1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế thừa dân ca người việt xứ thanh trong ca khúc về thanh hóa

218 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 218
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể ra một vài ca khúc tiêu biểu như: Thơ tình của núi của An Thuyên; Cô gái Tày cầm đàn lên đỉnh núi của Văn Ký; Tình ca Tây Bắc Nhạc: Bùi Đức Hạnh, Lời: Cầm Giang; Làng Quan họ q

Trang 1

Vi Minh Huy

KẾ THỪA DÂN CA NGƯỜI VIỆT XỨ THANH

TRONG CA KHÚC VỀ THANH HÓA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN

Hà Nội - 2019

Trang 2

Vi Minh Huy

KẾ THỪA DÂN CA NGƯỜI VIỆT XỨ THANH

TRONG CA KHÚC VỀ THANH HÓA

Chuyên ngành: Văn hóa dân gian

Mã số: 9229041

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Từ Thị Loan Các tư liệu và trích dẫn đều được trích nguồn chính xác và đầy đủ Kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2019

Vi Minh Huy

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU NHẠC TRONG LUẬN ÁN iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ DÂN CA NGƯỜI VIỆT XỨ THANH, CA KHÚC VỀ THANH HÓA 11

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 11

1.1.1 Các công trình mang tính lý luận về cách tiếp cận của nghiên cứu văn hóa dân gian 11

1.1.2 Nghiên cứu về dân ca và ca khúc Việt Nam 14

1.1.3 Nghiên cứu về việc sử dụng, khai thác chất liệu dân gian trong ca khúc Việt Nam 19

1.1.4 Nghiên cứu dân ca và ca khúc viết về Thanh Hóa 24

1.1.5 Nhận xét, đánh giá về tình hình nghiên cứu 27

1.2 Cơ sở lý luận 29

1.2.1 Các khái niệm cơ bản 29

1.2.2 Một số lý thuyết vận dụng trong luận án 39

1.3 Khái quát về dân ca người Việt xứ Thanh và ca khúc về Thanh Hóa.…… 44

1.3.1 Dân ca người Việt xứ Thanh 44

1.3.2 Ca khúc về Thanh Hóa 51

Tiểu kết 59

Chương 2: TÌNH HÌNH KẾ THỪA DÂN CA NGƯỜI VIỆT XỨ THANH TRONG CA KHÚC VỀ THANH HÓA TỪ NĂM 1965 ĐẾN NAY 60

2.1 Kế thừa các yếu tố ngữ văn dân gian trong dân ca 60

2.1.1 Khai thác hình ảnh, biểu tượng, huyền thoại trong dân ca người Việt xứ Thanh 61

2.1.2 Kế thừa ngôn ngữ địa phương, ngôn ngữ địa danh trong dân ca 65

2.1.3 Khai thác nghệ thuật sử dụng từ đệm, điệp từ của dân ca 68

2.2 Kế thừa các yếu tố âm nhạc dân gian trong dân ca 73

2.2.1 Kế thừa yếu tố giai điệu của dân ca xứ Thanh 73

2.2.2 Kế thừa thang âm - điệu thức của dân ca xứ Thanh 81

2.2.3 Kế thừa nhịp điệu và âm hình tiết tấu của dân ca xứ Thanh 84

Trang 5

2.3 Đánh giá của công chúng và giới chuyên môn về các ca khúc viết về Thanh

Hóa mang âm hưởng dân ca 85

2.3.1 Đánh giá của công chúng 85

2.3.2 Đánh giá của giới chuyên môn 88

Tiểu kết 90

Chương 3: BÀN LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC KẾ THỪA DÂN CA NGƯỜI VIỆT XỨ THANH TRONG CA KHÚC HIỆN NAY 93 3.1 Một số bàn luận về việc kế thừa dân ca người Việt xứ Thanh trong ca khúc về Thanh Hóa thời gian qua 93

3.1.1 Bàn luận về phương thức kế thừa chất liệu dân ca trong ca khúc 93

3.1.2 Bàn luận về vai trò của chủ thể sáng tạo các ca khúc khai thác chất liệu dân ca 97

3.1.3 Bàn luận về vai trò của ca sĩ thể hiện dòng ca khúc mang âm hưởng dân gian 104

3.1.4 Bàn luận về các thành tố khác liên quan đến phương diện trình diễn tác phẩm mang âm hưởng dân ca 108

3.1.5 Bàn luận về xu hướng kế thừa chất liệu dân ca trong sáng tác ca khúc viết về Thanh Hóa hiện nay 112

3.2 Những vấn đề đặt ra đối với việc kế thừa dân ca trong ca khúc đương đại về Thanh Hóa hiện nay 114

3.2.1 Về môi trường dung dưỡng dân ca và âm nhạc dân gian 114

3.2.2 Sự biến động của đội ngũ nhạc sĩ sáng tác dòng âm nhạc dân gian đương đại 116

3.2.3 Việc đào tạo âm nhạc dân gian trong nhà trường và giáo dục dân ca cho công chúng 117

3.2.4 Vấn đề tạo không gian mới cho các trình diễn âm nhạc dân gian đương đại 121

3.2.5 Vai trò của Nhà nước, các cơ quan văn hoá và tổ chức xã hội 123

Tiểu kết 127

KẾT LUẬN 130

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 136

TÀI LIỆU THAM KHẢO 137

PHỤ LỤC 149

Trang 6

CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU NHẠC TRONG LUẬN ÁN

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Dân ca xứ Thanh là sản phẩm bắt nguồn từ nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, từ thực tiễn lao động và sinh hoạt tín ngưỡng, tập tục của mỗi vùng dân cư đã góp phần hình thành nên nhiều sắc thái dân ca, dân vũ khác nhau như: Vùng lưu vực sông Mã có Hò sông Mã - một loại hình dân ca sông nước độc đáo; vùng Đông Sơn, nơi khởi phát của một nền văn hóa lớn của dân tộc, được mệnh danh là cái nôi của những trò diễn, diễn xướng xứ Thanh; vùng Thọ Xuân có trò Xuân Phả ; vùng Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Thiệu Hóa, Yên Định… có hát ghẹo, trò diễn dân gian về nghề biển, làng nghề…; vùng Trung du nối liền châu thổ Thanh Hóa với châu thổ Nghệ An có

hát khúc (hát ru) Tĩnh Gia mang bóng dáng của phong cách hát giặm Nghệ

An Bên cạnh đó, miền núi Thanh Hóa có nhiều dân tộc, mỗi dân tộc đều có lề

lối hát và ngôn từ riêng của dân tộc mình, nhưng đáng chú ý là xường của người Mường và hát khặp của người Thái

Dân ca là tiếng nói tâm tư tình cảm từ trái tim con người được cất lên bằng giai điệu mang âm hưởng môi trường sống, không khí lao động và sinh hoạt hàng ngày của ông cha ta từ xa xưa Vì vậy, trong từng làn điệu dân ca đều có tiếng nói, tình cảm riêng của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền, được chắt lọc qua thời gian, qua lăng kính của nhiều thế hệ nghệ nhân dân gian để làm nên những bài ca còn lưu truyền mãi cho muôn đời sau

Ca khúc Việt Nam ra đời dựa trên sự giao lưu, tiếp biến văn hóa phương Tây, nhưng đồng thời vẫn giữ được những nét đặc trưng của văn hóa dân tộc nhờ biết kế thừa và phát huy âm nhạc cổ truyền của cha ông Có nhiều

ca khúc đã đạt được những thành công lớn, trở thành những bài ca đi cùng năm tháng, để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người nghe - đó chính là những ca khúc viết về các vùng đất, miền quê mang đậm nét âm hưởng dân ca của các

Trang 8

vùng quê ấy Có thể kể ra một vài ca khúc tiêu biểu như: Thơ tình của núi của

An Thuyên; Cô gái Tày cầm đàn lên đỉnh núi của Văn Ký; Tình ca Tây Bắc (Nhạc: Bùi Đức Hạnh, Lời: Cầm Giang); Làng Quan họ quê tôi (Nhạc: Nguyễn Trọng Tạo, Phỏng lời: Nguyễn Phan Hách); Những cô gái Quan họ của Phó Đức Phương; Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm (Nhạc: Trần Hoàn, Thơ: Đỗ Quý Doãn); Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh của Nguyễn Văn Tý; Quảng Bình quê ta ơi của Hoàng Vân; Câu hò bên bờ Hiền

Lương của Hoàng Hiệp; Cô gái vót chông (Nhạc: Hoàng Hiệp, Thơ:

Moloyclavi); Em là hoa Pơlang của Đức Minh; Dáng đứng Bến Tre của Nguyễn Văn Tý; Chiếc áo bà ba của Trần Thiện Thanh; Vàm Cỏ Đông

(Nhạc: Trương Quang Lục, Thơ: Hoài Vũ)…

Đối với Thanh Hóa cũng có không ít những ca khúc mang đậm âm hưởng dân gian như vậy, chúng có sức sống mãnh liệt và trở thành những bài

ca mang tính biểu tượng về vùng đất và con người Thanh Hóa như: Chào

sông Mã anh hùng của Xuân Giao; Thanh Hóa anh hùng của Hoàng Đạm; Cây lúa Hàm Rồng của Đôn Truyền; Đi giữa đại lộ Lê Lợi của Nguyễn

Cường; Kỷ niệm giọng hò của Minh Quang; Tự tình sông Mã của Thuận Yến;

Hàm Rồng mây bay của An Thuyên; Yêu người Thanh Hóa của Đoàn Bổng;

Về thăm sông Mã quê em của Minh Khang; Về theo câu Hò sông Mã của Huy

Thục; Hát về quê Thanh của Tố Hải; Những cô gái tỉnh Thanh của Phúc Minh; Về làm dâu sông Mã của Đồng Tâm; Xuân về trên đất Hàm Rồng và

Hỡi em cấy lúa dưới trăng của Nguyễn Liên; Nồng nàn khúc hát tỉnh Thanh

của Thế Việt; Âm vang giọng hò của Hoàng Sâm; Tiếng trống trò mùa xuân của Đỗ Hoài Nam; Hát về quê Thanh của Xuân Chung; Âm vang giọng hò của

Hoàng Sâm…

Trong những năm qua, các ca khúc mang âm hưởng dân ca xứ Thanh

đã được khẳng định trong lòng công chúng Chúng không những là niềm tự

Trang 9

hào, là động lực thúc đẩy người dân xứ Thanh vượt lên mọi gian nguy, vất vả

để chiến thắng thiên tai, đánh đuổi giặc ngoại xâm, xây dựng quê hương đất nước giàu đẹp, mà còn làm cho hàng triệu trái tim trên khắp mọi miền tổ quốc xích lại gần nhau hơn để xây dựng ngôi nhà hạnh phúc chung cho mọi người

Sự thành công của các ca khúc đó đã tạo động lực cho các thế hệ nhạc

sĩ tiếp tục khai thác vốn âm nhạc cổ truyền của dân tộc, phát huy những tinh hoa của âm nhạc dân gian, giới thiệu kho tàng dân ca phong phú của xứ Thanh để làm nên những ca khúc vừa có giá trị nghệ thuật lâu bền, đồng thời

bổ sung những sắc thái mới phù hợp với nhu cầu tình cảm, thẩm mỹ của công chúng đương đại, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đáng kể trong hướng sáng tác này vẫn có những ca khúc đơn giản, dễ dãi với những chất liệu dân ca quen thuộc Hoặc những nỗ lực chưa thành công trong việc khai thác những chất liệu âm nhạc dân gian kén người nghe thường khó thể hiện, đòi hỏi người hát phải có kỹ thuật nghề nghiệp và đủ ngấm nghệ thuật ca nhạc dân tộc Do vậy, vấn đề tìm tòi, khai thác chất liệu mới, tài năng sáng tạo của người nghệ

sĩ (cả nhạc sĩ sáng tác lẫn người biểu diễn), năng lực thụ cảm nghệ thuật của công chúng là những vấn đề còn nhiều khoảng trống cần đi sâu nghiên cứu, phân tích, lý giải

Trên phương diện khoa học, đã có một số công trình nghiên cứu quan tâm tìm hiểu vấn đề khai thác giá trị, chất liệu dân ca trong nền âm nhạc mới Việt Nam, tuy nhiên những nghiên cứu về kế thừa và phát huy dân ca xứ Thanh của người Việt trong sáng tác ca khúc viết về Thanh Hóa thì còn rất thưa vắng và còn nhiều phương diện cần được nghiên cứu làm rõ như: chất liệu dân ca xứ Thanh được khai thác, vận dụng vào sáng tác ca khúc của các nhạc sĩ như thế nào và nhằm mục đích gì; đặc điểm, giá trị, vai trò của các ca

Trang 10

khúc đó trong đời sống người dân Thanh Hóa qua các chặng đường lịch sử; những vấn đề đặt ra đối với việc kế thừa và phát huy vốn âm nhạc cổ truyền của cha ông trong đời sống hiện nay

Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu đi trước chủ yếu đặt ca khúc viết về Thanh Hóa trong một không gian văn hóa cụ thể và nghiên cứu một cách tách biệt dưới góc nhìn âm nhạc học hoặc nghệ thuật học Chưa có một công trình nào xem xét vấn đề này từ góc nhìn của văn hóa dân gian, trong mối quan hệ với âm nhạc dân gian truyền thống và trên phông nền của văn

hóa dân gian địa phương Chính vì vậy, NCS đã lựa chọn đề tài Kế thừa dân

ca người Việt xứ Thanh trong ca khúc về Thanh Hóa làm đề tài luận án

Thông qua việc triển khai đề tài nghiên cứu, luận án góp phần làm rõ một trong những cội nguồn quan trọng của âm nhạc đương đại Việt Nam chính là dân ca nói riêng, âm nhạc dân gian nói chung, bên cạnh việc tiếp thu và tiếp biến âm nhạc phương Tây, do đó nó vừa có các yếu tố tiên tiến, hiện đại, vừa giữ được các yếu tố truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc trong cơn lốc toàn cầu hóa hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khảo sát, đánh giá việc kế thừa chất liệu dân ca người Việt

xứ Thanh trong các sáng tác ca khúc viết về Thanh Hóa, luận án đưa ra những bàn luận và làm rõ những vấn đề đặt ra hiện nay đối với việc khai thác và phát huy các giá trị của dân ca người Việt xứ Thanh trong đời sống đương đại, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Trang 11

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến kế thừa dân ca người Việt xứ Thanh trong ca khúc viết về Thanh Hóa, giới thuyết các khái niệm cơ bản, trình bày các lý thuyết vận dụng trong luận án, giới thiệu quá trình hình thành và phát triển, đặc điểm của dân ca xứ Thanh và ca khúc viết

về Thanh Hóa, giá trị, vai trò của các sáng tác khai thác chất liệu dân ca xứ Thanh trong đời sống cộng đồng

- Khảo sát, làm rõ việc kế thừa dân ca người Việt xứ Thanh trong ca khúc viết về Thanh Hóa qua các yếu tố thuộc về ngữ văn dân gian (hình ảnh, biểu tượng, huyền thoại, từ đệm, điệp từ, ngôn ngữ địa phương, ngôn ngữ địa danh trong dân ca…) và các yếu tố thuộc về phương diện âm nhạc dân gian (giai điệu, thang âm - điệu thức, nhịp điệu, âm hình tiết tấu…)

- Đưa ra những bàn luận khoa học về các thành tố tham gia vào sự thành công của một tác phẩm ca khúc mang âm hưởng dân gian, xu hướng kế

thừa chất liệu dân ca trong các ca khúc đương đại, làm rõ những vấn đề đặt ra

trong việc kế thừa dân ca xứ Thanh trong sáng tác ca khúc hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là việc kế thừa dân ca người Việt xứ Thanh trong các ca khúc viết về Thanh Hóa thời gian qua

Về khách thể nghiên cứu, sức sống và sự thành công của một ca khúc được quyết định bởi nhiều yếu tố: tác phẩm, tác giả, người thể hiện tác phẩm

và công chúng thưởng thức Do vậy, bên cạnh việc tập trung phân tích, tìm hiểu thực trạng kế thừa dân ca của người Việt xứ Thanh trong các tác phẩm ca khúc, luận án cũng chú ý đi sâu phân tích, làm rõ vai trò của nhạc sĩ sáng tác, nghệ sĩ thể hiện tác phẩm và công chúng tiếp nhận tác phẩm

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Không gian nghiên cứu

Trang 12

Không gian nghiên cứu của luận án về cơ bản được giới hạn trong không gian vùng văn hóa “xứ Thanh” Từ cái nhìn địa - văn hóa, do tính chất trung gian (nằm giữa) Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, xứ Thanh thực sự có những đặc trưng văn hóa riêng, để lại dấu ấn nhiều mặt trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người và vùng đất nơi đây, trong đó có dân ca xứ Thanh Hiện nay, về mặt hành chính, Thanh Hóa có 2 thành phố trực thuộc tỉnh, 1 thị xã và 24 huyện

Bên cạnh đó, để có cái nhìn toàn cảnh và đầy đủ hơn, trong những trường hợp cần thiết, khi cần có những nghiên cứu so sánh, tham khảo, tìm hiểu về những vấn đề liên quan, luận án cũng có sự mở rộng không gian và biên độ nghiên cứu rộng hơn không gian nêu trên

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

Luận án xác định thời gian nghiên cứu việc kế thừa dân ca người Việt

xứ Thanh trong ca khúc viết về Thanh Hóa là từ năm 1965 đến nay, bởi đây là giai đoạn xuất hiện nhiều nhất các sáng tác của các nhạc sĩ viết về vùng đất Thanh Hóa mang chất liệu dân gian truyền thống

Bên cạnh đó, để có cái nhìn toàn cảnh về dân ca xứ Thanh và ca khúc viết về Thanh Hóa trên phông nền của dân ca và ca khúc Việt Nam nói chung phục vụ cho nghiên cứu so sánh, trong quá trình tìm hiểu, thu thập, tham khảo tài liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan, luận án cũng mở rộng phạm vi thời gian đến những giai đoạn sớm hơn

4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, luận án sẽ tập trung giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Dân ca xứ Thanh và các ca khúc viết về Thanh Hóa có quá trình hình thành và phát triển như thế nào, có những đặc điểm, giá trị, vai trò gì trong đời sống cộng đồng?

Trang 13

- Thực trạng kế thừa các giá trị của dân ca người Việt xứ Thanh trong

ca khúc viết về Thanh Hóa trong đời sống đương đại ra sao?

- Những bàn luận và vấn đề gì có thể rút ra từ thực tiễn kế thừa dân ca người Việt xứ Thanh trong ca khúc viết về Thanh Hóa, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc?

Từ những câu hỏi nghiên cứu trên, luận án đưa ra giả thuyết nghiên cứu như sau:

Một số ca khúc viết về Thanh Hóa tạo được thành công và trở thành những bài ca đi cùng năm tháng là do biết kế thừa những giá trị đặc sắc của dân ca xứ Thanh kết hợp với tinh thần của cuộc sống đương đại Đó là những

ca khúc thể hiện được những nét bản sắc của vùng đất và con người Thanh Hóa, nên dễ đi vào lòng công chúng và sống mãi với thời gian

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cách tiếp cận

Luận án sử dụng cách tiếp cận chính là tiếp cận của nghiên cứu văn hóa dân gian Bên cạnh đó, do dân ca và ca khúc đều là những hiện tượng văn hóa mang tính chỉnh thể nguyên hợp, nên luận án cũng sử dụng cách tiếp cận liên ngành, phối kết hợp các phương pháp và thành tựu nghiên cứu của văn hóa học, nhân học văn hóa, âm nhạc dân tộc học để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề ra

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu

Luận án thu thập, tổng hợp, phân tích các nguồn tài liệu, văn bản, công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, luận án, luận văn, bài báo có liên quan, để

từ đó xác định được cơ sở lý luận và thực tiễn của luận án, tìm ra các lý thuyết

có thể vận dụng trong quá trình triển khai đề tài, kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước, đồng thời có sự mở rộng, phát triển để tìm ra những đóng góp mới của luận án

Trang 14

5.2.2 Phương pháp điền dã thực địa, quan sát tham dự, phỏng vấn sâu

NCS trực tiếp tham gia quan sát, tìm hiểu, trải nghiệm về sinh hoạt dân

ca của các nghệ nhân dân gian, hoạt động sáng tạo của các nhạc sĩ, ca sĩ, tham gia các buổi biểu diễn…; đã tiến hành 59 cuộc phỏng vấn sâu gồm: 7 nhạc sĩ sáng tác, 5 ca sĩ biểu diễn, 11 nhà quản lý văn hóa và các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, 36 khán thính giả ở Thanh Hóa để tìm hiểu, thu thập những ý kiến, quan điểm khác nhau về việc kế thừa dân ca người Việt xứ Thanh trong các ca khúc viết về Thanh Hóa Đối tượng phỏng vấn sâu gồm những người ở các độ tuổi khác nhau (người cao tuổi, trung niên, giới trẻ), giới tính, nghề nghiệp và các khu vực (nông thôn, đô thị) để thu được những kết quả mang tính đại diện, xác thực thể hiện nhận thức, suy nghĩ, đánh giá của họ về việc kế thừa dân ca trong ca khúc viết về Thanh Hóa, vai trò, giá trị của các ca khúc đó trong đời sống đương đại Đây là phương pháp định tính quan trọng nhằm lắng nghe “tiếng nói của người trong cuộc”

để có được những nhận định, đánh giá mang tính khách quan, thực tế, đa chiều trong quá trình nghiên cứu

5.2.3 Phương pháp xử lý số liệu thứ cấp

Để bổ trợ cho các nghiên cứu định tính, NCS cũng kế thừa các kết quả điều tra định lượng, các số liệu thứ cấp rút từ ra các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê, các Đề án, Dự án của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thanh Hóa, Chi hội nhạc sĩ Thanh Hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa…

5.2.4 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh được NCS sử dụng trong luận án khi nghiên cứu

so sánh giữa ngôn ngữ, ca từ, giai điệu, thang âm - điệu thức, nhịp điệu, âm hình tiết tấu của dân ca người Việt xứ Thanh với các ca khúc viết về Thanh Hóa, để từ đó thấy được mức độ và các phương thức khai thác chất liệu dân

ca của các nhạc sĩ Bên cạnh đó, phương pháp này cũng được sử dụng khi đối

Trang 15

chiếu, so sánh dân ca xứ Thanh với một số thể loại dân ca khác ở một số địa phương ở Việt Nam

5.2.5 Các phương pháp và thao tác kỹ thuật khác

Ngoài ra, luận án cũng sử dụng các phương pháp chung trong nghiên cứu khoa học như: thống kê, đối chiếu, diễn giải, biện luận và các thao tác kỹ thuật như: ký âm, ghi âm đối với tác phẩm âm nhạc

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa dân ca và ca khúc trong âm nhạc Việt Nam hiện nay, làm rõ một trong những cội nguồn quan trọng của âm nhạc đương đại chính là âm nhạc dân gian, bên cạnh việc tiếp thu và tiếp biến âm nhạc phương Tây, giúp cho nền âm nhạc dân tộc “hòa nhập mà không hòa tan” trong quá trình hội nhập quốc tế

Đưa ra những bàn luận về vai trò của nhạc sĩ sáng tác, ca sĩ thể hiện và các yếu tố bổ trợ khác góp phần tạo nên sự thành công của các ca khúc mang

âm hưởng dân ca trong bối cảnh đương đại

Luận án cũng góp thêm một cách nhìn, một tiếng nói mang tính tham khảo cho các nhạc sĩ, ca sĩ, các nhà nghiên cứu văn hóa, quản lý văn hóa và hoạt động văn hóa tại địa phương cũng như trung ương về lĩnh vực này

Trang 16

Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho khoa học chuyên ngành và các đối tượng quan tâm đến vấn đề của luận án

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu (10 trang), Kết luận (6 trang), Tài liệu tham khảo (12 trang) và Phụ lục (63 trang), luận án gồm có ba chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát

về dân ca người Việt xứ Thanh, ca khúc về Thanh Hóa (49 trang)

Chương 2: Tình hình kế thừa dân ca người Việt xứ Thanh trong ca khúc về Thanh Hóa từ năm 1965 đến nay (33 trang)

Chương 3: Bàn luận và những vấn đề đặt ra đối với việc kế thừa dân ca người Việt xứ Thanh trong ca khúc hiện nay (38 trang)

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ DÂN CA NGƯỜI VIỆT XỨ THANH,

CA KHÚC VỀ THANH HÓA 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các công trình mang tính lý luận về cách tiếp cận của nghiên cứu văn hóa dân gian

Công trình Nghiên cứu folklore Mĩ của Jan Harold Bruvand, xuất bản

lần đầu vào năm 1968 và lần thứ hai năm 1985, là một công trình nghiên cứu

cơ bản về văn hóa dân gian được đánh giá cao, là cuốn sách hàng đầu được chọn làm giáo trình giảng dạy cho sinh viên và cho các khóa học về folklore Trong công trình tác giả đưa ra định nghĩa, giới thuyết, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân loại và các tiểu loại của folklore… Công trình này đã khẳng định vị trí Jan Harold Bruvand trong giới nghiên cứu folklore Mĩ cũng như trên thế giới Trong quá trình nghiên cứu folklore, Jan Harold luôn chú trọng tính nguyên hợp và đề cập đến một khía cạnh rất quan trọng, đó là phương diện đạo lý, trách nhiệm và nghĩa vụ pháp

lý của người sưu tầm đối với người cung cấp thông tin và tư liệu của họ… [126]

Về lịch sử phát triển của ngành nghiên cứu văn hóa dân gian, trong bài viết “Văn hóa dân gian và văn hóa dân tộc”, tác giả Ngô Đức Thịnh viết:

Thuật ngữ quốc tế "folklore (phôn-clo)" - Văn hóa dân gian, được W J.Thom

sử dụng đầu tiên vào năm 1846 để chỉ "phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín,

ca dao, tục ngữ của người thời trước" Từ đó đến nay, bộ môn văn hóa dân gian học đã ra đời và phát triển với ba trường phái lớn: trường phái phôn-clo Anh - Mỹ chịu ảnh hưởng nhân học, trường phái phôn-clo Tây Âu chịu ảnh hưởng xã hội học (điển hình là Pháp và I-ta-li-a) và trường phái phôn-clo Nga chịu ảnh hưởng ngữ văn học [134]

Trang 18

Ở Việt Nam, thuật ngữ "phôn-clo" đã được sử dụng từ lâu và tùy theo mỗi thời kỳ được dịch ra tiếng Việt là "văn học dân gian", "văn nghệ dân gian" và nay là "văn hóa dân gian" Việc quan niệm rộng hẹp và chuyển ngữ sang tiếng Việt khác nhau như vậy là do sự thay đổi nhận thức của chúng ta

về văn hóa dân gian và cũng do sự tiếp thu ảnh hưởng của các quan niệm phôn-clo từ các trường phái khác nhau trên thế giới [134]

Cuốn Image - Music - Text (Hình ảnh - Âm nhạc - Văn bản) tập hợp

các bài tiểu luận lớn của Roland Barthes về phân tích cấu trúc của tự sự và về các vấn đề trong lý thuyết văn học, về ký hiệu học của nhiếp ảnh và phim, về thực hành âm nhạc và giọng nói Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã mô tả hình thức thể hiện trong âm nhạc dân gian là một loại thanh nhạc được đặc trưng bởi âm lượng giọng hát và giọng nói, không gian mà ý nghĩa phát sinh “từ trong tiếng nói và bối cảnh tình cảm của nó” và nó được định vị

ở cổ họng, lưỡi và răng… [125]

Năm 2006, Viện Văn hóa - Thông tin (nay là Viện Văn hóa Nghệ thuật

Quốc gia Việt Nam) tổ chức hội thảo quốc tế Bảo tồn và phát huy dân ca

trong xã hội đương đại (qua trường hợp Quan họ ở Bắc Ninh) Hội thảo thu

hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về âm nhạc dân gian trên thế giới như Marina Roseman, Oshio Satomi, Bountheng Souksavatd… Học giả Max Peter Baurmann, đến từ trường Đại học Bamberg - Cộng hòa liên bang Đức,

có bài viết “Di sản văn hóa phi vật thể - các truyền thống truyền miệng, tính

đa dạng và bản thuyết trình toàn cầu về sự hiểu biết liên văn hóa Ông đã đưa

ra quan niệm: “… Lịch sử của truyền thống âm nhạc dân gian vì thế trước hết

là lịch sử của sự thờ ơ Đồng thời nó luôn là lịch sử của việc trau dồi những giá trị truyền thống tưởng tượng, của sự kính trọng hay vô lễ đối với những biểu đạt của dân tộc cũng như cuộc đấu tranh để được thừa nhận bởi những người ngoài cuộc và những nhóm chi phối họ” [73, tr.121]

Trang 19

Về tư liệu nghiên cứu văn hóa dân gian trước cách mạng tháng Tám

phải kể đến công trình của Nguyễn Văn Huyên Luận án tiến sĩ Hát đối đáp

của nam nữ thanh niên An Nam (Les chants alternés des garcons et de s filles

en Annam) năm 1932 là một công trình tổng hợp về ngôn ngữ, dân tộc, âm nhạc, sử học, văn học dân gian… “ Có chương chuyên nghiên cứu nhạc cụ, lời hát dân gian trong các ngày hội lễ Có chương chuyên phân tích phân tích các kết cấu của từng thể ca trong lời hát đối đáp”… Sách đề cập đến tài ứng tác văn chương của người bình dân, so sánh các lễ hội giao duyên ở nước ta với các lễ hội giao duyên ở Lào, Thái, Tây Tạng Trung Quốc… [48, tr.23]

Tác giả Đinh Gia Khánh được giới nghiên cứu văn hóa dân gian đánh giá là đã “đặt nền móng cho sự phát triển của ngành folklore học Việt Nam”

với công trình Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian xuất bản năm 1989 Một

trong những đóng góp quan trọng của cuốn sách là giới thuyết khái niệm “văn hóa dân gian” Tác giả là người đầu tiên đưa ra “tính chất nguyên hợp” của văn hóa dân gian và phân tích các thành tố cơ bản của nó như nghệ thuật tạo hình dân gian, nghệ thuật biểu diễn dân gian và nghệ thuật ngữ văn dân gian Ông cũng viết về sinh hoạt văn hóa dân gian; các vấn đề lớn của văn hóa dân gian như: lịch sử, lý luận, phương pháp luận trong nghiên cứu văn hóa dân gian; vai trò của folklore học Việt Nam hiện nay trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới… [33]

Theo ông, tác phẩm folklore tồn tại và vận động như một chỉnh thể nguyên hợp Vì vậy, cần tiếp cận nó theo hướng tiếp cận chỉnh thể Chỉnh thể

ấy được cảm thụ bằng tất cả các giác quan trong cùng một lúc Ông cho rằng:

“Tác phẩm folklore trong cùng một lúc tác động vào thị giác, vào thính giác, vào cảm xúc nhịp điệu Tác phẩm folklore lại có mối quan hệ hữu cơ với môi trường, với sinh hoạt văn hóa, với thế ứng xử và lối ứng xử, với tập tục và truyền thống lâu đời của cộng đồng…” [118, tr.10] Để nghiên cứu một tác

Trang 20

phẩm folklore thì cần phải phân tích chỉnh thể nguyên hợp ấy ra các thành tố, hơn nữa cần phải phân tích từng thành tố ra các yếu tố nhỏ hơn để có thể đi sâu tìm hiểu nội dung cũng như cấu trúc của từng thành tố nói riêng, của chỉnh thể nguyên hợp nói chung [118, tr.11]

Trong bài viết “Nghiên cứu âm nhạc từ góc độ phôncơlo học”, tác giả

Tô Đông Hải cho rằng: “Âm nhạc dân gian là một bộ phận không thể chia cắt nổi của toàn bộ sinh hoạt phôncơlo của một tộc người, một dân tộc Nó gắn chặt với lễ hội, với múa, với những hoạt động diễn xướng, với nghệ thuật tạo hình, với phong tục, tập quán của tộc người, dân tộc đó” [114, tr.234] “Trong khi nghiên cứu các loại hình âm nhạc, dân ca của người Việt, chúng tôi thấy hiện tượng gồm 2 bộ phận, 2 yếu tố, 2 đơn vị lại tồn tại không phải trong cao

độ của âm thanh, mà ở trong nhịp điệu và tiết tấu của các âm thanh ấy” [114, tr.232]

Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính, nhiều công trình nghiên cứu khẳng định rằng thành phần ngôn từ trong tác phẩm phôncơlo có thể không tồn tại

mà không có giai điệu, nhưng nếu giai điệu mà thiếu lời thì không tồn tại… trong sự thống nhất giữa lời ca và giai điệu, yếu tố quyết định thường là phần lời… [114, tr.147]

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp những kiến thức nền tảng, các phạm trù nhận thức, lý thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, các khái niệm và thuật ngữ cơ bản rất cần thiết và hữu ích để NCS có thể tham khảo, vận dụng trong quá trình triển khai luận án

1.1.2 Nghiên cứu về dân ca và ca khúc Việt Nam

1.1.2.1 Nghiên cứu về dân ca Việt Nam

Hiện nay đã có khá nhiều công trình của các nhà nghiên cứu đi trước quan tâm tìm hiểu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam nói chung, dân ca Việt Nam nói riêng NCS chỉ đi sâu phân tích một số công trình nghiên cứu về dân

ca Việt Nam có liên quan đến luận án

Trang 21

Với đối tượng nghiên cứu là Việt Nam và mối quan tâm nghiên cứu bao gồm: chính trị, văn hóa, biểu diễn, âm nhạc dân gian, sân khấu, nhân học hình ảnh…, tác giả Lauren Meeker đã đưa ra nhiều vấn đề nghiên cứu mới

qua luận án Musical transmissons folk music, mediation and modernity in

Northern Vietnam (Sự chuyển tải âm nhạc: âm nhạc dân gian, sự điều chỉnh

và quá trình hiện đại hóa ở miền Bắc Việt Nam) (2007) Từ cách tiếp cận nhân học, tác giả xem xét yếu tố diễn xướng trong âm nhạc dân gian, sự trao truyền, kỹ thuật thể hiện…(trong đó có đề cập đến dân ca Việt Nam) [135]

Bài viết “Dân ca Việt Nam - dòng sữa mẹ” [60] của tác giả Tú Ngọc

cung cấp một cái nhìn tổng quan về kho tàng dân ca trên khắp đất nước Việt Nam Tác giả đã cho độc giả hiểu biết về sự phong phú của các thể loại, sự gắn bó của từng thể loại với môi trường và phương thức diễn xướng cụ thể; cũng như chức năng thực hành xã hội và giá trị nghệ thuật của dân ca

Trong chuyên khảo Tìm hiểu giai điệu dân ca Việt Nam [61] tác giả Tú

Ngọc đã giải quyết một cách khoa học các vấn đề: Mối quan hệ giữa ngữ âm tiếng Việt và giai điệu dân ca – sự hình thành những phong cách giai điệu, những hình thái âm điệu đặc trưng, ý nghĩa biểu hiện và vai trò điệu tính của chúng, những phương thức phát triển giai điệu trong dân ca Bài viết đã cung cấp một cách tiếp cận mới, các kiến thức nền tảng, những khái niệm cơ bản để nghiên cứu dân ca Việt Nam

Công trình nghiên cứu Dân ca Việt Nam những thành tố của chỉnh thể

nguyên hợp của tác giả Lê Văn Chưởng đã sử dụng thuật ngữ dân ca với

phương pháp tiếp cận nghiên cứu chỉnh thể Tác giả quan niệm dân ca là những bài thơ dân gian được diễn xướng theo nhiều làn điệu, trên nhiều môi trường khác nhau Do vậy, công trình không những chỉ tiếp cận những bài thơ dân gian mà còn âm nhạc và trình diễn dân gian bởi dân ca vốn là một tổng thể hoàn chỉnh (chỉnh thể) có tính nguyên hợp [12]

Trang 22

Giáo trình Âm nhạc cổ truyền Việt Nam của tác giả Nguyễn Thụy Loan

(2005) gồm ba chương và riêng chương ba trình bày sơ lược về các vùng dân

ca Việt Nam Ở chương này, tác giả nêu lên đặc trưng, vai trò và giá trị của dân ca Việt Nam, đặc biệt là phần các vùng dân ca: Dân ca đồng bằng, trung

du Bắc Bộ và cực Bắc Trung Bộ; Dân ca vùng đồng bằng và ven biển Bắc Trung Bộ; Dân ca vùng đồng bằng và ven biển Nam Trung Bộ; Dân ca vùng đồng bằng Nam Bộ; Dân ca miền núi phía Bắc; Dân ca Trường Sơn – Tây Nguyên [53]

Giáo trình Hát dân ca của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Liêm (2008) dùng

cho đối tượng trung cấp âm nhạc cũng đã giới thiệu sơ lược về các vùng dân

ca Việt Nam Tác giả đã chia dân ca thành hai bộ phận chính: Dân ca dân tộc Việt (gồm: Dân ca Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ) và dân ca các dân tộc thiểu

số (gồm: Dân ca các dân tộc vùng Việt Bắc, vùng Tây Bắc, dân ca Tây Nguyên, dân ca Chăm, dân ca Khmer Nam Bộ, dân ca người Hoa Nam Bộ) [40]

Trong công trình nghiên cứu Cấu trúc dân ca người Việt, tác giả Huyền

Nga đã đề cập đến lĩnh vực nghiên cứu cấu trúc trong dân ca và đối tượng để xem xét, phân tích là dân ca người Việt Tư liệu để phân tích là các thể loại: Hát ru, Đồng dao, Nghi lễ phong tục, hát Giao duyên, Lý, Hò, Ngâm, Nói thơ… ba miền Bắc - Trung - Nam Công trình đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc của dân ca với các chủ đề: Khái niệm và tiêu chí phân tích cấu trúc trong dân

ca, sự khởi nguồn của cấu trúc dân ca; lời ca trong mối quan hệ qua lại với cấu trúc dân ca Trên cơ sở đó, công trình đi sâu khảo sát các dạng cấu trúc chính trong dân ca người Việt gồm: cấu trúc nguyên sơ; cấu trúc làn điệu; cấu trúc ca khúc dân gian [57]

Đây là những công trình quý giá cung cấp cho NCS những kiến thức nền tảng, những hiểu biết cơ bản về dân ca Việt Nam nói chung, dân ca các vùng miền nói riêng

Trang 23

1.1.2.2 Nghiên cứu về ca khúc Việt Nam

Nhằm đi đến thống nhất nhận định về một số vấn đề cơ bản trong cách nhìn nhận sự hình thành một dòng nhạc mới của nền âm nhạc Việt Nam vào giai đoạn những năm 30 - 50 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu âm nhạc đã tìm ra những cơ sở lịch sử - khoa học cho việc đánh giá giai đoạn lịch sử này, đánh giá những tác phẩm ra đời trong giai đoạn ấy, đánh giá những nhạc sĩ Việt Nam trong các giai đoạn, mà thời kỳ những năm 30 - 50 là rất quan trọng, vì đó là bước ngoặt, một biến đổi có tính quyết định cho sự phát triển tiếp tục của nền âm nhạc Việt Nam nói chung và nền âm nhạc chuyên nghiệp

- bác học Việt Nam nói riêng

Liên quan đến vấn đề này, NCS đi sâu tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học có liên quan đến luận án, cụ thể như:

Luận án Tiến sĩ Nghệ thuật học của Vũ Tự Lân (1996) Những ảnh

hưởng của âm nhạc châu Âu trong ca khúc Việt Nam giai đoạn những năm

1930 – 1950 đề cập đến những đặc trưng cấu thành ngôn ngữ âm nhạc châu

Âu và ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam (chủ yếu trong loại hình ca khúc) trong giai đoạn những năm 1930 – 1950 như: cấu trúc thang âm – điệu thức, hình thức, phương pháp xây dựng và phát triển giai điệu, xây dựng lời ca nhằm tìm

ra sự tương đồng và khác biệt của hai ngôn ngữ âm nhạc, những ảnh hưởng tích cực của âm nhạc Pháp – châu Âu tác động vào sáng tác âm nhạc Việt Nam (chủ yếu là ca khúc) và sự phát triển tự thân, chủ động của nhạc sĩ Việt Nam trong khi tiếp thu những ảnh hưởng đó [37]

Một công trình đồ sộ khác là Âm nhạc mới Việt Nam - tiến trình và

thành tựu (2000) của nhóm tác giả: Tú Ngọc, Nguyễn Thị Nhung, Vũ Tự Lân,

Nguyễn Ngọc Oánh, Thái Phiên Đây là công trình khoa học đầu tiên được tổng kết dưới dạng chuyên luận, mang tính hệ thống, đánh giá cả một quá trình hình thành và phát triển của âm nhạc mới Việt Nam trải dài gần toàn

Trang 24

toàn bộ thế kỷ XX Mặc dù công trình đã coi âm nhạc là một hiện tượng văn hóa, nhưng do đặc thù của chuyên ngành và tính chất của đề tài, nên các tác giả hầu như thiên về thủ pháp của chuyên ngành âm nhạc học, mà ít đề cập tới tầng nền văn hóa, xã hội…[63]

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Đăng Nghị (2009), Những đặc trưng của ca

khúc cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 – 1975 đã tìm ra một số đặc trưng

của ca khúc cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến 1975 Qua nghiên cứu này, tác giả đã lý giải, khẳng định những đặc trưng này chỉ có thể xây dựng trên cơ sở tầng nền của truyền thống văn hóa Việt Nam Để làm rõ vấn đề nghiên cứu, tác giả đã phân tích chỉ ra sự tác động của lịch sử, xã hội, điều kiện tự nhiên… chính là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến

sự hình thành những nét riêng của ca khúc cách mạng Việt Nam [59]

Hợp tuyển tài liệu nghiên cứu - lý luận - phê bình âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX (2003) do Viện âm nhạc xuất bản được chia thành 5 tập gồm 7 phần

tư liệu về các mảng khác nhau trong âm nhạc Hợp tuyển là những bài viết tiêu biểu về âm nhạc Việt Nam được in trên các nhật báo, tuần báo, nguyệt san, nội san, tạp chí… và được xuất bản tại Việt Nam trong khoảng thời gian

từ đầu nǎm 1901 đến hết nǎm 2000 NCS đã tham khảo được nhiều bài viết có giá trị của các tác giả từ tuyển tập này

Trong bài viết “Phổ thơ là nâng cao chất lượng văn học và nghệ thuật

trong ca khúc” của tác giả Văn Chung đã giới thiệu kinh nghiệm phổ thơ của

một số dân ca hý khúc lưu truyền trong dân gian của ta và trình bày những quan niệm của ông về phổ thơ:

Mặc dầu nhạc có quy luật của nhạc, thơ có quy luật của thơ, nhưng hai cái có thể phối hợp được bằng cách dựa trên thơ làm nhạc, trong

đó nhạc vẫn có khả năng phát huy được đặc tính của âm nhạc Trường hợp này, cần có sự cộng tác mật thiết giữa thi sĩ và nhạc sĩ

Trang 25

để lựa chọn, gọt giũa, cắt xén, phát triển… để cho những quy luật

khác nhau giữa thơ và nhạc đó trở nên phù hợp, gắn bó hữu cơ với

nhau [11, tr 410]

Bài viết “Về việc đặt lời cho ca khúc” của tác giả Nguyễn Đình San nói

về mối quan hệ mật thiết giữa phần nhạc với phần lời trong một ca khúc

Thông qua một số dẫn chứng từ các ca khúc, tác giả đã nhận định rằng: “Lời

trong ca khúc chỉ là cụ thể hóa ý tình nằm trong giai điệu, nó không thể thay

thế giai điệu để nói hộ tác giả” [83, tr.901] Thực tế cho thấy nhiều ca khúc

phần lời minh họa dài dòng nội dung vấn đề, sử dụng những danh từ trừu

tượng, những từ ngữ vay mượn hoặc chuyên môn thuần túy, thanh điệu của

lời không sắp xếp hợp lý để ứng với các quãng của giai điệu… [80]

1.1.3 Nghiên cứu về việc sử dụng, khai thác chất liệu dân gian trong

ca khúc Việt Nam

Bất cứ loại hình nghệ thuật nào cũng có những ngôn ngữ riêng để xây

dựng và truyền tải nội dung nghệ thuật của mình, nếu như nghệ thuật tạo hình

có ngôn ngữ đường nét, hình khối, màu sắc; nghệ thuật múa có ngôn ngữ là

hình thể con người thì nghệ thuật sáng tác ca khúc cần có ngôn ngữ âm

nhạc và ngôn ngữ lời ca

Đã có nhiều nhạc sĩ sử dụng văn học dân gian làm lời ca trong nghệ thuật

sáng tác ca khúc của mình, nhất là từ khi nghệ thuật dân gian ngày càng được

quan tâm và đánh giá đúng mức, thì việc làm này diễn ra thường xuyên hơn, có

tính trào lưu, hệ thống và ngày càng khẳng định giá trị nhất định của nó

Trong bài viết “Âm nhạc dân gian với tác phẩm chuyên nghiệp”, tác giả

Nguyễn Viêm đã có những dẫn giải để làm rõ tính dân tộc trong âm nhạc

được tạo nên từ việc người nhạc sĩ đưa chất liệu âm nhạc cổ truyền vào tác

phẩm mới và từ việc phát triển những hình tượng thơ ca dân gian Ông khẳng

Trang 26

định: “…nếu không quan tâm đến văn hóa dân gian thì không dễ gì mà có được số tác phẩm nổi tiếng độc đáo màu sắc dân tộc” [116, tr.1011]

Thống nhất với quan điểm nêu trên, tác giả Nguyễn Thị Nhung trong

bài viết “Về tính kế thừa truyền thống của ca khúc mới Việt Nam 1945-1975”

cũng đã đúc kết những phương pháp khai thác dân ca: những giai điệu đặc trưng, cách sử dụng thang âm, điệu thức, âm hình tiết tấu đặc trưng, cách phổ thơ Sự “tăng cường những đặc điểm truyền thống” đã biểu hiện bản sắc dân tộc, mang lại thành công cho nhiều ca khúc mới [75, tr.1013]

Bài viết “Xung quanh vấn đề vận dụng dân ca miền Trung vào một số

sáng tác mới” của tác giả Đào Việt Hưng đề cấp tới một vấn đề mà các nhạc

sĩ sáng tác thường quan tâm tới: sử dụng vốn dân ca, dân nhạc như thế nào trong sáng tác của mình một cách sáng tạo, để bài hát, bản nhạc mang được tính dân tộc đậm đà, và có nội dung hiện thực xã hội chủ nghĩa sâu sắc Tuy bài viết chưa phân tích sâu về giai điệu, điệu thức, hòa thanh nhưng đã nên ra một số khía cạnh với mong muốn các nhạc sĩ trao đổi về kinh nghiệm sáng tác hoặc những suy nghĩ , tìm tòi nghiên cứu của mình về vấn đề này [26]

Bài viết “Vài ý kiến nhỏ về việc sáng tạo trên cơ sở dân tộc trong ca nhạc” của tác giả Trần Kiết Tường đã khẳng định rằng: “… kho tàng vốn cổ dân tộc ta vô cùng phong phú Âm nhạc cách mạng nhất thiết phải xây dựng trên cơ sở dân tộc phong phú mới có được cái chân giá trị của nó Nhưng không phải chỉ có chọn những làn điệu đẹp mới có giai điệu mới và đẹp đẽ,

mà chính là do sự sáng tạo của chúng ta ” [109, tr.506]

Bài viết “Mấy ý kiến về vấn đề nghiên cứu dân ca và vận dụng dân ca

vào sáng tác mới” của tác giả Lê Lôi nhận định: “Nghiên cứu dân ca đối với

người sáng tác, không thể coi là một việc đi lùng tài liệu… Khi sáng tác, nhạc

sĩ có thể suy nghĩ, tìm chọn những chất liệu thích hợp với nội dung tác phẩm của mình Nhưng, nếu chỉ quan niệm: áp dụng một số nét dân ca cụ thể nào

Trang 27

đó vào sáng tác là đã hoàn thành xong phần căn bản của tác phẩm, thì thật là một quan niệm sai lầm” [55, tr.433]

Tác giả Tạ Xuân Sơn khi nghiên cứu đề tài Nhạc sĩ An Thuyên và một

số ca khúc mang phong cách dân gian (2007) đã viết: “Lời ca trong các ca

khúc thường thấm đượm ca dao, tục ngữ dân gian” Sau khi đi sâu phân tích các phương diện về lời ca và âm nhạc trong sáng tác của nhạc sĩ An Thuyên, tác giả đã đi đến kết luận: Tính dân tộc trong lời ca luôn được tác giả đề cao Lời ca trong những ca khúc của nhạc sĩ An Thuyên luôn gần gũi với thơ ca dân tộc, thấm đượm ca dao, tục ngữ dân gian, giàu vần điệu và các thủ pháp dùng hư từ, điệp từ Đây là một hướng đi giàu tiềm năng và việc “vận dụng những câu ca dao, tục ngữ để diễn đạt nội dung lời ca là một phương pháp đem lại tính dân tộc” cho những sáng tác An Thuyên [83]

Trong luận án Vấn đề khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng

tác ca khúc Việt Nam (2016), tác giả Trịnh Lan Hương đã nghiên cứu làm

sáng tỏ những nội dung khoa học và giá trị khoa học của việc khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc Việt Nam Qua đó, nâng cao nhận thức của người sáng tác ca khúc và công chúng âm nhạc, thúc đẩy sự phát triển của dòng ca khúc âm nhạc theo phong cách dân gian đương đại, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong nền âm nhạc Việt Nam [28]

Trong luận văn thạc sĩ Những yếu tố dân gian trong ca khúc Việt Nam

thời đổi mới (1986 - 2007), tác giả Trần Bảo Lân đã đi sâu nghiên cứu “những

yếu tố dân gian” bao gồm: thang âm - điệu thức, âm điệu, tiết tấu, thủ pháp ca

từ, lối cấu trúc đan xen giữa kiểu nhạc có tiết nhịp và không tiết nhịp, yếu tố dân gian trong phần đệm, phần biểu diễn Khi tiến hành khảo sát khá toàn diện các yếu tố đó, tác giả đã đề cập đến một số thể loại văn học dân gian được dùng làm chất liệu để sáng tác ca khúc và đi đến nhận định: “Ca khúc

Trang 28

thời đổi mới tiếp tục khai thác những hình tượng văn học dân gian từ nhiều nguồn khác nhau như: ca dao, tục ngữ, dân ca, các tích truyện dân gian ” [38, tr.56]

Kế thừa hướng nghiên cứu trên, trong luận án Bản sắc dân tộc trong ca

khúc mới Việt Nam (2013), tác giả Trần Bảo Lân khi nghiên cứu mối liên hệ

giữa việc sử dụng yếu tố dân gian với bản sắc dân tộc trong ca khúc đã khẳng định: Văn hóa và âm nhạc dân gian là nền tảng của bản sắc dân tộc trong ca khúc mới Việt Nam Văn hóa hay âm nhạc dân gian bao giờ cũng là nền tảng cho việc tạo nên bản sắc dân tộc trong ca khúc Số lượng các yếu tố dân gian được sử dụng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với mức độ đậm nhạt của bản sắc dân tộc Cụ thể là: Ca khúc không chứa yếu tố dân gian thì không mang bản sắc dân tộc; Ca khúc có chứa các yếu tố dân gian thì có bản sắc dân tộc; Ca khúc chứa càng nhiều yếu tố dân gian thì bản sắc dân tộc càng đậm [39]

Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của âm nhạc dân gian trong tác phẩm

khí nhạc mới Việt Nam thế kỷ XX của tác giả Trịnh Hoài Thu đã nghiên cứu

mối quan hệ giữa văn hóa dân gian (điển hình là âm nhạc dân gian Việt Nam)

và âm nhạc bác học (tác phẩm âm nhạc thính phòng – giao hưởng do các nhạc

sĩ Việt Nam sáng tác trong giai đoạn từ năm 1954 đến năm 2000) Luận án nghiên cứu xu hướng sử dụng chất liệu âm nhạc dân gian trong tác phẩm khí nhạc mới Việt Nam; đề cập đến những vấn đề về lịch sử, xã hội, về văn hóa dân gian…, giải quyết các vấn đề chuyên môn học thuật âm nhạc, đặc trưng của âm nhạc dân gian trong tác phẩm thính phòng – giao hưởng Việt Nam…[96]

Cùng quan điểm khi nhìn nhận mối liên hệ giữa việc khai thác chất liệu văn học dân gian với tính dân tộc, bản sắc dân tộc của ca khúc (nói riêng) và của âm nhạc (nói chung), trong bài viết “Âm nhạc thời kinh tế thị trường và

thời hội nhập”, tác giả Nguyễn Thị Minh Châu đã phân tích sự phát triển của

Trang 29

đời sống âm nhạc Việt Nam trong sự tác động của các yếu tố “thời kinh tế thị trường”, “thời hội nhập” và nhận thấy tính dân tộc là kết quả từ ý thức phát huy ưu thế của chất liệu dân gian của chủ thể sáng tạo: “Tính dân tộc đậm nét dần nhờ các thủ pháp sử dụng chất liệu dân gian hoặc sáng tạo trên nguyên lý

âm nhạc cổ truyền, đặc biệt là vận dụng mối quan hệ khăng khít vốn có lâu đời giữa nhạc với lời, giữa giai điệu với ngữ điệu tiếng Việt” [129]

Bài viết “Vai trò của dân ca, nhạc cổ truyền dân tộc trong ca khúc đương đại” của tác giả Thanh Truyền cho rằng:

Tính dân tô ̣c và tính hiê ̣n đa ̣i trong âm nha ̣c cổ truyền là chủ đề rất

rộng, liên quan đến mo ̣i lĩnh vực, từ sáng tác, biểu diễn, đào ta ̣o đến

lý luâ ̣n phê bình Viê ̣c giải quyết thành công mối quan hê ̣ giữa tính dân tộc và tính hiê ̣n đa ̣i đã hình thành ra các trường phái âm nha ̣c

Các nha ̣c sĩ sáng tác là những người đi tiên phong trong viê ̣c khai thác, phát triển nền âm nha ̣c của dân tô ̣c mình và tiếp thu tinh hoa

âm nhạc thế giới để xây dựng phong cách riêng cho mình, đồng thời

góp phần làm phong phú cho trường phái âm nha ̣c dân tô ̣c mà ho ̣ đươ ̣c sinh ra… [139]

Trong xu thế toàn cầu hóa, thế giới trở nên mô ̣t mă ̣t phẳng về kinh tế, khoa học, kỹ thuâ ̣t và văn hóa, đă ̣c biê ̣t là văn hóa đa ̣i chúng, trong đó có âm nhạc đươ ̣c dàn bằng không biên giới, xu thế hướng ngoa ̣i, lấy thước đo của văn hóa phương Tây làm chuẩn, bắt chước dâ ̣p khuôn theo những mẫu hình, thần tượng của nền ca nha ̣c đa ̣i chúng phương Tây chính là những thách thức đối với nền âm nha ̣c dân tô ̣c của chúng ta Do vậy qua bài viết “Tính dân tộc

và tính hiện đại trong âm nhạc nước ta hiện nay”, tác giả cho rằng: Ngày nay mối quan hệ tương tác giữa tính dân tô ̣c và tính hiê ̣n đa ̣i càng có sự co ̣ xát, va

đâ ̣p ma ̣nh hơn lúc nào hết Trong các thể loa ̣i âm nha ̣c từ âm nha ̣c cổ truyền dân tộc đến âm nha ̣c giao hưởng thính phòng và ca nha ̣c nhe ̣ giải trí, hai yếu

Trang 30

tố dân tộc và hiê ̣n đa ̣i đều có điều kiê ̣n phát huy hết công suất và khoe sự nổi trội của mình [138]

1.1.4 Nghiên cứu dân ca và ca khúc viết về Thanh Hóa

Nhóm Lam Sơn của các tác giả Lê Huy Trâm, Vũ Ngọc Khánh đã công

bố công trình Dân ca Thanh Hóa (1965) ghi lại những lời hát xa xưa cùng

những khảo tả về các trò diễn đã mai một của xứ Thanh [74]

Công trình Khảo sát trò Xuân Phả (1997) do nhà nghiên cứu văn hóa

Hoàng Anh Nhân chủ biên, cùng các tác giả Hoàng Hải và GS Phạm Minh Khang khảo sát, nghiên cứu Trò Xuân Phả là một hệ thống trò có giá trị nhiều mặt về nghệ thuật diễn xướng tổng hợp, nó còn chứng tỏ sự hòa hợp giữa nghệ thuật cung đình và nghệ thuật dân gian được bảo lưu tại làng Xuân Phả, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa [68]

Công trình Trò diễn dân gian vùng Đông Sơn (1997) của tác giả Trần

Thị Liên đã giới thiệu về vùng đất Đông Sơn và tình hình nghiên cứu trò diễn dân gian Đông Sơn Trong công trình này, tác giả đã khảo tả các trò diễn, các trung tâm trò diễn, tìm hiểu đặc trưng và vấn đề bảo tồn và phát huy tác dụng của trò diễn dân gian Đông Sơn [45]

Luận văn Thạc sĩ âm nhạc Âm nhạc trong các trò diễn và diễn xướng

dân gian của người Việt xứ Thanh (2006) của tác giả Đỗ Thị Thanh Nhàn

bước đầu nghiên cứu những đặc điểm âm nhạc đặc sắc trong trò diễn và diễn xướng dân gian của người Việt Thanh Hóa; khẳng định những đặc điểm âm nhạc, những nét độc đáo của dân ca Thanh Hóa trong trò diễn và diễn xướng dân gian của người Việt xứ Thanh [66]

Đề tài cấp tỉnh Nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị dân ca xứ Thanh

phục vụ phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thanh Hóa (2010) do tác giả Nguyễn

Trung Liên làm chủ nhiệm đề tài đã tiếp cận dân ca xứ Thanh dưới góc độ tổng thể để tìm hiểu giá trị nghệ thuật, giá trị nội dung, giá trị thẩm mỹ, nhằm

Trang 31

làm nổi bật vai trò, chức năng của nó trong môi trường tự nhiên, môi trường

xã hội xứ Thanh Tuy nhiên, đề tài này không nghiên cứu sâu về các phương diện ngữ văn dân gian như: hình ảnh, biểu tượng, huyền thoại, từ đệm, điệp

từ, ngôn ngữ địa phương, ngôn ngữ địa danh trong dân ca… [47]

Công trình Âm nhạc múa đèn Đông Anh (2012) của tác giả Nguyễn

Liên đã phác thảo ra một diện mạo khá đầy đủ về không gian văn hóa, về môi trường đã sản sinh ra loại hình diễn xướng độc đáo này Trong cấu trúc làn điệu, tác giả đã nêu lên mối quan hệ của âm điệu ca từ với âm điệu âm nhạc trong một chỉnh thể thống nhất của quá trình phát triển làn điệu Một đặc tính không thể thiếu được trong âm nhạc dân gian - đó là tính dị bản Bởi vậy, những ý kiến về tính dị bản của tổ khúc Múa đèn Đông Anh mà tác giả đã nêu

sẽ là đóng góp có giá trị cho công tác sưu tầm và nghiên cứu [41]

Công trình Âm nhạc dân gian Thanh Hóa - Tập I (2015) của tác giả Lê

Văn Hòe đã sưu tầm được một phần vốn âm nhạc dân gian Thanh Hóa với hệ dân ca vùng 3 tổng, 9 xã Đông Sơn - Hệ múa múa hát Xuân - hệ âm nhạc tín ngưỡng Tứ phủ cũng như một số âm nhạc dân gian dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa [20]

Tuyển tập Sưu tầm - Nghiên cứu văn hóa dân gian Thanh Hóa (2015)

của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Hoàng Anh Nhân có thể nói là một công trình vừa sưu tầm vừa nghiên cứu rất đồ sộ Ông đã dành cả quá trình công tác

và 20 năm sau khi nghỉ hưu để tìm tòi, suy ngẫm và giới thiệu với bạn đọc cả nước tinh hoa văn hóa các dân tộc tỉnh Thanh Hóa Cuốn sách khảo sát văn hóa làng xứ Thanh và đặc biệt đã nghiên cứu rất kỹ văn hóa dân gian dân tộc Mường, Thái cũng như văn hóa dân gian các dân tộc khác: Dao, Khơ Mú, Mông…[69]

Công trình Âm nhạc dân gian xứ Thanh (2017) do hai tác giả Nguyễn

Liên (chủ biên) và Hoàng Minh Tường viết đã nêu được cơ sở hình thành và

Trang 32

phương thức diễn xướng âm nhạc dân gian xứ Thanh; các thể loại âm nhạc dân gian như: Dân ca, dân nhạc; ngôn ngữ trong âm nhạc dân gian: giai điệu, tiết tấu, tiết nhịp, thang âm, điệu thức, hình thức cấu trúc; ca từ trong dân ca; những giá trị đặc trưng của âm nhạc dân gian xứ Thanh… [42]

Đặc biệt đáng chú ý là một số tham luận của các tác giả trong Hội thảo

khoa học Giá trị nội dung, nghệ thuật trong các ca khúc viết về Thanh Hóa

được tổ chức vào ngày 3 tháng 8 năm 2018 tại trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa trong khuôn khổ một đề tài nghiên cứu khoa học

do Thạc sĩ Đoàn Tiến Dũng làm chủ nhiệm [105]

Tham luận “Những yếu tố tác động đến việc khai thác chất liệu văn hóa dân gian trong ca khúc viết về Thanh Hóa” của tác giả Hoàng Thị Thanh Bình

đã nói về việc khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc âm nhạc được diễn ra từ trước Cách mạng tháng Tám và hiện nay đang tiếp tục được thực hiện trong sự tác động của nhiều yếu tố Các yếu tố đó đan kết thành hệ thống, tác động đồng bộ đến đời sống văn học nghệ thuật nói chung

và tác động đến việc khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc Việt Nam nói riêng Để nâng cao chất lượng văn học nghệ thuật nói chung và chất lượng của ca khúc nói riêng, cần quan tâm đến các yếu tố tác động đến việc khai thác chất liệu văn hóa dân gian trong ca khúc viết về Thanh Hóa: sự lãnh đạo của Đảng, chính sách của nhà nước; chủ thể sáng tạo

và biểu diễn ca khúc [105, tr.9]

Bài viết “Ca khúc viết về Thanh Hóa có phù hợp với nghệ thuật biểu diễn hiện nay” của tác giả Phạm Hoàng Hiền đã nói về những cảm nhận khi biểu diễn các ca khúc viết về Thanh Hóa và một số đề xuất trong việc biểu diễn các ca khúc này [105, tr.30]

Các bài viết “Một số bài hát về Thanh Hóa được yêu thích và có sức

sống lâu bền” của tác giả Đỗ Xuân Tình; “Hàm Rồng – Chủ đề của những

Trang 33

sáng tác âm nhạc có giá trị trong đời sống tinh thần người dân xứ Thanh” của

tác giả Đoàn Dũng; “Giá trị của ca khúc viết về Thanh Hóa trong hoạt động

văn hóa tại cơ sở” của tác giả Lê Mạnh Thống đều có những phân tích về ảnh hưởng của dân ca trong các ca khúc mới như: Đường về Thanh Hóa, Đẹp đôi

trai gái tỉnh Thanh của Nguyễn Trọng, Thanh Hóa anh hùng của Hoàng Đạm, Cây lúa Hàm Rồng của Đôn Truyền…[105]

Đây là những nghiên cứu đi sâu khảo sát về dân ca xứ Thanh và ca khúc viết về Thanh Hóa, là nguồn tài liệu rất cần thiết và hữu ích để NCS tham khảo khi triển khai luận án này

1.1.5 Nhận xét, đánh giá về tình hình nghiên cứu

- Đóng góp của những công trình nghiên cứu đi trước

Qua phần tổng quan tình hình nghiên cứu như trên, NCS nhận thấy chủ

đề ảnh hưởng của âm nhạc dân gian nói chung, dân ca nói riêng đến việc sáng tác ca khúc hiện nay đã thu hút sự quan tâm của một bộ phận các nhà nghiên cứu Đó là những thành tựu nghiên cứu vô cùng quý giá để NCS có thể kế thừa, tham khảo, vận dụng trong luận án của mình, cụ thể là:

+ Về mặt lý luận

Với sự tham gia của các tác giả có kinh nghiệm nghiên cứu lâu năm về văn hóa dân gian như: Nguyễn Văn Huyên, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Xuân Kính, Tô Đông Hải, Hoàng Minh Tường… Về âm nhạc dân tộc học như: Vũ

Tự Lân, Tú Ngọc, Huyền Nga, Nguyễn Thụy Loan, Nguyễn Trọng Ánh, Nguyễn Trung Liên, Nguyễn Đăng Nghị, Trịnh Hoài Thu, Trần Bảo Lân, Trịnh Lan Hương, Lê Văn Chưởng … từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, các công trình đi trước đã cung cấp những nền tảng lý luận cơ bản để có thể kế thừa phục vụ cho việc triển khai đề tài như các khái niệm công cụ, các lý thuyết có thể vận dụng (lý thuyết hệ thống, lý thuyết sáng tạo truyền thống)… Bên cạnh đó là những nghiên cứu gắn với những vấn đề lý luận cụ thể rất hữu

Trang 34

ích trong việc làm rõ các khía cạnh liên quan tới ảnh hưởng của dân ca, cách

khai thác chất liệu dân gian trong sáng tác ca khúc đương đại

+ Về mặt tư liệu

Các công trình nghiên cứu đi trước đã cung cấp cho NCS hệ thống tư liệu khá phong phú, đa dạng về kho tàng ca khúc Việt Nam, ca khúc về xứ Thanh, ảnh hưởng của văn hóa dân gian nói chung và dân ca nói riêng trong các ca khúc Việt Nam và ca khúc về Thanh Hóa hiện nay

- Những vấn đề có thể tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển trong luận án

Nhìn chung, tuy đã có một số công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của dân ca, việc khai thác chất liệu dân gian vào sáng tác ca khúc Việt Nam đương đại, nhưng đó chủ yếu là các công trình chủ yếu tiếp cận từ góc độ âm nhạc học, nghệ thuật học, văn hóa học Các công trình tiếp cận từ góc độ văn hóa dân gian còn rất thiếu vắng

Việc khai thác chất liệu dân ca trong sáng tác ca khúc là một vấn đề lớn

và lý thú đã từng được quan tâm trong một số bài viết, tài liệu, công trình nghiên cứu, song phần nhiều trong số đó mới chỉ là những nhận xét khái quát hoặc những thông tin mang tính chất mô tả, mà chưa phải là những kết luận khoa học thể hiện sự nghiên cứu có tính hệ thống và chuyên sâu Có thể nói, cho tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách bài bản và có hệ thống về việc kế thừa dân ca người Việt xứ Thanh trong các ca khúc về Thanh Hóa, chưa có công trình nào làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn về sự hình thành, phát triển và thích ứng của các ca khúc viết về Thanh Hóa mang âm hưởng dân ca truyền thống trong các bối cảnh xã hội khác nhau

Đặc biệt, chưa có công trình nào đi sâu làm rõ sự kế thừa và mối quan

hệ mật thiết giữa âm nhạc cổ truyền và âm nhạc đương đại, trong khi sự kế thừa và mối quan hệ này có thể thấy rõ trong không ít ca khúc viết về Thanh

Trang 35

Hóa thành công Có thể thấy, những ca khúc mang đậm âm hưởng dân ca xứ Thanh thường dễ gặt hái được thành công hơn trong cộng đồng người Thanh Hóa do chúng rất gần gũi, thân thiết, dễ đi vào lòng người, khơi dậy lòng tự hào về quê hương xứ sở, tạo nên sự cố kết cộng đồng

Vấn đề phát huy thế mạnh của dân ca, khai thác chất liệu dân gian trong sáng tác các ca khúc đương đại, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa “truyền thống và hiện đại” cũng chưa được quan tâm xử lý và giải quyết một cách thấu đáo…

Như vậy, có thể thấy còn khá nhiều khoảng trống, những vấn đề còn bỏ ngỏ trong các nghiên cứu đi trước mà NCS có thể bổ khuyết, kế thừa và phát triển trong luận án của mình

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Các khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Văn hóa dân gian

Theo Quan niệm về folklore của tác giả Ngô Đức Thịnh thì:

Văn hóa dân gian là một bộ phận cấu thành của văn hóa dân tộc, phân biệt với các lĩnh vực văn hóa khác (văn hóa sinh tồn, văn hóa giao tiếp và văn hóa tư tưởng) Đó là một loại “văn hóa nghệ thuật” biểu hiện chủ yếu thông qua các hình tượng và biểu tượng, thể hiện trình độ thẩm mỹ của con người ở mỗi thời kỳ lịch sử nhất định [94, tr 35]

Văn hóa dân gian là một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động Vì vậy, khi nhận thức, lý giải các hiện tượng văn hóa dân gian phải gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa của nó, tức là các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, trong đó cộng đồng gia tộc, cộng đồng làng xã giữ vai trò quan trọng [134]

Trang 36

Hiện nay ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu triển khai công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian trên các lĩnh vực sau:

Ngữ văn dân gian bao gồm: Tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền

thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ Trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); Thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian

Nghệ thuật dân gian bao gồm: Nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc

dân gian, hội họa dân gian, trang trí dân gian ); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm nhạc dân gian, múa dân gian, sân khấu dân gian, trò diễn )

Tri thức dân gian bao gồm: Tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý,

thời tiết, khí hậu ); tri thức về con người (bản thân): y học dân gian và dưỡng sinh dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng); tri thức sản xuất (kỹ thuật và công cụ sản xuất)

Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội: Các lĩnh vực nghiên cứu trên của văn

hóa dân gian nảy sinh, tồn tại và phát triển với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp, thể hiện tính chưa chia tách giữa các bộ phận (ngữ văn, nghệ thuật, tri thức, tín ngưỡng phong tục ), giữa hoạt động sáng tạo và hưởng thụ trong sinh hoạt văn hóa, giữa sáng tạo văn hóa nghệ thuật và đời sống lao động của nhân dân Để nghiên cứu văn hóa dân gian với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp chúng ta cần phải có một quy phạm nghiên cứu tổng hợp [134]

Tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng:

Văn hóa dân gian gắn liền với thời kỳ sớm nhất của quá trình hình thành văn hóa dân tộc Văn hóa dân gian là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ”, điều đó có nghĩa là văn hóa dân gian là khởi nguồn, sản sinh

và nuôi dưỡng các hình thức văn hóa khác của văn hóa dân tộc Do vậy, trong việc tìm hiểu khám phá bản sắc văn hóa dân tộc, chúng

ta không thể không bắt đầu từ văn hóa dân gian… Văn hóa dân gian

Trang 37

là văn hóa của quần chúng lao động và do quần chúng sáng tạo, do vậy nó mang tính cộng đồng cao Là văn hóa của quần chúng, do vậy, văn hóa dân gian chứa đựng các giá trị phổ quát của bản sắc văn hóa dân tộc, như lòng yêu nước, tính cộng đồng, tinh thần cần

cù và sáng tạo trong lao động, tình thương đồng loại… [95]

1.2.1.2 Dân ca

Dân ca Việt Nam có mối quan hệ mật thiết với các hoạt động lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng của người dân gắn với các nghi lễ, phong tục, tập quán, hát giao duyên nam nữ, vui chơi, giải trí… Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, cách tiếp cận nghiên cứu, nội dung nghiên cứu khác nhau mà có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm “dân ca”

Người Đức gọi dân ca là volkslied (tạm dịch là: bài ca của nhân dân), người Pháp gọi là chanson populaire (tạm dịch là: bài ca phổ cập trong quần chúng), người Anh gọi dân ca là folk song (tạm dịch là bài ca mang tính dân tộc) Ngay cả trong các tài liệu Việt Nam về dân ca hay công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Ngọc Khánh “Tiếp cận kho tàng folklore Việt Nam” cũng không có khái niệm cụ thể hay một định nghĩa công thức về dân ca như các định nghĩa về những phạm trù khác

Từ góc độ ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên

đưa ra định nghĩa: “Dân ca là bài hát lưu truyền trong dân gian, thường không

rõ tác giả” [103]

Từ góc độ văn học, tác giả Chu Xuân Diên trong Từ điển Văn học đưa

ra định nghĩa: “Dân ca là loại hình sáng tác dân gian trong đó yếu tố văn học được hình thành đồng thời với yếu tố âm nhạc, khi diễn xướng có thể kèm theo cả những động tác” [16]

Theo nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc học Trần Quang Hải thì:

Trang 38

Dân ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào Đầu tiên bài hát

có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người từ đời này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc… Các bài dân ca được gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng bền vững với thời gian [137]

Từ góc độ nghiên cứu âm nhạc, tác giả Tú Ngọc có cách nhìn về dân ca như sau: “Dân ca là một hiện tượng sinh hoạt văn hóa dân gian Sinh hoạt ấy gắn với những môi trường nhất định, đồng thời mang tính đặc thù về thẩm mỹ” [62, tr.8]

Từ góc độ nghiên cứu văn hóa dân gian, dân ca là một hiện tượng chỉnh thể nguyên hợp - một loại hình diễn xướng dân gian, trong đó phần lời ca có thể lấy từ chất liệu ca dao, gồm các bài thơ toàn phần hoặc rút gọn, và phần

âm nhạc gắn liền với các làn điệu, thể thức hát nhất định và đi kèm với lề lối diễn xướng (múa, trình diễn), với khung cảnh ca hát, môi trường diễn xướng mặc định

Đối với hướng triển khai đề tài luận án của NCS, khái niệm “dân ca” của tác giả Nguyễn Thụy Loan tỏ ra phù hợp hơn cả, theo đó “dân ca là những tác phẩm thanh nhạc có lời, là một trong những hợp phần của âm nhạc dân gian, được tập thể nhân dân cùng góp phần sáng tạo và biểu diễn, phục vụ nhu cầu tinh thần của chính mình trong đời sống thường ngày cũng như trong sinh

hoạt cộng đồng” Những sáng tạo của họ chủ yếu bằng cảm xúc và kinh

nghiệm, được lưu truyền từ đời này qua đời khác chủ yếu bằng phương pháp truyền miệng [53, tr.154]

Nói cách khác, đó là tác phẩm thanh nhạc có lời, không có tính chuyên nghiệp, được tập thể nhân dân sáng tạo, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ

Trang 39

khác bằng kinh nghiệm và truyền miệng, nhằm phục vụ cho nhu cầu của cá nhân và cộng đồng, song chúng lại không có tính “vụ lợi”

Dân ca có nhiều chức năng trong cuộc sống thường ngày như:

- Chức năng hỗ trợ các thao tác lao động trên cạn (ru con/em/cháu, xay lúa, giã gạo, tát nước, dệt vải, hái củi, kéo gỗ ), trên nước (chèo thuyền, đẩy thuyền, thả lưới )

- Chức năng giải trí nhằm giúp thư giãn con người, giải tỏa tinh thần lúc nghỉ ngơi

- Chức năng giao tiếp tạo cơ hội cho nam, nữ trao đổi tâm tình

- Chức năng thông tin, giáo hóa hoặc bày tỏ nỗi niềm

- Chức năng tế tự giúp con người tương quan với thế giới "siêu nhiên"

đều được gọi chung là ca khúc

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: Ca khúc là “bài hát, bài ca” [103, tr.132] Theo cuốn Thuật ngữ và ký hiệu âm nhạc thường dùng, ca khúc là “bài hát ngắn,

có bố cục mạch lạc” [106, tr.81] Các ý kiến thể hiện một quan niệm chung đều cho rằng: “Ca khúc là danh từ dùng để gọi những ca khúc dân ca và ca khúc của các nhạc sĩ chuyên nghiệp Những tác phẩm này được thể hiện bằng giọng người Giai điệu trong các tác phẩm này là những giai điệu hoàn chỉnh, độc lập” [76, tr.12]; Ca khúc “là sự phát triển của giai điệu gắn liền với những lời ca

cụ thể” [118, tr.901], trong đó “lời và nhạc kết hợp với nhau một cách chặt chẽ, tinh tế đến mức khó có thể tách chúng khỏi nhau mà không làm ảnh hưởng tới ý

Trang 40

nghĩa của từng bộ phận” [118, tr.1116]…

Theo nghĩa hẹp, ca khúc là một khái niệm dùng để chỉ một thể loại tác phẩm thanh nhạc bao gồm những bài hát thuộc âm nhạc bác học, âm nhạc hiện đại Vậy nên khái niệm ca khúc dùng để chỉ các bài hát do các nhạc sĩ sáng tác (những bài hát dân ca không nằm trong phạm vi này)

Trong luận án này, NCS lựa chọn một khái niệm về ca khúc như sau:

Ca khúc là khái niệm dùng để chỉ một thể loại tác phẩm âm nhạc do cá nhân nhạc sĩ hoặc tập thể nhân dân sáng tạo nên Trong đó, hình tượng nghệ thuật được tạo thành bởi cả hai yếu tố: âm nhạc và ca từ Mỗi ca khúc đều có giai điệu gắn bó chặt chẽ với ca từ để tạo nên sự thống nhất của một chỉnh thể tác phẩm âm nhạc nhằm thể hiện thế giới tình cảm, nội tâm của con người trước thực tại đời sống

Còn theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển Vietlex, kế thừa là

“thừa hưởng, giữ gìn và tiếp tục phát huy (cái có giá trị tinh thần) ”[103]

Kế thừa là một phạm trù chỉ mối liên hệ bản chất, khách quan, tất yếu vốn có bên trong sự vận động phát triển của các sự vật hiện tượng; nó chỉ sự giữ lại, duy trì và truyền lại những nhân tố tích cực, những yếu tố hợp lý để tạo ra cơ sở, tiền đề cho sự tồn tại của các sự vật hiện tượng đã có và cho sự

ra đời và phát triển của cái mới, cái tiến bộ

Từ bản chất sâu xa của kế thừa như đã nêu trên, chúng ta có thể khẳng định kế thừa là quy luật cơ bản của sự phát triển văn hóa, không có kế thừa sẽ không có sự phát triển văn hóa, tất nhiên sự kế thừa ấy phải có chọn lọc, sáng

Ngày đăng: 30/10/2019, 07:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w