1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Uớc lượng mức sẵn lòng trả của bệnh nhân ngoại trú trong quyết định chấp nhận sử dụng công nghệ tư vấn khám chữa bệnh từ xa (telemedicine)

77 209 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với hiện trạng sự phân bố nguồn lực chưa đồng đều của hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam, thì việc áp dụng telemedicine mang lại nhiều ý nghĩa trong việc giảm tải ở các bệnh viện tuyế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

-

TRẦN CHÂU HÒA

UỚC LƯỢNG MỨC SẴN LÒNG TRẢ CỦA BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ TRONG QUYẾT ĐI ̣NH CHẤP NHẬN SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ TƯ VẤN KHÁM CHỮA BỆNH TỪ XA (TELEMEDICINE)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH-NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

-

TRẦN CHÂU HÒA

UỚC LƯỢNG MỨC SẴN LÒNG TRẢ CỦA BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ TRONG QUYẾT

ĐI ̣NH CHẤP NHẬN SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ

TƯ VẤN KHÁM CHỮA BỆNH TỪ XA

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS TRƯƠNG ĐĂNG THỤY

TP.HỒ CHÍ MINH-NĂM 2017

Trang 3

Tác giả xin cam đoan, luận văn "Uớc lượng mức sẵn lòng trả của bệnh

nhân ngoa ̣i trú trong quyết đi ̣nh chấp nhâ ̣n sử du ̣ng công nghê ̣ tư vấn khám chữa bê ̣nh từ xa (telemedicine)" là công trình nghiên cứu khoa học độc lập do

chính tác giả thực hiện Các số liệu, trích dẫn được sử dụng trong luận văn là trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận văn

Trần Châu Hòa

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG BÌA PHỤ LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 4

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 5

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu: 5

1.5 Phương pháp nghiên cứu 5

1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu 6

1.7 Bố cục của luận văn 7

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8

2.1 Mô tả dịch vụ telemedicine và ứng dụng vào hệ thống y tế 8

2.1.1 Khái niệm về telemedicine 8

2.1.2 Mô tả các ứng dụng của telemedicine 8

2.1.3 Mô tả chi tiết dịch vụ telemedicine ở phòng khám 10

2.2 Khảo lược các lý thuyết kinh tế 11

2.2.1 Các nghiên cứu về telemedicine 11

Trang 5

2.2.2 Nghiên cứu CVM đo lường mức sẵn lòng trả 15

2.2.3 Lý thuyết kinh tế học về CVM 17

2.2.4 Cơ sở lý thuyết và cách thu thập WTP: 21

2.3 Kết luận 25

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH PHÂN TÍCH 27

3.1 Thực trạng địa phương nghiên cứu 27

3.1.1 Điều kiện dân cư xã hội tại vùng nghiên cứu ba huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa 27

3.1.2 Giới thiệu phòng khám đa khoa Vạn An 28

3.2 Thiết kế nghiên cứu 30

3.2.1 Xây dựng kịch bản khảo sát WTP 30

3.2.2 Thiết kế công cụ thực hiện khảo sát 32

3.2.3 Công cụ ước lượng khảo sát đo lường WTP 34

3.2.3 Mô tả chi tiết các số liệu 36

3.3 Thu thập dữ liệu 36

3.3.1 Tính toán cỡ mẫu 36

3.3.2 Thực hiện thu thập 36

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

4.1 Thống kê mô tả 38

4.1.1 Đặc điểm chung của mẫu khảo sát 38

4.1.2 Thống kê ước lượng WTP 42

4.2 Ứơc lượng WTP 47

4.3 Giải thích kết quả 52

4.3.1 Số tuổi 52

4.3.2 Người bệnh mắc bệnh mãn tính 52

4.3.3 Tình trạng bệnh 52

4.3.4 Khoảng cách 53

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 54

5.1 Kết luận 54

Trang 6

5.1.1 Đặc điểm người bệnh ở 3 huyện Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Mộc Hóa khi

tiêu dùng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại phòng khám ở Tân An 54

5.1.2 Đặc tính telemedicine ảnh hưởng đến quyết định của người bệnh 55

5.1.3 So sánh với các nghiên cứu trước……… 56

5.2 Đề nghị chính sách 56

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Bảng mô tả các biến trong phương trình 33

Bảng 4.1 Thống kê các mức giá khảo sát 41

Bảng 4.2 Định nghĩa các giá trị các biến trong phương trình 45

Bảng 4.3 Kết quả chạy mô hình phi tuyến 1 và 2 48

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Mạng lưới các dịch vụ telemedicine 9

Hình 2.2 Khung phân tích các yếu tố tác động quyết định sử dụng DV chăm sóc sức khỏe 25

Hình 3.1 Cấu trúc bảng khảo sát WTP 32

Hình 4.1 Cấu trúc độ tuổi của đối tượng nghiên cứu 37

Hình 4.2 biểu đồ phân bố thu nhập của nhóm đối tượng nghiên cứu 37

Hình 4.3 ngành nghề trong mẫu nghiên cứu 39

Hình 4.4 Biểu đồ thống kê loại bệnh của nhóm người bệnh được nghiên cứu 40

Hình 4.5 Xác suất lụa chọn dịch vụ telemedicine 41

Hình 4.6 Tỉ lệ đồng ý trung bình của 3 huyện về các mức giá phụ thu telemedicine lần 1 42

Hình 4.7 Tỉ lệ đồng ý trung bình của 3 huyện về các mức giá phụ thu telemedicine lần 2 43

Hình 4.8 Lý do lựa chọn telemedicine 43

Hình 4.9 Lý do không chọn dịch vụ telemedicine 43

Hình 4.10 Đường cầu của dịch vụ telemedicine 49

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

TÓM TẮT

Telemedicine là một giải pháp áp dụng công nghệ thông tin trong hệ thống chăm sóc sức khỏe hiện đại Với một giao thức, cho phép sự cải tiến trong các quy trình khám chữa bệnh làm tăng hiệu quả thông qua khắc phục khuyết điểm trong việc phân bố các nguồn nhân lực của hệ thống y tế Với hiện trạng sự phân bố nguồn lực chưa đồng đều của hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam, thì việc áp dụng telemedicine mang lại nhiều ý nghĩa trong việc giảm tải ở các bệnh viện tuyến trung ương đặt tại các thành phố lớn, đồng thời giảm chi phí cơ hội mà người bệnh phải chi trả khi điều trị ở tuyến trên

Với số liệu thu thập 150 đối tượng người bệnh đến từ Mộc Hóa, Tân Hưng, Vĩnh Hưng, là những người bệnh đang điều trị tại phòng khám ở Thành phố Tân An- Tỉnh Long An, nghiên cứu đã ước lượng được mức giá sẵn lòng trả của người dân đối với dịch vụ mới telemedicine Đồng thời nghiên cứu góp phần vào việc kiểm định các yếu tố tác động đến việc lựa chọn sử dụng dịch

vụ chăm sóc sức khỏe, khi dự án được triển khai ở các vùng nông thôn Việt Nam Tác giả hy vọng nghiên cứu sẽ góp phần mang lại các thông tin nghiên cứu thị trường ban đầu cho những dự án áp dụng dịch vụ telemedicine, một trong những chiến lược mà phòng hệ thống y tế sắp triển khai, đồng thời đây cũng sẽ là một nghiên cứu tham khảo cho các nghiên cứu lớn hơn nhằm hướng đến việc áp dụng công nghệ này để giảm tải ở các bệnh viện ở tuyến trung ương

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Vấn đề nghiên cứu

Hê ̣ thống chăm sóc sức khỏe của Viê ̣t Nam đang đứng trước mô ̣t thách thức vô cùng to lớn Căn cứ theo báo cáo của bộ y tế JAHR (2015) hê ̣ thống chăm sóc sức khỏe ở các tuyến trung ương và thành phố đang trong tình tra ̣ng quá tải từ 54-65% Có rất nhiều nguyên nhân gây ra sự quá tải trên, một nguyên nhân ảnh hưởng sâu rộng được nêu trong báo cáo là sự thiếu nhân lực y tế ở địa phương đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc quá tải ở bệnh viện tuyến trung ương Trong báo cáo có nêu rõ trong báo cáo JAHR (2015) “Nông thôn chiến 72,6% dân số nhưng chỉ chiếm 41% số bác sĩ và 18% dược sĩ” Với sự phân bố không đồng đều của hệ thống nhân lực y tế đã dẫn đến sự mất cân đối giữa cung và cầu trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, tạo ra việc sử dụng nguồn lực không hiệu quả khi hàng hóa dịch vụ sức khỏe được giao dịch trên thị trường Người bệnh sẽ tốn những chi phí

cơ hội khi sử dụng các dịch vụ này, cụ thể như: Chi phí di chuyển, thời gian di chuyển và thời gian việc làm của người thân trong quá trình nuôi bệnh

Không chỉ phát sinh chi phí ở người bệnh mà vấn đề này ảnh hưởng đến các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe Quá tải bệnh viện sẽ dẫn đến việc giảm chất lượng dịch vụ và phát sinh các nguy cơ về lây nhiễm trong điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, gây ra kéo dài thời gian điều trị của người bệnh Đây đang là vấn đề mà xã hội quan tâm đang cần phải được giải quyết

Căn cứ vào báo cáo JAHR (2015) vấn đề quá tải bê ̣nh viê ̣n tuyến trung ương hiê ̣n nay là vấn đề quan tâm của Bô ̣ Y tế và xã hô ̣i, cũng theo báo cáo JAHR (2015) thì giải quyết hiện trạng quá tải bệnh viện là vấn đề ưu tiên hàng đầu Việc giảm tải bệnh viện là một thách thức đòi hỏi phải có quy hoạch trong thời gian dài Trong báo cáo này cũng có đề cập vấn đề quy hoạch cơ sở khám chữa bệnh ban đầu như sau “Hệ thống y tế cơ sở phải là một hệ thống, có sự kết nối hữu cơ giữa các cơ sở y tế trên địa bàn huyện và với các tuyến trên, để cung ứng dịch vụ

Trang 12

mang tính hợp tác giữa tuyến ban đầu với các tuyến trên và sự gắn kết với các ngành khác Chức năng nhiệm vụ của cơ sở y tế tuyến huyện, xã là phối hợp và chịu sự chỉ đạo, huớng dẫn của tổ chức y tế các tuyến trên để cung ứng các dịch

vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện, liên tục Chú trọng hình thức chăm sóc chủ động tại cộng đồng Bảo đảm nguồn nhân lực y tế đuợc đào tạo có đủ kinh nghiệm và

kỹ năng để làm việc ở tuyến ban đầu với cách tiếp cận làm việc theo nhóm” Viê ̣c đầu tư xây dựng bê ̣nh viê ̣n tuyến tỉnh huyê ̣n đã và đang được đầu tư thích hợp với điều kiê ̣n đi ̣a phương Nhưng vấn đề trình đô ̣ chuyên môn của bác sĩ ở đi ̣a phương vẫn còn chênh lê ̣ch và người dân chưa có niềm tin về trình đô ̣ chuyên môn của

Bác sĩ ở đi ̣a phương

Đứng trước thách thức ấy, mô ̣t giải pháp trong ngắn ha ̣n và trung ha ̣n là viê ̣c áp du ̣ng các tiến bô ̣ khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t vào quy trình khám chữa bê ̣nh mới nhằm phân bổ bác sĩ có năng lực hỗ trợ cho các vùng có khoảng cách đi ̣a lý xa các trung tâm lớn Một giải pháp kỹ thuật mới đó là giải pháp khám chữa bê ̣nh từ

xa telemedicine mà gần đây cũng được đề câ ̣p như giải pháp giảm quá tải bê ̣nh viê ̣n

Telemedicine hiện được triển khai ta ̣i nhiều quốc gia có hê ̣ thống khoa học công nghê ̣ phát triển Đó là mô ̣t sự áp du ̣ng của công nghê ̣ thông tin vào trong khám chữa bê ̣nh nhằm giúp bác sĩ có thể khám và điều tri ̣ cho bê ̣nh nhân cách đó rất xa thông qua các thiết bi ̣ truyền hình ảnh thông tin dữ liê ̣u

Trên thế giới có nhiều quốc gia đã áp du ̣ng thành công mô hình telemedicine và đã thu la ̣i nhiều kết quả cho viê ̣c cải thiê ̣n hê ̣ thống chăm sóc sức khỏe Theo Charles và Betty L (2000) nghiên cứu đã chỉ ra sự hiệu quả hơn về khía ca ̣nh chi phí khi tiếp câ ̣n các di ̣ch vu ̣ y tế Cũng theo Berman và cô ̣ng sự (2005) tìm thấy lợi ích telemedicine làm giảm sự quá tải của các ca bê ̣nh Mă ̣t khác theo nghiên cứu của Preston và cô ̣ng sự (1992) viê ̣c triển khai hê ̣ thống này sẽ tạo cơ hội huấn luyê ̣n cho các bác sĩ ở tuyến cơ sở nâng cao trình đô ̣ chuyên môn

Trang 13

Ở Việt Nam khái niệm telemedicine đã xuất hiện nhiều ở các phương tiện truyền thông và đi đầu việc áp dụng hệ thống y tế telemedicine thuộc về lĩnh vực quốc phòng an ninh.Telemedicine đã đóng góp quan trọng vào việc triển khai các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại khu vực quan trọng như biên giới, hải đảo theo thông tin nội bộ của Viện y học biển Việt Nam thuộc Bộ Y tế đã áp dụng vào hệ thống chăm sóc sức khỏe ở biển đảo Việt Nam tài liệu cho biết định nghĩa và mô hình áp dụng cụ thể và những lợi ích mang lại từ năm 2002 cho đến nay Mô hình

áp dụng cho 4 mục tiêu: Trợ giúp cấp cứu, trợ giúp nghiên cứu giảng dạy, trợ giúp

tư vấn dịch tể, trợ giúp quản lý hệ thống y tế từ xa Ngoài các áp dụng trong hệ thống quốc phòng, gần đây vào năm 2011 tại bệnh viện Nhiệt Đới Trung Ương

đã công bố dự án hợp tác giữa bộ y tế và tập đoàn VNPT về việc áp dụng hệ thống telemedicine vào việc quản lý hệ thống bệnh viện và hỗ trợ các tuyến y tế cơ sở ở khu vực nông thôn các ứng dụng như: Bệnh án điện tử, hội chẩn trực tuyến Vào năm 2015 được áp dụng vào một số dự án bệnh viện vệ tinh của bệnh Viện Bạch Mai một lần nữa đã khẳng định tầm quan trọng trong việc triển khai hệ thống để

có thể xây dựng hệ thống y tế phát triển như những khẳng định của GS.TS Trần Văn Thông “Để chẩn đoán cho một bệnh nhân, bác sĩ cần nhiều thông tin như: bệnh sử, các xét nghiệm (xét nghiệm huyết học, sinh hóa, vi sinh, tế bào), thông tin chẩn đoán chức năng (điện tim, điện não đồ), thông tin hình ảnh (X-quang, siêu âm, chụp cộng hưởng từ) Hãy hình dung một bác sĩ ngồi tại phòng làm việc

và khám cho bệnh nhân dù ở gần hay từ xa, chỉ cần một vài thao tác nhấp chuột máy tính là đã nhận được đầy đủ thông tin cần thiết Đó chính là lợi ích của y tế

từ xa (Telemedicine) mang lại và cũng là mong muốn của nhiều bệnh viện, trong

đó có Bệnh viện Bạch Mai.” Vâ ̣y hiê ̣u quả và lợi ích của telemedicine sẽ phần nào giải quyết vấn đề phân bố không đồng đều ở các cơ sở y tế cũng như viê ̣c cải thiê ̣n chất lượng hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng của các tổ chức chăm sóc sức khỏe

Các dự án telemedicine chỉ mới bắt đầu triển khai trong hệ thống bệnh viện công lập và quốc phòng, với mục đích phát triển hệ thống quản lý y tế và chưa có dự án nào áp dụng cho việc khám chữa bệnh phục vụ cho việc chăm sóc

Trang 14

sức khỏe ở khu vực nông thôn Vì vậy sẽ có câu hỏi đặt ra rằng việc triển khai hệ thống telemedicine có thật sự mang lại lợi ích vào việc khám chữa bệnh cho hệ thống y tế phục vụ cho người dân ở nông thôn hay không? Và người dân ở khu vực nông thôn có sẵn sàng sử dụng dịch vụ này không? Người dân mong muốn dịch vụ nào ra sao? Vấn đề này phải được tìm hiểu và nghiên cứu trước khi triển khai các dự án, nhằm mục đích thiết kế được một hệ thống đáp ứng nhu cầu và tối

đa hóa lợi ích đầu tư Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, tác giả sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method – CVM) để ước lượng giá sẵn lòng trả của người dân đối với dịch vụ telemedicine từ đó có thể đo lường được giá trị thật sự của dự án mang lại khi giải quyết vấn đề xã hội trên

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Xác định và ước lượng những yếu tố chủ yếu làm tăng hay giảm mức sẵn lòng trả cho dịch vụ telemedicine của người dân Trên cơ sở đó, đề xuất những gợi ý giải pháp triển khai dịch vụ telemedicine nhằm hướng đến giải pháp phân phối đồng đều dịch vụ y tế ở Việt Nam

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

 Xác định những đặc tính của người tiêu dùng dịch vụ chăm sóc sức khỏe

ở vùng nông thôn tỉnh Long An

 Xác định những đặc tính quan trọng của telemedicine khi triển khai ở vùng nông thôn tỉnh Long An cụ thể ở thị xã Kiến Tường, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An

 Phân tích ước lượng giá trị mức sẵn lòng trả cho dịch sẵn lòng trả cho lợi ích của dịch vụ telemedicine mang lại

 Gợi ý các giải pháp triển khai dịch vụ chăm sóc sức khỏe mới ở vùng nông thôn

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Đặc Điểm của người bệnh ở ba huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa

Trang 15

tỉnh Long An khi phải di chuyển đến phòng khám ở Thành phố Tân An để được

sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe?

Nhận thức của người dân địa phương đến dịch vụ chăm sóc khỏe mới và các đặc tính nào của telemedicine thúc đẩy hành vi tiêu dùng dịch vụ dịch vụ chăm sóc khỏe?

Người dân ba huyện sẽ sẵn lòng trả bao nhiêu tiền cho lợi ích của dịch vụ telemedicine khi triển khai ở thị xã Kiến Tường?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các bệnh nhân đang tới khám tại phòng khám Vạn An có cư trú gần thị xã Kiến Tường (nơi dự kiến triển khai telemedicine) Do mô tả dự án sẽ đặt trạm telemedicine địa điểm tại thị xã kiến tường giúp cho những người bệnh có nhu cầu chữa ở gần khu vực Kiến tường có thể sử dụng dịch vụ mà không cần đi xa tới TP Tân An

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu:

* Về nội dung: nghiên cứu mức giá sẵn lòng trả của Bệnh nhân cho dịch

vụ telemedicine sắp triển khai ở thị xã Kiến Tường

* Về không gian: Bệnh nhân cư trú trên địa bàn huyện Tân Hưng, Vĩnh

Hưng, Mộc Hóa hiện đang khám bệnh tại phòng khám Vạn An- Thành Phố Tân

An tỉnh Long An

* Về thời gian: Số liệu được thu thập phục vụ cho nghiên cứu luận văn

được tác giả và điều dưỡng phòng khám Vạn An thu thập từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2016

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp với các bênh nhân đến khám tại

Trang 16

phòng khám Các điều dưỡng được huấn luyện trước về thu thập số liệu, sẽ trực tiếp thực hiện phỏng vấn bệnh nhân sau đó ghi nhận thông tin nghiên cứu theo mẫu câu hỏi Nghiên cứu sử dụng kết hợp số liệu trong hồ sơ bệnh án của bệnh nhân như: Thông tin cá nhân, tình trạng bệnh, chuẩn đoán và nhận xét của các chuyên gia y tế về tình trạng bệnh

Sử dụng phương pháp hỗn hợp: Phỏng vấn định tính và định lượng trong

mô hình CVM để ước lượng giá trị sẵn lòng trả của đối tượng nghiên cứu

Các thông tin nghiên cứu đảm bảo tính khách quan và bảo mật thông tin người được phỏng vấn Các thông tin công bố đã được sự cho phép bởi người cung cấp thông tin

* Sử dụng dữ liệu sơ cấp

Phỏng vấn trực tiếp 150 Bệnh Nhân đến khám phòng Khám Vạn An, với các đặc điểm như sau:

 Bệnh nhân cư trú tại ba huyện Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Mộc Hóa địa phương

có khoảng cách xa phòng khám Vạn An- Tp.Tân An, và có khoảng cách gần thị xã Kiến Tường nơi dự định triển khai telemedicine Nói cách khác nếu triển khai dịch vụ telemedicine sẽ phục các bệnh nhân trong khu vực này, bệnh nhân không cần phải di chuyển lên thành phố Tân An để điều trị Chỉ cần sử dụng dịch vụ này ở địa phương để được chẩn đoán và điều trị bởi các bác sĩ ở Vạn

An

 Truy cập dữ liệu hồ sơ điện tử liên quan đến cá nhân được phỏng vấn bao gồm thông tin liên quan nhân khẩu học, các thông tin về tình trạng điều trị bệnh dưới sự cho phép của người được phỏng vấn

* Sử dụng các phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp định lượng và tổng hợp các nghiên cứu có liên quan

1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu

Trang 17

Nghiên cứu dẫn đường cho các nghiên cứu chi tiết hơn về thị trường, cung cấp dịch vụ telemedicine trên địa bàn Long An Kết quả của nghiên cứu kỳ vọng

sẽ đóng góp một phần nhỏ cho tổ chức cung cấp dịch vụ y tế, cũng có giá trị như nghiên cứu thị trường để phát triển dịch vụ telemedicine

Đối với thực tiễn của nghiên cứu khi được mở rộng thì kết quả nghiên cứu

có thể sử dụng như một nghiên cứu ban đầu cho các nghiên cứu lớn hơn với quy

mô triển khai giữa các tuyến y tế trung ương và địa phương, nhằm ước lượng giá trị của dự án y tế từ xa phát triển hệ thống y tế cơ sở Ngoài kế quả ước lượng giá trị lợi ích của dịch vụ telemedicine đây cũng là căn cứ để quyết định đầu tư, nếu lớn hơn chi phí triển khai thì hệ thống y tế từ xa có thể được thực hiện và người dân sẽ được hưởng dịch vụ y tế chất lượng ở địa phương với chi phí hợp lý, giảm

sự quá tải tại các bệnh viện tuyến trên như hiện nay

1.7 Bố cục của luận văn

 Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

 Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết của phương pháp CVM cũng như lược khảo các trước dây ước lượng giá sẵn lòng trả cho dịch vụ telemedicine

 Chương 3: Trình bày thiết kế mô hình phân tích và nghiên cứu giá sẵn lòng trả cho dịch vụ telemedicine

 Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu và khảo sát

 Chương 5: Tổng hợp kết quả đưa ra kết luận và gợi ý chính sách phát triển nghiên cứu trong tương lai

Trang 18

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Mô tả dịch vụ telemedicine và ứng dụng vào hệ thống y tế

2.1.1 Khái niệm về telemedicine

Telemedicine mô ̣t khái niệm được xuất hiê ̣n lầm đầu tiên vào năm 1970 được đi ̣nh nghĩa theo Brid (1970) “Y học từ xa là việc thực hành y học mà không

có sự đối mă ̣t trực tiếp bác sĩ - bệnh nhân như thông thường, việc khám chẩn đoán thông qua một hệ thống truyền thông video audio tương tác” đi ̣nh nghĩa này được phát triển lên đi cùng với sự áp dụng của công nghê ̣ thông tin vào sự phát triển các ứng du ̣ng trong telemedicine trong nền y ho ̣c ngày nay

Tính đến năm 2006 có hơn 104 đi ̣nh nghĩa telemedicine trong các bài nghiên cứu về lĩnh vực này và đi ̣nh nghĩa mới nhất được xem là đầy đủ nhất, được

ta ̣p chí Telemedicine and E-health Information Service (TEIS) UK University of Portsmouth, 1998–2006 định nghĩa như sau: “Y học từ xa là một phương pháp mới Cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cho phép một sự thay đổi từ một dịch

vụ tập trung trở thành một dịch vụ lấy bệnh nhân là trung tâm, sử du ̣ng nguồn lực hiệu quả và các quyết định được thực hiện tại cấp địa phương gần với bệnh nhân”

Y học từ xa được phát triển khi xuất hiện ngày một nhiều ứng dụng của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) để kê toa thuốc chữa bệnh Một số khác, có teleradiology dùng trong chẩn đoán hình ảnh hoặc mô phỏng phầm mền 3D, những kỹ thuật quản lý thông tin tiên tiến, dự án telemedicine là một giải pháp rất

có giá trị trong việc góp phần cải thiện chăm sóc sức khỏe

2.1.2 Mô tả các ứng dụng của telemedicine

Di ̣ch vu ̣ Telemedicine có rất nhiều hình thức cung cấp (được mô tả trong Hình 2.1) tổng cộng có 17 loại Dịch vụ cung cấp đầy đủ các hỗ trợ từ việc cung cấp thông tin hồ sơ bệnh án, cho đến các dịch vụ kỹ thuật cao như: Phẫu thuật từ

xa Các dịch vụ này hỗ trợ cho từng loại mục đích khác nhau của hệ thống y tế,

áp dụng cũng tùy theo trình đô ̣ phát triển của bê ̣nh nhân và điều kiê ̣n vâ ̣t chất có

Trang 19

thể triển khai Với cách nhìn bê ̣nh nhân là trung tâm nên các di ̣ch vu ̣ này cung cấp các tiê ̣n ích mà bê ̣nh nhân cần, từ tư vấn đến các di ̣ch vu ̣ khám chữa bê ̣nh lâm sàng ta ̣o nên mô ̣t danh mu ̣c di ̣ch vu ̣ phong phú phù hợp cho từng đối tượng bê ̣nh nhân

Hình 2.1: Mạng lưới các dịch vụ telemedicine (Nguồn: Journal of Education and Health promotion) Tuy nhiên, với điều kiê ̣n cơ sở vâ ̣t chất triển khai và mă ̣t bằng chung ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay, nghiên cứu này chỉ tìm hiểu sâu về di ̣ch vu ̣ tư vấn khám bê ̣nh từ

xa Electronic consultation (e-consult) và di ̣ch vu ̣ telepharmacy (Kê toa thuốc từ xa) đây là hai di ̣ch vu ̣ phù hợp với điều kiê ̣n triển khai cũng như phù hợp với trình

đô ̣ bê ̣nh nhân

Mô hình Electronic consultation (e-consult): Là một hình thức của telemedicine, áp dụng vào dịch vụ y tế tạo ra phương thức giao tiếp thông tin trong việc khám và điều tri ̣ cho bê ̣nh nhân mà không đòi hỏi người bệnh phải đi đến tổ

Trang 20

chức chăm sóc sức khỏe trực tiếp Các chuyên gia y tế sẽ trao đổi với người bệnh thông qua hệ thống tổng đài bao gồm có video chất lượng cao và các thiết bi ̣ y tế có thể kết nối và truyền thông tin qua hê ̣ thống internet, các tín hiê ̣u âm thanh video hình ảnh sẽ được tái hiê ̣n ở phòng các bác sĩ Bằng phương thức này, các chuyên gia y tế có thể tư vấn và khám bê ̣nh cho bê ̣nh nhân ở xa Tùy theo trình

độ phát triển mà nơi bê ̣nh nhân tới có thể có các nhân viên y tế hỗ trợ thao tác nghiê ̣p vu ̣ y

Tuy Nhiên, trong mô hình e-consult chỉ hỗ trợ cho việc tư vấn, chẩn đoán cho người bệnh, để phục vụ cho mục đích khám chữa bệnh cần thêm hai dịch vụ

hỗ trợ của telemedicine là bệnh án điện tử ERP và kê toa thuốc từ xa (telepharmacy)

Telepharmacy cung cấp các dịch vụ dược phẩm cho người bệnh ở những nơi họ có thể không phải tiếp xúc trực tiếp với một dược sĩ Nó là một hình thức của sự mở rộng của telemedicine, nhưng thực hiện trong lĩnh vực dược Dịch vụ telepharmacy bao gồm giám sát thuốc điều trị, tư vấn bệnh nhân, cho phép ủy quyền bổ sung cho lượng thuốc theo toa, và giám sát các công thức phù với sự trợ giúp của teleconferencing hoặc hội nghị truyền hình Pha chế thuốc từ xa bởi hệ thống đóng gói và ghi nhãn tự động, cũng có thể được coi là một ví dụ của telepharmacy Dịch vụ telepharmacy có thể được áp dụng tại các địa điểm nhà thuốc bán lẻ, hoặc thông qua các bệnh viện, hoặc các cơ sở chăm sóc y tế khác

Đối với phòng khám do đặc thù bệnh nhân khám ngoại trú vì vậy dịch vụ telepharmacy chỉ áp dụng việc kê toa thuốc từ xa Sau khi được bác sĩ chuẩn đoán

và tư vấn qua hệ thống e-consult, người bệnh sẽ được nhận toa thuốc thông qua

hệ thống telepharmacy, người bệnh có thể sử dụng dịch vụ cung cấp thuốc của nhà thuốc tại nơi triển khai telemedicine của phòng khám hoặc sử dụng dịch vụ của các nhà thuốc khác trên địa bàn thị xã Kiến Tường

2.1.3 Mô tả chi tiết dịch vụ telemedicine ở phòng khám

Khám chữa bê ̣nh từ xa (teleconsultation) phương thức khám bê ̣nh mà

Trang 21

người bệnh được trao đổi với bác sĩ thông qua hê ̣ thống thiết bi ̣ thông tin Bác Sĩ ở TP.Tân An, TP.HCM có thể khám bê ̣nh cho bê ̣nh nhân ở thi ̣ xã Kiến Tường ta ̣i phòng khám được trang bi ̣ thiết bi ̣ khám bê ̣nh từ xa

Bê ̣nh nhân có thể trao đổi trực tuyến với bác sĩ thông qua màn hình và thiết

bi ̣ thu hình trực tuyến Bác Sĩ cũng có thể quan sát bê ̣nh nhân qua camera và màn hình ở phòng làm viê ̣c của mình (Giống như giao thức video call)

Bác sĩ có thể nghe ma ̣ch tim phổi thông qua tay nghe điê ̣n tử thu nhận các tín hiệu âm thanh từ bệnh nhân, sau đó được truyền qua ma ̣ng và được tái tạo lại

âm thanh tớ i tai bác sĩ ở phía bên kia (tính năng truyền âm thanh chất lượng cao)

Bác sĩ có thể xem chi tiết các biểu hiê ̣n trên cơ thể của người bệnh thông qua thiết bi ̣ ống phóng đa ̣i (telecop) cho hình ảnh trung thực

Bác sĩ có thể chỉ đi ̣nh các thủ thuâ ̣t câ ̣n lâm sàng: Siêu âm, X- Quang thông qua đô ̣i ngũ hỗ trợ ta ̣i phòng khám Các hình ảnh này được truyền thông qua da ̣ng dữ liê ̣u kỹ thuâ ̣t số và được hiển thi ̣ trên màn hình của bác sĩ (Trong giai đoa ̣n đầu triển khai X-Quang và siêu âm sẽ được chỉ định ở nơi khác Bác sĩ sẽ đo ̣c kết quả thông qua camera và file mềm trên máy tính)

Bác sĩ có thể kê toa bằng phầm mềm, toa thuốc được in ra cho bê ̣nh nhân và người bệnh có thể mua thuốc ta ̣i quầy hoă ̣c hiê ̣u thuốc gần nhất

Bê ̣nh án điê ̣n tử được áp du ̣ng quản lý sử du ̣ng thuốc và điều tri ̣ cho bê ̣nh nhân

Trong trường hợp bê ̣nh chuyển biến phức tạp cần các kỹ thuật cao hơn sẽ được chuyển lên bê ̣nh viê ̣n Va ̣n An để điều tri ̣

2.2 Khảo lược các lý thuyết kinh tế

2.2.1 Các nghiên cứu về telemedicine

Telemedicine mô ̣t khái niê ̣m xuất hiê ̣n từ năm 1970 với những nghiên cứu về ý tưởng ứng du ̣ng công nghê ̣ thông tin ta ̣o ra mô ̣t giao thức trong cung cấp di ̣ch

vu ̣ chăm sóc sức khỏe Cùng với sự phát triển của di ̣ch vu ̣ này thì các nghiên cứu về lợi ích và các yếu tố tác đô ̣ng đến viê ̣c chấp nhâ ̣n sử du ̣ng di ̣ch vu ̣ từ xa nói

Trang 22

chung và di ̣ch vu ̣ telemedicine nói riêng cũng đã tăng lên và ngày càng phong phú hơn, với sự kiểm đi ̣nh đa da ̣ng bằng các mô hình kinh tế hành vi

Song hành cùng thời gian phát triển công nghệ telemedicine các nghiên cứu cũng phát triển, theo đó từ những nghiên cứu tìm hiểu telemedicine và phân tích những khó khăn khi triển khai áp dụng trong cộng đồng như Puskin và cộng

sự (1995) nghiên cứu mô tả về các cộng đồng nông thôn ở Mỹ mắc bệnh mạn tính

do việc thiếu các nguồn lực chăm sóc sức khỏe đầy đủ dẫn đến quá ít hệ thống cơ

sở chăm sóc ban đầu, dẫn đến sự cần thiết phải di chuyển xa để chăm sóc đặc biệt

đã gây khó khăn cho nhiều cư dân nông thôn khi họ cần dịch vụ chăm sóc sức khỏe Nghiên cứu đã chỉ ra y học từ xa cung cấp một công cụ để cải thiện tình trạng này, và đồng thời cũng chỉ ra những tiềm năng y học từ xa đã không được thực hiện ở nông thôn Mỹ do những rào cản đáng kể về kỹ thuật, quản lý, tổ chức

và tài chính Các khó khăn này đã ngăn chặn các cộng đồng người dân ở nông thôn hưởng lợi từ công nghệ sau đó nghiên cứu đã thảo luận về những vấn đề này

và đề xuất thiết lập các chương trình y tế từ xa nông thôn thành công

Một cách tiếp cận khác về ý nghĩa giáo dục đào tạo hệ thống chăm sóc sức khỏe ở nông thôn như Zollo và cộng sự (1999) Chỉ ra rằng khoảng 20% dân số sống ở các vùng nông thôn Mỹ, nhưng chỉ có 9% các bác sĩ của quốc gia thực tập tại các cộng đồng nông thôn Đó là khó khăn để tuyển dụng và giữ chân các học viên y tế nông thôn, một phần vì các vấn đề liên quan đến quá trình phát triển chuyên môn Việc kết hợp công nghệ thông tin và tăng cường giữa địa phương và bệnh viện học thuật hứa hẹn cho việc giảm sự tách biệt này và tăng cường các cơ hội học tập suốt đời cho các nhà cung cấp chăm sóc y tế nông thôn Nghiên cứu

đã tìm hiểu một số vấn đề liên quan đến việc sử dụng các telemedicine tương tác

để truyền tải chương trình giáo dục y tế liên tục từ một trung tâm học tập cho nhiều bệnh viện nông thôn

Hay nghiên cứu của Dimmick và cộng sự (2000) báo cáo nghiên cứu kết quả từ một chương trình nhà y học từ xa liên bang tài trợ tại huyện nông thôn Grainger, Tennessee Bệnh nhân được chăm sóc trong gia đình, và các nhà cung

Trang 23

cấp dịch vụ thường được hài lòng với chi phí thấp, chương trình y tế từ xa này đã được sử dụng hệ thống thông tin Dự án đã cải thiện giảm thời gian làm việc và tăng năng suất làm việc của điều dưỡng

Ngoài áp dụng khu vực nông thôn telemedicine còn áp dụng ở khu vực khác như Patel và Toral (2000) đã phân tích lợi ích và chi phí áp dụng telemedicine trên tàu đi biển mang lợi ích cho quá trình cấp cứu những trường hợp khó khăn

về vị trí địa lý và tính đáp ứng của hệ thống chăm sóc sức khỏe với những trường hợp khẩn cấp Và nghiên cứu của Hailey và cộng sự (2002) cho một cách nhìn tổng quát và tổng hợp các bằng chứng về những lợi ích của telemedicine cho chuỗi giá trị của hệ thống chăm sóc sức khỏe ở những khu vực xa cách địa lý

Song song với các nghiên cứu về lợi ích của telemedicine còn có về các nghiên cứu liên quan đến các yếu tố quyết định sử dụng dịch vụ này khi được triển khai, nhằm hướng đến hiệu quả khi triển khai dịch vụ cho khu vực nông thôn, cũng như nghiên cứu thị trường ở khu vực nông thôn và giá trị thật sự mà dự án mang lại cho người dân nông thôn ở góc nhìn của người sử dụng hàng hóa chăm sóc sức khỏe có nghiên cứu Akin và cộng sự (1999) Nghiên cứu về sự lựa chọn

cơ sở y tế tại các hộ gia đình ở khu vực quốc gia Sri Lanka và xem xét các yếu tố tác động đến sự lựa chọn, nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố như: Đặc tính nhân khẩu học, thu nhập, khoảng cách từ nhà đến các bệnh viện, tình trạng bệnh có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn Các tác động đó được tác giả ghi nhận lại và yếu

tố tình trạng bệnh có ảnh hưởng nhiều đến quyết định lựa chọn Trong tình trạng bệnh nhẹ bệnh nhân có thể bị tác động bởi các yếu tố khoảng cách tới các bệnh viện lớn và xu hướng sẽ chọn các bệnh viện gần nhà nhưng khi tình trạng bệnh nặng thì bệnh nhân có xu hướng chọn các bệnh viện lớn hơn và bỏ qua các bệnh viện cơ sở, các yếu thu nhập không có sự ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cơ

Trang 24

gian di chuyển của bệnh nhân đến bệnh viện chính, có tác động làm giảm xác suất lựa chọn bệnh viện đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra khi mắc bệnh mãn tính hoặc tình trạng bệnh nặng sẽ làm tăng xác suất chọn các bệnh viện lớn khu vực Jacobsen và cộng sự (2012) cho rằng quyết định sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe có sự tác động của danh tiếng, chi phí điều trị và vị trí của bệnh viện, các yếu tố này có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn Danh tiếng bệnh viện được xây dựng ở các trình độ chuyên môn của bác sĩ và các kỹ thuật có thể thực hiện được, quan trọng là các tiêu chuẩn chất lượng mà bệnh viện đang thực hiện

Ở Việt Nam, có các nghiên cứu của Nguyễn và cộng sự (2005) nghiên cứu đến việc lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh Nguyễn đã chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ y tế bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa

xã hội (nhân khẩu học), yếu tố chuyên môn của thầy thuốc, yếu tố tổ chức, cơ chế

và hành chính quản lý, trang thiết bị kỹ thuật y tế, yếu tố kinh tế, yếu tố tiện ích,

và yếu tố tâm lý

Về nghiên cứu telemedicine có nghiên cứu Trịnh (2006) theo đề án triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành y tế Nghiên cứu xoay quanh áp dụng bệnh án điện tử

Có nhiều nghiên cứu về áp dụng telemedicine tuy nhiên nhiên các đề tài ở Việt Nam xoay quanh các hình thức kỹ thuật áp dụng ở phía người cung cấp dịch vụ chưa thật sự đánh giá nhu cầu người sử dụng, dẫn đến còn rất nhiều vấn đề chưa được giải quyết vì vâ ̣y, vấn đề quyết đi ̣nh sử du ̣ng di ̣ch vu ̣ trong các nghiên cứu có thâ ̣t sự phù hợp với trình đô ̣ và thói quen của người bê ̣nh ở Viê ̣t Nam hay không? Điều này cần được kiểm chứng với số liê ̣u và nghiên cứu cu ̣ thể trước khi triển khai

mô hình telemedicine nhằm mu ̣c tiêu phân loa ̣i đối tượng sử du ̣ng di ̣ch vu ̣ và tác

đô ̣ng đúng yếu tố tăng được sử du ̣ng di ̣ch vu ̣ ta ̣i đi ̣a phương nhằm tối ưu hóa hiê ̣u quả chi phí, giảm tải cho bê ̣nh viê ̣n và tiếp câ ̣n mu ̣c tiêu xa hơn là đào ta ̣o cho nhân lực đi ̣a phương khi tham gia mô hình này

Trang 25

2.2.2 Nghiên cứu CVM đo lường mức sẵn lòng trả

Phương pháp định giá kinh tế được sử dụng trong nghiên cứu này là phương pháp đánh giá ngẫu nhiên CVM CVM là một phương pháp phát biểu sở thích (stated preferences) được áp dụng rộng rãi hiện nay, nhằm mục tiêu định giá các hàng hóa không có giá trên thị trường hay các hàng hóa không tồn tại thị trường cho nó Trong các nghiên cứu sử dụng phương pháp này, các thị trường hay kịch bản giả định về hàng hóa được xây dựng và cung cấp đến người phúc đáp để hỏi họ về giá trị sẵn lòng trả (WTP) tối đa hay sẵn lòng chấp nhận (WTA) tối thiểu của họ cho dịch vụ, qua đó nghiên cứu sẽ khám phá được sự thay đổi về mặt phúc lợi do hàng hóa dịch vụ chăm sóc sức khỏe đem lại theo cảm nhận riêng của người tham gia phỏng vấn (Bateman

và cộng sự, 2002; Mitchell và Carson,1989) Ý tưởng về CVM được xem là xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1947 trong nghiên cứu của Ciriacy- Wantrup (1947) và được áp dụng lần đầu tiên trong nghiên cứu của Davis (1963)

CVM là một phương pháp định giá hàng hóa giả định trực tiếp (hypothetical direct valuation) cần có sự tham gia năng động của người tham gia phỏng vấn Do

-đó, để thực hiện được việc quản lý khảo sát hiệu quả, các kịch bản giả định được xây dựng cần được mô tả rõ ràng để người tham gia phỏng vấn nắm các thông tin của hàng hóa và việc sử dụng nguồn lực (Herrera và cộng sự, 2004; Loomis và cộng sự, 2000; Zhongmin và cộng sự, 2003); hay trình bày bối cảnh hay phương tiện chi trả với sự nhấn mạnh vấn đề giới hạn ngân sách như nghiên cứu của Arrow và cộng sự (1993) Phương tiện chi trả cần phải thực tế và gần gũi với cuộc sống của người được phỏng vấn Sau khi thiết kế được CV cho nghiên cứu, một mẫu người được phỏng vấn ngẫu nhiên sẽ được xác định để hỏi về sự ưa thích (cụ thể là WTP tối đa hoặc WTA tối thiểu) cho một sự thay đổi giả định của hàng hóa cần đánh giá, mà điều đó

có thể làm thay đổi phúc lợi của người phúc đáp Người phúc đáp được giả định sẽ thể hiện hành vi của họ trong cuộc khảo sát, như trên thị trường thực tế Điều này là yêu cầu tối quan trọng để tránh các hiện tượng sai lệch kết quả của nghiên cứu Muốn đạt được điều này, yêu cầu đặt ra không chỉ ở khả năng tạo ra bảng câu hỏi phù hợp

Trang 26

mà còn khả năng quản lý khảo sát tốt Để thực hiện khảo sát CVM, có thể sử dụng một trong các phương pháp như phỏng vấn trực tiếp (face-to-face/in-person interview), phỏng vấn qua điện thoại (telephone interview), phỏng vấn bằng thư điện

tử (e-mail interview) Trong những cách khảo sát, phỏng vấn trực tiếp thường được xem là hiệu quả hơn cả về mức độ chính xác của thông tin khi thực hiện một cuộc trao đổi trực tiếp người phúc đáp mặc dù chi phí của nó có thể rất cao (Amigues và cộng sự, 2002; Bateman và cộng sự, 2003; Lipton và cộng sự, 1998)

Trong phân khúc dịch vụ chăm sóc sức khỏe, CV cũng được áp dụng để tìm ra nhu cầu đối với một số loại vắc-xin Theo (Đỗ, Whittington và cộng sự, 2006) với mục đích khám phá các chức năng nhu cầu về vắc-xin sốt thương hàn đã sử dụng CVM có kích thước mẫu của 1.065 hộ gia đình ở Huế Các tác giả đưa ra bằng chứng cho thấy ước tính trung bình WTP cho một vắc-xin duy nhất thay đổi từ US $ 2,30 đến $ 4,80 Mỹ Trong một số nghiên cứu khác cho sức khỏe (Kaljee, Pham và cộng

sự, 2008) tiến hành một cuộc khảo sát trên 800 người được hỏi lựa chọn ngẫu nhiên

để mua một loại vắc xin tả Huế Phát hiện của họ là WTP trung bình ước tính cho 50% hiệu quả cho vắc-xin 3 năm là khoảng US $ 5

Mặc dù vậy, đến thời điểm hiện nay CVM vẫn là một phương pháp nằm trong dòng tranh cãi bởi tính giá trị và đáng tin cậy của kết quả và tác động của các sai lệch

từ CVM trong đánh giá dịch vụ chăm sóc sức khỏe (Cookson, Richard, 2004) Arrow

và cộng sự (1993) đưa ra một số khuyến nghị để tối đa hóa tính đáng tin cậy của CVM bằng cách: sử dụng mẫu xác suất, áp dụng hình thức phỏng vấn trực tiếp (mặt-đối-mặt) hoặc phỏng vấn qua điện thoại (nhưng không khảo sát bằng thư điện tử), đo lường WTP hơn là WTA, phỏng vấn thử bảng câu hỏi để chỉnh sửa và hoàn thiện trước khi phỏng vấn chính thức, diễn giải các câu hỏi CV theo như trong một cuộc trưng cầu dân ý giả định, đưa thêm lựa chọn “Có thể không ủng hộ” bên cạnh lựa chọn “Có” và “Không”, kiểm tra mối liên quan giữa các đặc tính cá nhân của người phúc đáp và WTP, và nhắc nhở người phúc đáp về giới hạn ngân sách như trên thực

tế trước khi họ đưa ra quyết định WTP của mình Tuy vậy, ngày nay CVM đã được

Trang 27

ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu ở các lĩnh vực kinh tế môi trường và đặc biệt

là ứng dụng để đo lường các giá trị kinh tế của các hàng hóa phi thị trường như nghiên cứu trong lĩnh vực sức khỏe (Gyldmark, Marlene, 2011), bởi vì nó được xem là một phương pháp định giá linh hoạt cho nhiều loại hàng hóa phi thị trường như hàng hóa sức khỏe (Asgary, Ali và cộng sự, 2004) Trong các nghiên cứu về hàng hóa dịch vụ chăm sóc sức khỏe, CVM được ứng dụng phổ biến để nghiên cứu sự các lợi ích của chính sách y tế và dịch vụ mới được triển khai đối với người dân (Van denBerg, Bernard và cộng sự, 2005)

Các nghiên cứu CVM về lợi ích trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu đi sâu vào các áp dụng cụ thể của từng loại telemedicine (Miyahara, Shoichi và cộng sự, 2006) đã làm nghiên cứu trên diện rộng về việc sử dụng các loại dịch vụ 622 cơ sở y

tế có dịch vụ telemedicine trên nước Nhật Cũng như nghiên cứu chuyên sâu như (Bradford, W David và cộng sự, 2005) về giá sẵn lòng trả cho dịch vụ telemedicine khi điều trị bệnh tim mạch Trong nghiên cứu này tác giả sẽ ứng dụng phương pháp CVM để đánh giá mức sẵn lòng trả của người dân đối với dịch vụ y tế mới để ước lượng giá trị mang lại cho người bệnh cũng như xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ

2.2.3 Lý thuyết kinh tế học về CVM

Một trong những quy tắc của kinh tế phúc lợi là cần có một sự can thiệp khi tổng lợi ích của chương trình này lớn hơn chi phí của nó Tuy nhiên, vấn đề ở đây là làm thế nào đo lường lợi ích tổng thể này? Điểm khởi đầu chính là ước tính các lợi ích cá nhân mà sau đó sẽ được sử dụng để tổng hợp lợi ích người dân có liên quan đến những lợi ích xã hội Sự thay đổi ròng trong thu nhập gắn liền với sự thay đổi của hàng hóa công cộng được cung cấp về mặt chất lượng hay số lượng đó chính là thước

đo chính xác trong các thủ tục ước lượng lợi ích của một cá nhân Nó là sự kết nối giữa các lý thuyết kinh tế và khảo sát CVM Thông tin quan sát được từ cuộc khảo sát CVM sẽ được sử dụng để đánh giá mức sẵn lòng trả (WTP) cho một hàng hóa công cộng cũng như một dịch vụ sức khỏe Trong một cuộc khảo sát CVM, người trả

Trang 28

lời được yêu cầu bỏ phiếu cho hay bác bỏ một chương trình mà chương trình này gây

ra một chi phí bằng tiền (T) đối với người trả lời

Hàm hữu dụng U, trong đó bao gồm thu nhập (Y), và một loạt các yếu tố tác động (S): U (Y, S), nó có nghĩa là họ biết những yếu tố rất quan trọng trong việc tạo

ra mức độ phúc lợi của họ và làm thế nào những tương quan trong các hàm hữu dụng Nhưng các nhà nghiên cứu không dạng hàm đúng Do đó, họ phải xây dựng một mô hình đơn giản hóa Tất nhiên, mô hình cũng nắm bắt được các yếu tố quan trọng đó

là trong việc thiết lập những thay đổi phúc lợi của họ Mô hình của nhà phân tích được đưa ra là

𝑈(𝑦, 𝑠, 𝜀) Với y, s là thu nhập và các thuộc tính của dịch vụ được đề xuất (telemedicine)

và ɛ là yếu tố ngẫu nhiên mà nhà phân tích sẽ không quan sát được chính xác Hàm hữu dụng có thể viết lại như sau

𝑈𝑖𝑗(𝑞𝑖; 𝑌𝑗; 𝑆𝑗) = 𝑢𝑖𝑗(𝑞𝑖; 𝑦𝑗; 𝑠𝑗) + 𝜀𝑖𝑗

Trong đó i = 1 (q1) là điều kiện là hàng hoá hay dịch vụ sức khỏe được cung cấp; và i = 0 (q0) là hiện trạng Mỗi cá nhân sẽ quyết định đóng góp để được sử dụng dịch vụ sức khỏe mang lại những lợi ích cho họ, T Giả định rằng mọi người sẽ chấp nhận số gợi ý để tối đa hóa tiện ích của họ theo các điều kiện sau đây và từ chối bằng cách khác (Lee và Han, 2002):

𝑢𝑗(𝑞1; 𝑦𝑗 − 𝑇; 𝑠𝑗) + 𝜀1𝑗 ≥ 𝑢𝑗(𝑞0; 𝑦𝑗; 𝑠𝑗) + 𝜀0𝑗

Tuy nhiên, các ɛj thành phần không quan sát được thể hiện trong chức năng này

Có nghĩa là nhà phân tích không thể quan sát nó và không thể dự đoán giá trị thực

Trang 29

của ɛ, nhưng chỉ có thể ước tính xác suất của nó lấy bất kỳ giá trị cụ thể Do đó, xác suất của một "có" phản ứng có thể được ước tính bằng cách sau:

Pr(𝑦𝑒𝑠𝑗) = Pr (𝑢𝑗(𝑞1; 𝑦𝑗 − 𝑇; 𝑠𝑗) + 𝜀1𝑗 ≥ 𝑢𝑗(𝑞0; 𝑦𝑗; 𝑠𝑗) + 𝜀0𝑗)

Bây giờ, nếu giả định phần xác định là tuyến tính trong thu nhập và đồng biến, sau đó dẫn đến kết quả là các chức năng tiện ích tuyến tính Do đó phần xác định có thể được viết lại như sau:

Trang 30

Xác suất cho hàm hữu dụng được tính như sau:

Trong 𝜀𝑗 ≡ 𝜀1− 𝜀0 phần này, ước tính phi tham số và tham số sẽ được sử dụng

để ước lượng WTP dựa trên các câu hỏi CV ước lượng phi tham số của WTP việc ước lượng giá trị WTP được tính toán như sau:

𝑀𝑒𝑎𝑛 𝑊𝑇𝑃 = ∑ 𝑆̂(𝑇𝑗)[𝑇𝑗 − 𝑇𝑗 − 1]

𝑆̂(𝑇𝑗): Là hàm khảo sát tại mỗi giá trị Tj

𝑆̂(𝑇𝑗) = 𝑛𝑗

𝑁𝑗

N: số người bệnh trong mẫu

N j : Số Người đồng ý với mức giá Tj( j=0 đến J, khi J đạt giá trị cao nhất, và

Trang 31

Với giá trị E(WTP) là giá trị trung bình WTP, và α, β là hệ số ước lượng

2.2.4 Cơ sở lý thuyết và cách thu thập WTP:

2.2.4.1 Cơ sở lý thuyết thu thập WTP:

WTP là mức sẵn lòng chi trả của cá nhân để hưởng thụ một giá trị nào đó, ví dụ như việc thuận lợi hơn trong quá trình sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe gần nhà, được sử dụng một dịch vụ tốt hơn so với khu vực của họ với việc ít tốn chi phí thực

và chi phí cơ hội khi đi lên tuyến trên điều trị hay là một giải pháp cho việc điều trị gấp khi bị rơi vào trường hợp phải cấp cứu Cá nhân lựa chọn mức giá sẵn lòng chi trả (WTP) tùy vào sở thích của mình Như phần trên chúng ta đã biết thì hàng hoá dịch vụ chăm sóc sức khỏe mới sẽ có mang lại sự giảm chi phí thực và chi phí cơ hội cho người sử dụng dịch vụ nếu được triển khai Những hàng hoá này chưa có trên thị trường để định giá được giá trị của chúng thì cách tốt nhất đang được áp dụng phổ biến là sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên CVM Tức là chúng ta tiến hành thực hiện một cuộc khảo sát và hỏi cư dân mức sẵn lòng chi trả của họ cho một loại

Trang 32

hàng hoá chăm sóc sức khỏe được mô tả Phương pháp này được ứng dụng phổ biến chủ yếu bởi nó khá linh động và nó có thể đánh giá giá trị của bất cứ loại hàng hoá chưa có trên thị trường nếu hàng hóa đó có thể được mô tả chính xác Có nhiều cách đặt câu hỏi WTP, bao gồm bidding game, single bounded dichotomous choice, payment card và câu hỏi mở Câu hỏi mở là phương pháp đơn giản nhất mà ở đó người nghiên cứu chỉ hỏi người bệnh sẵn lòng trả bao nhiêu tiền cho dịch vụ, và ghi nhận mức giá của từng người Các cách đặt câu hỏi khác được trình bày sau đây

Bidding game

Có thể dùng kỹ thuật để ước lượng mức WTP của người được hỏi như sử dụng trò chơi đấu giá (Randall, Ives and Eastman 1974): phỏng vấn viên sẽ bắt đầu hỏi bằng cách nêu ra mức sẵn lòng chi trả ngày càng cao cho người được hỏi đối với loại hàng hoá được nêu đến khi đưa ra một mức nào đấy mà người được hỏi trả lời là

“Không” Hoặc người phỏng vấn đưa ra mức sẵn lòng chi trả từ cao đến thấp cho đến khi người được hỏi trả lời “Có” thì kết thúc việc hỏi và chấp nhận mức sẵn lòng chi trả đã nêu

Single bounded dichotomous choice

Phương pháp tiếp cận theo hình thức câu hỏi đóng, người được hỏi chỉ việc trả lời “Có” hoặc “không” vào một yêu cầu trong bảng hỏi là họ có sẵn lòng chi trả cho loại hàng hoá dịch vụ được nêu trong đó

Kinh nghiệm của các nghiên cứu trong việc áp dụng phương pháp điều tra thu thập mức sẵn lòng chi trả cho một loại hàng hoá chưa có trên thị trường cho thấy

Trang 33

WTP phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thu nhập, trình độ học vấn, lứa tuổi Vì vậy hàm WTP có dạng như sau:

2.2.4.2 Các bước tiến hành phương pháp CVM

Để tiến hành một nghiên cứu thành công, đạt kết quả cao thì việc tiến hành tuần

tự các bước CVM rất quan trọng:

Bước1: Xây dựng các công cụ cho điều tra

Bước 2: Sử dụng công cụ điều tra của một mẫu tổng thể Bước này là bước quyết định ban đầu của bản thân mỗi cuộc điều tra, bao gồm cách tiến hành điều tra bằng gửi thư điện tử, gọi điện hay điều tra trực tiếp người dân; kích thước mẫu tiến hành điều tra bao nhiêu, đối tượng điều tra là ai và các thông tin liên quan khác trong bảng hỏi Câu trả lời cho những vấn đề này là dựa vào những thông tin khác nhau như tầm quan trọng của vấn đề định giá, tổng hợp các câu hỏi được hỏi, và chi phí tiến hành điều tra Bản thân cuộc phỏng vấn nhìn chung ảnh hưởng bởi tổng hợp các câu hỏi vì nó thường dễ dàng hơn để giải thích xung quanh thông tin được yêu cầu trả lời Người phỏng vấn thường phải tiến hành điều tra trong thời gian dài do người được hỏi thiếu thông tin về vấn đề nghiên cứu Trong một số trường hợp, những sự giúp đỡ cần thiết là cung cấp video hay tranh ảnh màu cho đối tượng hỏi để họ hiểu được điều kiện giả định mà họ sẽ định giá

Trang 34

Trong quá trình điều tra thì phỏng vấn là quan trọng nhất Tuy nhiên, quá trình điều tra bằng gửi thư điện tử với mục đích tỉ lệ trả lời cao có thể cũng khá đắt Điều tra bằng cách gọi điện hoặc gửi thư điện tử rất ngắn gọn Điều tra bằng cách gọi điện thoại có thể chi phí thấp hơn nhưng thông thường rất khó để hỏi những câu hỏi đánh giá ngẫu nhiên đối với đối tượng hỏi bởi vì giới hạn số lượng xung quanh thông tin yêu cầu

Bước 3: Thiết kế mẫu điều tra thực tế đây là một phần quan trọng và khó nhất trong quy trình và có thể phải tốn nhiều thời gian để hoàn thành Quy trình thiết kế điều tra thường bắt đầu với cuộc phỏng vấn đầu tiên với nhóm trung tâm trong mẫu chọn Trong nhóm trung tâm đầu tiên, người nghiên cứu sẽ hỏi những câu hỏi chung chung, tạo sự tập trung của người đó vào các dịch vụ dự định triển khai tạo ra sự quan tâm của những vấn đề họ đang mắc phải mà dịch vụ mới có thể đáp ứng các nhu cầu

đó Trong nhóm trọng tâm tiếp theo, những câu hỏi đưa ra chi tiết hơn và cụ thể hơn

để quyết định thông tin liên quan cần là gì và bằng cách nào để có những thông tin

đó Ví dụ, người đó có thể cần thông tin về địa điểm khảo sát, đặc điểm nổi bật của dịch vụ Người điều tra muốn tìm hiểu những hiểu biết của người được phỏng vấn về việc khai thác và tác động của việc khai thác đó cũng như tình hình khó khăn ở địa phương nếu chưa có dịch vụ Bước này cách tiếp cận để kiểm tra các cách đặt câu hỏi giá sẵn lòng trả và phương thức thanh toán khác nhau Người điều tra tiếp tục thử cho đến khi họ hoàn thiện được bảng câu hỏi khảo sát mà người trả lời có thể hiểu được

và trả lời theo nhận thức và mức giá thực sự mà họ chi trả (WTP) cho dịch vụ đang được nghiên cứu

Bước 4: Xử lý số liệu Bước này là bước tiến hành tổng hợp những thông tin thu được và xử lý số liệu Những phiếu điều tra không hợp lệ sẽ bị loại bỏ, những thông tin thu thập hợp lệ sẽ được tổng hợp trên cơ sở đó xây dựng các biến để phân tích

Bước 5: Ước lượng mức WTP Bước này là bước hoàn thành phân tích và báo cáo kết quả Dữ liệu được phân tích bằng các phần mềm thống kê để xác định các thông số cần thiết cho báo cáo như trung bình của mẫu, WTP trung bình, sau khi đã

Trang 35

tính toán xong thì chúng ta cũng cần phải phân tích độ nhạy tức là xem xét sự thay đổi của giá trị đã tính toán trước sự biến động của thị trường Cụ thể, xem xét liên quan đến tỷ số chiết khấu và biến động về giá trị ròng trong thực hiện đưa vào phân tích chi phí-lợi ích khi sử dụng dịch vụ và đó là kết quả chúng ta đề xuất cho các nhà hoạch định chiến lược triển khai dịch vụ

* Chi phí người thân

nuôi và đưa đi khám

* Số ngày cần điều trị

* Mức độ nghiên trọng của bệnh

* Vị trí đặt trạm telemedicine

* Danh tiếng của CSYT

Đặc tính dịch vụ Telemedicine

Độ hữu dụng của Người bệnh

Trang 36

Hình 2.2 Khung phân tích các yếu tố tác động quyết định sử dụng DV chăm

sóc sức khỏe Với các yếu tố tác động ảnh hưởng đến mức giá sẵn lòng trả như trên cũng như việc lựa chọn một phương pháp ước lượng WTP phù hợp điều kiện nghiên cứu của tác giả Tác giả đã lựa chọn mô hình CVM với phương pháp payment card Để khảo sát mức sẵn lòng trả của Người dân khu vực này

Trang 37

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH PHÂN TÍCH

3.1 Thực trạng địa phương nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện dân cư xã hội tại vùng nghiên cứu ba huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa

3.1.1.1 Huyện Mộc Hóa- Long An

Huyện nằm ở phía tây Bắc tỉnh Long An Huyện Mộc Hóa hiện nay có diện tích tự nhiên 501,829km2, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 36.528 ha Phía bắc giáp huyện Kông Pông Rồ, tỉnh Svay Rieng - Campuchia, có đường biên giới dài 38,797 km, có cửa khẩu quốc gia Bình Hiệp các trung tâm huyện 7 km Phía tây là huyện Vĩnh Hưng và huyện Tân Hưng Phía nam là huyện Tân Thạnh Phía đông là huyện Thạnh Hóa Diện tích 503km2, Dân số là 64.000 người Mật độ dân số bình quân 129 người/km2, bằng 42% mức trung bình của toàn tỉnh Huyện lỵ là thị trấn Mộc Hóa nằm trên quốc lộ 62, cách Thành phố Tân An 70 km về hướng tây bắc và cách cửa khẩu Bình Hiệp (Việt Nam - Campuchia) khoảng 7 km về hướng nam, huyện cũng là nơi có con sông Vàm Cỏ Tây chảy qua Huyện Mộc Hóa bao gồm: Thị trấn Mộc Hóa Các xã: Bình Phong Thạnh, Bình Thạnh, Bình Hòa Đông, Tân Thành, Tân Lập, Bình Hòa Trung, Bình Hòa Tây, Thạnh Trị, Bình Hiệp, Tuyên Thạnh, Thạnh Hưng, Bình Tân

Hệ thống chăm sóc sức khỏe của huyện hiện nay tập trung các cơ sở y tế được quy hoạch cho khu vực Đồng Tháp Mười Tại thị xã Kiến Tường có bệnh viện cấp 2

là bệnh viện đa khoa khu vực Tháp Mười

3.1.1.2 Huyện Tân Hưng

Huyện Tân Hưng nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Long An, phía Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài 15,22 km, thuộc địa giới 3 xã Hưng Điền, Hưng

Trang 38

Điền B và Hưng Hà, phiá Nam giáp huyện Tân Thạnh, Mộc Hoá, phía Đông giáp huyện Vĩnh Hưng, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp

Toàn huyện Tân Hưng có 01 thị trấn và 11 xã, trong đó thị trấn Tân Hưng là huyện lỵ, các xã còn lại gồm: Vĩnh Thạnh, Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại, Hưng Điền B, Hưng Thạnh, Vĩnh Châu A, Vĩnh Châu B, Thạnh Hưng, Hưng Hà, Hưng Điền, Vĩnh Bửu (vừa được tách ra trên cơ sở xã Vĩnh Đại)

Nếu như năm 2000, bệnh viện huyện còn thiếu thốn mọi bề, cơ sở vật chất không đảm bảo, số trạm y tế xã có bác sĩ chỉ đạt 50% thì đến năm 2010, bệnh viện đa khoa 50 giường đã được xây dựng và đang được nâng cấp lên 100 giường với trang thiết bị hiện đại, 100% số xã có bác sĩ, 9/11 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế Các chương trình y tế quốc gia đều đạt chỉ tiêu hàng năm Đội ngũ y, bác sĩ từng bước được chuẩn hóa, đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe, khám - chữa bệnh cho nhân dân

3.1.1.3 Huyện Vĩnh Hưng

Huyện Vĩnh Hưng nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Long An với diện tích tự nhiên 38.452 ha, chia thành 10 đơn vị hành chính (9 xã và 1 thị trấn) Ranh giới hành chính huyện Vĩnh Hưng tiếp giáp với 2 huyện của tỉnh Long An và Campuchia, cụ thể như sau: phía Bắc và Đông Bắc giáp Campuchia, phía Đông Nam giáp huyện Mộc Hóa - tỉnh Long An, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Tân Hưng - tỉnh Long An

Huyện Vĩnh Hưng có 10 xã- thị trấn, trong đó thị trấn Vĩnh Hưng là huyện lỵ, các xã còn lại gồm: Vĩnh Trị, Hưng Điền A, Thái Trị, Thái Bình Trung, Tuyên Bình, Tuyên Bình Tây, Vĩnh Bình, Khánh Hưng, Vĩnh Thuận

3.1.2 Giới thiệu phòng khám đa khoa Vạn An

Công ty cổ phần bệnh viện Vạn An được thành lập năm 2008 Đội ngũ bác sĩ nhiều kinh nghiệm từ TPHCM Công ty thành lập hai chi nhánh là Phòng khám Đa Khoa Vạn An 1 ở Thành phố Tân An và Phòng Khám Đa Khoa Vạn An 2 –Chi nhánh Bến Lức Với sự hợp tác của các bác sĩ có trình độ chuyên môn đang làm việc ở các

Ngày đăng: 29/10/2019, 23:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w