Kể từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam dần thoát khỏi tình trạng lạc hậu, kém hiệu quả, đạt được nhiều kết quả và thành tựu đáng mừng.Ngày nay, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định chiến lược tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nhanh, bền vững; “phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” 14. Để có thể đạt được những kết quả đó, một trong những điều kiện tiên quyết là phải có chính sách quản lý kinh tế vĩ mô phù hợp, trong đó có sự đóng góp đáng kể của CSTT với các công cụ quản lý và điều hành như: lãi suất, hạn mức tín dụng, DTBB, tái chiết khấu, tỷ giá hối đoái, nghiệp vụ TTM.CSTT của NHNN giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định tiền tệ, kết hợp hài hòa với các chính sách quản lý vĩ mô khác tạo nền tảng cho chiến lược phát triển kinh tế bền vững. Do đó, việc đánh giá hiệu quả điều hành CSTT và tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả CSTT luôn được đặc biệt quan tâm.Thực tiễn của nhiều nước trên thế giới cho thấy để CSTT có hiệu quả, trước hết phải xác định rõ các mục tiêu của CSTT phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế; tiếp đến là lựa chọn, xây dựng và điều hành có hiệu quả hệ thống các công cụ CSTT nhằm góp phần đạt được mục tiêu cuối cùng.Những năm 90 của thế kỷ XX giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, Việt Nam chủ yếu sử dụng các công cụ CSTT trực tiếp. Từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay, NHNN đã từng bước chuyển sang sử dụng các công cụ gián tiếp để quản lý mức cung tiền có hiệu quả hơn. Điều đó cho thấy chính sách quản lý và điều hành tiền tệ Việt Nam đang từng bước hoà nhập với xu thế chung của quốc tế. Việc đánh giá hiệu quả điều hành CSTT qua việc sử dụng các công cụ, đặc biệt là hệ thống các công cụ gián tiếp, một mặt, nhằm tổng kết lại những thành công của NHNN Việt Nam trong việc duy trì sự ổn định tiền tệ cho mục tiêu phát triển đất nước, mặt khác giúp chỉ ra những tồn tại trong quá trình sử dụng các công cụ này. Trên cơ sở đó, với mục tiêu nghiên cứu là tìm kiếm những giải pháp tối ưu hóa hiệu quả quản lý và điều hành CSTT Việt Nam qua việc sử dụng nhóm công cụ gián tiếp, em xin lựa chọn nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ gián tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.2.Mục đích nghiên cứuGóp phần hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận cơ bản về sử dụng các công cụ, đặc biệt là công cụ gián tiếp trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam trong nền kinh tế thị trường.Nêu lên thực trạng điều hành CSTT của NHNN thông qua việc sử dụng các công cụ gián tiếp trong những năm qua, những điểm đạt được và những điểm chưa đạt được; từ đó đề xuất một số giải pháp để giải quyết những tồn tại, nâng cao hiệu quả điều hành CSTT, góp phần đảm bảo sự hoạt động ổn định và phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước.3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu: hiệu quả điều hành CSTT thông qua việc sử dụng các công cụ gián tiếp của NHNN Việt Nam.Phạm vi nghiên cứu: CSTT của NHNN Việt Nam giai đoạn từ năm 1990 đến tháng 6 năm 2012.4.Phương pháp nghiên cứuPhương pháp luận nghiên cứu:Việc nghiên cứu đề tài này sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Phương pháp phân tích tài liệu:Thu thập các tài liệu có liên quan đến CSTT của NHNN Việt Nam qua các thời kỳ; nêu lên thực trạng và các giải pháp đã, đang thực hiện, trên cơ sở đó thực hiện phân tích hiệu quả điều hành CSTT thông qua việc sử dụng các công cụ, từ đó đề xuất các giải pháp cần thiết khắc phục những tồn tại, đảm bảo hoạt động của nền kinh tế phát triển bền vững.5.Kết cấu của luận vănNgoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:Chương 1: Cơ sở luận về Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ.Chương 2: Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ gián tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.Chương 3: Hoàn thiện các công cụ gián tiếp nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TAO HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
TẠ LAN PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ HI U QU ĐI U HÀNH CHÍNH SÁCH TI N ỆU QUẢ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN Ả ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN ỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN ỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆU QUẢ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN THÔNG QUA VI C S D NG CÁC CÔNG C GIÁN TI P ỆU QUẢ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN Ử DỤNG CÁC CÔNG CỤ GIÁN TIẾP ỤNG CÁC CÔNG CỤ GIÁN TIẾP ỤNG CÁC CÔNG CỤ GIÁN TIẾP ẾP
C A NGÂN HÀNG NHÀ N ỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ƯỚC VIỆT NAM C VI T NAM ỆU QUẢ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2Hà Nội – 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ với đề tài “Đánh giá hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ gián tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi, được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Mai Thanh Quế Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và rõ ràng, chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Tạ Lan Phương
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 10
1.1 NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 11
1.1.1 Sự ra đời của Ngân hàng trung ương 11
1.1.2 Vị trí của Ngân hàng trung ương 11
1.1.3 Chức năng của Ngân hàng trung ương 13
1.1.4 Vai trò quản lý nhà nước của Ngân hàng trung ương 15
1.2 CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 16
1.2.1 Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ 16
1.2.2 Hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ 17
1.2.3 Kênh truyền dẫn sự tác động của chính sách tiền tệ 21
1.2.4 Hệ thống công cụ sử dụng trong quản lý và điều hành chính sách tiền tệ 23
1.3 HIỆU QUẢ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ GIÁN TIẾP 30
1.3.1 Hiệu quả chính sách tiền tệ 30
1.3.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ gián tiếp 31
1.3.3 Một số yếu tố tác động tới hiệu quả của chính sách tiền tệ 34
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ GIÁN TIẾP CỦA NGÂN HÀNG
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 36
2.1 SỰ ĐỔI MỚI TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ 37
2.1.1 Giai đoạn những năm đầu của thời kỳ đổi mới 37
2.1.2 Giai đoạn những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI 42
2.2 THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ GIÁN TIẾP CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 43
2.2.1 Các công cụ gián tiếp đã sử dụng trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 43
2.2.2 Sự khác biệt trong điều hành chính sách tiền tệ bằng công cụ gián tiếp so với công cụ trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 70
2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ GIÁN TIẾP CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 71
2.3.1 Những thành tựu đạt được 71
2.3.2 Những vấn đề còn tồn tại 73
2.3.3 Nguyên nhân tồn tại 80
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CÁC CÔNG CỤ GIÁN TIẾP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 84
3.1 MỤC TIÊU ĐỊNH HƯỚNG 84
3.1.1 Mục tiêu phát triển ngành ngân hàng 84
3.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm trong chỉ đạo điều hành của Chính phủ về chính sách tiền tệ giai đoạn hiện nay 84
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 87
3.2.1 Giải pháp chung 87
3.2.2 Giải pháp cụ thể đối với nhóm công cụ gián tiếp 96
3.3 KIẾN NGHỊ 104
3.3.1 Đối với Chính phủ 104
Trang 53.3.2 Đối với các Bộ, ngành liên quan 105 3.3.3 Đối với Ngân hàng Nhà nước 107
KẾT LUẬN 108 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1: Đặc điểm nhóm công cụ trực tiếp và gián tiếp của CSTT 20
2.1: Tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12
2.2: Tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12
2.5: Doanh số giao dịch thị trường mở từ năm 2000 - 2007 632.6: Số lượng thành viên và tần suất giao dịch thị trường mở 642.7: Mức cung ứng ròng qua TTM từ năm 2008 - tháng 6/2012 662.8: Doanh số giao dịch thị trường mở từ năm 2008 - tháng 6/2012 692.9: Tốc độ tăng trưởng tiền tệ, tín dụng từ năm 2001 - 2011 76
2.10: Lãi suất huy động tối đa bằng đồng Việt Nam từ năm 2011 -
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 72.1: Mức lạm phát giai đoạn những năm đầu thời kỳ đổi mới 382.2: Tăng trưởng GDP giai đoạn những năm đầu thời kỳ đổi mới 39
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
1.1: Mô hình NHTW trực thuộc và độc lập với Chính phủ 6
3.1: Mô hình tổ chức giám sát tài chính Việt Nam hiện nay 953.2: Mô hình tổ chức giám sát tài chính Việt Nam trong tương lai 96
3.4: Mối liên hệ giữa các loại lãi suất trên thị trường 111
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nềnkinh tế Việt Nam dần thoát khỏi tình trạng lạc hậu, kém hiệu quả, đạt được nhiều kết quả vàthành tựu đáng mừng
Ngày nay, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta luôn xác địnhchiến lược tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nhanh, bền vững; “phấnđấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xãhội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đượcnâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế củaViệt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơntrong giai đoạn sau” [14] Để có thể đạt được những kết quả đó, một trong những điều kiện tiênquyết là phải có chính sách quản lý kinh tế vĩ mô phù hợp, trong đó có sự đóng góp đáng kể củaCSTT với các công cụ quản lý và điều hành như: lãi suất, hạn mức tín dụng, DTBB, tái chiếtkhấu, tỷ giá hối đoái, nghiệp vụ TTM
CSTT của NHNN giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định tiền tệ, kết hợp hàihòa với các chính sách quản lý vĩ mô khác tạo nền tảng cho chiến lược phát triển kinh tế bềnvững Do đó, việc đánh giá hiệu quả điều hành CSTT và tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quảCSTT luôn được đặc biệt quan tâm
Thực tiễn của nhiều nước trên thế giới cho thấy để CSTT có hiệu quả, trước hết phải xácđịnh rõ các mục tiêu của CSTT phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế; tiếp đến là lựachọn, xây dựng và điều hành có hiệu quả hệ thống các công cụ CSTT nhằm góp phần đạt đượcmục tiêu cuối cùng
Những năm 90 của thế kỷ XX - giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, Việt Nam chủ yếu sửdụng các công cụ CSTT trực tiếp Từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay, NHNN đã từng bướcchuyển sang sử dụng các công cụ gián tiếp để quản lý mức cung tiền có hiệu quả hơn Điều đócho thấy chính sách quản lý và điều hành tiền tệ Việt Nam đang từng bước hoà nhập với xu thếchung của quốc tế
Việc đánh giá hiệu quả điều hành CSTT qua việc sử dụng các công cụ, đặc biệt là hệthống các công cụ gián tiếp, một mặt, nhằm tổng kết lại những thành công của NHNN Việt Nam
Trang 10trong việc duy trì sự ổn định tiền tệ cho mục tiêu phát triển đất nước, mặt khác giúp chỉ ra nhữngtồn tại trong quá trình sử dụng các công cụ này Trên cơ sở đó, với mục tiêu nghiên cứu là tìmkiếm những giải pháp tối ưu hóa hiệu quả quản lý và điều hành CSTT Việt Nam qua việc sử
dụng nhóm công cụ gián tiếp, em xin lựa chọn nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả điều hành
chính sách tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ gián tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.
2 Mục đích nghiên cứu
- Góp phần hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận cơ bản về sử dụng các công cụ, đặc biệt
là công cụ gián tiếp trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
- Nêu lên thực trạng điều hành CSTT của NHNN thông qua việc sử dụng các công cụ giántiếp trong những năm qua, những điểm đạt được và những điểm chưa đạt được; từ đó đề xuất một
số giải pháp để giải quyết những tồn tại, nâng cao hiệu quả điều hành CSTT, góp phần đảm bảo
sự hoạt động ổn định và phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hiệu quả điều hành CSTT thông qua việc sử dụng các công cụ giántiếp của NHNN Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: CSTT của NHNN Việt Nam giai đoạn từ năm 1990 đến tháng 6 năm2012
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài này sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp phân tích tài liệu:
Thu thập các tài liệu có liên quan đến CSTT của NHNN Việt Nam qua các thời kỳ; nêulên thực trạng và các giải pháp đã, đang thực hiện, trên cơ sở đó thực hiện phân tích hiệu quảđiều hành CSTT thông qua việc sử dụng các công cụ, từ đó đề xuất các giải pháp cần thiết khắcphục những tồn tại, đảm bảo hoạt động của nền kinh tế phát triển bền vững
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
3 chương:
- Chương 1: Cơ sở luận về Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ
Trang 11- Chương 2: Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụgián tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Chương 3: Hoàn thiện các công cụ gián tiếp nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sáchtiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
CHƯƠNG 1
Trang 12CƠ SỞ LUẬN
VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.1 NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.1.1 Sự ra đời của Ngân hàng trung ương
Quá trình hình thành và phát triển của NHTW gắn với quá trình chuyển hóa NHTM thànhngân hàng phát hành Khi các ngân hàng đều có quyền phát hành tiền và tiền phát hành có thểdưới dạng các chứng thư hay kỳ phiếu thay cho vàng, sự bất ổn định trong lưu thông tiền tệ xuấthiện, Nhà nước bắt đầu khó kiểm soát lượng tiền trong lưu thông Vì vậy, Nhà nước buộc phảican thiệp bằng cách thống nhất việc phát hành tiền tập trung vào một số ngân hàng lớn Các ngânhàng này với những mức độ khác nhau từng bước đã thực hiện các chức năng của một NHTW,
đó là: phát hành tiền, kiểm soát lưu thông tiền tệ, là ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàngcủa Chính phủ
Trước sự cần thiết của Nhà nước với vai trò quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế đang ngàycàng phát triển, tổ chức và chức năng của NHTW dần được hoàn thiện Khi các NHTW đượcquốc hữu hóa, mô hình NHTW hiện đại ra đời, hoạt động với các chức năng: độc quyền pháthành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, là ngân hàng của Chính phủ và thực hiện vai trò điềutiết vĩ mô nền kinh tế
Như vậy, NHTW ra đời xuất phát từ yêu cầu của quản lý và điều tiết lưu thông tiền tệ,thực hiện nhiệm vụ ổn định tiền tệ, đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn và cóhiệu quả để phát triển nền kinh tế
Trải qua các giai đoạn phát triển, đến nay có thể khẳng định bản chất của NHTW “là mộtđịnh chế công cộng, có thể độc lập hoặc trực thuộc Chính phủ; thực hiện chức năng độc quyềnphát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của Chính phủ và chịu trách nhiệmtrong việc quản lý Nhà nước về các hoạt động về tiền tệ, tín dụng cho mục tiêu phát triển và ổnđịnh của cộng đồng” [8, tr.280-281]
1.1.2 Vị trí của Ngân hàng trung ương
Tùy thuộc vào đặc điểm ra đời, thể chế chính trị, trình độ phát triển của nền kinh tế cũngnhư tập quán, bản sắc văn hóa của từng quốc gia, vùng lãnh thổ mà mô hình NHTW được quyếtđịnh độc lập hay trực thuộc vào Chính phủ
Trang 13Tính độc lập của NHTW thể hiện ở sự độc lập về nhân sự, tài chính và chức năng nghiệp
vụ, trong đó đặc biệt về các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực hiện CSTT
Mục tiêu cao nhất của sự độc lập là NHTW đạt được sự chủ động trong điều tiết tiền tệnhằm đạt được sự ổn định giá trị tiền tệ trong từng giai đoạn
Thực tế, mỗi mô hình đều bộc lộ những ưu, nhược điểm riêng có Tùy vào cách định dạng
mô hình tổ chức kinh tế - xã hội, chúng sẽ trở thành yếu tố định vị mô hình tổ chức và tính chấtcủa NHTW Giả dụ, trong khi mô hình “độc lập” được cho là phù hợp với bối cảnh nền kinh tếphát triển ổn định và dân chủ, mà ở đó tính giám sát được đặt cao hơn sự đồng thuận và hậuthuẫn kinh tế (của mô hình “trực thuộc” Chính phủ) thì với mô hình “trực thuộc”, NHTW dễ trởthành công cụ duy ý chí của Chính phủ trong điều hành và quản lý vĩ mô, giảm tính chủ độngtrong thực thi các chức năng vốn có và bị hạn chế trong việc bám sát các mục tiêu dài hạn
Trên thế giới hiện tồn tại cả hai mô hình NHTW độc lập và trực thuộc Tuy vậy, mức độ
“độc lập” và “trực thuộc” cũng chỉ mang tính tương đối và chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khácnhư ảnh hưởng của Chính phủ đối với cơ cấu nhân sự của NHTW theo mô hình “độc lập” hoặcnhận thức và tính quyết đoán của người đứng đầu cơ quan này ở mô hình “trực thuộc”
Sơ đồ 1.1: Mô hình NHTW trực thuộc và độc lập với Chính phủ
Tái chiết khấuHoạt động TTMDTBB
Pháp luật, biện pháp hành chính:
Ngân sáchKinh tế công cộng
Trợ cấp, bảo hiểm
Mục tiêu
Trang 14Nguồn: Học viện ngân hàng (2008), Giáo trình tiền tệ - ngân hàng
[8, tr.286-287]
Dù được thiết kế theo hình thức nào, NHTW vẫn phải đảm bảo thực hiện được nhữngchức năng trọng tâm của mình, hướng tới việc đạt được các mục tiêu: duy trì mức giá cả ổn định,tạo công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế
1.1.3 Chức năng của Ngân hàng trung ương
Chức năng của NHTW là những “tính năng” đặc trưng và cơ bản của cơ quan này Trên
cơ sở khai thác những “tính năng” đó, các mục tiêu về quản lý kinh tế - xã hội phù hợp sẽ được
cụ thể hóa thành nhiệm vụ và triển khai vào thực tế
NHTW có ba chức năng cơ bản, đó là:
- Phát hành và điều tiết tiền tệ;
- Ngân hàng của các ngân hàng;
- Ngân hàng của Chính phủ
1.1.3.1 Phát hành và điều tiết tiền tệ
Đây là chức năng cơ bản và quan trọng hàng đầu của NHTW Thực hiện chức năng này sẽtạo nên những biến đổi trong cung ứng và lưu thông tiền tệ của quốc gia và do đó tác động lênmọi mặt hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội
Do Nhà nước là chủ thể nắm độc quyền phát hành tiền (giấy bạc ngân hàng và tiền kimloại) nên đó là những phương tiện thanh toán hợp pháp duy nhất trong một quốc gia có thể thựchiện chức năng phương tiện lưu thông và thanh toán không hạn chế
Các kênh phát hành tiền của NHTW ra nền kinh tế có thể kể đến như kênh Chính phủ,kênh các NHTG, kênh TTM, kênh thị trường vàng và ngoại tệ, và qua phát hành cân đối (trên cơ
sở bảng tổng kết tài sản Nợ - Có của NHTW)
Như vậy, với chức năng này NHTW trở thành trung tâm điều hành tiền tệ của nền kinh tế
Vì vậy, vai trò độc quyền của NHTW không chỉ đề cập đến quyền lực mà còn thể hiện tráchnhiệm trong việc xác định số lượng tiền cần phát hành và thời điểm phát hành cũng như phươngthức phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế
1.1.3.2 Ngân hàng của các ngân hàng
Trang 15Chức năng này của NHTW được thể hiện qua nội dung của các dịch vụ cơ bản mà mộtngân hàng cung ứng cho khách hàng mà ở đây là các NHTG, cụ thể:
- Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các NHTG:
Do đặc trưng của hoạt động trung gian tài chính, yêu cầu về đảm bảo thanh khoản vàthanh toán trong và ngoài hệ thống, các NHTG mở tài khoản tại NHTW để thực hiện tiền gửi bắtbuộc và tiền gửi giao dịch (tiền gửi thanh toán)
Việc thực hiện tiền gửi DTBB nhằm giúp các NHTG đảm bảo khả năng thanh toán trướcnhu cầu rút tiền mặt của khách hàng đồng thời đây cũng là một công cụ điều hành CSTT Ngoàikhoản DTBB, các NHTG còn phải duy trì thường xuyên một lượng tiền gửi trên tài khoản thanhtoán tại NHTW đủ để thực hiện các nhu cầu chi trả trong thanh toán với các ngân hàng khác hoặcđáp ứng các nhu cầu giao dịch với NHTW
- Là trung tâm thanh toán cho hệ thống NHTG:
Với sự tiếp nhận tiền gửi và cho vay đối với NHTG, NHTW đương nhiên trở thành trunggian thanh toán của toàn hệ thống ngân hàng Khi đó, NHTW tổ chức thanh toán bù trừ hoặcthanh toán từng lần giữa các ngân hàng, trong đó thanh toán bù trừ là phương tiện chủ yếu để đẩynhanh tốc độ thanh toán trong nền kinh tế và phản ánh chính xác quan hệ thanh toán giữa các chủthể kinh tế trong xã hội Mặt khác, thông qua hoạt động này, NHTW có thể kiểm tra sự biến độngvốn khả dụng của từng NHTG là cơ sở để có những kiến nghị kịp thời
- Cấp tín dụng cho các NHTG:
NHTW cấp tín dụng cho các NHTG thông qua các hình thức tái chiết khấu các chứng từ
có giá, cấp vốn thông qua cho vay các tổ chức này; mua bán các GTCG, qua đó điều tiết lượngvốn trên thị trường (phát hành thêm tiền trung ương theo kế hoạch, bổ sung lượng vốn khả dụngcho hoạt động của NHTG một cách thường xuyên) và hình thức TCV với tư cách là cứu cánh chovay cuối cùng trong trường hợp có TCTD gặp khó khăn tài chính, có nguy cơ làm ảnh hưởng đến
sự an toàn của cả hệ thống
1.1.3.3 Ngân hàng của Chính phủ
Vì NHTW có lợi thế kinh tế và bởi mối liên hệ giữa các vấn đề tài chính công với các vấn
đề về tiền tệ mà cơ quan này hoạt động với tư cách là ngân hàng của Chính phủ
NHTW có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho Chính phủ, đồng thời làm đại lý
và tư vấn chính sách cho Chính phủ Các dịch vụ ngân hàng mà NHTW cung cấp cho Chính phủbao gồm:
Trang 16- Làm thủ quỹ cho Kho bạc Nhà nước:
Ở nhiều nước, NHTW là cơ quan quản lý tiền cho Chính phủ Chính phủ sẽ mở tài khoảngiao dịch tại NHTW Tùy theo đặc điểm tổ chức của từng nước, Chính phủ có thể ủy quyền cho
Bộ Tài chính hoặc Kho bạc đứng tên chủ tài khoản tại NHTW Các khoản thu của Nhà nước dướidạng thuế, lợi nhuận hoặc các khoản thu khác được gửi vào tài khoản NHTW có trách nhiệmtheo dõi, chi trả lãi, thực hiện thanh toán và cấp vốn theo yêu cầu của Kho bạc và sử dụng số dư
đó khi nhàn rỗi tương tự như tài khoản của khách hàng tại một NHTM
Ngoài việc giữ và quản lý tài khoản cho Chính phủ, NHTW còn thực hiện vai trò đại lý vàcấp tín dụng cho Chính phủ khi cần thiết Hơn nữa, để đảm bảo nguyên tắc quản lý nguồn dự trữquốc gia, Kho bạc buộc phải gửi vàng, ngoại tệ và các GTCG bằng ngoại tệ tại NHTW
- Làm đại lý và tư vấn cho Chính phủ:
Hoạt động thường xuyên và hiệu quả mà NHTW thực hiện với vai trò này là làm đại lýtrong việc phát hành chứng khoán cho Chính phủ khi Chính phủ cần bù đắp thiếu hụt ngân sách
NHTW còn đại diện cho Chính phủ tại các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, ký kết cácđiều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo sự ủy quyền của Chính phủ
Vì vậy, NHTW có khả năng tham gia vào quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh
tế xã hội, ban hành các thể chế hoạt động ngân hàng đồng thời tư vấn cho Chính phủ về các vấn
đề tài chính tiền tệ
- Cho Chính phủ vay:
Trong trường hợp Chính phủ cần bù đắp thiếu hụt tạm thời trong năm tài chính hoặc bộichi ngân sách vào cuối năm tài chính, NHTW có thể cung ứng cho Chính phủ các khoản tíndụng Tuy nhiên, việc cho ngân sách vay trực tiếp thực chất làm tăng lượng tiền mặt và dự trữcủa các ngân hàng dẫn đến tăng lượng tiền cung ứng và nguy cơ lạm phát Vì vậy, hiện nay cácNHTW đã hạn chế cấp tín dụng trực tiếp cho Chính phủ mà thực hiện cấp gián tiếp thông qua táichiết khấu các trái phiếu Kho bạc tại các NHTG
1.1.4 Vai trò quản lý nhà nước của Ngân hàng trung ương
Đây là đặc điểm quyết định bản chất NHTW của một ngân hàng phát hành Việc thực hiệnvai trò này không thể tách rời khỏi các nghiệp vụ ngân hàng của NHTW Nói cách khác, NHTWquản lý vĩ mô các hoạt động tiền tệ và tín dụng thông qua khả năng kinh doanh của mình
- NHTW có trách nhiệm xây dựng và thực hiện CSTT quốc gia:
Trang 17CSTT là trọng tâm hoạt động của một NHTW Đây là chính sách kinh tế vĩ mô mà trong
đó NHTW sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lượng tiền cung ứng vàolưu thông Bởi mỗi sự tăng lên hay giảm đi của khối lượng tiền cung ứng có tác động sâu sắc vàtoàn diện đến hoạt động kinh tế vĩ mô (sản lượng, giá cả và công ăn việc làm) thông qua các kênhtruyền dẫn (tín dụng, tỷ giá, lãi suất, giá tài sản) nên việc chủ động kiểm soát và điều tiết khốilượng tiền trong nền kinh tế là trọng tâm của CSTT
- Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng:
Nhằm đảm bảo sự ổn định trong hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của khách hàng,đặc biệt là người gửi tiền trong quan hệ với ngân hàng, thông qua các hoạt động của mình,NHTW thực hiện vai trò điều tiết, giám sát thường xuyên hoạt động của các ngân hàng kinhdoanh
1.2 CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Bằng cách định vị vị trí, chức năng của NHTW trong bộ máy quản lý vĩ mô, vai trò của cơquan này đối với các mục tiêu kinh tế - xã hội được xác định tập trung chủ yếu ở hiệu quả sửdụng công cụ CSTT
1.2.1 Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ
1.2.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ
CSTT là một trong những chính sách quản lý kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW thông quacác công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng (hoặc lãisuất thị trường) căn cứ vào nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế, nhằm đạt được các mục tiêu về giá cả,sản lượng và công ăn việc làm [8, tr.318]
Bằng cách tạo ra sự biến động về tiền tệ (mở rộng hay thu hẹp), các nhà quản lý có thể tácđộng gián tiếp đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô và hướng dẫn nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế Việcchủ động tạo ra các biến động về các điều kiện tiền tệ như mức cung tiền hay lãi suất với mụcđích xác định là bản chất của CSTT [8, tr.319-320]
Như vậy, CSTT là hệ thống các quan điểm, các chủ trương và biện pháp của Nhà nướcnhằm tác động và điều chỉnh các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng và ngoại hối, tạo ra sự ổnđịnh của lưu thông tiền tệ để thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển
Tùy điều kiện mà CSTT có thể được xác lập theo hai hướng: CSTT mở rộng (tăng cungtiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng -CSTT chống thất nghiệp) hoặc CSTT thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào
Trang 18sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng - CSTT ổn định giá trị đồngtiền).
1.2.1.2 Vị trí của chính sách tiền tệ
Các chính sách kinh tế vĩ mô chính là các công cụ điều tiết nền kinh tế, bao gồm: chínhsách tài khóa (thuế, chi tiêu chính phủ), CSTT (mức cung tiền, lãi suất thị trường), chính sách thunhập (tiền lương, giá cả), chính sách kinh tế đối ngoại (xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài).Trong đó, CSTT là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnhvực lưu thông tiền tệ Đồng thời, CSTT cũng có quan hệ chặt chẽ và có mối tác động với cácchính sách kinh tế vĩ mô khác Tuy nhiên, CSTT có vai trò tương đối độc lập với các chính sáchkhác xuất phát từ 3 luận điểm sau:
- Sẽ không có tăng trưởng kinh tế nếu không có đầu tư
- Không thể có đầu tư mà không có tiết kiệm
- Không thể có tiết kiệm nếu thiếu sự ổn định giá cả và tiền tệ
Thực tế cho thấy, CSTT luôn là một chính sách quan trọng bậc nhất để duy trì sự ổn địnhcho nền kinh tế và góp phần tạo nên tăng trưởng bền vững cho mỗi quốc gia thông qua việc điềutiết lượng tiền trong nền kinh tế phù hợp với sự tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội thực(GDP thực), lượng hàng hóa, cũng như nhu cầu tiêu dùng và đầu tư của dân chúng, NHTW duytrì ổn định giá trị đồng tiền, góp phần quan trọng để tạo ra và duy trì một môi trường kinh tế vĩ
mô phù hợp, hài hòa và ổn định, tối đa hóa việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
1.2.2 Hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ
Nằm trong tổng thể các mục tiêu quản lý vĩ mô, CSTT hướng tới các mục tiêu có thể đạtđược trên cơ sở vận hành các công cụ và giải pháp tiền tệ
1.2.2.1 Mục tiêu cuối cùng
Mục tiêu cuối cùng của CSTT là các kết quả kỳ vọng thu được từ điều hành và quản lý vĩ
mô thông qua công cụ CSTT Các mục tiêu này có đặc điểm chung là dài hạn và mang tầm chiếnlược Do đó, để đánh giá, kiểm soát hiệu quả của chúng trong ngắn hạn tương đối khó khăn vàphiến diện Các mục tiêu này bao gồm:
a Ổn định giá cả
Ổn định giá cả hay nghĩa hẹp là ổn định giá trị tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát là mục tiêudài hạn và là mục tiêu kinh tế - tài chính trọng điểm trong CSTT của mỗi quốc gia Giá trị đồng
Trang 19tiền ổn định được xem xét trên hai mặt: sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả hàng hóa vàdịch vụ trong nước) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ).
Ổn định giá cả và ổn định giá trị tiền tệ thường được phân biệt như sau: Ổn định giá cảbao gồm cả ổn định giá trị tiền tệ và kiểm soát các nhân tố khác làm tăng giá cả Trong khi ổnđịnh giá trị tiền tệ chỉ bao gồm việc kiểm soát tiền tệ của NHTW Tại Việt Nam, CSTT nhằmhướng tới ổn định giá trị tiền tệ Việc ổn định giá cả là trách nhiệm của Chính phủ và các Bộ,ngành có liên quan
Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát triển kinh tế của quốc gia vì
nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô Mức lạm phát thấp
và ổn định tạo nên môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo sự phân bổnguồn lực xã hội một cách hiệu quả [8, tr.320-321]
b Tăng trưởng kinh tế
Mục tiêu của bất kỳ một chính sách kinh tế vĩ mô nào là nhằm tạo nên một nền kinh tếphồn thịnh với tốc độ tăng trưởng ổn định, bởi điều đó sẽ đảm bảo các chính sách xã hội đượcthỏa mãn
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu mang tính ngắn hạn và chu kỳ Đường cong Phillips (xem
Hình 1.1) mô tả mối quan hệ thực nghiệm về tỷ lệ thất nghiệp thấp hay tỷ lệ tăng trưởng cao có
thể đạt được trong ngắn hạn thông qua chính sách mở rộng và tỷ lệ lạm phát cao Tuy nhiên,trong dài hạn, do năng lực của nền kinh tế là có giới hạn nên sự tăng trưởng kinh tế và giảm thấtnghiệp không được duy trì, trong khi đó, tỷ lệ lạm phát có thể tiếp tục tăng
Vì vậy, CSTT phải đảm bảo sự tăng lên cả về khối lượng của tổng sản phẩm quốc nội thực
tế (là tỷ lệ tăng trưởng đã trừ đi tỷ lệ tăng giá cùng thời kỳ) và chất lượng tăng trưởng (được biểuhiện ở một cơ cấu kinh tế cân đối và khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hóa trong nước tănglên) Đây chính là căn cứ để ổn định tiền tệ trong nước, cải thiện tình trạng cán cân thanh toánquốc tế và khẳng định vị trí của nền kinh tế trên thị trường quốc tế
c Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ
CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng hiệu quả các nguồnlực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế
Vì tỷ lệ thất nghiệp phản ánh khả năng sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội và là một trongnhững chỉ tiêu phản ánh sự thịnh vượng của nền kinh tế nên CSTT phải quan tâm đến khả năngtạo công căn việc làm, giảm áp lực xã hội của thất nghiệp
Trang 20Ngoài các mục tiêu vĩ mô trên, tùy thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế đặc thù mà một
số nước còn tập trung vào các mục tiêu cụ thể Chẳng hạn NHNN Việt Nam nhằm mục tiêu ổnđịnh hệ thống các TCTD thay vì đảm bảo công ăn việc làm; Cục dự trữ Liên bang Mỹ theo đuổicác mục tiêu về ổn định thị trường tài chính, ổn định lãi suất [8, tr.322]
d Mối quan hệ giữa các mục tiêu
Mục tiêu của CSTT hầu như thống nhất ở các nước Sự điều chỉnh lượng tiền cung ứngnhằm mục tiêu trước hết là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ sở đó góp phần tăng trưởng kinh tế vàcông ăn việc làm
Mô tả mối quan hệ giữa các mục tiêu của CSTT trên cơ sở đường cong Phillips, có thểnhận thấy mặc dù về dài hạn các mục tiêu này không phát sinh mâu thuẫn, song trong ngắn hạn,
sự mâu thuẫn có thể phát sinh
Nguồn: Tổng hợp [14]
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các mục tiêu của CSTT
Ví dụ: việc giảm tỷ lệ lạm phát (thực hiện CSTT thắt chặt) sẽ khiến lãi suất tăng lên, làmgiảm các nhân tố cấu thành tổng cầu, và do đó, ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế khiếnthất nghiệp sẽ có xu hướng tăng Do đó, NHTW không thể đạt được tất cả các mục tiêu, và vì thế,
cơ quan này coi việc ổn định giá trị tiền tệ để ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn củaCSTT Tuy nhiên, khi tình trạng thất nghiệp cao đột ngột hoặc phải đối mặt với ảnh hưởng củacác cú sốc cung đối với sản lượng, đôi khi NHTW phải từ bỏ mục tiêu chủ yếu để khắc phục cáctình trạng trên
Trang 21Để khắc phục hạn chế của việc không thể tác động trực tiếp và ngay lập tức đến các mụctiêu cuối cùng của nền kinh tế, NHTW thường xác định các chỉ tiêu cần đạt được trước khi đạtđược mục tiêu cuối cùng là mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động.
1.2.2.2 Mục tiêu trung gian
Như trên đã nói, việc đo lường hiệu quả và định hướng các mục tiêu cuối cùng khá khókhăn trong ngắn hạn nhưng lại không thể thiếu Bên cạnh đó, các công cụ của CSTT không thểtác động trực tiếp vào các mục tiêu cuối cùng (giá cả, tăng trưởng và công ăn việc làm) Do đó,
để khăc phục hạn chế này, các NHTW thường xác định những chỉ tiêu trung gian cần đạt đượctrong quá trình tiến tới mục tiêu cuối cùng Các chỉ tiêu ấy chính là mục tiêu trung gian và mụctiêu hoạt động
Các tiêu chuẩn để lựa chọn mục tiêu trung gian là có thể đo lường được, NHTW có thểkiểm soát được và quan trọng nhất là có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng, ví dụ như(các chỉ tiêu thường được lựa chọn làm mục tiêu trung gian): Tổng khối lượng tiền cung ứng (M1,
M2 hoặc M3), khối lượng tín dụng - chỉ tiêu về lượng, hoặc mức lãi suất thị trường (ngắn và dàihạn), tỷ giá thị trường - chỉ tiêu về giá
- Có thể đo lường được:
Việc lượng hóa chỉ tiêu trung gian giúp cho quá trình phân tích, đánh giá hiệu quả củaCSTT nhanh chóng và cụ thể hơn trước khi đạt tới các mục tiêu cuối cùng Ví dụ: NHTW lựachọn CSTT mở rộng để khuyến khích tăng trưởng kinh tế sẽ phải tính toán mối quan hệ địnhlượng giữa tốc độ biến thiên lãi suất với tốc độ tăng trưởng GDP nhằm giám sát, kiểm soát hiệuquả thực hiện mục tiêu
- NHTW có thể kiểm soát được:
Một lẽ hiển nhiên, nếu các chỉ tiêu được lựa chọn làm trung gian của quá trình thực hiệnmục tiêu cuối cùng nằm ngoài tầm kiểm soát của NHTW thì điều này đồng nghĩa với việc không
có cơ sở đảm bảo rằng CSTT đang đi đúng hướng và có hiệu quả Ý nghĩa của việc “kiểm soátđược” cho phép NHTW thực hiện những điều chỉnh hợp lý và cần thiết nhằm tối ưu hóa kết quảcủa CSTT trong quá trình theo đuổi các mục tiêu cuối cùng
- Quan hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng:
Hai tiêu chí trên sẽ trở thành vô nghĩa nếu như chỉ tiêu được lựa chọn làm mục tiêu trunggian không có độ gắn kết cao với mục tiêu cuối cùng Nói cách khác, mục tiêu trung gian nên làyếu tố mang tính đại diện hoặc có quan hệ trọng yếu, mật thiết với mục tiêu cuối cùng
Trang 22Cũng cần lưu ý rằng với mỗi mục tiêu cuối cùng có thể có một số tiêu chí thỏa mãn làmmục tiêu trung gian Do đó, việc lựa chọn chính xác và hiệu quả các mục tiêu trung gian còn phụthuộc nhiều vào yếu tố chủ quan và khách quan như: quan điểm và trình độ quản lý, bối cảnh đặcthù của mỗi giai đoạn thực hiện CSTT, thứ tự ưu tiên các mục tiêu cuối cùng, v.v
1.2.2.3 Mục tiêu hoạt động
Ngoài các mục tiêu trung gian, NHTW còn lựa chọn các mục tiêu hoạt động Mục tiêuhoạt động là các chỉ tiêu mà NHTW lựa chọn để đạt mục tiêu trung gian Đây là các chỉ tiêu cóphản ứng tức thời với sự điều chỉnh của các công cụ CSTT
Tương tự việc lựa chọn các mục tiêu trung gian, tiêu chuẩn lựa chọn mục tiêu hoạt động làcác chỉ tiêu có thể đo lường được (nhằm tránh những sự suy diễn thiếu chính xác làm sai lệch dấuhiệu của CSTT); phải có mối quan hệ trực tiếp và ổn định với các công cụ của CSTT; có mốiquan hệ chặt chẽ và ổn định với mục tiêu trung gian được lựa chọn
Các chỉ tiêu thường được lựa chọn làm mục tiêu hoạt động của NHTW về giá là lãi suất
liên ngân hàng và về lượng là dự trữ ngân hàng
1.2.3 Kênh truyền dẫn sự tác động của chính sách tiền tệ
Trong hệ thống tài chính hiện đại, CSTT ảnh hưởng đến các biến số kinh tế vĩ mô thông
qua các con đường: lãi suất, giá tài sản, tỷ giá và tín dụng
1.2.3.1 Kênh lãi suất
Ảnh hưởng của sự biến đổi khối lượng tiền cung ứng đến nền kinh tế trước hết đượctruyền dẫn qua kênh lãi suất
Khi khối lượng tiền cung ứng (M) tăng lên, mức giá cả (Pe) và mức lạm phát dự tính (πe)tăng kéo theo sự giảm xuống của lãi suất thực (i) từ đó làm giảm giá vốn vay Vì thế, nhu cầu đầu
tư (I) và mức chi tiêu (C) tăng lên dẫn đến tăng tổng cầu (AD) và tăng sản lượng (Y) (xem Sơ đồ
π e
(lạm phát)
i (lãi suất)
E (tỷ giá)
q (*)
(chỉ số Tobin)
I (đầu tư)
C (tiêu (dùng)
AD (tổng cầu)
Y (sản lượng)
Trang 231.2.3.2 Kênh giá tài sản trong nước
Lãi suất là một loại giá tài sản và được coi là kênh truyền dẫn chủ yếu theo quan niệm củaKeynes
Tuy nhiên khi nghiên cứu mối quan hệ giữa M và Y, các nhà kinh tế theo trường pháitrọng tiền đã bổ sung thêm giá các loại tài sản khác có khả năng truyền tác động của CSTT nhưgiá cố phiếu, trái phiếu
Lý thuyết Tobin giải thích cơ chế tác động của CSTT thông qua ảnh hưởng của nó tới giá
cổ phiếu công ty (P), vì thế mà tới nhu cầu đầu tư (xem Sơ đồ 1.2).
Khi NHTW mở rộng khối lượng tiền cung ứng (M), mức lãi suất (i) giảm xuống, giá cổphiếu (P) có xu hướng tăng lên làm tăng chỉ số q(*) và nhu cầu đầu tư mới dẫn đến tăng tổng cầu(AD) và sản lượng (Y) vì thế tăng lên
(*): Chỉ số Tobin’s q = Giá trị thị trường của công ty
Giá thay thế tài sản
1.2.3.4 Kênh tín dụng
CSTT còn ảnh hưởng đến các biến số kinh tế vĩ mô qua kênh truyền dẫn quan trọng vàphổ biến, được thể hiện ở hoạt động tín dụng ngân hàng
Trang 24Trong điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển hoặc trong tình trạng điều tiết trực tiếpthì sự thay đổi của mức cung tiền tệ sẽ dẫn đến những thay đổi của lượng tín dụng được cungứng, từ đó ảnh hưởng đến tổng cầu.
Tuy nhiên kênh tác động này chủ yếu thông qua nhu cầu vay của các doanh nghiệp vừa vànhỏ hơn là các doanh nghiệp lớn bởi doanh nghiệp lớn có khả năng tiếp cận với thị trường tàichính thông qua phát hành các chứng khoán có giá
1.2.4 Hệ thống công cụ sử dụng trong quản lý và điều hành chính sách tiền tệ
Công cụ CSTT là các hoạt động được thực hiện bởi NHTW nhằm tác động trực tiếp hoặcgián tiếp đến các mục tiêu trung gian của CSTT (khối lượng tiền trong lưu thông và lãi suất), từ
đó đạt được các mục tiêu của CSTT [8, tr.336-337]
Hệ thống công cụ sử dụng trong quản lý và điều hành CSTT bao gồm công cụ trực tiếp vàcông cụ gián tiếp
Theo quan niệm của IMF, công cụ trực tiếp là những công cụ khi sử dụng sẽ làm thay đổi
về bảng cân đối tiền tệ của NHTG Còn công cụ gián tiếp khi sử dụng sẽ làm thay đổi bảng cânđối tiền tệ của NHTW
Công cụ này thường được sử dụng trong trường hợp nền kinh tế trong giai đoạn phát triểnquá nóng, lạm phát cao, lượng tiền cung ứng cần được khống chế trực tiếp Việc sử dụng hạnmức tín dụng giúp NHTW quản lý điều tiết được lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế khi cáccông cụ gián tiếp không phát huy hiệu quả do thị trường tiền tệ chưa phát triển
Do ưu điểm tác động trực tiếp vào cung tiền, hạn mức tín dụng là công cụ mạnh đểNHTW nhanh chóng lấy lại được sự kiểm soát đối với những biến động của lượng vốn khả dụngtrong hệ thống NHTM và khống chế tức thì sự xấu đi của những diến biến có nguyên nhân xuấtphát từ sự biến động ấy Tuy vậy, hiệu quả điều tiết của công cụ này không cao do nó thiếu tính
Trang 25linh hoạt và đôi khi đi ngược lại chiều hướng biến động của thị trường, dẫn tới việc lãi suất bịđẩy lên cao hoặc làm suy giảm khả năng cạnh tranh của các NHTM Bên cạnh đó, nhược điểmlớn nhất của công cụ này là thiếu cơ sở trong việc xác định hạn mức tín dụng và nếu như có sựlỏng lẻo về chế tài trong công tác quản lý, điều hành thì hiệu quả không đạt như mong muốn.
Ngoài công cụ hạn mức tín dụng, NHTW còn có thể tác động lên các mục tiêu trung gianthông qua việc ấn định lãi suất hoặc tỷ giá
1.2.4.2 Công cụ gián tiếp
Công cụ gián tiếp là nhóm công cụ tác động trước hết vào mục tiêu hoạt động của CSTT,thông qua cơ chế thị trường mà tác động này được truyền đến các mục tiêu trung gian là khốilượng tiền cung ứng và lãi suất [8, tr.338]
Hệ thống công cụ này cho phép nó có thể tác động thường xuyên đến lượng vốn khả dụng
và hệ số tạo tiền gửi của hệ thống ngân hàng thông qua cơ chế thị trường trên cơ sở dự đoán đượcnhững biến động về cung - cầu vốn khả dụng
Công cụ gián tiếp bao gồm dự trữ bắt buộc, chính sách tái chiết khấu và nghiệp vụ thịtrường mở
Bảng 1.1: Đặc điểm nhóm công cụ trực tiếp và gián tiếp của CSTT
Bối cảnh
- Do yêu cầu cấp thiết trong quản lý vĩ
mô (lạm phát cao, tăng trưởng nóng, tính hiệu quả của các công cụ gián
- Thị trường tiền tệ phát triển ở trình độ tương đối
- Định hướng quản lý dài hạn, không chịu áp lực can thiệp tức
Trang 26tiếp chưa cao) thời.
Ưu điểm
- Tác động trực tiếp và nhanh chóng vào cung tiền
- Là cứu cánh của NHTW trong điều tiết cung ứng tiền
- Tác động một cách tự nhiên vàlinh hoạt
- Bám sát bối cảnh và mục tiêu quản lỹ vĩ mô
- Thiếu linh hoạt và đồng bộ
Tác động chậm (dài hạn) tới cácmục tiêu quản lý vĩ mô
Bằng việc điều chỉnh tỷ lệ DTBB, công cụ này tạo ra những tác động về lượng và về giá
Cụ thể, khi NHTW tăng tỷ lệ DTBB, một bộ phận dự trữ dư thừa sẽ được chuyển đổi bổ sungvào lượng DTBB Điều này khiến khả năng cho vay của NHTM giảm, kéo theo sự suy giảm mứccung tiền (MS)
Mặt khác, do ảnh hưởng của hệ số nhân tiền, một lần nữa, cung tiền thực tế ra nền kinh tếphải đối mặt với nguy cơ gánh chịu tác động cộng hưởng bắt nguồn từ sự suy giảm MS Khảnăng đáp ứng cầu tiền (trong điều kiện không có sự thay đổi đáng kể) theo đó bị thu hẹp, dẫn tớihiện tượng gia tăng lãi suất
Tương tự, NHNN quyết định giảm tỷ lệ DTBB sẽ gây nên những ảnh hưởng ngược lại
- Ưu điểm:
Sự thay đổi tỷ lệ DTBB sẽ ảnh hưởng một cách bình đẳng đến tất cả các TCTD vì thếDTBB là phương tiện để NHTW chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng, giúpNHTW điều khiển hệ thống TCTD, thực thi CSTT theo các mục tiêu đã định
Trang 27NHTW có thể tác động nhanh và mạnh đến lượng tiền cung ứng thông qua việc thay đổi
ổn trong việc quản lý thanh khoản, làm phát sinh tăng chi phí Chính điều này làm cho công cụDTBB trở nên thiếu linh hoạt
Mặt khác, sự thay đổi DTBB (đặc biệt trong trường hợp tăng) gây ảnh hưởng ngay lập tức
và trực tiếp đến lượng vốn khả dụng của hệ thống TCTD Vì thế công cụ này cần được sử dụngkết hợp với các công cụ khác nhằm điều chỉnh lượng vốn khả dụng các TCTD khi cần thiết
b Chính sách tái chiết khấu
Chính sách tái chiết khấu (tái cấp vốn) bao gồm các quy định và điều kiện cho vay củaNHTW đối với các NHTM [8, tr.341] Theo đó, NHTW tiếp vốn cho các NHTG thông qua chovay ngắn hạn trên cơ sở chiết khấu các chứng từ có giá ngắn hạn (chủ yếu là tín phiếu Kho bạc
và thương phiếu), nhằm khai thông năng lực thanh toán cho các ngân hàng này hoặc khuyếnkhích họ mở rộng tín dụng cho nền kinh tế
Các NHTG đi vay NHTW nhằm bù đắp hoặc bổ sung nhu cầu vốn khả dụng và hình thànhnên bộ phận dự trữ đi vay Bộ phận này được sử dụng như bất kỳ bộ phận dự trữ nào khác để bùđắp nhu cầu DTBB bổ sung, số dự trữ vượt mức để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, hoặcngăn chặn nguy cơ phá sản của các ngân hàng khi cần thiết Điểm khác biệt chủ yếu giữa dự trữ
đi vay và dự trữ khác là chúng phải được trả lại cho NHTW khi đến hạn [8]
Công cụ này tác động tới lượng tiền cung ứng, qua đó, tác động tới mặt bằng lãi suấtthông qua các hình thức điều chỉnh hạn mức tái chiết khấu, điều kiện tái chiết khấu và lãi suất táichiết khấu
Bằng cách tăng (giảm) hạn mức tái chiết khấu, và/hoặc nới lỏng (thắt chặt) điều kiệnchứng từ có giá được tái chiết khấu, NHTW khuyến khích (hạn chế) các NHTM tăng (giảm) khốilượng vốn khả dụng, dẫn tới tăng (giảm) khả năng tạo tiền
Trang 28Tương tự, việc tăng (hạ) lãi suất tái chiết khấu tác động trước hết vào giá đầu vào của cácNHTM, khiến lãi suất cho vay dần dần tăng (giảm), do đó làm giảm (tăng) nhu cầu tín dụng Bêncạnh đó, khi lãi suất tái chiết khấu giảm (tăng), các NHTM có thể tiếp cận vốn của NHTW mộtcách dễ dàng (khó khăn), dẫn tới khả năng mở rộng (thu hẹp) hoạt động tín dụng.
đó theo chiều hướng mong muốn của NHTW Vì vậy nó có hiệu ứng thông báo do sự trông đợi
và dự đoán của thị trường
Tính hiệu quả của công cụ này căn cứ vào mức độ phụ thuộc về vốn của các NHTM vàoNHTW (NHTW khó tác động ngược trở lại) Điều này làm giảm đi thế chủ động trong điều hànhcủa NHTW và do đó, giảm thiểu ý nghĩa của một công cụ điều tiết (Để khắc phục nhược điểmnày, NHTW thường sử dụng kết hợp với công cụ DTBB)
Mặt trái của việc trở thành hiệu ứng thông báo của công cụ tái chiết khấu là khả năng gâyhiểu lầm cho thị trường Hiệu ứng thông báo chỉ có hiệu quả khi lãi suất tái chiết khấu phù hợpvới mức lãi suất thị trường Trong trường hợp lãi suất tái chiết khấu cao hơn hoặc thấp hơn mứclãi suất thị trường, sự thay đổi lãi suất thực chất là sự “điều chỉnh kỹ thuật”, nhằm phù hợp với lãisuất thị trường Hiệu ứng thông báo trong trường hợp này sẽ trở nên phản tác dụng
c Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ TTM là các hoạt động mua hoặc bán các chứng khoán (GTCG) mà NHTWthực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu CSTT Các hoạt động này ảnh hưởngtrực tiếp đến dự trữ của các TCTD và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất [8, tr.343]
Trang 29Khi NHTW thực hiện mua (bán) GTCG sẽ khiến mức dự trữ của các TCTD tăng (giảm).
Do đó, khả năng tạo tiền gửi thông qua hoạt động cung ứng tín dụng của hệ thống ngân hàng bịgiảm xuống, kéo theo sự sụt giảm lượng tiền cung ứng
Khi vốn khả dụng của từng TCTD tăng (giảm) do tác động của hoạt động TTM, mức cung
về vốn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng tăng lên (giảm xuống) Trong điều kiện các yếu tốliên quan không thay đổi, lãi suất liên ngân hàng sẽ vì thế mà giảm (tăng) Thông qua các hoạtđộng kinh doanh chênh lệch lãi suất, ảnh hưởng này được truyền đến các mức lãi suất của cáccông cụ TTM và lãi suất thị trường trái phiếu Kết quả là chi phí cơ hội đối với người có vốn dưthừa và giá vốn đầu tư đối với người thiếu hụt vốn giảm xuống (tăng lên), làm tăng nhu cầu đầu
tư và nhu cầu tiêu dùng xã hội, từ đó làm tăng sản lượng, giá cả và công ăn việc làm
Hoạt động TTM còn ảnh hưởng đến cung - cầu, và do đó, giá chứng khoán thuộc phạm vican thiệp Khi NHTW mua (bán) chứng khoán (chủ yếu là Tín phiếu kho bạc), lượng cung chứngkhoán tăng lên (giảm đi) trong khi nhu cầu chứng khoán không đổi làm cho giá các chứng khoánnày giảm (tăng) và mức sinh lời tăng (giảm), buộc các TCTD phải tăng (giảm) lãi suất để đảmbảo cạnh tranh Đồng thời, lãi suất chứng khoán phát hành mới cũng được kích thích tăng tươngứng
Nghiệp vụ TTM là công cụ điều tiết các mục tiêu trung gian có hiệu quả nhất bởi tính chủđộng và linh hoạt Thông qua công cụ này, NHTW có thể chủ động mua hoặc bán thông qua cơchế giá Tính linh hoạt của công cụ được thể hiện ở chỗ NHTW có thể thường xuyên thực hiệncác hoạt động mua - bán (ngày, tuần/phiên…) và có thể can thiệp đảo ngược trong trường hợpphát hiện ra sai sót của can thiệp ban đầu
Bên cạnh đó, đây còn là công cụ chính xác bởi NHTW can thiệp vào lượng tiền trungương (MB) một cách chính xác thông qua lượng mua và bán, nó có tác động nhanh và tức thì dokhông chịu các ràng buộc mang tính chất hành chính
Công cụ này chỉ có một khó khăn về điều kiện vận dụng hiệu quả là đòi hỏi sự phát triểncủa thị trường tài chính nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng, đặc biệt là thị trường thứ cấp.Ngoài ra, NHTW phải có khả năng dự đoán chính xác và kiểm soát được sự biến động của lượngvốn khả dụng trong hệ thống ngân hàng
Trang 30Như vậy, về cơ bản, CSTT thông qua các công cụ có tác động đến hai biến số kinh tế chủyếu là cung tiền và mức lãi suất để từ đó đạt được mục tiêu cuối cùng Trong trường hợp đó, đểđạt được hiệu quả thì việc lựa chọn công cụ như thế nào là rất quan trọng.
Bảng 1.2: Đặc điểm nhóm công cụ CSTT gián tiếp
- Thiết lập mối quan hệ phụ thuộc về vốn giữa NHTW và hệ thống TCTD
- Sử dụng thường xuyên dễ gây ra hiện tượng bất ổn trong quản lý thanh khoản
- Là công cụ linh hoạt
- Là dấu hiệu xác nhận chiều hướng thực hiện CSTT
Dễ tạo ra tín hiệu gây
Là công cụ hiệu quả nhất
về tính chủ động và linh hoạt
Điều kiện áp dụng khó khăn (phụ thuộc sự phát triển của thị trường và năng lực dự báo của NHTW)
đó đạt được các mục tiêu cuối cùng của CSTT (mục tiêu về giá cả và sản lượng)
Qua việc sử dụng các công cụ CSTT gián tiếp, NHTW có thể điều tiết các hoạt động củathị trường tiền tệ một cách chủ động và linh hoạt
Với công cụ DTBB, NHTW chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng Chínhsách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng một cách linh hoạtkhi tác động đến mức dự trữ của hệ thống ngân hàng và lãi suất liên ngân hàng Còn nghiệp vụTTM, đây được coi là công cụ có hiệu quả nhất khi mang lại cho NHTW tính chủ động và linhhoạt trong việc can thiệp vào hoạt động của thị trường tiền tệ (tác động đến mức dự trữ của hệthống ngân hàng, lượng tiền trung ương và lãi suất liên ngân hàng)
Trang 311.3 HIỆU QUẢ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ GIÁN TIẾP
1.3.1 Hiệu quả chính sách tiền tệ
Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm “hiệu quả” được hiểu là “kết quả như yêu cầu củaviệc làm mang lại”
Theo từ điển Lepetit Lasousse, 1999, trang 57 định nghĩa, “hiệu quả là kết quả đạt đượctrong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định”
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả
mà con người chờ đợi và hướng tới; nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau…”
Như vậy, với đích nhắm tới là “kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới” thì “hiệu quả”
có thể được xác định trên nền tảng định tính, định lượng hoặc hỗn hợp về mức độ hoàn thành củaquá trình hiện thực hóa ý chí con người (trực tiếp hoặc gián tiếp) so với mục tiêu đặt ra ban đầu
Theo đó, hiệu quả điều hành CSTT được đánh giá bởi kết quả quá trình thực hiện các mụctiêu cuối cùng của CSTT, trên cơ sở đối chiếu mức độ hoàn thành về mặt định lượng và định tínhcác chỉ tiêu kinh tế, xã hội được giao Tất nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc “đo lường”kết quả thực hiện các mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động trong từng giai đoạn cụ thể
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc đánh giá hiệu quả của CSTT (dù bằng định tính hay địnhlượng) đôi khi chỉ có tính tương đối do các hạn chế chủ quan và khách quan không tránh khỏinhư nhận thức, phương pháp, hay sự ảnh hưởng của các yếu tố ngoại lai…
1.3.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ gián tiếp
1.3.2.1 Hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ qua việc sử dụng công cụ trực tiếp và công cụ gián tiếp
Qua việc lựa chọn sử dụng nhóm công cụ trực tiếp hay gián tiếp mà công tác điều hànhCSTT của NHTW đạt được kết quả nhanh hay chậm, tính linh hoạt và hiệu quả đạt được ra sao
Khi sử dụng công cụ trực tiếp, NHTW không nhất thiết phải chọn mục tiêu hoạt động,nhóm công cụ này tác động ngay và trực tiếp đến khối lượng tiền cung ứng và mức lãi suất thịtrường
Đối với công cụ gián tiếp, đây là nhóm công cụ tác động trước hết vào các mục tiêu hoạtđộng của CSTT như lãi suất thị trường liên ngân hàng, dự trữ ngân hàng… và thông qua cơ chếthị trường mà tác động này truyền tới các mục tiêu trung gian là khối lượng tiền cung ứng và lãi
Trang 32suất Vì vậy, trong quá trình điều hành CSTT, nếu NHTW thấy có những điểm không phù hợp,
có thể điều chỉnh mục tiêu hoạt động nhằm đạt được kết quả như mong muốn Việc điều chỉnhlinh hoạt mục tiêu hoạt động để hướng đến việc đạt được hiệu quả điều hành CSTT một cách caonhất chính là nét khác biệt của việc sử dụng công cụ gián tiếp so với sử dụng công cụ trực tiếp
1.3.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ gián tiếp
tham chiếu trong hệ tiêu chuẩn về thời gian và chất lượng hoàn thành (xem Hình 1.2).
Nguồn: Tổng hợp [8]
Hình 1.2: Mức độ ưu tiên trong hệ thống mục tiêu của CSTT
- Xác định thông số tham chiếu:
Thông số tham chiếu là các dấu hiệu (định tính) hoặc giá trị (định lượng) được gắn vớiquá trình xây dựng và thực hiện CSTT Nói cách khác, đây là các thông số tiêu chuẩn được định
ra cho mỗi mục tiêu cụ thể trong hệ thống mục tiêu CSTT Việc xác định chính xác các thông số
đo lường là yêu cầu cơ bản để tiến hành đánh giá hiệu quả CSTT Theo đó, cần xác định:
Mức độ trọng yếu (mức độ ưu tiên) của từng mục tiêu:
Mức độ ưu tiên giảm dần
Thời gian
Chất lượng
Mục tiêu Thực tế
Trang 33Với mỗi giai đoạn khác nhau, do đặc thù về quản lý vĩ mô, CSTT được hướng tới mộthoặc một số mục tiêu trọng yếu trong hệ thống các mục tiêu cơ bản Sự thành công về các mụctiêu trọng yếu sẽ phản ánh sức mạnh và độ hữu dụng mà công cụ này mang lại
Tuy nhiên, quản lý vĩ mô là một bài toán tổng thể mà theo đó không thể tránh khỏi sự
“đánh đổi” giữa các mục tiêu Do vậy, đạt được mục tiêu trọng yếu được đặt trong mối quan hệhài hòa với các mục tiêu thứ yếu khác được coi là kết quả tốt nhất của một CSTT Ở khía cạnhnày, khái niệm “hiệu quả” chỉ mang tính tương đối (định tính)
Dấu hiệu (định tính) hoặc giá trị (định lượng) tham chiếu:
Các mục tiêu được phân loại thành hai nhóm là nhóm định tính và nhóm định lượng, nhằm
cụ thể hóa kết quả cũng như phương thức triển khai, giám sát quá trình thực thi CSTT
Theo đó, nhóm định tính được đặc tả bằng những dấu hiệu nhận biết sự chuyển hướng tíchcực của các mục tiêu (ví dụ: sức mua tăng lên của xã hội cho thấy ảnh hưởng tích cực của CSTTđến mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã khiến thu nhập người dân tăng lên; hoặc bởi mục tiêu giảmlạm phát đã phát huy hiệu quả khiến tiêu dùng được kích thích)
Nhóm định lượng là các thông số cụ thể nhất, được tính toán trên cơ sở khoa học và phùhợp với thực tế Đây cũng là nhóm bằng chứng trực quan nhất để đánh giá nhanh mức độ hiệuquả (bao gồm cả vận hành đúng hướng) của CSTT Tuy nhiên, do đặc điểm lượng hóa, nhóm nàychịu ảnh hưởng lớn bởi yếu tố chủ quan (năng lực và khả năng nhận thức của con người; công cụvận dụng…) trong quá trình xây dựng mục tiêu Do đó, để đánh giá hiệu quả CSTT, cần đảm bảocác mục tiêu thiết kế là hợp lý và khả thi
Ngoài ra, theo quan niệm của IMF, công cụ gián tiếp khi sử dụng sẽ làm thay đổi bảng cânđối tiền tệ của NHTW Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả điều hành CSTT thông qua việc sử dụngcác công cụ gián tiếp, cần phải xác định sự thay đổi của các thông số trên bảng cân đối tiền tệ củaNHTW
Bảng 1.3: Bảng cân đối tiền tệ của NHTW
Trang 34- Tài sản nước ngoài ròng:
Dự trữ quốc tế chính thức
Trừ: Nợ ngắn hạn với các ngân hàng nước
ngoài và tín dụng từ IMF đã sử dụng
- Tài sản nội địa ròng:
Tín dụng nội địa ròng (cho Chính phủ, cho
NHTM, cho khu vực tư nhân)
Các khoản khác (ròng)
- Dự trữ tiền:
Tiền mặt (tiền trong các NHTM,tiền trong lưu thông)
Tiền gửi của các NHTM
Các khoản tiền gửi khác
- Vốn
- Tài sản nợ khác
Nguồn: Tổng hợp [14]
Xác định phạm vi ảnh hưởng của các công cụ gián tiếp:
Sự thành công của CSTT được tạo nên từ hiệu quả tổng hợp của các công cụ, trong đócông cụ gián tiếp chỉ là một bộ phận cấu thành Do vậy, việc đánh giá hiệu quả của công cụ nàycần có sự độc lập và khách quan nhất định so với kết quả chung cuộc của CSTT
Đo lường sự ảnh hưởng của công cụ gián tiếp cần được xem xét ở các khía cạnh sau:
Bối cảnh áp dụng và mức độ tham gia:
Như trên đã đề cập, tính năng của một công cụ nói chung, công cụ gián tiếp nói riêng sẽphát huy tối đa nếu được áp dụng đúng điều kiện vận hành Trong trường hợp ngược lại, công cụgián tiếp chỉ tham gia được một phần vào chuỗi tác động của các công cụ CSTT, hoặc những tínhnăng thiết kế bị giảm thiểu Vì thế, mức độ và phạm vi ảnh hưởng của công cụ cần được đánhgiá tương xứng với mức độ tham gia vào quá trình thực thi CSTT
Mức độ và phạm vi ảnh hưởng:
Phản ánh ảnh hưởng của công cụ gián tiếp đối với các mục tiêu nhận tác động Ảnh hưởng
ấy càng lâu dài đối với càng nhiều mục tiêu thì mức độ và phạm vi ảnh hưởng của công cụ cànglớn
1.3.3 Một số yếu tố tác động tới hiệu quả của chính sách tiền tệ
Như vậy, chúng ta đã thấy hiệu quả của CSTT phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố như: lựachọn mục tiêu, công cụ áp dụng, ảnh hưởng của kênh truyền dẫn, v.v Các yếu tố này có thểđược phân chia (một cách tương đối) thành 2 nhóm là khách quan và chủ quan như sau:
Trang 35- Khách quan:
Đặc điểm mô hình tổ chức Nhà nước, hệ thống quản lý vĩ mô và NHTW sẽ quyết định tớiphạm vi ảnh hưởng và định hướng mục tiêu của CSTT tương ứng
Ví dụ: Mức độ nhạy cảm của cầu tiền đối với lãi suất: Mức cầu tiền tệ (MD) ít nhạy cảmvới lãi suất sẽ làm CSTT có hiệu quả Hay mức độ nhạy cảm của đầu tư đối với lãi suất: Khilượng tiền cung ứng tăng, hiệu quả CSTT phụ thuộc vào độ nhạy cảm của nhu cầu đầu tư đối vớilãi suất CSTT có hiệu quả trong trường hợp mức cầu tiền ít nhạy cảm với lãi suất và mức cầuđầu tư có mức nhạy cảm cao với lãi suất
Việc thực thi CSTT không ảnh hưởng ngay lập tức đến tổng cầu của nền kinh tế mà luôn
có một độ trễ nhất định Độ trễ này chính là khoảng thời gian cần thiết để một chính sách pháthuy hiệu quả Khoảng thời gian này tương đối dài và thường xuyên thay đổi, vì thế việc dự đoánnhững biến động tiềm năng của nền kinh tế là yếu tố quan trọng trong lập và điều hành CSTT.Khoảng thời gian này bao gồm:
o Thời gian lập chính sách từ khi nhận ra các vấn đề của nền kinh tế vĩ mô cần điềuchỉnh đến khi hoàn thành các chỉ tiêu cụ thể của chính sách;
Trang 36o Thời gian ảnh hưởng đến thành phần của tổng chi tiêu xã hội;
o Thời gian gây ra những hiệu ứng lan truyền đến tổng chi tiêu;
o Thời gian điều chỉnh giá
Hiệu quả của CSTT sẽ được phát huy hay bị hạn chế còn phụ thuộc vào việc nền kinh tế áp dụng chế độ tỷ hối đoái thả nổi hay cố định Chẳng hạn, ở một nền kinh tế áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định, CSTT sẽ bị hạn chế sử dụng và vì thế hiệu quả của CSTT cũng sẽ không được phát huy bởi bất cứ sự thay đổi nào của cung tiền cũng làm thay đổi đến tỷ giá hối đoái.
o Tính độc lập của NHTW được thể hiện trong việc sử dụng các công cụ để đạt tớicác mục tiêu mà Chính phủ yêu cầu và mức độc lập ngân sách Nếu cơ quan hữu trách tiền tệ làNHTW không được hoạt động độc lập thì Chính phủ có thể can thiệp vào việc phát hành tiền tệ(chẳng hạn khi cần bù đắp thâm hụt ngân sách), khiến cho hiệu quả của CSTT trở nên hạn chế
o Tùy thuộc vào đặc điểm ra đời, thể chế chính trị, nhu cầu của nền kinh tế, truyềnthống văn hóa từng quốc gia mà NHTW có thể được tổ chức theo mô hình “trực thuộc” hay “độclập” với Chính phủ
- Chủ quan:
Bên cạnh các yếu tố khách quan, hiệu quả của CSTT còn phụ thuộc vào nhận thức củangười có trách nhiệm xây dựng và thực thi CSTT Điều này có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượngchính sách trên các phương diện: xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược, chiến thuật triển khai,lựa chọn sử dụng công cụ phù hợp, v.v Nhận thức tốt có thể giảm thiểu được các tác động kháchquan kể trên trong cả quá trình thiết kế và vận hành CSTT
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận văn đã tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về NHTW và CSTT
Cụ thể, hệ thống hóa một số lý luận về vị trí, chức năng của NHTW và hệ thống mục tiêu, kênhtruyền dẫn sự tác động của CSTT cũng như hệ thống công cụ sử dụng trong quá trình quản lý vàđiều hành CSTT Trong đó, đi sâu phân tích cơ chế tác động, bối cảnh áp dụng và đánh giá ưu
Trang 37nhược điểm của hệ thống công cụ CSTT nói chung và nhóm công cụ gián tiếp nói riêng Từnhững lý thuyết này, đề cập đến tính hiệu quả trong điều hành CSTT của một NHTW thông quaviệc sử dụng hệ thống các công cụ gián tiếp
Việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản trên là cơ sở để phân tích thực trạng điều hànhCSTT thông qua việc sử dụng các công cụ gián tiếp của NHNN Việt Nam trong thời gian qua
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ GIÁN TIẾP
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
2.1 SỰ ĐỔI MỚI TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
2.1.1 Giai đoạn những năm đầu của thời kỳ đổi mới
Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đãđánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong đường lối của Đảng và Nhà nước nhằm tiến hànhcông cuộc đổi mới đất nước theo hướng chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấpsang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Theo tinh thần của Đại hội, hệ thốngngân hàng đã được đổi mới căn bản và toàn diện, CSTT cũng được hoạch định và thực thi phùhợp với tình hình mới
Trong giai đoạn những năm đầu của thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ năm 1990, tổ chức của hệthống ngân hàng và việc xây dựng, điều hành CSTT của NHNN thông qua việc sử dụng hệ thốngcác công cụ có sự cải cách mạnh mẽ
2.1.1.1 Tổ chức của hệ thống ngân hàng
Trang 38Theo Nghị định số 53-HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
về tổ chức bộ máy NHNN Việt Nam, NHNN Việt Nam là cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng được
tổ chức thành hệ thống thống nhất trong cả nước, gồm hai cấp là NHNN và các Ngân hàngchuyên doanh trực thuộc Đây là sự đánh dấu cho bước đầu của sự chuyển đổi hệ thống ngânhàng từ mô hình một cấp sang hai cấp
Năm 1990, thông qua hai Pháp lệnh Ngân hàng (Pháp lệnh NHNN Việt Nam và Pháp lệnhngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính), cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàngViệt Nam chính thức chuyển từ một cấp sang hai cấp Theo đó, chức năng quản lý nhà nước vàchức năng kinh doanh tiền tệ được tách biệt rõ ràng NHNN thực hiện chức năng quản lý nhànước về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; là ngân hàng duy nhất được phépphát hành tiền; là ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàng của Nhà nước Các định chế tàichính ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụngân hàng
Như vậy, NHNN là cơ quan trực thuộc Chính phủ, có nhiệm vụ và chịu trách nhiệm trongviệc hoạch định, điều hành CSTT nhằm hướng tới các mục tiêu kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ
2.1.1.2 Sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ
Trước đổi mới, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với đặc điểm
cơ bản là cơ chế quản lý quan liêu bao cấp với các kế hoạch cứng nhắc không dựa trên quan hệcung - cầu thực tế, cùng với sự sai lầm về tổng điều chỉnh giá - lương - tiền cuối năm 1985 màđỉnh cao là sự kiện đổi tiền vào tháng 9 đã khiến nền kinh tế - xã hội lâm vào khủng hoảng trầmtrọng, siêu lạm phát xuất hiện Tỷ lệ lạm phát năm 1986 là mức lạm phát phi mã 748% trong khimức tăng trưởng GDP chỉ đạt 2,8%
Để thay đổi căn bản cục diện kinh tế đất nước, theo các nhiệm vụ Đại hội Đảng VI đề ra,với chức năng và vai trò của một NHTW, NHNN đã sử dụng các công cụ CSTT nhằm hướng tớinhiệm vụ trọng tâm là đẩy lùi, kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
a Công cụ lãi suất (ấn định lãi suất huy động và cho vay)
Khi nền kinh tế bắt đầu vận hành theo cơ chế mới, trước mục tiêu hàng đầu là chống lạmphát, NHNN lựa chọn sử dụng công cụ chính là lãi suất
Theo đó, NHNN đã quy định cụ thể mức sàn, mức trần, chênh lệch bình quân đối với lãisuất huy động và lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng (cả nội tệ và ngoại tệ), qua đó tác độngđến các hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế
Trang 39Trong giai đoạn này, NHNN chủ trương thực thi chính sách lãi suất thực dương (lãi suấtthực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát) nhằm hút tiền từ trong lưu thông về, điều chỉnh cácmức lãi suất linh hoạt so với tỷ lệ lạm phát và thị trường với mục đích thông qua công cụ lãi suấtnhằm điều tiết đến lượng tiền cung ứng để kiềm chế lạm phát, khuyến khích đầu tư, phát triểnkinh tế.
b Hạn mức tín dụng
Mục tiêu giảm lạm phát buộc NHNN bằng mọi cách phải hạn chế khối lượng cung tiềnđối với nền kinh tế Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng công cụ lãi suất, NHNN còn sử dụng hạn mứctín dụng như là một công cụ cần thiết trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới Thông qua công
cụ này, NHNN ấn định hạn mức tín dụng đối với từng TCTD, qua đó kiểm soát dư nợ tín dụngcủa toàn bộ nền kinh tế
Hạn mức tín dụng thực sự phát huy được hiệu quả trong việc kiềm chế lạm phát ở mứcthấp Tuy nhiên, công cụ này chỉ được sử dụng thường xuyên như một công cụ của CSTT từ nửacuối năm 1994 đến tháng 01/1998 - thời điểm mức lạm phát bắt đầu có xu hướng giảm dần, cácmức lãi suất (huy động, cho vay) đều bị khống chế, trong khi nhu cầu vốn (nhu cầu tín dụng) củanền kinh tế lại có xu hướng tăng dần và cần phải mở rộng tín dụng để thực hiện mục tiêu tăngtrưởng kinh tế Điều này sẽ dẫn đến dư nợ tín dụng thực tế của các TCTD sẽ bị vượt hạn mức tíndụng được giao Do đó, vai trò của công cụ này trong việc hạn chế sự gia tăng của tổng phươngtiện thanh toán dần mất đi
c Tỷ giá hối đoái
Trước đây, tỷ giá hối đoái chỉ được quy định và sử dụng cho mục đích hạch toán kế toán,chưa phản ánh đúng các khoản chi phí thực tế Trong giai đoạn này, NHNN đã thực hiện điềuchỉnh tỷ giá hối đoái phù hợp với nhu cầu của thị trường Điều này đã khiến cho người dân khôngcòn tích trữ hàng hóa, vàng, ngoại tệ mà chuyển sang tích lũy bằng đồng nội tệ Đây thực sự làbước tiến quan trọng trong điều hành CSTT của NHNN
d Dự trữ bắt buộc
Đây là một công cụ gián tiếp được sử dụng từ năm 1991, mang tính quản lý của Nhànước, giúp NHNN chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng Đồng thời mức độ ảnhhưởng của công cụ này là rất lớn đến lượng tiền cung ứng và mức lãi suất
Trước khi công cụ DTBB chính thức được sử dụng, Quyết định số 16-NH/QĐ ngày26/4/1988 của Tổng Giám đốc NHNN Việt Nam về việc ban hành Quy định về trình tự lập và
Trang 40chấp hành kế hoạch tín dụng của hệ thống ngân hàng có quy định: “Nhằm bảo đảm khả năng chi
trả cho khách hàng, các ngân hàng chuyên doanh ký gửi một phần nguồn vốn huy động vào NHNN Mức ký gửi vốn tối đa là 20% tổng số vốn huy động thực tế cuối quý trước” Như vậy có
thể thấy, hình thức ký gửi một phần nguồn vốn huy động của các ngân hàng chuyên doanh tạiNHNN đã đánh dấu việc hình thành cơ bản công cụ DTBB sau này
Thời kỳ đầu khi NHNN áp dụng công cụ này, mức DTBB được quy định tương đối caonhằm thực hiện CSTT thắt chặt Một cách gián tiếp, công cụ này đã góp phần khống chế lãi suấtthị trường và dư nợ tín dụng của nền kinh tế nhằm hướng tới mục tiêu kiềm chế và đẩy lùi lạmphát Vì vậy, DTBB được sử dụng cùng với các công cụ trực tiếp để đạt được mục tiêu cầnhướng đến của giai đoạn này
Khi mức lạm phát đã được kiềm chế, NHNN bắt đầu có sự điều chỉnh giảm tỷ lệ DTBBnhằm tạo điều kiện để tăng dư nợ tín dụng, phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn đầu, các điều kiện áp dụng còn giản đơn, tái cấp vốn được thực hiệnthông qua việc NHNN cho vay các TCTD trên cơ sở thế chấp các khế ước tín dụng có chấtlượng Sau đó, NHNN thực hiện tái cấp vốn đối với các TCTD dưới hình thức cho vay thế chấpbằng chứng từ, tiền gửi ngoại tệ tại NHNN
Thông qua việc cấp tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn khả dụng cho hệ thống các TCTD
và thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng chính thức từ năm 1994, NHNN đã khẳng định rõvai trò của một NHTW, thể hiện rõ chức năng quản lý nhà nước của mình trong lĩnh vực tiền tệ
Như vậy, trong giai đoạn những năm đầu của thời kỳ đổi mới, trong việc sử dụng các công
cụ CSTT, NHNN đã có sự kết hợp giữa công cụ trực tiếp và công cụ gián tiếp Trong đó, cáccông cụ trực tiếp (lãi suất và hạn mức tín dụng) được áp dụng là chủ yếu bởi nó tác động ngaylập tức đến khối lượng tiền cung ứng, thích hợp với một nền kinh tế mà ở đó mức lạm phát cao làmục tiêu hàng đầu cần được kiểm soát và trong điều kiện thị trường tài chính còn chưa phát triển;