Ngày 01/11/2018 Chấp hành viên tiến hành xác minh điều kiện thi hành án đối với bà Khoàng Thị Ính, yêu cầu bà Ính kê khai tài sản, thu nhập nhưng bà Ính không kê khai được, Chấp hành viê
Trang 1PHẦN THỨ HAI:
TÓM TẮT HỒ SƠ
Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số
03/2018/QĐST-DS ngày 20/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mường Sài, tỉnh ABC quyết định:
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Dùng, sinh năm 1967
Địa chỉ: Tổ dân phố số 10, thị trấn Mường Sài, huyện Mường Sài, tỉnh ABC
- Bị đơn: Bà Khoàng Thị Ính, sinh năm 1964
Địa chỉ: Tổ dân phố số 03, thị trấn Mường Sài, huyện Mường Sài, tỉnh ABC
Sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về nội dung: Bà Khoàng Thị Ính hẹn đến ngày 01/10/2018 sẽ có trách nhiệm
trả đủ số tiền 237.320.000 dồng (Hai trăm ba mươi bảy triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) cho bà Lê Thị Dùng.
Kể từ khi quyết định có hiệu lực hiệu lực pháp luật và đến ngày 01/10/2018, có đơn yêu cầu thi hành án của bà Dùng, nếu bà Ính không trả đủ số tiền 237.320.000 đồng (Hai trăm ba mươi bảy triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) cho bà Dùng thì hàng tháng bà Ính còn phải trả cho bà Dùng khoản tiền lãi của số tiền chậm trả lãi suất theo quy định
- Về án phí: Bà Lê Thị Dùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 2.966.500 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Dùng đã nộp 5.933.000 đồng theo biên lai thu tiền số AB/2010/00321 ngày 18/5/2018 tại Chi cục THADS huyện Mường Sài, tỉnh ABC Hoàn trả lại cho bà Lê Thị Dùng số tiền chênh lệch tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Dùng đã nộp là 2.966.500 đồng
Bà Khoàng Thị Ính phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 2.966.500 đồng
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Ngay sau khi nhận được Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
số 03/2018/QĐST-DS ngày 20/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mường Sài, tỉnh ABC chuyển giao, Chi cục THADS huyện Mường Sài, tỉnh ABC đã chủ động ban hành quyết định thi hành án những khoản thuộc diện chủ động đối với bà Khoàng Thị Ính và bà Lê Thị Dùng theo quy định của pháp luật
Trang 2Ngày 19/10/2018 Chi cục THADS huyện Mường Sài, tỉnh ABC đã nhận được đơn yêu cầu thi hành án của bà Lê Thị Dùng yêu cầu bà Khoàng Thị Ính trả cho bà Dùng số tiền 237.320.000 đồng theo Quyết định số 03/2018/QĐST-DS ngày 20/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mường Sài Ngày 22/10/2018 Chi cục THADS huyện Mường Sài ra quyết định thi hành án theo yêu cầu đối với bà Khoàng Thị Ính như nội dung bà Dùng đã yêu cầu
Cùng ngày 22/10/2018 Chi cục THADS huyện Mường Sài, tỉnh ABC ra phiếu xác định tiền, giá trị hạch toán tài sản tang vật theo thông tư số 91/20101/TT-BTC ngày 17/6/2010 của Bộ tài chính, đồng thời ban hành giấy báo cho bà Khoàng Thị Ính
là người phải thi hành án đúng 15 giờ 00 phút ngày 31/10/2018 phải có mặt tại trụ sở Chi cục THADS huyện Mường Sài, tỉnh ABC để thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình Trong ngày, Chấp hành viên lập biên bản về việc giao quyết định, văn bản về thi hành án cho người phải thi hành án và người được thi hành án, đương sự đã nhận
và ký vào biên bản
Ngày 01/11/2018 Chấp hành viên tiến hành xác minh điều kiện thi hành án đối với bà Khoàng Thị Ính, yêu cầu bà Ính kê khai tài sản, thu nhập nhưng bà Ính không
kê khai được, Chấp hành viên đã tiến hành xác minh trực tiếp điều kiện thi hành án của bà Ính
Ngày 19/11/2018 Chấp hành viên tiến hành xác minh tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Mường Sài thì được biết bà Ính có 02 thửa đất tại Tổ dân phố số 3 và số 8, thị trấn Mường Sài, huyện Mường Sài
Ngày 20/11/2018 Chấp hành viên lập biên bản giải quyết việc thi hành án đối với bà Ính, bà Ính xin Chi cục THADS huyện Mường Sài tạo điều kiện để nộp dần số tiền nói trên
Ngày 04/12/2018 Chấp hành viên đã ban hành quyết định về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đối với 01 thửa đất của bà Ính tại Tổ dân phố số 3, thị trấn Mường Sài, huyện Mường Sài và đã giao Quyết định tạm dừng cho đương sự và các cơ quan có liên quan
Ngày 05/12/2018 Chấp hành viên viết biên lai thu, kế toán lập phiếu thu số tiền 30.000.000 đồng bà Khoàng Thị Ính đã nộp Ngày 06/12/2018 Chấp hành viên ra thông báo nhận tiền, tài sản và giao thông báo cho người được thi hành án là bà Lê Thị Dùng, trong ngày Chi cục THADS huyện Mường Sài đã ban hành quyết định thu phí thi hành án Ngày 07/12/2018 Chấp hành viên lập giấy đề nghị chi được Chi cục trưởng duyệt chi, kế toán lập phiếu chi tiền 30.000.000 đồng cho bà Dùng, đồng thời
Trang 3viết biên lai thu phí thi hành án Phí THA đã được Chi cục THADS huyện Mường Sài chi nộp ngân sách 15%, nộp Tổng cục 20%, nộp tài khoản tạm gửi phí THA được để lại 65% theo quy định
Ngày 08/3/2018 Chấp hành viên Phạm Văn Lưỡng lập dự thảo kế hoạch cưỡng chế Cùng ngày 08/3/2019 tiến hành họp bàn cưỡng chế tại Hội trường Tầng II UBND huyện Mường Sài, tỉnh ABC Sau khi Chấp hành viên trình bày, các cơ quan, ban ngành được mời họp đã góp ý và cho ra kết luận vụ bà Khoàng Thị Ính chưa đủ điều kiện cưỡng chế Đề nghị Chi cục THADS huyện Mường Sài xác minh, bổ sung thêm các điều kiện khác, khi nào đủ điều kiện thì xây dựng kế hoạch cưỡng chế
Ngày 12/3/2019 Chấp hành viên Phạm Văn Lưỡng ra thông báo về việc xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản thi hành án và giao thông báo cho bà Khoàng Thị Ính, bà Ính đã nhận thông báo
Ngày 12/3/2019 bà Khoàng Thị Ính nộp 23.000.000 đồng Chấp hành viên đã tiến hành các thủ tục thu, chi theo quy định của pháp luật
Ngày 18/3/2019 Chấp hành viên Phạm Văn Lưỡng lập biên bản thỏa thuận giữa người được thi hành án là bà Lê Thị Dùng, người phải thi hành án là bà Khoàng Thị Ính và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Ngày 19/3/2019 Chấp hành viên Phạm Văn Lưỡng lập biên bản về việc người được thi hành án yêu cầu đình chỉ thi hành án Ngày 20/3/2019 Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện tài sản đối với thửa đất tại Tổ dân phố số 3, thị trấn Mường Sài, huyện Mường Sài Cùng ngày 20/3/2019 Chi cục trưởng Chi cục thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án đối với số tiền còn lại mà bà Khoàng Thị Ính phải thi hành theo điểm c, khoản 1 Điều 50 Luật THADS
Ngày 31/3/2019, Chấp hành viên lập báo cáo đối chiếu và đưa hồ vào lưu trữ theo quy định
NHẬN XÉT VÀ BÌNH LUẬN HỒ SƠ
I Nhận xét những điểm đã làm được và chưa làm được trong quá trình nhận đơn yêu cầu thi hành án, thụ lý, ra quyết định thi hành án của cơ quan Thi hành án.
1 Việc nhận đơn yêu cầu thi hành án, thụ lý thi hành án.
Trang 4Ngày 19/10/2018 Chi cục THADS huyện Mường Sài, tỉnh ABC nhận được đơn yêu cầu thi hành án của bà Lê Thị Dùng về việc yêu cầu thi hành khoản tiền trả nợ trong Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 03/2018/QĐST-DS ngày 20/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mường Sài, tỉnh ABC
Cán bộ thụ lý của Cơ quan thi hành án dân sự cần kiểm tra điều kiện tiếp nhận yêu cầu thi hành án:
- Kiểm tra thẩm quyền thi hành án: Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 35 Luật
THADS thì “ Cơ quan THADS cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết
định sau đây: …Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan THADS có trụ sở;…”
Đối chiếu với quy định trên thì quyết định công nhận sự thỏa thuận số 03/2018/ QĐST-DS ngày 20/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mường Sài, tỉnh ABC đã có hiệu lực pháp luật thuộc thẩm quyền thi hành của Chi cục THADS huyện Mường Sài, tỉnh ABC
- Kiểm tra hiệu lực thi hành của bản án, quyết định: Căn cứ Điều 2 Luật
THADS thì những bản án, quyết định được thi hành theo Luật THADS gồm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị Quyết định
công nhận sự thỏa thuận trong vụ việc này đã đóng dấu “Đã có hiệu lực pháp luật”.
Như vậy, quyết định công nhận sự thỏa thuận này đã có hiệu lực pháp luật
- Kiểm tra về thời hiệu yêu cầu thi hành án: Thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời
hạn mà người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành án; hết thời hạn đó thì mất quyền yêu cầu cơ quan THADS
tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật THADS Theo quy định tại khoản 1
Điều 30 Luật THADS thì “Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu
cơ quan THADS có thẩm quyền ra quyết định thi hành án” Quyết định công nhận sự
thỏa thuận số 03/2018/QĐST-DS ngày 20/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mường Sài, tỉnh ABC có hiệu lực ngay sau khi được ban hành (20/8/2018) đến ngày 16/10/2018 bà Lê Thị Dùng yêu cầu thi hành án Vì vậy, đối chiếu với quy định tại Điều 30 Luật THADS thì đương sự vẫn còn thời hiệu yêu cầu thi hành án
- Kiểm tra về quyền yêu cầu thi hành án: Theo quy định tại Điều 7, Điều 7a Luật
THADS thì người có quyền yêu cầu thi hành án là người được thi hành án và người phải thi hành án Vụ việc này, bà Lê Thị Dùng được xác định là người được thi hành
Trang 5án, được hưởng quyền, lợi ích trong Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 03/2018/ QĐST-DS ngày 20/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mường Sài, tỉnh ABC Do vậy, bà Lê Thị Dùng có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật
- Kiểm tra nội dung yêu cầu thi hành án và tài liệu kèm theo: Nội dung đơn yêu cầu
thi hành án của bà Lê Thị Dùng đầy đủ thông tin và rõ ràng, nội dung phù hợp với khoản phải thi hành trong Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 03/2018/QĐST-DS ngày 20/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mường Sài
Sau khi kiểm tra các điều kiện tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án, cán bộ thụ lý nhận thấy không có sai sót, vi phạm gì và đã tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành của bà Lê Thị Dùng, đóng dấu công văn đến đề ngày 19/10/2018, lập phiếu nhận đơn (Giấy biên nhận), vào sổ nhận yêu cầu thi hành án và ra quyết định thi hành án theo yêu cầu
2 Việc ra quyết định thi hành án
Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật THADS thì hời hạn ra quyết định thi hành án theo yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án Theo đó, ngày 19/10/2018 Chi cục THADS huyện Mường Sài, tỉnh ABC nhận được đơn yêu cầu thi hành án của bà Lê Thị Dùng, ngày 22/10/2018 Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện Mường Sài ra quyết định thi hành án theo yêu cầu là đúng thời hạn
Việc Chi cục trưởng chi cục THADS huyện Mường Sài, tỉnh ABC căn cứ khoản
1 Điều 23, khoản 1 Điều 35, khoản 1 khoản 3 Điều 36 và khoản 1 Điều 45 Luật THADS (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), khoản 1 Điều 7 Nghị định số 62/ND-CP ngày 18/7/2017 của Chính phủ để ra quyết định thi hành án là đúng quy định pháp luật Hình thức Quyết định được trình bày đúng theo quy định tại Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn một số thủ tục
về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong THADS (bút lục số 01)
Như vậy, cơ quan thi hành án đã thực hiện đúng các trình tự thủ tục trong việc nhận đơn yêu cầu thi hành án và ra quyết định thi hành án theo quy định của pháp luật
II Nhận xét những điểm đã làm được và chưa làm được trong quá trình tác nghiệp của Chấp hành viên.
1 Về thủ tục thông báo quyết định và giấy báo thi hành án.
- Thông báo quyết định, văn bản thi hành án
Trang 6Quyết định thi hành án theo yêu cầu ban hành ngày 22/10/2018, Chấp hành viên
đã ra “giấy báo” số 01/GB-THA ngày 22/10/2018 báo cho bà Khoàng Thị Ính là người phải thi hành án đúng 15 giờ 00 phút ngày 31/10/2018 phải có mặt tại Chi cục THADS huyện Mường Sài, tỉnh ABC để thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình (bút lục số 06)
Cùng ngày 22/10/2018 Chấp hành viên đã lập biên bản về việc giao quyết định, văn bản về thi hành án cho bà Khoàng Thị Ính là người phải thi hành án, bà Ính nhận quyết định, giấy báo và ký vào biên bản giao nhận (bút lục số 07) và đồng thời cũng tiến hành giao quyết định thi hành án đó cho người được thi hành án là bà Lê Thị Dùng (bút lục số 08)
Chấp hành viên đã thực hiện việc giao quyết định, giấy báo thi hành án là đúng quy định tại Điều 39 Luật THADS, Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS
- Thông báo quyết định về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản số 01/QĐ-CCTHADS ngày 04/12/2018, Chấp hành viên đã giao cho các đối tượng ngay trong ngày 04/12/2018 (bút lục số 20):
+ Giao cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Mường Sài, tỉnh ABC + Giao cho UBND thị trấn Mường Sài, huyện Mường Sài là nơi cư trú và nơi có
02 thửa đất của bà Ính
+ Giao cho phòng tài nguyên và môi trường huyện Mường Sài
+ Giao cho ủy ban nhân dân huyện Mường Sài
+ Giao cho bà Khoàng Thị Ính là người phải thi hành án, bà Ính nhận quyết định
và ký vào biên bản giao nhận (bút lục số 21)
Việc thông báo quyết định về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu,
sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đối với 01 thửa đất của bà Ính, Chấp hành viên đã giao cơ bản đúng người, đúng đối tượng Tuy nhiên, biên bản giao cho các cơ quan có liên quan không đúng theo biểu mẫu quy định tại Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn một số thủ tục về quản lý hành chính
và biểu mẫu nghiệp vụ trong THADS; Việc ký nhận quyết định tạm dừng của các cơ quan chỉ có chữ ký không có họ và tên của người nhận; Chấp hành viên chưa tiến hành giao Quyết định về tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản cho người được thi hành án là bà Lê Thị Dùng Chấp hành viên
Trang 7cần lưu ý việc giao quyết định về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu,
sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản cần giao cho Sở tư pháp để nhập vào hệ thống Uchi _ngăn ngừa rủi ro công chứng của Sở tư pháp (kèm theo công văn đề nghị Sở tư pháp gửi quyết định tới các văn phòng công chứng trong địa bàn tỉnh)
- Thông báo quyết định chấm dứt tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu,
sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản số 01/QĐ-CCTHADS ngày 20/3/2019 Chấp hành viên đã thực hiện việc thông báo quyết định này đúng người, đúng đối tượng, đúng thủ tục thông báo văn bản, quyết định THADS theo quy định tại Điều 39 Luật THADS, Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS Mẫu biên bản theo biểu mẫu quy định tại Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong THADS (bút lục số 70 đến 75)
Như vậy, về thủ tục thông báo, cơ bản chấp hành viên đã thực hiện đầy đủ việc thông báo các quyết định, văn bản giấy tờ về thi hành án cho đương sự và các cơ quan
có liên quan, đúng đối tượng và thời hạn Tuy nhiên, vẫn còn một số lỗi như: thiếu sót trong việc gửi quyết định cho một số cơ quan chuyên môn phối hợp trong THADS; không tuân thủ theo biểu mẫu biên bản giao nhận quyết định, văn bản thi hành án theo Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp Những lỗi vi phạm này là do thói quen, sự chủ quan, thiếu cẩn trọng trong tác nghiệp của Chấp hành viên
2 Về xác minh điều kiện thi hành án
- Ngày 22/10/2018 Chi cục THADS huyện Mường Sài ra quyết định thi hành án theo yêu cầu, ngày 01/11/2018 Chấp hành viên tổ chức xác minh điều kiện thi hành
án đối với bà Khoàng Thị Ính, Chấp hành viên yêu cầu bà Ính kê khai tài sản, thu nhập nhưng bà Ính không kê khai được, Chấp hành viên đã tiến hành xác minh trực tiếp điều kiện thi hành án của bà Ính với chính quyền địa phương, xác định được bà Ính có tài sản chung là 01 ngôi nhà sàn bằng gỗ 04 gian; đất ở có diện tích khoảng 224m2 đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thu nhập bằng lương hưu hàng tháng là 5.400.000 đồng (bút lục số 09) Việc xác minh của Chấp hành viên trong vụ việc này là đúng thời hạn theo quy định tại Khoản 1 Điều 44 Luật THADS Tuy nhiên, Chấp hành viên chưa chặt chẽ trong xác minh điều kiện thi hành án, theo quy định tại Điều 44 Luật THADS và Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS thì Chấp hành viên đã mắc một số lỗi sau: Xác minh tài sản là nhà đất,
Trang 8thu nhập và nhân thân của người phải thi hành án nhưng thành phần tham gia chỉ có phó chủ tịch UBND thị trấn và tổ trưởng tổ dân phố
- Ngày 19/11/2018 Chấp hành viên tiến hành xác minh điều kiện thi hành án tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Mường Sài thì xác minh được bà Ính đang sở hữu 02 thửa đất tại tổ dân phố số 3 và tổ dân phố số 8, thị trấn Mường Sài, huyện Mường Sài Việc xác minh điều kiện thi hành án của Chấp hành viên trong trường hợp này là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật, nội dung tương đối đầy đủ, thông tin về tài sản do người có thẩm quyền cung cấp, mẫu biên bản xác minh theo biểu mẫu quy định tại Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp Chấp hành viên đã sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 02 thửa đất trên (bút lục số 12 đến bút lục số 15) Tuy nhiên, nội dung biên bản xác minh Chấp hành viên chưa làm rõ:
- Nhà và 02 thửa đất trên có đang cầm cố, thế chấp, bảo lãnh hay không? đất có nằm trong quy hoạch, có tranh chấp không?
- Nhà, đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ai? Sở hữu chung hay sở hữu riêng?
- Chấp hành viên chưa tiến hành xác minh thi hành án tại Ngân hàng
Ngày 01/11/2018 Chấp hành viên tổ chức xác minh điều kiện thi hành án tại nhà
bà Khoàng Thị Ính, ngày 19/11/2018 Chấp hành viên tiến hành xác minh điều kiện thi hành án tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Như vậy, trong trường hợp này chấp hành viên còn chưa kịp thời, chưa quyết liệt trong việc xác minh và làm rõ về thông tin, tài sản của người phải thi hành án
Tóm lại: Việc xác minh điều kiện thi hành án của Chấp hành viên trong hồ sơ này cơ bản đúng thời hạn, tiến hành đúng theo quy định của pháp luật Tuy nhiên vẫn còn một số sai sót như: Thành phần tham gia xác minh không đầy đủ, chính xác, chưa làm rõ một số nội dung như tài sản là nhà, đất có đang cầm cố, thế chấp, sở hữu chung hay sở hữu riêng? Chưa kịp thời trong việc xác minh, còn để kéo dài thời gian xác minh, chưa tiến hành xác minh tại ngân hàng,…những sai sót này do Chấp hành viên chưa chuẩn bị kỹ kế hoạch xác minh, đối tượng xác minh, thành phần tham gia xác minh và do ý chí chủ quan của Chấp hành viên dẫn đến quá trình xác minh vẫn còn thiếu sót, chưa thực sự đầy đủ, rõ ràng
3 Về biện pháp thi hành án
Trong hồ sơ thi hành án, chấp hành viên đã áp dụng 03 biện pháp là tự nguyện; biện pháp đảm bảo thi hành án và biện pháp thỏa thuận thi hành án
Trang 93.1 Biện pháp tự nguyện thi hành án
Ngày 22/10/2018, Chi cục THADS huyện Mường Sài, tỉnh ABC thụ lý hồ sơ thi hành án và phân công chấp hành viên Phạm Văn Lưỡng tổ chức thi hành án Chấp hành viên đã cho người phải thi hành án thời gian tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thi hành án là 10 ngày tính từ ngày giao quyết định thi hành án cho bà Khoàng Thị Ính
hợp lệ (bút lục số 07) theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật THADS “Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án”.
3.2 Biện pháp bảo đảm thi hành án quyết định quyết định về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.
Hết thời hạn tự nguyện thi hành án, bà Ính vẫn không thực hiện nghĩa vụ thi hành
án của mình, Chấp hành viên đã tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của bà Ính
và ra quyết định quyết định về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đối với 01 thửa đất của bà Ính (bút lục số 19) Sau khi ra quyết định, bà Ính đã tự nguyện nộp số tiền là 30.000.000 đồng vào ngày 05/12/2018 (bút lục số 20) Số tiền còn lại phải thi hành án bà Ính chưa nộp
+ Về điều kiện áp dụng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật THADS thì
“Trường hợp cần ngăn chặn hoặc phát hiện đương sự có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh việc thi hành
án, Chấp hành viên ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án, tài sản chung của người phải thi hành án với người khác”.
Như vậy, đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền
sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản là người phải thi hành án; tài sản bị áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản là tài sản đã đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Đối chiếu với tình huống trong hồ sơ, bà Ính là người phải thi hành án, 02 thửa đất đều đứng tên bà Ính và đã đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Như vậy, Chấp hành viên áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản là đúng Tuy nhiên, trong
vụ việc này Chấp hành viên chỉ áp dụng biện pháp biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đối với 01 thửa đất của bà Ính tại tổ dân phố số 3, thị trấn Mường Sài, huyện Mường Sài Thửa đất tại tổ dân phố
Trang 10số 8 Chấp hành viên vẫn chưa tiến hành biện pháp bảo đảm nào Bởi lẽ, Chấp hành viên nhận thấy nghĩa vụ mà bà Khoàng Thị Ính phải thi hành án vơi số tiền là 237.320.000 đồng không quá lớn hoặc Chấp hành viên xét thấy không cần ngăn chặn đối với thửa đất tại Tổ dân phố số 8, thị trấn Mường Sài nên Chấp hành viên áp dụng nguyên tắc tương ứng chỉ tiến hành áp dụng biên pháp tạm dừng đối với 01 thửa đất tại tổ dân phố 3, thị trấn Mường Ch Tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số
62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 24 Nghị định này …” Vì vậy, việc
áp dụng biện pháp của Chấp hành viên trong trường hợp này là đúng quy định của pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cả hai bên
+ Tiến hành xác minh: Theo quy định tại 1 Điều 69 Luật THADS thì cơ quan
THADS được áp dụng biện pháp này đối với “tài sản của người phải thi hành án hoặc tài sản chung của người phải thi hành án với người khác” Chính vì vậy, để
khẳng định tài sản mà mình áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền
sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản có phải là của người phải thi hành án hay
là tài sản chung của người phải thi hành án với người khác thì chấp hành viên cần tiến hành xác minh Trong hồ sơ Chấp hành viên đã tiến hành xác minh tại địa phương, tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, đều xác minh được quyền sử dụng 02 thửa đất đều đứng tên bà Ính Vì vậy, việc áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của Chấp hành viên là có đủ căn
cứ, đúng theo quy định của pháp luật
+ Ra quyết định về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản: Chấp hành viên căn cứ khoản 5 Điều 20, Điều 66, Điều 69 Luật THADS; Điều 19 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ
để áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án là đúng quy định, đúng biểu mẫu tại Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong THADS
+ Gửi quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay
đổi hiện trạng tài sản: Theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Luật THADS thì “ Quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đó” quyết định về