải đảm bảo độ chính xác, đồng thời biểu hiện được tư tưởng,tình cảm một cách rõ ràng
- Phải tuân thủ các tiêu chuẩn chính tả, ngữ pháp
- Dùng từ gợi cảm, gợi tả, giàu hình ảnh, âm thanh
- Sử dụng từ cùng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng nghĩa, các biện pháp tu từ sosánh, nhân hóa, tương phản
- Ví dụ:
+ Con lợn nhà em bằng quả dưa hấu nặng bốn tạ - Câu sai nghĩa
+ Vì luôn yêu mến em, cún con rất gầy gò - Câu không có sự tương hợp vềnghĩa giữa các thành phần câu, giữa các vế câu
+ Cùng miêu tả bộ lông của con mèo nhưng có hai học sinh viết hai câu văn như sau:
Con mèo nhà em có bộ lông màu trắng
Chú mèo nhà em được khoác trên mình chiếc áo màu trắng như tuyết
Trang 13* Nhận xét: Cả hai câu văn đều miêu tả bộ lông con mèo, có cấu tạo đầy đủ các
bộ phận chủ ngữ và vị ngữ làm nòng cốt câu nhưng cách viết hai câu hoàn toànkhác nhau Ở câu văn thứ hai, học sinh đã biết sử dụng hình ảnh so sánh và nhânhóa giúp cho câu văn hay hơn
* Bước 4.2: Đặt câu
Trong khi làm văn, học sinh phải viết câu văn đúng ngữ pháp nghĩa là bảnthân em đó phải xác định được các kiểu câu đã học; xác định được chủ ngữ, vịngữ trong câu; biết đâu là các vế trong câu ghép
Các em phải biết liên kết câu bằng cách lặp từ ngữ hoặc thay thế từ ngữhoặc bằng từ ngữ nối (tuy thế, vì thế ) Tuy nhiên, khi viết các câu văn các emthường mắc các lỗi cơ bản sau:
+ Thiếu dấu chấm, dấu phẩy trong từng câu hoặc cả bài Hoặc sử dụng dấu
câu sai Ví dụ: "Con chó rất ngoan Không cắn trộm ai bao giờ"
+ Câu không đủ thành phần: Những chú gà đáng yêu
+ Câu thừa thành phần hoặc không phân định được thành phần: Em thấy rất
có ích nuôi con mèo này
+ Một số lỗi khác đó là: Viết sai lỗi chính tả dẫn đến sai nghĩa của từ, cáchsắp xếp ý chưa có trật tự lôgíc
* Bước 4.3: Dựng đoạn
Nhiệm vụ của giáo viên là giúp các em biết cách viết các đoạn văn, biết
trình bày các đoạn văn theo cấu trúc của dàn ý Các câu trong đoạn văn hay cảbài văn có sự liên kết chặt chẽ, theo một trình tự nhất định
2.3.6 Phân loại các dạng bài trong phân môn Tập làm văn (Phần văn miêu
tả con vật lớp 4)
a) Cách viết đoạn văn miêu tả con vật (Luyện viết phần thân bài)
Đoạn văn miêu tả con vật trong chương trình Tập làm văn lớp 4 được giảngdạy trong ba tiết của tuần 31 và 32 gồm một tiết “Luyện tập miêu tả các bộ phậncủa con vật” và hai tiết “Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật” Khi viếtmột đoạn văn miêu tả cần phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
* Yêu cầu 1: Đoạn văn hoàn chỉnh có đủ ba phần: mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn và gồm có:
+ Đoạn văn tả hình dáng con vật
+ Đoạn văn hoạt động và thói quen sinh hoạt của con vật
Đối với các đoạn văn tổng hợp tả hình dáng con vật kết hợp tả hoạt động
và thói quen sinh hoạt của con vật Đoạn văn có thể được viết theo một trong bahình thức sau tùy theo khả năng của người viết: Đoạn văn diễn dịch, đoạn vănquy nạp, đoạn văn tổng hợp
* Yêu cầu 2: Nội dung đoạn văn, bài văn miêu tả con vật
Đối với văn miêu tả kiểu bài tả con vật: Khi miêu tả, phải nắm lấy cái đặcđiểm nổi bật nhất Chẳng hạn: chim bay, thú chạy, sâu bò, cá bơi… là phươngthức động thường thấy ở loài vật, cũng là sự thể hiện sức sống của chúng vànhững cái đó phải tả sao cho sinh động Song chỉ miêu tả chung như vậy thìchưa đủ, vì thế, cần phải quan sát kĩ, đi sâu tìm hiểu, nắm bắt những đặc điểmriêng, nổi bật nhất của từng con vật thì mới tả được giống như thật
Trang 14Trên cơ sở miêu tả những đặc điểm nổi bật về hình thể, động tác bên ngoàicủa một con vật còn phải nắm bắt được đặc điểm tập tính của nó nữa và cả quanniệm, tình cảm của con người đối với chúng Do vậy, con vật được hiện lên bằngxương, bằng thịt, phải thổi hồn vào con vật định tả để đoạn văn thêm phần hấpdẫn, sống động
Ví dụ: Sư tử, hổ, báo… là những mãnh thú phải chú ý làm nổi bật cái đặc điểmoai phong, mạnh mẽ Do vậy phải tả tiếng gầm của chúng làm rung động đất trời,rồi cả cái nanh, cái vuốt sắc nhọn để vồ, để cắn xé rồi cả đến cái cung cáchkhông chịu hàng, không chịu thua của chúng nữa Đối với những loài vật nuôitrong nhà như chó, mèo… khi miêu tả hoạt động của con vật, các em cần thể hiện
sự đối lập nhau giữa hai mối quan hệ: Khi có khách đến và khi chủ nhà về
* Yêu cầu 3: Cách dùng từ đúng và hay
Để viết được đoạn văn, các em cần có vốn từ và biết cách sử dụng từ đúng lúc,đúng chỗ, biết dựa vào từ để tạo ra cái mới, cái riêng, cái độc đáo trong những bàimình viết Chính vì vậy mà các em phải dùng từ đúng và dùng từ hay
- Ví dụ:
+ Cách dùng từ miêu tả âm thanh của các con vật: “Rừng núi còn chìm đắmtrong màn đêm Trong bầu không khí đấy hơi ẩm và lành lạnh, mọi người đangngon giấc trong những chiến chăn đơn Bỗng một con gà trống vỗ cánh phànhphạch và cất tiếng gáy lanh lảnh ở đầu bản Tiếp đó, rải rác khắp thung lũng, tiếng
gà gáy râm ran Mấy con gà rừng trên núi cũng thức dậy gáy te te Trên mấy cànhcây cao cạnh nhà, ve đua nhau kêu ra rả Ngoài suối, tiếng chim cuốc vọng vàođều đều Bản làng đã thức giấc” (Trích Buổi sáng mùa hè trong thung lũng)
+ Cách miêu tả các bộ phận, chi tiết nổi bật của con vật trong bài văn “Đànngan mới nở” của nhà văn Tô Hoài (sách Tiếng Việt 4, tập hai, trang 120)
Những con ngan nhỏ mới nở được ba hôm chỉ to hơn cái trứng một tí
Chúng có bộ lông vàng óng Một màu vàng đáng yêu như màu của những con tơnõn mới guồng Nhưng đẹp nhất là đôi mắt với cái mỏ Đôi mắt chỉ bằng hộtcườm, đen nhánh hạt huyền, lúc nào cũng long lanh đưa đi đưa lại như có nước,làm hoạt động hai con ngươi bóng mỡ Một cái mỏ màu nhung hươu, vừa bằngngón tay đứa bé mới đẻ và có lẽ cũng mềm như thế, mọc ngăn ngắn đằng trước
Cái đầu xinh xinh, vàng nuột và ở dưới bụng, lủn chủn hai cái chân bé tí màu đỏhồng
* Yêu cầu 4: Viết câu đúng và viết câu hay
- Viết câu đúng: Viết câu đúng là viết câu biểu đạt, diễn đạt đúng nội dung,đúng ý mà người viết muốn nói ra Viết câu đảm bảo đúng về cấu trúc ngữ pháp(Đủ thành phần kết cấu câu)
Ví dụ: Chú gà trống nhà em / đã ra dáng một chú gà trống đẹp
CN VN
- Viết câu hay: Viết câu hay là viết câu được mở rộng các thành phầnphụ, yếu tố phụ: trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ…, sử dụng câu ghép, cách diễn đạtphức hợp Bên cạnh đó còn sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá…
Ví dụ:
Để làm duyên với bọn gà mái, chú //còn trang điểm cho mình một chiếc đuôi rực rỡ
TN CN BN VN BN
Trang 15b) Cách viết đoạn văn mở bài, kết bài trong bài văn miêu tả con vật
b.1) Luyện viết đoạn văn mở bài
Một bài văn hay là một bài văn phải có cách sắp xếp chặt chẽ Mặc dù mở
bài, thân bài, kết bài là ba phần riêng rẽ song chúng phải có một sự thống nhất
về ý (đều nhằm giải quyết vấn đề được nêu ra ở phần đề bài) Phần mở bài giốngnhư một lời thân ái mời chào của chúng ta đối với người khách đến thăm “vườnvăn” của mình Lời mời chào ấy phải hấp dẫn, gợi mở (cởi mở), gây được những
ấn tượng ban đầu và nêu được ý muốn diễn đạt ở phần thân bài (giới thiệu đượcđối tượng cần nói đến ở thân bài)
Ta có thể dùng cách mở bài trực tiếp (giới thiệu ngay đối tượng) hoặc mởbài gián tiếp (nói chuyện khác rồi liên tưởng nói, giới thiệu đối tượng được tả).Khi dạy phần mở bài, tôi thường hướng dẫn học sinh cách mở bài gián tiếp bằngcác cách như: Dùng trích dẫn câu thơ, bài hát liên quan đến đối tượng định tả;dùng những cảm xúc chân thật của bản thân học sinh để miêu tả
- Mở bài gián tiếp:
(Dành cho HS có năng khiếu)
Tả con gà
Giữa đàn gà mấy chụccon, chú gà trống tía làđáng yêu nhất
Hoặc: Trong nhà emnuôi rất nhiều con vậtnhưng em thích nhất làcon gà trống tía
Khi phương đông vừa hé mở, những đám mây xám chỉ mới tan đi, những giọt sương đêm còn khẽ khàng đậu trên ngọn cỏ non cũng là lúc chú gà trống tía nhà em đã cất tiếng gáy vang “ò…ó… o…o…” báo hiệu cho một ngày mới bắt đầu Như có phép lạ, cả xóm em đều bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài.
Tả con
mèo
“ Meo! Meo! Meo!”
Vừa về tới nhà, chúBông Bông đã quấn lấychân em mừng rỡ ra mặt
Đó là chú mèo ba xinđược ở nhà một ngườibạn thân năm em tròntám tuổi
Tuổi thơ của mỗi người đều gắn bó với những kỉ niệm êm đềm khác nhau Từ mái nhà – nơi ta sinh ra và lớn lên, từ góc phố, hàng cây hàng ngày in dấu chân ta đến lớp Nhưng với tôi, hình ảnh chú mèo Bông dường như vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi bởi đó là món quà cuối cùng cha tặng tôi trước khi cha đi chuyến công tác dài cuối cùng.
Tả con
voi
Mỗi lần nghe bài hát
“Chú voi con ở bản Đôn”
em lại nhớ kỉ niệm mộtlần đi vườn bách thúđược gặp chú voi MaMút
Mùa hè năm ngoái, ba mẹ cho em ra
Hà Nội chơi nhà cậu Cậu đã dẫn em đi rất nhiều nơi nhưng kỉ niệm về lần đi thăm vườn bách thú là đáng nhớ nhất Đến đây, em đã tận mắt chứng kiến hình ảnh một chú voi khổng lồ Em mới chỉ biết đến voi qua những bức ảnh, những bài thơ, bài hát Hôm nay, em đã
có thể ngắm nhìn nó một cách đầy
Trang 16ngưỡng mộ như vậy.
Tả con
chó
Từ trước tới giờ, giađình em nuôi cũng khánhiều chú chó NhưngVàng là một chú chókhôn ngoan và hiền lànhhơn cả
Có lẽ, tuổi thơ của mỗi người đều gắn bó với một loài vật đáng yêu, đó có thể là chú rùa, chú chim hay chú mèo Riêng với tôi, tuổi thơ của tôi gắn với chú chó Vàng dũng cảm – Người đã một lần cứu tôi thoát chết.
Tả con
sư tử
Trong vườn bách thú có nhiều loài thú lạ, em xem hoài không chán Nhưng thích nhất vẫn là con sư tử
Đố bạn biết loài vật nào được gọi là
“Chúa sơn lâm”? Chà! Chà! Câu hỏi này thật đơn giản: Sư tử chứ còn ai nữa Vâng! Hình ảnh chú sư tử em xem trên chương trình Thế giới động vật đã lưu lại cho em biết bao kỉ niệm.
Lưu ý: Với những đề văn có phần lời dẫn ở phần đề bài, các em có thể sử
dụng một phần đề làm phần mở cho bài văn
Ví dụ: Đề bài: Mỗi buổi sáng mai thức dậy, khi ông mặt trời còn lấp ló sau rặng tre đầu làng, khi những giọt sương đêm còn sót lại trên những ngọn cỏ cũng là lúc chú gà trống nhà em cất tiếng gáy vang Hãy tả lại con gà trống đó.
ông mặt trời còn lấp ló sau rặng tre đầu làng, khi những giọt sương đêm còn sótlại trên những ngọn cỏ cũng là lúc chú gà trống nhà em cất tiếng gáy vang chàođón một ngày mới bắt đầu
b.2) Luyện viết kết bài
Nếu như phần mở bài giống như một “lời mời chào thân ái” thì phần kết bài giống như một “cuộc tiễn đưa” người khách vừa đến thăm “vườn văn” của
mình Để tạo cho khách sự quyến luyến không muốn rời xa, cuộc tiễn đưa ấyphải thật tình cảm và chân thành Muốn vậy, khi viết phần kết bài, các em phảiviết thật cô đọng, ngắn gọn và súc tích, tránh kết thúc một cách đơn điệu, tẻ nhạt
và cộc lốc Kết bài chính là kết lại, khép lại nội dung vừa trình bày ở phần thânbài Vì vậy, cần khép bài một cách khéo léo để nó đọng lại và mở ra trong lòngngười đọc những cảm xúc tràn trề, những hình ảnh đẹp đẽ mà chúng ta đã miêu
tả, đã kể trong bài văn của mình
Mỗi một câu văn khi đọc lên đều tạo ra những âm hưởng cao thấp khác
nhau, lúc trầm lúc bổng Với câu cuối cùng, các em lên tìm cách diễn đạt chocâu văn của mình trùng xuống, nếu không tìm được cách diễn đạt trùng xuốngthì phải tìm cách diễn đạt cho âm hưởng của nó lướt lên, tạo cho câu văn cótiếng vọng, không nên để giọng văn ngang ngang khi kết bài Nếu không làmđược điều đó, âm thanh sẽ bị cụt, gây mất thiện cảm với người đọc
Ta có thể dùng hai cách kết bài: Kết bài không mở rộng (cho biết kết thúc,không có lời bình luận thêm) và kết bài mở rộng (nói lên tình cảm, cảm xúc củamình, liên tưởng và có thêm lời bình luận)
Ví dụ: Đây là kết bài mở rộng cho bài văn tả con lợn “Nuôi lợn tuy vất vả nhưng cả gia đình em ai cũng ham vì nó tăng thêm thu nhập cho gia đình Mỗi lần đi học về, cất xong cặp sách là em ra thăm chú ngay Thấy em chú vẫy vẫy