1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp dạy học nhằm giúp học sinh học tốt môn toán ở lớp 3

32 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 234 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giúp học sinh nắm vững kiến thức kĩ năng làm nền tảng cho việc học tốt môn Toán là một vấn đề hết sức quan trọng đòi hỏi người làm công tác giáo dục phải nghiên cứu,tìm những biện phá

Trang 1

PHẦN A ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lý do chọn đề tài

Đất nước ta đang trên đà phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để đất nước ta ngày càng phát triển sánh vai cùng với các nước khác trong khu vực và trên thế giới thì điều đó phụ thuộc vào chúng ta và các thế hệ con em của chúng

ta Tất cả những ai trong ngành giáo dục và những ai quan tâm đến sự nghiệp giáo dục của con em mình đều mong mỏi cho con em mình tiếp nhận những kiến thức sâu rộng của nền văn minh nhân loại và trở thành những con người có trình độ học thức, có đức, có tài để phục vụ đất nước.

Bậc học đầu tiên các em được cắp sách đến trường đó là bậc Tiểu học Bậc Tiểu học là bậc học tạo nền tảng vững chắc cho các em vào đời Được đến trường đến lớp đó là vinh dự, là niềm vui lớn lao của mỗi trẻ thơ mà mục tiêu của giáo dục - đào tạo hiện nay là giáo dục học sinh một cách toàn diện Sau khi học xong tiểu học, các em được lĩnh hội những kiến thức, kĩ năng học đã trang

bị cho các em để các em tiếp tục học lên lớp trên

Toán học là một mảng kiến thức xuyên suốt quá trình học toán của học sinh.

Nó không chỉ truyền thụ và rèn luyện kỹ năng kỹ xảo tính toán, giúp các em học tốt môn học khác mà còn rèn luyện trí thông minh, óc tư duy sáng tạo, khả năng tư duy lô gic, làm việc khoa học.Vì vậy chúng ta cần phải quan tâm tới việc dạy toán ở Tiểu học Trong chương trình môn học ở bậc tiểu học, môn Toán chiếm số giờ rất lớn Điều đó cho thấy môn Toán hết sức quan trọng trong việc dạy học.

Để giúp học sinh nắm vững kiến thức kĩ năng làm nền tảng cho việc học tốt môn Toán là một vấn đề hết sức quan trọng đòi hỏi người làm công tác giáo dục phải nghiên cứu,tìm những biện pháp giảng dạy hay, giúp học sinh dễ hiểu,phù hợp để hình thành kiến thức,kĩ năng nhằm giúp học sinh học tốt môn Toán Xuất phát từ những suy nghĩ về tầm quan trọng của việc dạy học Toán, đồng thời nhận thức được yêu cầu, nhiệm vụ và vai trò của phân môn Toán ở bậc Tiểu học nói chung và lớp 3 nói riêng Tôi đã quyết định lựa chọn đề tài

“Một số biện pháp dạy học nhằm giúp học sinh học tốt môn Toán ở lớp 3 ”

-Nâng cao tay nghề của bản thân, tôi rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, các bậc lãnh đạo để đổi mới, nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán cho học sinh lớp 3.

III Đối tượng , thời gian nghiên cứu:

- Đối tượng: Biện pháp dạy học nhằm giúp học sinh học tốt môn Toán

- Thời gian: Thời gian từ tháng 9/2015 đến tháng 4 /2016

Trang 2

- Phương phỏp nghiờn cứu tài liệu: Đọc cỏc tài liệu giỏo trỡnh cú liờn quan đến vấn đề nghiờn cứu.Tham khảo sỏng kiến, kinh nghiệm của đồng nghiệp.

- Phương phỏp đàm thoại, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp với học sinh lớp 3.

- Phương phỏp quan sỏt.

- Phương phỏp điều tra.

- Phương phỏp thực hành luyện tập.

- Phương phỏp tổng kết.

V Kế hoạch nghiờn cứu:

- Tháng 9 - 2015: Nghiên cứu, đăng ký tên sáng kiến kinh nghiệm.

- Từ tháng 10 - 2015 đến tháng 3 - 2016: Xây dựng đề cơng - nghiên cứu

điều tra làm thực nghiệm.

-Tháng 4/20016: Viết sáng kiến kinh nghiệm.

- Tháng 5/2016: Hoàn thiện, nộp sáng kiến kinh nghiệm.

PHẦN B BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

Trang 3

về nhận thức, cách nhận định, đánh giá, phân tích tình hình để tìm ra con đường

đi mang lại kết quả theo mong muốn Dạy toán là dạy cách làm việc sáng tạo, cách suy luận lôgic, cách sống nhân văn thời hiện đại muốn vậy thì phải mở rộng ngoài sách giáo viên, sách giáo khoa, sách thiết kế của Bộ Thế nên, người giáo viên phải có tầm nhìn Tầm nhìn đó vừa xa vừa thực tế, phải nắm được lý thuyết song phải có kỹ năng khái quát vừa hết sức cụ thể Như vậy phải đọc nhiều, tích luỹ nhiều, và phải rút ra được những điều cần thiết để tận dụng.

Trong quá trình dạy học Toán ở phổ thông nói chung, ở tiểu học nói riêng, môn Toán là một trong những môn học quan trọng nhất trong chương trình học

ở bậc tiểu học vì :

- Môn Toán có hệ thống kiến thức cơ bản cung cấp những kiến thức cần thiết, ứng dụng vào đời sống sinh hoạt và lao động Những kiến thức kĩ năng toán học là công cụ cần thiết để học các môn học khác và ứng dụng trong thực tế đời sống

- Toán học có khả năng to lớn trong giáo dục học sinh nhiều mặt như: Phát triển tư duy lôgic, bồi dưỡng những năng lực trí tuệ (Trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, ) Nó giúp học sinh biết tư duy suy nghĩ, làm việc góp phần giáo dục những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp của người lao động.

Giáo dục toán học là một bộ phận của giáo dục tiểu học Do đó, môn Toán có nhiệm vụ góp phần vào thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của bậc học, đó là: Trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức và kĩ năng cơ bản, cần thiết cho việc học tập tiếp hoặc đi vào cuộc sống Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức vào hoạt động thiết thực trong đời sống, từng bước hình thành, rèn luyện thói

Trang 4

quen phương pháp và tác phong làm việc khoa học, phát triển hợp lí phù hợp với tâm lí của từng lứa tuổi Tạo tiền đề cho học sinh học tốt các môn học còn lại.

II Cơ sở thực tiễn của vấn đề.

Trong thực tiễn có nhiều điều khác với sách vở, có nhiều điều không sách vở nào nói hết Toán học cũng vậy, sách vở không nói hết mới cần đến vai trò của người thầy Trong thực tiễn sách học không lường hết những tình huống xảy ra trong quá trình dạy học Bởi vậy sách dạy chúng ta phương pháp truyền thụ kiến thức Song chúng ta cũng có thể giúp người viết sách hoàn thiện phương pháp giảng dạy một cách tốt hơn Chưa nói đối tượng học sinh ở mỗi địa phương lại

có sự khác nhau Nhận thức của các em có sự chênh lệch, do đó người giáo viên tuỳ theo học sinh của lớp mình, của địa phương mình để có cách dạy thích hợp Trường học nơi tôi công tác là trường thuộc khu vực nông thôn, bố mẹ đa

số làm nghề nông, ngư nghiệp Song điều đáng nói, trình độ nhận thức của một

số phụ huynh còn nhiều hạn chế Một số học sinh là con nhà nghèo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn Ngoài giờ học ở trường, về nhà các em còn phụ giúp gia đình để kiếm sống Một số học sinh cha mẹ phải đi làm ăn xa không trực tiếp dạy dỗ, chăm sóc, Vì vậy, các em còn lo chơi chưa chú ý về học tập Những bài học bài tập còn xao lãng Như vậy trách nhiệm nặng nề thuộc vào người giáo viên trực tiếp đứng lớp.

Năm học 2015 – 2016, tôi được làm công tác giảng dạy lớp 3A Lớp học có

37 học sinh, độ tuổi tương đối đồng đều nhưng lực học có nhiều khả năng khác nhau Ngay hai tuần đầu năm học qua một số giờ học Toán, tôi nhận thấy nhều

em rất ngại học Toán,phương pháp học tập chưa rõ ràng, còn thụ động trong việc tiếp thu bài, chưa nắm chắc những kiến thức cơ bản về toán như :

+ Chưa thuộc bảng nhân, chia.

+ Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên (đến hàng nghìn, chục) + Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính ( cộng, trừ, nhân, chia cột dọc).

+ Đặc biệt các em còn rất yếu trong việc giải toán có lời văn.

+ Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán

C th k t qu kh o sát cho th y : ụ thể kết quả khảo sát cho thấy : ể kết quả khảo sát cho thấy : ết quả khảo sát cho thấy : ả khảo sát cho thấy : ả khảo sát cho thấy : ấy :

Trang 5

những kiến thức cơ bản giúp học sinh học tốt môn Toán Chính vì thế nên tôi

chọn đề tài : Một số biện pháp dạy học nhằm giúp học sinh học tốt môn Toán

ở lớp 3

III Các biện pháp dạy học nhằm giúp học sinh học tốt môn Toán ở lớp 3

Để rèn luyện và bồi dưỡng học sinh học tốt môn Toán, theo tôi người giáo viên phải nghiên cứu:

1 Những việc làm để chuẩn bị bài dạy.

+ Nghiên cứu tài liệu và xác định nội dung bài dạy học.

+ Nghiên cứu mục đích yêu cầu bài học cả về 3 mặt (kiến thức, kĩ năng tư duy và giáo dục) Xác định kiến thức trọng tâm căn cứ trên mục đích yêu cầu Lựa chọn phương pháp cụ thể và phương tiện dạy học, các biện pháp sẽ thực hiện từng khâu từng đối tượng học sinh.

+ Soát lại việc chuẩn bị của học sinh về bài học.

Tình hình nắm kiến thức đã học có liên quan, tình hình sách giáo khoa và

đồ dùng học tập của học sinh.

2, Điều kiện tiến hành một tiết dạy đạt hiệu quả.

Tạo được không khí sẵn sàng học tập ở chỗ học sinh nắm chắc bài cũ, chuẩn bị tốt sách giáo khoa và đồ dùng học tập Tập thể học sinh tự giác, tôn trọng nội quy, nề nếp và làm việc tốt Học sinh trong trạng thái khoẻ mạnh, tỉnh táo Tạo mối quan hệ tốt giáo viên và học sinh thể hiện ở chỗ:

+ Giáo viên có thái độ cởi mở, chan hoà, ân cần, quan tâm đến học sinh, mẫu mực trong tác phong Giáo viên chuẩn bị bài soạn, sẵn sàng lên lớp.

+ Học sinh lễ phép, chăm chỉ và tích cực trong học tập.

3.Những yêu cầu chung của một tiết học trên lớp.

- Tiết học toán phải chú ý đến hai mặt giáo dục và giáo dưỡng Hai mặt này kết hợp chặt chẽ với nhau.

- Luôn luôn chú ý theo dõi thái độ học tập và sự lĩnh hội nội dung bài học của học sinh, để có biện pháp điều chỉnh, uốn nắn kịp thời.

- Tiết học trên lớp cần căn cứ vào trình độ học sinh trung bình ở lớp, có phân biệt đến hai đối tượng giỏi và yếu.

4 Thực hiện bài soạn

- Giáo viên thực hiện tiết học theo trình tự bài soạn, có điều chỉnh thời gian các phần nhưng đảm bảo nội dung trọng tâm của bài.

- Cần quan tâm đến hoạt động của học sinh, sao cho học trực tiếp giải quyết vấn đề qua các bước suy luận, thảo luận thực hành phát biểu, báo cáo kết quả

- Cần quan tâm đối tượng khác nhau về trình độ để giao việc, đặt câu hỏi thích hợp Có động viên khuyến khích, biểu dương kịp thời các tiến bộ, cố gắng của học sinh Nhưng phải nghiêm khắc đối với học sinh lười biếng, vô trách nhiệm Giáo viên phải linh động, khéo léo xử lí tình huống diễn ra sao cho đạt mục đích yêu cầu của tiết dạy.

5 Khảo sát chất lượng đầu năm và qua các tiết ôn tập toán đầu năm, tôi đã

phân loại học sinh cụ thể vào sổ tay như sau:

+ Chưa thuộc bảng nhân, chia ở lớp hai đã học : 16/37 học sinh.

Trang 6

+ Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên: 20/37 học sinh + Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính: 17/37 học sinh.

+ Giải toán có lời văn chưa được: 18/37 học sinh.

+ Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán: 20/ 37 học sinh.

- Tìm hiểu về gia đình, điều kiện sống, sự chăm lo của phụ huynh đối với con em Ngay từ đầu năm tôi đề nghị Ban Giám Hiệu cho họp phụ huynh học sinh Thông qua cuộc họp tôi báo cáo lại tình hình học tập của từng học sinh đặc biệt là học sinh yếu môn Toán.

-Trong cuộc họp tôi động viên phụ huynh mua đầy đủ dụng cụ học tập cho học sinh

- Cần tạo điều kiện cho con em có góc học tập ở nhà, Đặc biệt là phụ huynh nhắc nhở việc học tập của các em và học thuộc bản cửu chương Thường xuyên theo dõi, kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh trước khi đến lớp.

- Qua cuộc họp tôi nắm được 10 em gia đình thật sự khó khăn so với 3 em có sổ

hộ nghèo, 4 học sinh cha mẹ đi làm ăn xa nên không có thời gian thường xuyên chăm sóc.

- Qua một tháng đầu giảng dạy tôi cố gắng tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến các em học yếu toán.

Từ đó tôi suy nghĩ tìm hiểu, lựa chọn các biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán, cụ thể như sau:

1 ) Biện pháp 1 : Tích cực luyện cho học sinh thuộc bảng nhân, bảng chia.

- Đã nhiều năm giảng dạy lớp 3, theo tôi nghĩ, học sinh học tốt môn Toán thì không thể không luyện cho học sinh học thuộc bảng nhân, chia Bởi lẽ học sinh

có thuộc bảng nhân, chia mới vận dụng giải các bài tập có liên quan Đặc biệt là các phép chia có số bị chia 2 , 3, 4 chữ số và giải toán hợp

- Để cho học sinh nhanh thuộc và khắc sâu các bảng nhân, chia tôi làm như sau:

1.1 Khi dạy tôi hướng dẫn học sinh lập được bảng nhân, chia và tôi chốt lại cho học sinh nắm sâu hơn và để dễ nhớ hơn như :

Chẳng hạn khi học bảng nhân, tôi nhấn mạnh :

* Các thừa số thứ nhất trong bảng nhân đều bằng nhau.

* Các thừa số thứ hai trong bảng nhân đều khác nhau theo thứ tự là 1, 2, 3, 4,

5, 6, 7, 8, 9, 10 Mỗi thừa số này liền nhau hơn kém nhau 1 đơn vị ( trong bảng nhân các thừa số thứ hai nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 10 không có thừa số 0)

* Các tích cũng khác nhau và mỗi tích liền nhau hơn kém nhau bằng thừa số thứ nhất (Tích thứ nhất trong bảng nhân chính là thừa số thứ nhất, tích cuối cùng trong bảng nhân gấp thừa số thứ nhất 10 lần).

Trang 7

Để luyện thuộc bảng nhân 6 tôi tiến hành như :

Hỏi : Trong bảng nhân 6 thừa số thứ nhất là số mấy ? ( Là số 6 )

Thừa số thứ 2 là những số nào ? ( Là những số tự nhiên liên tiếp từ 1 đến 10) Hai tích liền nhau hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị ? (hơn kém nhau 6 đơn vị ) Vậy muốn tìm tích liền sau, hoặc liền trước ta làm như thế nào ? ( Ta cộng, hoặc trừ cho 6 ) từ đó học sinh dễ nhớ và nhanh thuộc

Ví dụ 2 : Bảng chia 9, tôi nhấn mạnh :

- Các số bị chia trong bảng chia 9 là các tích của bảng nhân 9, và hơn kém

nhau 9 đơn vị.

- Số chia trong bảng chia 9 là các thừa số thứ nhất của bảng nhân 9 đều là 9.

- Các thương của bảng chia 9 là thừa số thứ hai của bảng nhân 9.

1.2 Để tiếp tục củng cố hàng ngày, đầu giờ học môn toán, thay vì cho học sinh vui, để khởi động, tôi thay vào cả lớp cùng đọc một bảng nhân hoặc chia và

cứ thế lần lượt từ bảng nhân 2, bảng chia 2 đến bảng nhân, chia hiện học.

+ Sau mỗi giờ học toán tôi thường kiểm tra những học sinh chưa thuộc bảng nhân, chia từ 2 đến 4 em.

+Tôi thường xuyên kiểm tra học sinh bảng nhân, chia bằng cách in bảng nhân, chia trên giấy A4, nhưng không in kết quả và bỏ trống một số thành phần của phép nhân, chia trong bảng Vào cuối tuần dành thời gian khoảng 10 phút cho các em ghi đầy đủ và hoàn chỉnh bảng nhân, chia như yêu cầu Tôi và học sinh cùng nhau nhận xét, khen ngợi học sinh làm bài tốt, nhắc nhở các em làm bài chưa tốt.

+ Tôi cũng thường xuyên cho học sinh chép bảng nhân nào mà các em chưa thuộc vào tập riêng Ngay sau trình bày và đọc cho tổ trưởng nghe vào đầu giờ, sau đó tổ trưởng báo cáo cho giáo viên

1.3.Thỉnh thoảng để khắc sâu kiến thức, tôi còn cho học sinh chơi trò chơi.

Ví dụ : Trò chơi ôn lại bảng nhân ( trò chơi lô tô)

Tôi chuẩn bị nhiều bảng theo thứ tự đảo ngược như sau:

Trang 8

Cách chơi:

Phát cho mỗi em một bảng Giáo viên hoặc lớp trưởng lần lượt đọc mỗi lần

1 phép tính trong bảng nhân 4 nhưng không nêu kết quả Học sinh nghe và tự tìm kết quả đánh dấu vào ô có kết quả đúng Nếu học sinh nào đánh đúng, đủ 3 ô hàng ngang hoặc hàng dọc thì em đó thắng Giáo viên quan sát lại khen thưởng học sinh thắng cuộc, khuyến khích học sinh làm chưa tốt

Tiếp tục như những cách làm trên cho đến khi cả lớp đều thuộc từ bảng nhân, chia 2 đến 9 Qua thời gian không lâu lớp tôi có 34/ 37học sinh thuộc tất

cả bảng nhân chia từ 2 đến 9.

2 ) Biện pháp 2 : Hướng dẫn đọc, viết, so sánh các số tự nhiên.

Học sinh biết đọc, viết, so sánh các số tự nhiên là chuỗi kiến thức rất quan trọng trong chương trình toán 3.

- Chuỗi kiến thức này nhằm giúp học sinh nắm được cách đọc, viết và so sánh các số tự nhiên vận dụng vào cộng, trừ, nhân, chia số thứ tự và giải bài toán hợp.

- Dạy chuỗi kiến thức này theo tôi người giáo viên cần hình thành cho học sinh những kiến thức cơ bản sau:

2.1 Giúp học sinh hiểu các số tự nhiên.

- Các số 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, là các số tự nhiên.

- Số 0 là số tự nhiên bé nhất, không có số tự nhiên lớn nhất.

- Hai số tự nhiên liên tiếp hơn kém nhau 1 đơn vị.

- Số 0, 2, 4, 6 là các số tự nhiên chẵn, số 1, 3, 5,7, 9, 11, là các số tự nhiên lẻ Hai số chẵn ( hoặc lẻ) liên tiếp hơn kém nhau 2 đơn vị.

- Nắm được tên và vị trí của các hàng ( hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn).

- Biết qui tắc các giá trị theo vị trí của các chữ số trong cách viết số.

Ví dụ: Dạy cho học sinh:

- Các số có bốn chữ số gồm hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị Tôi giải thích cho học sinh là: hàng nghìn các chữ số lớn hơn 0.

Ví dụ : 1234; 2574; 4351; hàng nghìn là: 1, 2, 4 nghìn Không thể có hàng

nghìn là 0 như: 0234, 0574, 0351, Vậy số có bốn chữ số có hàng nghìn nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 9.

2.2 Hướng dẫn đọc, viết.

Trang 9

Khi dạy đọc viết bài các số có 4 chữ số

Ví dụ số: 5921, tôi làm như sau :

- Hướng dẫn phân hàng:

Hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị : Số 5921: Có 5 nghìn;

9 trăm ;2 chục;1 đơn vị.

- Đọc số 5921: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt.

Tôi viết: 5921 Phân tích: 5 9 2 1

5nghìn 9trăm 2chục 1đơn vị.

Hoặc: lớp nghìn lớp đơn vị.

Khi viết, ta viết từ hàng cao đến hàng thấp (viết từ trái sang phải).

Khi đọc lớp nào ta kèm theo đơn vị lớp đó.

Học sinh đọc: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt.

- Hơn thế nữa, tôi còn hướng dẫn thêm cho học sinh thêm nhiều số như sau:

Ví dụ : Số 5921 và 5911

Số 5921 đọc là: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt.

Số 5911 đọc là: Năm nghìn, chín trăm mười một.

- Nói cụ thể hơn, từ hai số trên cho học sinh nhận ra được cách đọc ở cùng

hàng đơn vị của hai số là khác nhau chỗ mốt và một Nghĩa là số 5921, hàng đơn

vị đọc là mốt, còn số 5911 hàng đơn vị đọc là một Tuy cùng hàng và đều là số

“1” nhưng tên gọi lại khác nhau Tôi còn phát hiện và giúp học sinh đọc và

nhận ra cách đọc của một vài số lại có cách đọc tương tự trên:

Ví dụ : Số 2305 và 2325 cùng hàng đơn vị là số “5” nhưng lại đọc là “năm”

và “lăm”.

Ví dụ : Số 2010: Học sinh nhiều em đọc là “Hai nghìn không trăm linh mười Tôi hướng dẫn các em Trong số tự nhiên chỉ được đọc “linh một, linh hai, linh chín, không có đọc là linh mười” vậy số 2010 đọc là: Hai nghìn không trăm mười.

2.3 Hướng dẫn so sánh.

Trong qui tắc là: Khi ta so sánh trong hai số thì: Số nào có ít chữ số hơn thì

số đó bé hơn và ngược lại

Trang 10

+ Hàng nghìn đều bằng nhau là 4, so sánh đến hàng trăm

+ Đến hàng trăm chọn được hai số lớn là 7 có trong 4735 và 4753 Sau đó yêu cầu các em chỉ so sánh hai số này Trong hai số 4735 và 4753, các em so sánh hàng chục và tìm được số lớn nhất là 4753.

Hoặc tôi hướng dẫn học sinh so sánh như sau:

- Xếp theo cột dọc, sao cho thẳng hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị với nhau Cụ thể trên bảng phần được xoá là:

- Phân theo hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị.

- So sánh từng hàng để chọn ra số lớn nhất trong hàng như: hàng nghìn đều bằng nhau là 4 Đến hàng trăm chọn được hai số lớn là 7 có trong 4735 và 4753 Sau đó yêu cầu các em chỉ so sánh hai số này và tìm được số lớn nhất là 4753.

3) Biện pháp 3 : Rèn một số kỹ năng góp phần năng cao chất lượng dạy và học, nhằm giúp học sinh học tốt môn Toán ở lớp 3.

3.1 Rèn kỹ năng cách đặt tính, thực hiện phép tính ( cộng, trừ, nhân, chia

Trang 11

+ Muốn tìm tổng ta lấy số hạng thứ nhất cộng với số hạng thứ hai.

Bước 1 : Viết 435 là số hạng thứ nhất ở 1 dòng ; viết 127 số hạng thứ hai

ở dòng dưới sao cho các chữ số cùng hàng thẳng cột với nhau hàng đơn vị thẳng hàng đơn vị ( số 5 thẳng số 7 ) ;hàng chục thẳng hàng chục (số 3 thẳng số 2 ); hàng trăm thẳng hàng trăm (số 4 thẳng 1 )

Bước 2 :Viết dấu cộng (+) ở giữa hai dòng số hạng thứ nhất và số hạng thứ hai và lùi ra khoảng 1, 2 mm, rồi kẻ vạch ngang bằng thước kẻ.

Bước 3 : Khi thực hiện phép này, ta phải thực hiện tính bắt đầu từ hàng đơn

vị, sau đó đến hàng chục, hàng trăm (hoặc tính từ phải sang trái )

435 Lần 1 : 5 cộng 7 bằng 12, viết 2 nhớ 1

+ 127 Lần 2 : 3 cộng 2 bằng 5, thêm 1 bằng 6, viết 6

562 Lần 3 : 4 cộng 1 bằng 5, viết

Đối với phép tính trừ tôi cũng làm và hướng dẫn như phép cộng

- Nên lưu ý cho học sinh đối với phép cộng, phép trừ ở lớp 3 có nhớ cần thêm vào hoặc bớt ra khi cộng, trừ hàng kế tiếp không nhớ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

b Đối với phép nhân

b.1.Giúp học sinh hiểu, nhớ và áp dụng

Trang 12

Bước 1 : Khi đặt tính giáo viên lưu ý cho học: Viết thừa số thứ nhất ở 1

dòng, viết thừa số thứ hai ở dòng dưới sao cho thẳng cột với hàng đơn vị (nhân

số có 2, 3, 4 chữ số với số có 1 chữ số)

Bước 2 :Viết dấu nhân ở giữa hai dòng thừa số thứ nhất và thừa số thứ hai và lùi ra khoảng 1, 2 mm, rồi kẻ vạch ngang bằng thước kẻ.

Bước 3 : Khi thực hiện phép nhân này, ta phải thực hiện tính bắt đầu từ hàng

đơn vị, sau đó đến hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn (hoặc tính từ phải sang trái) Các chữ số ở tích nên viết sao cho thẳng cột với theo từng hàng, bắt đầu từ hàng đơn vị, chục, trăm, nghìn của thừa số thứ nhất.

Chẳng hạn : Khi dạy bài nhân số có 3 chữ số với có 1 chữ số :

- Trường hợp không nhớ Ví dụ : 213 x 3 tôi vừa làm vừa nói

* Đặt tính :

213 Viết thừa số thứ nhất

x 3 Viết dấu nhân (x ) ở giữa

639 .Viết thừa số thứ hai 3 thẳng với hàng đơi vị của só thứ nhất

* Tính : Hướng dẫn ta lấy thừa số thứ hai lần lượt nhân với các chữ số của

thừa số thứ nhất theo thứ tự từ phải sang trái

Lần nhân thứ nhất : Lấy 3 nhân 3 bằng 9 viết 9 ( Viết 9 thẳng hàng với số

3 ở hảng đơn vị của thừa số thứ nhất )

Lần nhân thứ 2 : lấy 3 nhân với 1 bằng 3 viết 3 (Viết 3 thẳng với hàng chục của thừa số thứ nhất )

Lần nhân thứ 3 :Lấy 3 nhân với 2 bằng 6 viết 6 (Viết 6 thẳng với hàng trăm của thừa số thứ nhất )

- Đối với trường hợp nhân có nhớ viết từng chữ số của tích có nhớ, ta nên

viết số đơn vị, nhớ số chục (hoặc nhắc học sinh viết số bên tay phải nhớ số bên tay trái).

Ví dụ 124 x 3 cách trình bày như trên tôi nhấn mạnh cách nhớ

124 Lần 1 : 3nhân 4 bằng 12, viết 2 nhớ 1

x 3 .Lần 2 : 3 nhân 2 bằng 6 thêm 1 bằng 7, viết 7

372 Lần 3 : 3 nhân 1 bằng 3 , viết 3

Trang 13

Nhắc thêm cho học sinh : Nếu trường hợp như: 8 nhân 3 bằng 24, thì viết 4 nhớ 2, ( đối với phép nhân thì chỉ có nhớ 1, 2, 8, không có nhớ 9)

c Đối với phép chia:

c.1 Giúp học sinh hiểu, nhớ và áp dụng

+ Muốn tìm thương, ta lấy số bị chia, chia cho số chia

+ Muốn tìm số bị chia chưa biết, ta lấy thương nhân với số chia.

+ Muốn tìm số chia chưa biết, ta lấy số bị chia, chia cho thương.

+ Số nào chia cho 1 cũng bằng chính số đó.

+ 0 chia cho bất kỳ số nào cũng bằng 0.

* Nhắc thêm cho học sinh:

+ không thể chia cho 0

+ Trong phép chia có dư, số dư nhỏ nhất là 1, số dư lớn nhất kém số chia 1

đơn vị ( trong chương trình toán 3 số dư trong phép chia nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 8).

Ví dụ : Số chia là 9, thì số dư là 1, 2, 3, 4, 8 (số dư phải nhỏ hơn số chia)

1 Số dư lần chia cuối cùng (Phép chia có dư).

* Khi hạ hàng nào phải hạ dưới sao cho thẳng hàng, để ta biết sẽ thực hiện hàng đó, sau đó mới thực hiện hàng kế tiếp.

Tôi nhấn mạnh học sinh: Chỉ duy nhất trong lần chia đầu tiên là được lấy nhiều hơn một chữ số ở số bị chia để chia, còn các lần chia tiếp theo lấy từng chữ số để chia và khi lấy một chữ số để chia thì phải viết được một chữ số ở thương.

Tôi nghĩ thực hiện đặt tính và tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc, thì phép chia là khó nhất vì: Học sinh hay quên, thực hiện chưa đầy đủ các hàng cao đến hàng thấp (có em chỉ mới thực hiện đến hàng trăm, chục mà không thực hiện

Trang 14

hết) Cần hướng dẫn kĩ cho học sinh cách nhân ngược lên và trừ lại, Đặc biệt đối với học sinh yếu toán, tôi hướng dẫn kĩ cách đặt tính, nhằm giúp các em thấy được hàng nào thực hiện rồi, hàng nào chưa thực hiện

Hay với ví dụ trên, tôi vừa làm vừa nói

1276 3 Lần chia thứ nhất : Lấy 12chia 3 được 4, ta nhẩm 4 nhân 3

07 425 bằng 12 lấy 12 trừ 12 bằng 0 , viết 0 thẳng số 2

16 Hạ 7 xuống , số 7 viết thẳng số 7

1 Lần chia thứ 2 lấy,7 chia 3 được 2 viết 2, ta nhẩm

2 nhân 3 bằng 6, lấy 7 trừ 6 bằng 1, viết 1 thẳng số 7 Hạ 6 xuống, 6 viết thẳng 6 ta được 16

Lần chia thứ 3, ta lấy 16 chia 3 được 5, nhẩm 5 nhân 3 bằng 15, lấy 16 trừ 15 bằng 1

Số dư lần chia cuối cùng (Phép chia có dư).

* Chú ý nhấn mạnh : Khi hạ hàng nào phải hạ dưới sao cho thẳng hàng, để

ta biết sẽ thực hiện hàng đó, sau đó mới thực hiện hàng kế tiếp.

Như vậy : Trong các phép tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc thì các phép cộng, trừ, nhân ta thực hiện tính theo thứ tự từ phải sang trái, hoặc từ hàng đơn vị, hàng chục… Còn riêng phép chia ta tính theo thứ tụ từ trái sang phải, hoặc từ hàng cao nhất đến hàng thấp nhất ( hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị).

Khi thực hiện phép chia có dư trong mỗi lượt chia , tôi có các cách như sau

Ví dụ : 48 : 5 = ?

- Cách thứ nhất : Có thể cho học sinh đếm ngược từ 48 cho đến khi gặp một tích (hoặc số bị chia) trong bảng nhân 5 (chia 5) 48; 47; 46 ; 45 45 : 5 = 9 Vậy 48 : 5 = 9 (dư 3) Số dư là 3 thì nhỏ hơn số chia là 5 Tương tự như vậy khi gặp số bị chia có dư, học sinh không mấy gặp khó khăn khi xác định thương

và số dư ( học sinh luôn luôn ghi nhớ số dư trong mỗi lần chia đều phải nhỏ hơn

Trang 15

em này chỉ làm một phần trong mỗi bài tập và hướng dẫn rất kĩ khi làm bài vào

vở Cách trình bày từng con số, cách sửa sai để từng trang vở được sạch đẹp Với cách với những biện pháp thực hiện như trên, bước đầu học sinh đã có hiệu quả, các em đã nắm được cách làm bài mà không còn nhẫm lẫn.

3.2 Rèn kỹ năng tìm một thành phần chưa biết của phép tính.

.Dạng 1: Tìm thừa số chưa biết:

Phương pháp dạy:Tôi yêu cầu học sinh gọi đúng tên thành phần của phép tính nhân và yêu cầu học sinh học thuộc : Muốn tìm thừa số chưa biết , ta lấy tích chia cho thừa số đã biết

Ví dụ: Bài 2 trang 120 – Toán 3

Tương tự với 2 phép tính còn lại học sinh tự làm

Mở rộng “dành cho học sinh khá giỏi” Muốn tìm thừa số chưa biết ta lấy tích chia cho các thừa số đã biết Chẳng hạn ta lấy tích chia cho các thừa số đã biết Chẳng hạn tìm X ?

X x 2 x 3 = 18 Tôi có thể gợi ý để học sinh tự tìm nhiều cách làm khác nhau

Trang 16

Dạng 2: Tìm số bị chia, tôi hướng dẫn như :

+Tôi viên yêu cầu học sinh gọi tên đúng thành phần và kết quả của phép tính.

Ví dụ: 6 : 2 = 3 trong đó 6 là số bị chia, 2 là số chia, 3 là thương.

+ Học sinh nhắc lại quy tắc tìm số bị chia: Muốn tìm số bị chia ta lấy thương nhân với số chia.

Ví dụ: Bài 3 trang 116 – Toán 3

a X : 3 = 1527

Tôi hỏi X gọi là gì trong phép chia ? 3 được gọi là gì ? 1527 gọi là gì ? Yêu cầu học sinh nêu lại cách tìm số bị chia , sau đó hướng dẫn cách giải và trình bày

X : 4 = 1296 (dư 3)

X = 1296 x 4 + 3

X = 5184 + 3

X = 5187

Dạng 3: Tìm số chia, tôi hướng dẫn tương tự

Lưu ý trong phép chia có dư, muốn tìm số chia ta lấy số bị chia trừ đi số dư được bao nhiêu đem chia cho thương số.

Ví dụ: 63 : X = 5(dư 3)

X = (63 – 3) : 5

X = 60 : 5

X = 12

Ngày đăng: 30/10/2019, 14:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w