Từ quan niệm chung “thủ tục là phương cách giải quyết công việc theo một trình tự nhất định” các tác giả cuốn sách đã đi tới quan niệm tổng quát về TTHC, khẳng định “TTHC là trình tự về
Trang 1PHẠM THÁI ĐA NGÂN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUỘC LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI, GIAI ĐOẠN
2016-2025
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 2PHẠM THÁI ĐA NGÂN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUỘC LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI,GIAI ĐOẠN
2016-2025
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60310102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HỒ QUẾ HẬU
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 3Tôi xin cam đoan tất cả những nội dung của luận văn này hoàn toàn được chính bản thân tôi nghiên cứu thực hiện dựa trên quan điểm riêng cá nhân, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ Hồ Quế Hậu Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương công tác, các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phạm Thái Đa Ngân
Trang 4Mục lục
Danh mục các chữ từ viết tắt
Danh mục các bảng và hình
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4
3.1 Mục tiêu chung 4
3.2 Mục tiêu cụ thể 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu: 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Phương pháp nghiên cứu chung: 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể: 6
6 Đóng góp về lý luận thực tiễn của luận văn 6
7 Kết cấu luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUỘC LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 8
1.1 Cơ sở lý luận về cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai 8
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách nền hành chính nhà nước 8
1.1.2 Các khái niệm có liên quan và các loại TTHC thuộc lĩnh vực đất đai 12
1.1.3 Nội dung của cải cách thủ tục hành chính, các nhân tố tác động và các tiêu chí đánh giá hiệu quả cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai 15
1.2 Cơ sở thực tiễn về cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai 25 1.2.1 Kinh nghiệm triển khai cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai ở các nước trên thế giới 25
Trang 5trên địa bàn huyện Thống Nhất 30
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32 Chương 2:THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUỘC LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THỐNG NHẤT 33 2.1 Khái quát về những đặc điểm kinh tế-xã hội của huyện Thống Nhất có ảnh hưởng đến công tác CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai 33
2.1.1 Điều kiện về tự nhiên 33 2.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội huyện Thống Nhất 35
2.2 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Thống Nhất 37
2.2.1 Điều tra, khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính 37 2.2.2 Lập, quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 38 2.2.3 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lýhồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 40 2.2.4 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai 41 2.2.5 Công tác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, tài chính về đất đai, giá đất 43 2.2.6 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai 43 2.2.7 Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai 44
2.3 Kết quả triển khai thực hiện cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất ………44
2.3.1 Rà soát, kiểm soát các thủ tục hành chính và quy định có liên quan; phát hiện loại bỏ những TTHC không cần thiết để thực hiện đơn giản hóa TTHC tạo thuận lợi cho người dân 44 2.3.2 Công tác tuyên truyền và triển khai thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai 46 2.3.3 Công khai thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai……….47
Trang 6việc tận tụy, giao tiếp tốt với nhân dân 49 2.3.6 Xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu đất đai; ứng dụng công nghệ thông tin và hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO……….51 2.3.7 Đổi mới phương pháp đánh giá kết quả CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai 53
2.4 Đánh giá chung về thực hiện cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất 54
2.4.1 Thành tựu và tiến bộ trong việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai 54 2.4.2 Một số tồn tại, hạn chế trong thực hiện cải cách thủ tục hành chính trên lĩnh vực đất đai 57 2.4.3 Nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong thực hiện cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai 59
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2……….62 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUỘC LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA HUYỆN THỐNG NHẤT 63 3.1 Một số quan điểm hoàn thiện cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất 63
3.1.1 CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai phải thể hiện chức năng phục vụ, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho công dân và tổ chức, vừa đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước……… 63 3.1.2 CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai phải bảo đảm đồng bộ, chặt chẽ; thể hiện tính tính hợp lý, công khai, minh bạch, rõ ràng và ổn định……….64 3.1.3 CCTTHC phải được tiến hành từng bước vững chắc, có trọng tâm, trọng điểm; lựa chọn khâu đột phá của từng giai đoạn cụ thể……… 65
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất 66
3.2.1 Giải pháp về công tác tuyên truyền 66
Trang 7đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước 68 3.2.4 Giải pháp về việc giải quyết các thủ tục hành chính thuộ clĩnh vực đất đai theo
cơ chế một cửa, một cửa liên thông 70 3.2.5 Giải pháp về áp dụng công nghệ thông tin và hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 trong việc giải quyết các TTHC cho người dân và doanh nghiệp 713.2.6 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo và phát huy tính tích cực của đội ngũ CBCC 73
3.2.7 Giải pháp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với việc tổ chức, thực hiện cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai 75
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 77 KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC PHỤ LỤC
Trang 8CCTTHC CCHC
Cải cách thủ tục hành chính Cải cách hành chính
CNTT Công nghệ thông tin CBCC Cán bộ công chức CQHC Cơ quan hành chính CNTT Công nghệ thông tin CNQSDĐ Chứng nhận quyền sử dụng đất HĐND Hội đồng nhân dân
HTQLCL Hệ thống quản lý chất lượng KTTT Kinh tế thị trường
KT-XH Kinh tế - xã hội QP-AN Quốc phòng, an ninh TN&MT Tài nguyên và Môi trường
TCVN ISO Hệ thống quản lý chất lượng theo
tiêu chuẩn quốc gia TBCN Tư bản chủ nghĩa TTHC Thủ tục hành chính TN&TKQ Tiếp nhận và trả kết quả UBND Ủy ban nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa ISO
International Standard Organization (Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế)
Trang 9Bảng 2.2: Các quyết định được phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 39
Bảng 2.3: Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ………41 Bảng 2.4: Diện tích các loại đất theo đơn vị hành chính……….42 Bảng 2.5: Bảng tổng hợp các quy trình rút ngắn thời gian giải quyết TTHC.……45 Bảng 2.6: Trình độ đội ngũ công chức,viên chức, hợp đồng lao động thực hiện công tác CCTCHC thuộc lĩnh vực đất đai huyện Thống Nhất năm 2015…… 50 Hình 1: Quy trình giải quyết hồ sơ trên lĩnh vực đất đai của cấp huyện theo cơ chế một cửa……….…….18
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách thủ tục hành chính (CCTCHC) là một trong những nội dung quan trọng trong thực hiện cải cách hành chính(CCHC) của nước ta Thủ tục hành chính(TTHC) liên quan không chỉ đến công việc nội bộ của một cơ quan, một cấp chính quyền, mà còn đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ với Nhà nước Các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp hay ở các văn bản pháp luật khác có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào, về cơ bản, đều phải thông qua thủ tục hành chính do các cơ quan, các cấp chính quyền nhà nước quy định và trực tiếp giải quyết Nhận rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác CCTCHC, từ năm 1994 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 4-5-1994 về cải cách một bước TTHC mà mục tiêu quan trọng là hướng đến việc giải quyết tốt hơn các công việc của công dân, tổ chức và doanh nghiệp
CCTTHC được Chính phủ xác định là một trong các nhiệm vụ trọng tâm, là khâu đột phá của Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020, bởi TTHC là điểm giao thoa cụ thể nhất giữa hoạt động của bộ máy nhà nước với mọi mặt đời sống xã hội và là khâu gây nhiều bức xúc, khó giải quyết cho cả cán bộ, công chức, người dân và doanh nghiệp Ngày 08/11/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30c/NQ-CP: quy định rõ Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 Chương trình được ban hành có một ý nghĩa to lớn,
là văn bản pháp lý định hướng toàn bộ tiến trình cải cách hành chính nhà nước từ
2011 đến 2020, làm căn cứ để các Bộ, ngành và địa phương triển khai thực hiên các nhiệm vụ cải cách hành chính trong phạm vị của từng Bộ, ngành và địa phương Lĩnh vực đất đai cũng là một trong nhưng lĩnh vực có những hạn chế, yếu kém trong việc xây dựng hệ thống quản lý đất đai có nề nếp, ổn định, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm công bằng, minh bạch trong các quan hệ
về sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất Các thủtục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai như: Cấp giấy chứng nhận sử dụng đất; tách, hợp thửa đất; chuyểnnhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;
Trang 11đăng ký biến động Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất luôn là những vướng mắc mà người dân và doanh nghiệp gặp phải thời gian qua Đặc biệt là các quy định về tiếp nhận và giải quyết TTHC thuộc lĩnh vực đất đai giữa các Bộ, ngành trung ương còn chồng chéo, thiếu đồng bộ
Từ những vấn đề trên, tác giả mong muốn nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng CCTCHC thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai để lý giải nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cải cách TTHC thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Đó là lý do tác giả quyết định chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai giai đoạn (2016-2025)”làm Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Kinh tế chính trị của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình nghiên cứu các nguồn tài liệu, tác giả nhận thấy có một số công trình có liên quan đến đề tài mà tác giả dự kiến nghiên cứu như:
- Phạm Huy Thông (2008), Cơ chế một cửa liên thông tại Thành phố Hồ Chí
Minh, luận văn thạc sĩ – Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh: luận văn chủ yếu tập
trung nghiên cứu thực hiện cơ chế một cửa liên thông và đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế một cửa liên thông trên phạm vi thành phố Hồ Chí Minh
- Nguyễn Thị Ngọc Hiếu (2014), Cơ chế một cửa tại Uỷ ban nhân dân huyện,
tỉnh Đồng Nai, luận văn thạc sĩ – Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh: tác giả tập
trung nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thực hiện cơ chế một cửa và thực trạng áp dụng cơ chế một cửa tại Ủy ban nhân dân huyện từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai
- Nguyễn Phúc Sơn (2014), Cải cách thủ tục hành chính – thông qua thực tiễn
tỉnh Nam Định, luận văn thạc sĩ – Đại học quốc gia Hà Nội: luận văn chủ yếu tập
trung nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề cải cách TTHC để phân tích, đánh giá khái quát thực trạng cải cách TTHC tại tỉnh Nam Định, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện TTHC tại tỉnh Nam Định
Trang 12- Nguyễn Thị Lưu (2014), Đánh giá công tác cải cách thủ tục hành chính
trong lĩnh vực đất đai tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, luận văn thạc sỹ -
Họcviện nông nghiệp Việt Nam: tác giả tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về CCTTHC trên lĩnh vực đất đai, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cải cách thủ tục hành chính trên lĩnh vực đất đai tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
- Võ Nguyên Khanh (2011), Đánh giá sự hài lòng của người dân đối với dịch
vụ hành chính công khi ứng dụng tiêu chuẩn ISO tại Ủy ban nhân dân Quận 1, TP.HCM, luận văn thạc sĩ – Đại học kinh tế TP.HCM: luận văn chủ yếu tập trung
nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công để phân tích, đánh giá khái quát thực trạng sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công tại Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện dịch vụ hành chính công khi ứng dụng tiêu chuẩn ISO tại Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
- Đoàn Trọng Truyến (1997), Giáo trình Hành chínhhọc đạicương, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội Có thể khẳng định đây là công trình khoa học nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về nền hành chính, về cấu trúc của nền hành chính và những vấn
đề liên quan, như kiểm tra, giám sát hành chính, thông tin trong hoạt động quản lý hành chính, vấn đề CCHC.Sáchđã dành một chương nghiên cứu những vấn đề lý luận về TTHC, như khái niệm, ý nghĩa của TTHC, phân loại TTHC, các nguyên tắc xây dựng
và thực hiện TTHC và vấn đề cải cách một bước TTHC ở Việt Nam hiện nay Từ quan niệm chung “thủ tục là phương cách giải quyết công việc theo một trình tự nhất định” các tác giả cuốn sách đã đi tới quan niệm tổng quát về TTHC, khẳng định “TTHC là trình tự về thời gian, khônggian và là cách thức giải quyết công việc của CQHC nhà nước trong mối quan hệ vớicơ quan, tổ chức, cá nhân công dân.Giáo trình cũng xây dựng, phân tích các tiêu chí phân loại TTHC, các nguyên tắc xây dựng và thực hiện TTHC, vai trò của TTHC và vấn đề cải cáchTTHC
- Công trình nghiên cứu của Đinh Duy Hòa, với tiêu đề “Yếu tố con người trong CCHC” Bên cạnh việc phân tích những vấn đề lý luận liên quan đến nền hành chính, CCHC, sách đã phân tích vai trò của con người với tư cách là chủ thể cấu thành nền
Trang 13hành chính nhà nước (đội ngũ công chức hành chính - nhân vật vận hành bộ máy hành chính), và với tư cách là chủ thể thực hiện CCHC, chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng và những giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người trong thựchiện CCHC, xây dựng một nền hành chính trong sạch, dân chủ, hiện đại, phục vụhiệu quả người dân, đưa đất nước phát triển
Ngoài ra, còn nhiều bài viết có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của tác giả trong các tạp chí chuyên ngành, báo chí về CCTTHC và CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai Nhìn chung, các luận văn, bài viết chủ yếu đánh giá riêng lẻ các khía cạnh trong việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính, phản ánh những nhu cầu bức xúc của người dân khi làm thủ tục liên quan đến lĩnh vực đất đai Từ đó, phát sinh nhu cầu cần nghiên cứu có hệ thống hơn về thực hiện cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai Mặt khác cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và huyện Thống Nhất Vì thế, trong đề tài này, tác giả kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình có sẵn và phát triển, nghiên cứu sâu hơn về cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chungnghiên cứu của luận văn là thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận
và thực tiễn CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
để đánh giá những mặt đạt được và những tồn tại và nguyên nhân từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Trang 14- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016-2025
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung vào nghiên cứu công tác cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai
Tuy nhiên, CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai rất rộng và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên trong luận văn này chỉ tập trung vào một số vấn đề chính của lĩnh vực đất đai gồm: Cấp giấy chứng nhận sử dụng đất lần đầu; tách, hợp thửa đất; chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; đăng ký biến động Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt không gian: xét về đối tượng người dân có nhu cầu thực hiện TTHClà thuộc địa bàn huyện thống Nhất, tỉnh Đồng Nai; nhưng phạm vi không gianphân tích và đánh giá các cơ quan nhà nước giải quyết TTHC bao gồm cả 3 cấp
xã, huyện, tỉnh hoặc có thể liên quan đến cấp trung ương như về việc rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính; bởi vì một TTHC hay CCTTHC không thể chỉ được giải quyết chỉ trong phạm vi cấp huyện và cơ sở
- Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu và phân tích thực trạng cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất giai đoạn (2011-2015) Qua đó đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai giai đoạn (2016-2025)
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu chung:
Nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời vận dụng tổng hợp các phương pháp như: lôgich-lịch sử, phân tích-tổng hợp, hệ thống-cấu trúc, qui nạp-diễn dịch, mô hình hóa, thống kê và kế thừa
Trang 155.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Thiết kế nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu tại bàn với nghiên cứu
tại hiện trường Nghiên cứu tại bàn nhằm phân tích tổng hợp các số liệu, dữ liệu thứ cấp Nghiên cứu trên hiện trường thực hiện phương pháp khảo sát định lượng thông qua bảng hỏi
- Nội dung dữ liệu thu thập: Bao gồm các dữ liệu mô tả kết quả và đánh giá
hiệu quả và những nhân tố tác động đến CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất giai đoạn (2011-2015); tìm ra những nguyên nhân của các thiếu sót tồn tại trong việc thực hiện CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
+ Thu thập các dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo và thống kê kết quả hoạt động của CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất từ UBND huyện, phòng tài nguyên môi trường huyện, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh Thống Nhất, bộ phận một cửa UBND huyện và các đề tài nghiên cứu của các tác giả đi trước, các bài báo trên các tạp chí khoa học và thông tin trên mạng internet
+Thu thập dữ liệu dữ liệu sơ cấp định lượng thông qua bảng hỏi với 200 người dân đến bộ phận một cửa ở Huyện để thực hiện TTHC thuộc lĩnh vực đất đai
và 30 cán bộ quản lý đất đai theo phương pháp lựa chọn thuận tiện và dưới hình thức phát phiếu điều tra khảo sát
- Phương pháp xử lý dữ liệu:
+ Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp với dữ liệu thứ cấp
+ Sử dụng phương pháp xử lý dữ liệu định lượng trên EXCEL (tần suất,tần số)
6 Đóng góp về lý luận thực tiễn của luận văn
- Nghıên cứu đã hệ thống hoá được những lý luận cơ bản và kinh nghiệm thực tiễn về cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai
Trang 16- Phân tích, đánh giá được thực trạng về CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm thực hiện nâng cao hiệu quả CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016-2025
Với kết quả nghiên cứu này, luận văn có thể làm tài liệu giảng dạy cho các trường cao đẳng và đại học chuyên ngành nông nghiệp và quản lý đất đai và có thể
là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc lãnh đạo, điều hành thực hiện nâng cao công tác CCTTHCthuộc lĩnh vực đất đai góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới
7 Kết cấu luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 78 trang được trình bày thành 3 chương, như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh
vực đất đai
Chương 2: Thực trạng thực hiện cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất
đai trên địa bàn huyện Thống Nhất
Chương 3: Phương hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục
hành chính thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH
CHÍNH THUỘC LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 1.1 Cơ sở lý luận về cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai 1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách nền hành chính nhà nước
1.1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin về CCTTHC
Trong tác phẩm “Những nhiệm vụ cấp bách của chính quyền Xô Viết”, Lê Nin khẳng định: bất cứ đảng nào, giai cấp nào khi tiến hành cách mạng cũng phải trải qua ba giai đoạn, thứ nhất phải đề ra được bản cương lĩnh để giác ngộ quần chúng theo mình làm cách mạng; sau đó, thứ hai, đoàn kết tập hợp mọi lực lượng, lãnh đạo
đấu tranh để giành bằng được chính quyền; thứ ba, thông qua chính quyền đã giành
được dùng làm phương tiện, công cụ để xây dựng xã hội mới ưu việt, tiến bộ gấp nhiều lần so xã hội cũ Đây là nhiệm vụ khó khăn nhất, gấp nhiều lần so với hai nhiệm vụ của các giai đoạn trên Đặc biệt thông qua vai trò quản lý của nhà nước,
với các công cụ quản lý của mình, trong đó có thủ tục hành chính
Các nhà kinh điển theo học thuyết Mác-Lênin đã có những tư tưởng bước đầu
về cải cách nền hành chính nhà nước, đặc biệt những tư tưởng của Lênin Trong quá trình lãnh đạo nhà nước Xô Viết, Lênin rất chú trọng đối với công tác cải cách nền hành chính Người coi đây là cơ sở thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế-xã hội Trong cải cách nền hành chính, Lênin nhấn mạnh đến việc sắp xếp, tinh giảm
bộ máy hành chính và thực hành tiết kiệm Người nhấn mạnh: “Nhiệm vụ cấp thiết, chủ yếu nhất lúc này và trong những năm sắp tới là không ngừng tinh giảm bộ máy
Xô Viết và giảm bớt chi phí của nó, xóa bỏ tác phong lề mề hành chính, bệnh quan liêu và giảm bớt các khoản chi tiêu phi sản xuất” [18]
Cùng với việc thiết lập một hệ thống quản lí mới, Lênin xúc tiến việc CCHC
để đảm bảo cho bộ máy nhà nước vận hành thông suốt Lê nin coi trọng việc cải cách, đơn giản hóa các TTHC, giảm bớt những khâu xét duyệt giấy tờ không cần
Trang 18thiết Người đặc biệt lưu ý tới việc soạn lại các quy định thật cơ bản, thiết thực đã tính toán chính xác để thi hành có hiệu quả
Để cải cách nền hành chính nhà nước, Lênin còn nhấn mạnh đến những vấn đề then chốt như công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; nâng cao tinh thần trách nhiệm
và đạo đức công vụ; đấu tranh chống lại các hành động quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu
1.1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về CCTTHC
Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người vận dụng đầu tiên và sáng tạo những quan điểm trên của Lênin trong việc xây dựng một nền hành chính quốc gia thực sự hiện đại và hoạt động có hiệu quả Ngay từ buổi đầu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành xây dựng một nền hành chính phù hợp với yêu cầu mới, mà việc đầu tiên là ban hành các văn bản quy định quy chế hoạt động của các cấp, các ngành
Người yêu cầu “phải xây dựng một nền hành chính của dân, do dân và vì dân” [19] Giảm thiểu những sách nhiễu, phiền hà trong giải quyết công việc hành chính TTHC phải phù hợp với yêu cầu giải quyết công việc theo đúng quy định, song cũng cần phù hợp với trình độ của nhân dân
Người lên án mọi hành vi cửa quyền, lộng quyền của cán bộ khi giải quyết công việc của nhân dân Người yêu cầu “cán bộ, đảng viên phải là những công bộc trung thành và tận tình của nhân dân”
1.1.1.3 Quan điểm, đường lối của Đảng ta về CCTTHC
Quan điểm của Lê nin và chủ tịch Hồ Chí Minh về CCTTHC đã được Đảng ta
kế thừa và phát triển trong điều kiện hiện nay Đại hội lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991) đã đánh dấu bước đổi mới, phát triển tư duy về cải cách nền hành chính nhà nước trong sự nghiệp đổi mới đất nước Đảng đã đặt trọng tâm vào cải cách hệ thống hành chính nhà nước trong tổng thể cải cách bộ máy nhà nước và đổi mới hệ thống chính trị Hội nghị Trung ương 8 khoá VII xác định cải cách nền hành chính
là nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước đã đề ra mục tiêu: xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực
Trang 19và từng bước hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực, hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội Các đại hội Đảng lần thứ VIII(tháng 6-1996), IX(tháng 4-2000), X(tháng 4-2006) và các hội nghị Trung ương của Đảng đã tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương cải cách, xây dựng nền hành chính nhà nước trong đó trọng tâm là thực hiện cải cách TTHC Nghị quyết Trung ương 5 Khoá X về tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước đã nêu rõ: “Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xem đây là khâu đột phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho mọi hoạt động của người dân và doanh nghiệp, phải tiến hành rà soát các thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực, chỉ rõ những thủ tục, những quy định sai trái, không phù hợp và nguyên nhân cụ thể để kiên quyết sửa đổi Đây là khâu cản trở sự phát triển và gây nhiều bức xúc trong nhân dân, phải tập trung chỉ đạo tạo sự chuyển biến nhanh trong lĩnh vực này” [12]
Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng tiếp tục nói đến vấn đề cải cách hành chính Điều này cho thấy Đảng ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề này Quan điểm chỉ đạo của Đại hội XI là: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập mới trường cạnh tranh lành mạnh
và cải cách hành chính”, “bãi bỏ các thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân”, “tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ phòng, chống tham nhũng lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí”, “đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong Đảng khắc phục tình trạng rườm
rà, bất hợp lý về thủ tục”, “đẩy mạnh cải cách lập pháp, hành pháp và tư pháp”,
“thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính và hiện đại hóa nền hành chính quốc gia”[13]
Từ những quan điểm chỉ đạo trên của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30c/NQ-CP, ngày 08/11/2011: Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 Đâylà một vấn đề chiến lược Vì các nội dung cải cách phải bảo đảm tính hệ thống, tính khả thi của quá trình xây dựng một nền hành
Trang 20chính mới, một mô hình tổ chức hành chính phù hợp với thời kỳ phát triển mới, hội nhập của đất nước
Nền hành chính trong hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước có chức năng trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, luật pháp và nghị quyết của Quốc hội Thực tiễn cho thấy, có chính sách và pháp luật đúng chưa đủ, cần phải có nền hành chính mạnh, có hiệu lực thì chính sách và luật pháp mới đi vào cuộc sống Hơn nữa, trong quá trình tổ chức thực hiện nền hành chính còn góp phần tích cực vào việc bổ sung, phát triển chính sách, pháp luật Các cơ quan hành chính
là các cơ quan trực tiếp xử lý công việc hằng ngày của nhà nước, thường xuyên tiếp xúc với dân giải quyết các yêu cầu của dân, là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với dân, nhân dân đánh giá chế độ, đánh giá Đảng trước hết là thông qua hoạt động của bộ máy hành chính.CCTTHC ngoài yêu cầu của đổi mới phát triển đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng nền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, cải cách nền hành chính còn do yêu cầu bức xúc của người dân: không muốn bị phiền hà, sách nhiễu; được pháp luật bảo vệ
1.1.1.4 Trong quá trình điều hành kinh tế-xã hội, các thủ tục hành chính cũng bộc lộ những hạn chế, những mặt trái, nhược điểm của nó
Các thủ tục hành chính, biểu hiện của một trong những phương pháp quản lý kinh tế, xã hội , nó đảm bảo cho nền kinh tế, mọi kỷ cương xã hội thống nhất Do vậy, thủ tục hành chính phải phù hợp với trình độ đã đạt được của lực lượng sản xuất Nếu các thủ tục đó vượt giới hạn cho phép của lực lượng sản xuất, các thủ tục hành chính trở thành lực cản sự phát triển của lực lượng sản xuất
Thủ tục hành chính thuộc kiến trúc thượng tằng Khi nó không bị chi phối bởi
cơ sở hạ tầng, nó thoát ly cơ sở hạ tầng, sẽ làm cho mọi yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng, quan hệ sản xuất không tuân thủ theo một quy luật nào nữa, làm cho mọi mặt trong đời sống xã hội đảo lộn Những tiêu cực trong việc điều hành kinh tế xã hội có cơ hội trỗi dậy, vận động theo xu hướng phức tạp, tác động xấu đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội
Trang 21Thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến đội ngũ cán bộ thừa hành Khi thiếu một đội ngũ con người thừa hành không có đầy đủ phẩm chất đạo đức chuyên môn nghiệp vụ, hoặc không được đào tạo đúng chuyên môn nghiệp vụ; hoặc không
có những giải pháp chế tài vật chất cùng với hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ thống nhất, các thủ tục hành chính sẽ trở thành phương tiện thực hiện các tiêu cực tham nhũng, nhũng nhiễu Các thủ tục hành chính đó dẫn tới chồng chéo, rườm rà, chỉ có thuận lợi cho chủ thể quản lý Nhất là khi có nhận thức cho rằng thủ tục hành chính ban hành càng nhiều thì quản lý càng chặt chẽ Việc điều hành kinh tế -
xã hội, thông qua các thủ tục hành chính như vậy, đã ngày càng làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân vào chế độ hiện hành
Do vậy việc tiến hành cải cách thủ tục hành chính được đặt ra như một tất yếu khách quan, một vấn đề đột phá cấp bách, đáp ứng yêu cầu của các quy luật kinh
tế, cũng là củng cố niềm tin vào chế độ mới của quần chúng nhân dân lao động; để nâng cao hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền các cấp từ trung ương đến cơ
sở trong tất cả các ngành, các cấp, các lĩnh vực của nền kinh tế, xã hội
1.1.2 Các khái niệm có liên quan và các loại TTHC thuộc lĩnh vực đất đai
1.1.2.1 Khái niệm Thủ tục hành chính
Theo nghĩa chung nhất thì “thủ tục” là phương thức, cách thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt các nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được kết quả mong muốn [30] Như vậy, khái niệm “thủ tục” bao gồm “quy trình” thực hiện và “cách thức” thực hiện
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về thủ tục hành chính Theo nghĩa
rộng thì thủ tục hành chính là trình tự và cách thức thực hiện hoạt động quản lý nhà
nước nói chung, hoặc là trình tự và cách thức thực hiện những hoạt động cụ thể trong các ngành và lĩnh vực quản lý nhà nước do luật hành chính quy định
[40].Theo quan điểm này thì TTHClà “trình tự” và “cách thức” thực hiện mọi hoạt động quản lý nhà nước bao gồm cả trình tự thành lập các công sở, trình tự bổ nhiệm, điều động cán bộ, công chức, viên chức, trình tự lập quy, trình tự xử lý vi
Trang 22phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và giải quyết các công việc cụ thể như cấp phép, cấp giấy chứng nhận
Theo Điều 3 “giải thích từ ngữ” của Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày
08/6/2010 về kiểm soát TTHCthì “Thủ tục hành chính” là trình tự, cách thức thực
hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức
“Trình tự thực hiện” là thứ tự các bước tiến hành của đối tượng và cơ quan
thực hiện TTHCtrong giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức
“Hồ sơ” là những loại giấy tờ mà đối tượng thực hiện TTHC cần phải nộp
hoặc xuất trình cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính trước khi cơ quan thực hiện TTHCgiải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức
“Yêu cầu, điều kiện” là những đòi hỏi mà đối tượng thực hiện TTHCphải đáp
ứng hoặc phải làm khi thực hiện một TTHCcụ thể
Theo quan điểm này thì TTHCcó phạm vi hẹp hơn đó là chỉ quy định về thủ
tục giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức Khái niệm này
không bao hàm TTHCtrong nội bộ của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa cơ quan hành chính nhà nước với nhau không liên quan đến việc giải quyết TTHCcho
cá nhân, tổ chức
Theo Nghị định 63/2010/NĐ-CP thì “thủ tục hành chính” ngoài việc quy định
về “trình tự”, “cách thức” thực hiện còn quy định cả về các loại giấy tờ trong hồ sơ
và các yêu cầu, điều kiện để được thực hiện một TTHC Nghị quyết số 38/NQ-CP ngày 4/5/1994 của Chính phủ về cải cách một bước TTHCtrong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức (sau đây là Nghị quyết số 38/NQ-CP) cũng quan niệm “thủ tục hành chính” theo hướng này Tiến trình CCTTHCngoài yêu cầu cải cách về trình tự, cách thức giải quyết TTHCcòn phải từng bước đơn giản các loại giấy tờ có trong hồ sơ và các yêu cầu, điều kiện để giải quyết một TTHC
Theo tác giả TTHCđược hiểu theo quy định tại Điều 3, Nghị định
63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 là phù hợp: “Thủ tục hành chính” là trình tự, cách
Trang 23thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức
1.1.2.2 Khái niệm cải cách thủ tục hành chính
CCTTHClà một bộ phận của CCHCNhà nước, nhằm xây dựng và thực thi TTHC theo những chuẩn mực nhất định Đơn giản, gọn nhẹ, vận hành nhịp nhàng; hoạt động theo đúng quy trình, quy phạm thích ứng với từng loại đối tượng, từng loại công việc, phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa CCTTHCthực chất là cải cách trình tự, thủ tục thực hiện thẩm quyền hành chính trong mối liên hệ tới quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức và trong nội bộ cơ quan hành chính Nhà nước [17]
1.1.2.3 Khái niệm đất đai và thủ tục hành chính trên lĩnh vực đất đai
- Khái niệm đất đai Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi
quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp” Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài con người chiếm hữu đất đai, biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của cộng đồng, của một quốc gia
Luật Đất đai năm 1993 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi:
“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Trải qua nhiều thế
hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”[20]
Rõ ràng, đất đai không chỉ có những vai trò quan trọng như đã nêu trên mà nó còn có ý nghĩa về mặt chính trị Tài sản quý giá ấy phải bảo vệ bằng cả xương máu
và vốn đất đai mà một quốc gia có được thể hiện sức mạnh của quốc gia đó, ranh
Trang 24giới quốc gia thể hiện chủ quyền của một quốc gia Đất đai còn là nguồn của cải, quyền sử dụng đất đai là nguyên liệu của thị trường nhà đất, nó là tài sản đảm bảo
sự an toàn về tài chính, có thể chuyển nhượng qua các thế hệ
Luật Đất đai 2013 quy định: ”Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người
sử dụng đất” [21]
- Các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai
TTHCthuộc lĩnh vực đất đai là việc giải quyết TTHC thuộc lĩnh vực đất đai của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng khu dân cư (gọi tắt là người sử dụng đất) được tiếp nhận và trả kết quả tại một cơ quan hành chính nhà nước là UBND cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND xã) hoặc Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc UBND huyện nhằm tạo điều kiện cho người sử dụng đất khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được thuận lợi, dễ dàng và đơn giản [36] Các hồ sơ thuộc lĩnh vực đất đai thực hiện tại UBND xã và UBND huyện của người sử dụng đất bao gồm: Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là giấy chứng nhận), hồ
sơ chuyển nhượng, chuyển đổi, chuyển mục đích sử dụng đất, tặng cho, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, đính chính thông tin trên giấy chứng nhận
và các biến động khác theo quy định của Luật Đất đai
1.1.3 Nội dung của cải cách thủ tục hành chính, các nhân tố tác động và các tiêu chí đánh giá hiệu quả cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai
1.1.3.1 Nội dung của cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai
- Rà soát, kiểm soát các TTHCvà quy định có liên quan; phát hiện loại bỏ những TTHCkhông cần thiết để thực hiện đơn giản hóa TTHC tạo thuận lợi cho người dân
Rà soát các TTHCvà quy định có liên quan nhằm kịp thời phát hiện những TTHC, quy định không cần thiết, không phù hợp, không đảm bảo tính hợp pháp; các TTHC còn rườm rà, phức tạp, những TTHC còn mâu thuẫn, chồng chéo, không
Trang 25phân định rõ cơ quan, đơn vị thực hiện, gây khó khăn, cản trở cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức kinh tế và đời sống của người dân Trên cơ sở kết quả
rà soát, kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi
bỏ những TTHC, quy định không phù hợp, không cần thiết, không đảm bảo nguyên tắc về quy định và thực hiện TTHC; Kiến nghị đơn giản hóa TTHC nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ TTHC cho cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện TTHC [4]
- Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai
Kiểm soát TTHCthuộc lĩnh vực đất đai: là việc xem xét, đánh giá, theo dõi
nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định về thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện TTHC[4]
Kiểm soát TTHCthuộc lĩnh vực đất đai phải bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục tiêu CCTTHC; bảo đảm điều phối, huy động sự tham gia tích cực, rộng rãi của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân vào quá trình kiểm soát TTHC Kịp thời phát hiện để loại bỏ hoặc chỉnh sửa TTHCkhông phù hợp, phức tạp, phiền hà; bổ sung TTHC cần thiết, đáp ứng nhu cầu thực tế; bảo đảm quy định TTHCđơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng và cơ quan thực hiện TTHC[4]
Quá trình rà soát, kiểm soát phải tiến hành đúng cách thức, tuân thủ phương pháp đánh giá theo quy định Kết quả rà soát của các đơn vị phải có những kiến nghị cụ thể, thiết thực đối với quy định TTHC và văn bản quy phạm pháp luật cần
sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ quy định TTHC
- Công tác tuyên truyền và triển khaiTTHC thuộc lĩnh vực đất đai:
Nhằm quán triệt các văn bản quy định mới của Nhà nước, mục đích, ý nghĩa
và tầm quan trọng của công tác CCTTHC Đồng thời chỉ đạo các đơn vị triển khai thực hiện đến toàn thể cán bộ, công chức của đơn vị và phổ biến rộng rãi trong nhân dân nhằm giúp các tổ chức và công dân hiểu rõ hơn về chủ trương của Đảng và pháp luật của nhà nước trong việc thực hiện CCTTHC, nâng cao hiệu quả quản lý
và trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ [1]
Trang 26Côngtác tuyên truyền và triển khaiCCTTHCthuộc lĩnh vực đất đai đã được thực hiện bằng nhiều hình thức như: tổ chức tuyên truyền, tập huấn thông qua việc
mở các lớp, các hội nghị, phóng sự, toạ đàm, hội thảo, hội thi, phát thanh, truyền hình, phát hành các tài liệu tuyên truyền về CCHC hàng năm; đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên trang thông tin điện tử của các cơ quan, đơn
vị với nội dung phong phú, sự phối hợp của nhiều cơ quan, báo, đài của địa phương nhất là Đài Phát thanh và Truyền hình, hệ thống Đài truyền thanh cấp huyện và cấp
xã [1]
Qua đó nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức, nhân dân
về ý nghĩa, mục tiêu, tầm quan trọng của việc thực hiện CCTTHC, tạo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện công tác CCHC của huyện đã đề ra Từ đó, có thái độ tích cực, động cơ đúng đắn, hăng hái tham gia vào công cuộc CCHC nhà nước
- Công khai thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai:
Công khai các TTHC, mức thu phí, lệ phí, giấy tờ, hồ sơ và thời gian giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân Nội dungnày đảm bảo tính công khai, minh bạch trong thực hiện các TTHC Mọi quy định trong quá trình thực hiện TTHCliên quan đến người dân và cơ quan nhà nước đều phải được công khai để người dân được biết để thực hiện Công khai có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức, việc niêm yết tại nơi thực hiện thủ tục là điều bắt buộc Nguyên tắc này cũng đảm bảo cho người dân thực hiện quyền giám sát của mình đối với cơ quan hành chính [26]
- Thực hiện qui chế phối hợp giữa các bộ phận và cơ quan quản lýtheo cơ chế một cửa, một cửa liên thông
Từ “Một cửa” (single window) là khái niệm mô tả việc thực hiện TTHCtừ tiếp nhận yêu cầu đến trả lại kết quả đều tại một đầu mối và gọi đầu mối đó là “một cửa”
“Cơ chế một cửa” thực chất là cơ chế tổ chức thực hiệnTTHC, được xác lập để
khắc phục các thiếu sót, hạn chế của cơ chế tổ chức thực hiện TTHCcũ [29]
“Cơ chế một cửa”: là cách thức giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước trong việc
Trang 27công khai, hướng dẫn TTHC, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nước [26]
“Cơ chế một cửa liên thông”: là cách thức giải quyết công việc của cá nhân,
tổ chức thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành
chính nhà nước [26]
Đảm bảo sự phối hợp giải quyết công việc giữa các bộ phận, cơ quan hành
chính nhà nước để giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân.Thực hiện tốt nguyên
tắc này cũng là đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc giải quyết công việc nhanh chóng Cơ chế một cửa liên thông được duy trì thực hiện nhằm tăng cường phối hợp giữa các cơ quan để giải quyết TTHC sẽ góp phần giảm chi phí, thời gian đi lại của người dân Vì vậy cần có sự phối hợp trong giải quyết công việc giữa các bộ phận,
cơ quan hành chính nhà nước để có sự thống nhất trong việc hướng dẫn TTHCvà đảm bảo thời gian hẹn trả kết quả cho người dân tại bộ phận một cửa
Quy trình giải quyết hồ sơ trên lĩnh vực đất đai của huyện theo cơ chế một cửa được biểu thị qua sơ đồ sau:
(1) (2) (2)
((3) (4) (3)
Chú thích:
(1) Nộp hồ sơ
(2) Chuyển hồ sơ đến cơ quan chuyên môn giải quyết
(3) Chuyển kết quả giải quyết đến Bộ phận TN&TKQ
(4) Trả kết quả cho người nộp hồ sơ
Bộ phận tiếp nhận
và trả kết quả UBND
huyhuyện huyện
Cơ quan chuyên môn
Tổ chức,
Công dân
Trang 28Hình 1: Quy trình giải quyết hồ sơ trên lĩnh vực đất đai của cấp huyện
theo cơ chế một cửa (Nguồn: Khái quát của tác giả)
- Đào tạo nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ, xây dựng tác phong làm việc tận tụy, giao tiếp tốt với nhân dân
Đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong một
cơ quan Nhà nước được hiểu là hoạt động trang bị kiến thức nghề nghiệp, kỹ năng chuyên môn và rèn luyện các kỹ năng quản lý, kỹ năng thực hiện công việc cho cán
bộ, công chức, viên chức của tổ chức đó Trong đó đào tạo, rèn luyện các kỹ năng hoạt động nghề nghiệp, chuyên môn là đặc trưng của đào tạo cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan hành chính Nhà nước [1]
Để có đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực tốt thì hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức là khâu then chốt quyết định đến chất lượng cán bộ, công chức, viên chức Do vậy, ngoài những nổ lực phấn đấu rèn luyện của bản thân mỗi một cán bộ, công chức, viên chức; còn phải được đào tạo, bồi dưỡng một cách toàn diện từ chuyên môn nghiệp vụ cho đến kiến thức quản lý nhà nước, trình độ lý luận chính trị và thông qua phong trào thực tiễn của môi trường công tác
mà cán bộ, công chức, viên chức đó được bố trí sử dụng sau khi đào tạo, bồi dưỡng
Từ đó xây dựng tác phong làm việc tận tụy, giao tiếp tốt với nhân dân nhằm không ngừng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong sự nghiệp đổi mới của đất nước theo hướng cải cách nền hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và
Trang 29chính ngay trên phương tiện điện tử, mạng internet và trả kết quả thông qua bưu điện, dịch vụ chuyển phát nhanh Ứng dụng này sẽ vừa tiết kiệm thời gian, công sức cho người dân, doanh nghiệp và cả cơ quan hành chính nhà nước [14]
Song song với việc ứng dụng công nghệ thông tin thì thực hiện mô hình một cửa hiện đại cần gắn với việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng (HTQLCL) theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001: 2008 trong hoạt động quản lý Tiêu chuẩn ISO 9001:2008 quy định các yêu cầu cơ bản đối với một hệ thống quản lý chất lượng mà một tổ chức phải đáp ứng để chứng tỏ năng lực cung cấp dịch vụ một cách ổn định nhằm tăng cường sự thỏa mãn của khách hàng và đáp ứng các yêu cầu luật định và chế định liên quan
Đối với cơ quan hành chính việc ứng dụng công nghệ quản lý này giúp xác định trách nhiệm cán bộ, công chức tham gia quy trình từ đó cán bộ, công chức phải nâng cao vai trò, trách nhiệm; lãnh đạo cơ quan có thể kiểm soát được quá trình vận hành của thủ tục, bố trí, sử dụng nhân viên phù hợp, nhận ra những điểm chưa phù hợp để cải tiến chất lượng cung ứng dịch vụ của cơ chế một cửa Công tác tổng hợp, thống kê, phân tích đánh giá chất lượng dịch vụ được dễ dàng và chính xác
Đối với người dân, doanh nghiệp thì việc ứng dụng công nghệ quản lý ISO đem đến những tiện ích là các biểu mẫu, đơn từ được chuẩn hóa, thành phần hồ sơ được thống nhất và công khai Quá trình và kết quả giải quyết hồ sơ được thông báo trên trang web điện tử giúp người dân, doanh nghiệp có thể theo dõi quá trình giải quyết thủ tục ngay tại nhà Người dân và doanh nghiệp có điều kiện thực hiện quyền giám sát của mình trong việc giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước, phát huy dân chủ và tạo chuyển biến tích cực trong mối quan hệ giữa nhà nước với người dân, doanh nghiệp
- Đổi mới phương pháp đánh giá kết quả thực hiện cải cách TTHC: Đo
lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước là dựa trên việc phỏng vấn trực tiếp những người đã trực tiếp tham gia làm việc với các cơ quan hành chính Mức độ hài lòng của người dân phụ thuộc rất nhiều yếu tố như hình ảnh về cơ quan hành chính công, các thủ tục hành chính
Trang 30gọn nhẹ, đội ngũ cán bộ như thái độ niềm nở tôn trọng người dân, tác phong giải quyết công việc nhanh chóng hiệu quả; kết quả giải quyết công việc của các cơ quan hành chính… Có 2 đối tượng cần nghiên cứu đó là người dân và các doanh nghiệp/
tổ chức, mức độ hài lòng của người dân được nâng cao, góp phần tạo sự đồng thuận cao của xã hội, còn đối với doanh nghiệp, tổ chức mức độ hài lòng được nâng cao thì tạo ra môi trường kinh doanh tốt, công bằng và lành mạnh, góp phần giảm chi phí giá thành, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư góp phần phát triển kinh
tế xã hội Vì có nhiều tiêu chí ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người dân, nhà nghiên cứu phải đủ năng lực phân tích và đề xuất các giải pháp theo thứ tự ưu tiên,
để các cơ quan hành chính công có kế hoạch thay đổi và ứng dụng vào thực tế góp phần nâng cao mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp [16]
Kết quả đo lường phải chính xác và khách quan để có thể đánh giá so sánh chất lượng phục vụ của các cơ quan, của các khu vực, các đơn vị thành viên, đồng thời là thông tin quan trọng để có thể đánh giá xếp hạng, khen thưởng, kỹ luật cán
bộ phục vụ của các cơ quan hành chính công
Như vậy, nghiên cứu mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp là việc làm cấp bách; nhằm ngăn ngừa hiện tượng nhũng nhiễu gây phiền hà cho người dân Góp phần phát triển một xã hội dân chủ, công bằng và phát triển kinh tế bền vững
1.1.3.2 Các nhân tố tác động đến cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai
Trong quá trình triển khai thực hiện công tác CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai
sẽ phát sinh nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thực hiện Có những yếu
tố ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp; ảnh hưởng tích cực, tiêu cực; yếu tố chủ quan, khách quan Một số nhóm yếu tố ảnh hưởng chính như sau:
- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra giám sát và cam kết của lãnh đạo:
Bên cạnh việc ban hành các chủ trương, chính sách, quy định pháp luật về thực hiện CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai thì các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện, chấn
Trang 31chỉnh sai sót dần hoàn thiện CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn UBND huyện Từ tổng kết thực tiễn, Đảng ta khẳng định: “Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo” Lãnh đạo đến đâu thì kiểm tra đến đó, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng phải đích thân lãnh đạo và tiến hành công tác kiểm tra, giám
sát” [9]
Việc kiểm tra, giám sát cần thực hiện bằng nhiều hình thức và đặc biệt phải đánh giá được đúng thực trạng kết quả thực hiện, tránh tình trạng đánh giá chỉ dựa trên báo cáo của đơn vị được kiểm tra, giám sát Nội dung kiểm tra, giám sát việc thực hiện CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai cũng cần bao quát từ khâu ban hành các thủ tục hành chính; công khai thủ tục; thực hiện quy trình; trang bị cơ sở vật chất; tiêu chuẩn tuyển dụng cán bộ, công chức; thái độ phục vụ; chất lượng phục vụ và tổ chức thu phí, lệ phí Thủ trưởng các cơ quan hành chính cần thường xuyên kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện giải quyết TTHC tại cơ quan, đơn vị mình Bên cạnh đó các tổ chức đoàn thể, Mặt trận tổ quốc cũng cần tham gia tích cực vào việc giám sát thực hiện CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai tại UBND huyện, tuyên truyền cho quần chúng nhân dân hiểu rõ vềCCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai để nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình, kịp thời phản ánh những sai trái trong việc thực hiện CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai
- Chất lượng nguồn nhânlực
Vai trò của nguồn nhân lực hành chính được thể hiện thông qua vai trò của các
cá nhân và đội ngũ các con người hoạt động trong bộ máy hành chính Ở nước ta đó chính là đội ngũ cán bộ công chức hành chính nhà nước Cán bộ công chức (CBCC)
là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của cách mạng Đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất và năng lực tốt mới có thể đề
ra đường lối đúng, mới có thể cụ thể hoá, bổ sung hoàn chỉnh đường lối và thực
hiện tốt đường lối
Trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự phát triển của đất nước, đến sự sống còn của các tổ chức, doanh nghiệp Nói đến chất lượng nguồn nhân lực, chúng ta phải đến 2 yếu tố “Đức và
Trang 32Tài”, nguồn nhân lực tốt không những đáp ứng được về mặt tiêu chí như kiến thức, trình độ khoa học kỹ thuật mà đòi hỏi phải có ý chí, tinh thần trung thực, đam mê nghề nghiệp…
Xác định con người có vai trò rất quan trọng trong công cuộc xây dựng phát triển đất nước, do đó, một trong 5 mục tiêu quan trọng của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục
vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước” [6] Vì vậy, những giải pháp về đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chính là chìa khóa để giải quyết các vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra
- Nguồn kinh phí và trang bị kỹ thuật phục vụ cải cách thủ tục hành chính
Cải cách CCTTHC nói chung, CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai nói riêng cần triển khai khá nhiều hoạt động như hoạt động rà soát các bộ thủ tục, hoạt động lấy ý kiến của cán bộ và người dân có liên quan đến việc triển khai thực hiện các thủ tục hành chính trong quản lý đất đai Việc triển khai các hoạt động này cần có nguồn kinh phí nhất định
Việc đầu tư trang thiết bị máy móc, xây dựng trụ sở làm việc các xã, trên địa bàn huyện rất cần thiết, sẽ giúp công việc điều hành và quản lý công việc được dễ dàng, tiết kiệm được thời gian làm việc, nâng cao năng suất lao động, nhưng nguồn
vốn đầu tư từ ngân sách cho công tác này rất hạn chế
Chương trình tổng thể CCTTHC giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ đề ra một số yêu cầu như: cải cách tài chính công, cắt giảm các khoản phí và lệ phí trùng lắp hoặc không hợp lý, đổi mới cơ chế, chính sách tài chính; xây dựng hệ thống thông tin hiện đại; hệ thống hạ tầng KT-XH… Đặc biệt, đầu tư mạnh mẽ trang thiết
bị hiện đại cho cơ quan hành chính nhằm thực hiện giải quyết hồ sơ theo cơ chế
“một cửa điện tử”
Trang 331.1.3.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai
- Giảm thiểu được số lượng thủ tục theo hướng đơn giản, thuận tiện cho người dân: Xây dựng bộ TTHC đơn giản, dễ thực hiện Một khi thủ tục đơn giản, rõ ràng
thì sẽ dễ tiếp cận, dễ thi hành Nguyên tắc này đảm bảo cho mọi công dân có thể tham gia các TTHC để bảo vệ quyền của mình hoặc của tổ chức, công dân khác TTHC đơn giản, rõ ràng còn giúp cho cơ quan hành chính thực hiện thủ tục một cách thống nhất, tiết kiệm thời gian và đảm bảo được tính kịp thời TTHC không chỉ đơn giản, rõ ràng mà còn phải đúng pháp luật, nghĩa là phải phù hợp với luật nội dung, các quy định về giấy tờ, các bước thực hiện, thẩm quyền giải quyết trong TTHC phải đúng theo quy định pháp luật [26]
- Rút ngắn được thời gian thực hiện thủ tục, hạn chế thấp nhất hồ sơ trể hẹn
để tiết kiệm chi phí cho nhà nước và người dân:Thực hiện tốt yêu cầu này cũng là
đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc giải quyết công việc nhanh chóng Đặc biệt
là việc áp dụng cơ chế một cửa trong thực hiện lĩnh vực đất đai đã rút ngắn được thời gian đi lại của người dân đi nộp hồ sơ cũng như việc luân chuyển hồ sơ của các
bộ phận [26]
- Nâng cao mức độ hài lòng của người dân về TTHC trên lĩnh vực đất đai:
Sự hài lòng của người dân được đánh giá qua các tiêu chí như:
Thứ nhất, Tạo sự tin tưởng cho người dân khi đi nộp hồ sơ được giải quyết đúng hẹn, không bị mất mát, thất lạc
Thứ hai, Tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho việc giao dịch với các công cụ hỗ trợ cần thiết như: Phòng ốc khang trang, có máy lấy số thứ tự (đảm bảo
tính công bằng), máy tính giúp xử lý hồ sơ nhanh chóng
Thứ ba, Nhân viên có đủ kiến thức chuyên môn và lĩnh vực liên quan đảm bảo giải quyết công việc lĩnh vực mà mình phụ trách cùng với kỹ năng tác nghiệp chuyên nghiệp
Thứ tư, Thái độ phục vụ lịch sự, tôn trọng người dân, không gây nhũng nhiễu, phiền hà người dân tham gia giao dịch
Trang 34Áp dụng trong lĩnh vực đất đai thì sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ này chính là sự hài lòng về những gì mà dịch vụ này cung cấp có thể đáp ứng trên hoặc dưới mức mong muốn của họ Đo lường sự hài lòng của người dân là một giải pháp nhằm làm trong sạch và nâng cao hiệu quả hoạt động cho tổ chức, công dân, đảm bảo cung cấp dịch vụ hành chính tốt nhất, thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính, hiện đại hóa bộ máy hành chính nhà nước, củng cố duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [16]
1.2 Cơ sở thực tiễn về cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai 1.2.1 Kinh nghiệm triển khai cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai ở các nước trên thế giới
1.2.1.1 Kinh nghiệm cải cách hành chính của nước Đức:
Công tác cải cách hành chính ở nước Đức của họ là hướng tới mục tiêu: Đơn giản hoá các thủ tục hành chính và quy định pháp luật Để đơn giản hoá các thủ tục hành chính, điều đầu tiên Người Đức xác định là, phải xác định được chính xác các thủ tục hành chính cần đơn giản Ai là người xác định các thủ tục này? Kinh nghiệm của Đức là kết hợp giữa việc giao cho các cơ quan chuyên môn (chủ yếu là các Bộ chức năng) xác định (thường chỉ được khoảng 20-40%) và kết hợp việc giao cho một cơ quan độc lập xác định 60-80% Thực tế cho thấy, việc giao cho các cơ quan chuyên môn xác định các thủ tục cần đơn giản hoá thường chỉ có tác dụng rất hạn chế vì các cơ quan này thường không muốn thay đổi việc mình đang làm Vì vậy, cầnphảicócơ quan độc lập với cơ quan chuyên môn để đánh giá và xác định một cách khách quan những công việc và thủ tục cần đơn giản hoá Bên cạnh đó kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quy trình lập pháp, việc ban hành văn bản pháp luật mới, phải song song với việc đánh giá những phí tổn phát sinh khi ban hành Luật và những lợi ích mà Luật đó mang lại [1]
1.2.1.2 Kinh nghiệm cải cách hành chính của Singapore:
Singapore triển khai cải cách hành chính vào đầu những năm 70, họ khuyến khích công chức nêu sáng kiến cải cách hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Họ đề ra phong trào "hướng tới sự thay đổi" mà trọng tâm là kiến nghị các
Trang 35giải pháp về đổi mới cơ chế quản lý để thích ứng với sự thay đổi Ngoài ra, họ còn
đề ra chương trình cải cách công vụ mang tên "Nền công vụ thế kỷ 21" Với mục tiêu của chương trình là xây dựng nền công vụcó hiệu quả, hiệu lực, công chức nêu cao tinh thần liêm chính, tận tuỵ và có chất lượng dịch vụ cao Qua quá trình triển khai và thực hiện họ đã thu được những kết quả đáng chú ý mà chúng ta cần học đặc biệt là trong công tác cải cách thủ tục hành chính đó là:
Nâng cao chất lượng dịch vụ công để làm hài lòng khách hàng (dân)
Áp dụng bộ quy chuẩn ISO 9000 trong bộ máy hành chính, coi đó vừa là công
cụ cải tiến lề lối làm việc, vừa là công cụ đánh giá hiệu quả, phân loại công chức Khuyến khích phát huy sự sáng tạo, đưa tinh thần "doanh nghiệp" vào hoạt động của bộ máy hành chính mà cốt lõi là lấy hiệu quả làm thướcđo
Cải cách triệt để các thủ tục hành chính theo hướng chuyển từ bắt buộc, can thiệp sang khuyến khích, hỗ trợ Chính phủ Singapore đã thành lập Uỷ banhỗ trợ doanh nghiệp với chức năng chủ yếu là thu thập ý kiến phản hồi từ các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trong hoạt động, đồng thờilập ra một nhóm công tác gồm khoảng 100 cán bộ, có trình độ cao đủ sức tìm hiểu, đánh giá và giải quyết các kiến nghị của các doanh nghiệp
Đề ra chương trình xoá bỏ cách làm việc quan liêu, nhiều tầng nấc của bộ máy hành chính mang tên "Zero-In-Process" Mục tiêu đề ra là việc gì cũng phải có cơ quan chịu trách nhiệm, các sáng kiến và đề xuất của dân liên quan đến hoạt động của các cơ quan hành chính, của công chức phải được xem xét xử lý nhanh.Thường xuyên rà soát để loại bỏ những qui định lỗi thời không còn phù hợp Để làm việc này, một Ban rà soát văn bản đã được thành lập với thành phần là 5 Tổng thư ký của các bộ; cứ 5 năm tiến hành tổng rà soát một lần [1]
1.2.1.3 Kinh nghiệm cải cách hành chính của nước Anh:
Khu vực hành chính nhà nước ở Anh với những thể chế, thủ tục hành chính,
cơ chế quản lý và con người, công chức qua thời gian đã dần trở nên xơ cứng, không năng động, nhanh nhạy phản ứng với những thay đổi của cơ chế kinh tế, của tình hình xã hội Để thay đổi hệ thống này theo hướng năng động và linh hoạt hơn
Trang 36nước Anh tham khảo và đưa ra những kinh nghiệm, cách quản lý và cơ chế quản lý của khu vực kinh tế tư nhân vào Điều nàyđược thể hiện ở những điểm chủ yếu sau: Đánh giá hoạt động của từng công chức, từng tổ chức theo kết quả đầu ra, theo tác động của kết quả đó Đây làsự thay đổi hết sức cơ bản trong quản lý nhân sự và tổ chức, việc đánh giáhoạt động thường căn cứ đầu vào, thì nay đã chuyển sang chú trọng vào kết quả đầu ra
Nước Anh thực hiện việc ký kết thoả thuận công vụ giữa các Bộ với Bộ Tài chính Đây là một loạt thoả thuận, hợp đồng nhằm tạo ra một khuôn khổ ổn định cho Bộ hoạt động, không cho phép tăng ngân sách chi tiêu của Bộ nếu không chứng minh được kết quả sẽ có, buộc các Bộ tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu của mình theo trọng tâm do Chính phủ đã định, tạo điềukiện để các Bộ phân bổ kinh phí và giám sát hoạt động của các tổ chức thuộc Bộ Các Bộ đàm phán và đi đến thống nhất ký với Bộ Tài chính cho 3 năm, trong đó nội dung quy định rõ: Mục tiêu, nhiệm vụ của Bộ; các chỉ số, mục tiêu phải phấn đấu, cụ thể là giảm sai sót trong hoạt động, cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ dân, Chính phủ điện tử; Nguồn lực phân bổ cho các Bộ trong 3 năm, được cụ thể hoá trong các chương trình, mục tiêu [1]
1.2.2 Kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai ở một số địa phương trong nước
1.2.2.1 Kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai
của Thành phố Bắc giang - Tỉnh Bắc Giang
Thành phố Bắc Giang là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnhBắc Giang, là nơi tập trung hầu hết các cơ quan hành chính của tỉnh Mộttrong những điểm nhấn quan trọng là công tác CCTTHC trong đó CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai là một trongnhững thủ tục được thành phố Bắc Giang quan tâm và được thực hiện theo cơ chếmột cửa Thành phố Bắc Giang là địa phương đầu tiên trong tỉnh triển khai thực hiện mô hình "Một cửa điện tử liên thông" tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả từ tháng 1-2008 Mô hình này là một trong những điểm sáng của cả nước về thực hiện cải cách TTHC Cuối năm 2009, thành phố hoàn thành và đưa vào hoạt
Trang 37động Trang thông tin điện tử Người dân có thể tra cứu các quy trình, trình tự giải quyết tại bộ phận "một cửa" thành phố, như: thủ tục hồ sơ; thời gian giải quyết; phí,
lệ phí …; tra cứu trực tuyến trạng thái giải quyết TTHC của mình nộp hồ sơ qua mạng Internet; thành phố Bắc Giang đã áp dụng tiêu chuẩn ISO vào hoạt động của UBND, được Tổng cục Tiêu chuẩn Ðo lường - Chất lượng cấp Giấy chứng nhận lần đầu vào tháng 1-2009 và giữ vững cho đến nay Từ khi triển khai cải cách TTHC, tất cả các phòng, ban, đơn vị của thành phố và UBND phường, xã đều phải xác định
cụ thể nội dung công việc, phân công rõ trách nhiệm, tiến độ thực hiện, thời hạn hoàn thành [17]
Những cải cách mạnh mẽ trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ phụ trách "một cửa", "một cửa liên thông" của thành phố đã mang lại nhiều chuyển biến
ở các phòng, ban cũng như UBND các phường, xã Năm 2012, thành phố đã xây dựng và ban hành tiêu chí đánh giá, xếp loại các phường, xã trong thực hiện cơ chế
"một cửa", "một cửa liên thông"; đồng thời tổ chứckiểm tra, đánh giá sáu tháng một lần đối với các phường, xã đã triển khai thực hiện lấy điển hình để nhân rộng Cách làm này đã thật sự tác động đến Ðảng ủy, UBND, trực tiếp là Chủ tịch UBND phường, xã trong việc tổ chức thực hiện công tác cải cách nói chung và hoạt động của bộ phận "một cửa" nóiriêng ở địa phương mình Qua đó nâng cao vai trò của người đứng đầu, tinh thần, trách nhiệm của cán bộ, công chức trong giải quyết TTHC cho tổ chức, công dân [17]
1.2.2.2 Kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai của Tỉnh Bình Thuận
Tại Bình Thuận, việc CCTTHC trên lĩnh vực đất đai nói riêng, tài nguyên - môi trường nói chung đã có những kết quả, chuyển biến tích cực Công tác CCHC
cơ bản đã được Đảng ủy, lãnh đạo sở, lãnh đạo các phòng, đơn vị trực thuộc quan tâm, chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện đúng tiến độ Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác CCHC của sở cơ bản ổn định, từng bước tham mưu có hiệu quả
Cơ chế một cửa trong giải quyết TTHC tiếp tục thực hiện có nề nếp, chất lượng giải quyết TTHC cho tổ chức và công dân ngày càng được nâng cao, không có hồ sơ trễ
Trang 38hẹn Công tác kiểm soát TTHC được thực hiện thường xuyên, sự phối hợp với các ngành liên quan trong việc dự thảo trình UBND tỉnh công bố sửa đổi, bổ sung, bãi
bỏ các TTHC đã đem lại hiệu quả cao; đã chú ý triển khai tiến độ thực hiện Đề án vị trí việc làm, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng đáp ứng yêu cầu trong hoạt động công vụ, việc phân cấp quản lý được quan tâm; việc ứng dụng công nghệ thông tin và hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO trong công tác quản lý của ngành đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong quản lý, điều hành và giải quyết công việc hành chính; công tác tuyên truyền về CCHC được quan tâm, chú trọng góp phần cải thiện và nâng cao các chỉ số về năng lực cạnh tranh, hiệu quả quản trị, hành chính công và cải cách hành chính cấp tỉnh [1]
Bên cạnh mặt được vẫn còn một số hạn chế như: một số nội dung trong thực hiện CCHC tiến hành còn chậm,chưa theo dõi, đôn đốc kịp thời Công tác tuyên truyền CCHC chưa nhiều, nhận thức của một số ít cán bộ, công chức, viên chức chưa cao Việc thực hiện công khai đầy đủ TTHC trong hoạt động của cơ quan sở
để “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”, tuy vậy sự tham gia của cán bộ, công chức, viên chức và người dân góp ý vào cắt giảm thủ tục hành chính…chưa nhiều Công tác đánh giá, phân loại công chức, viên chức hàng năm chưa phản ánh đầy đủ mức
độ hoàn thành nhiệm vụ của từng phòng, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức; vẫn còn tình trạng người nhiều việc, người ít việc Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan, đơn vị mặc dù được quan tâm song vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đặt ra; chưa phát huy hết hiệu quả phần mềm quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp [1]
1.2.2.3 Kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai của tỉnh Phú Thọ
Nhìn chung, công tác CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai luôn được tỉnh Phú Thọ quan tâm thực hiện UBND tỉnh thường xuyên chỉ đạo và đưa ra các giải pháp để cải thiện môi trường đầu tư như: công tác quy hoạch sử dụng đất, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,… Chỉ đạo đẩy mạnh công tác cải cách TTHC, tích cực trong công tác tiếp xúc, đối
Trang 39thoại với doanh nghiệp và người dân để tạo điều kiện thu hút dự án đầu tư vào tỉnh, qua đó đã kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc, làm thay đổi cơ bản nhận thức của cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý đất đai Bên cạnh đó, tỉnh đã chỉ đạo kiện toàn tổ chức, bộ máy làm công tác Quản lý đất đai, bố trí cán bộ, công chức có năng lực, trình độ chuyên môn phù hợp với công việc để nâng cao hiệu quả chất lượng công việc [2] Tuy nhiên, quá trình tiển khai thực hiện còn một số tồn tại, vướng mắc sau:
- Công tác tuyên truyền về CCTTHC nhà nước nói chung và thuộc lĩnh vực đất đai nói riêng chưa đồng bộ, thường xuyên; Nhận thức của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa thực sự quan tâm đúng mức đến việc triển khai thực hiện CCTTHC;
- Một số quy định về TTHC tại các Nghị định, Thông tư chưa rõ ràng nên khó khăn cho quá trình triển khai thực hiện ở cơ sở;
- Một số TTHC (đặc biệt thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất) liên quan nhiều ngành, nhiều cấp khi thực hiện các TTHC thuộc danh mục một cửa liên thông ở mỗi ngành có tính chất đặc thù riêng, vẫn còn những nội dung chưa đồng nhất nên khó khăn cho các cơ quan đầu mối khi giải quyết TTHC
- Trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác Quản lý đất đai tại địa phương còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ đào tạo không đồng đều đã ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ thực hiện nhiệm vụ
1.2.3 Rút ra bài học kinh nghiệm về cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất
Từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới và một số kinh nghiệm của tỉnh bạn, luận văn rút ra được bài học kinh nghiệm về CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai
để áp dụng cho huyện Thống Nhất như sau:
Một là: Thực hiện giải quyết các TTHC thuộc lĩnh vực đất đai theo cơ chế một
cửa để tăng cường tạo lập niềm tin của nhân dân vào cơ quan nhà nước
Hai là: Sự đổi mới hoạt động của cơ quan hành chính và thái độ phục vụ thân
thiện của cán bộ, công chức đã đem đến sự hài lòng cho nhân dân khi giải quyết
Trang 40công việc
Ba là: Sự công khai minh bạch mọi TTHC, thời gian giải quyết và các loại phí
đã hạn chế tình trạng quan liêu, tham nhũng Đồng thời đảm bảo cho mỗi người dân
có thể tham gia vào hoạt động giám sát và quản lý hành chính nhà nước
Bốn là: Tăng cường áp dụng tin học hóa quản lý hành chính, ứng dụng công
nghệ thông tin và áp dụng phần mềm “một cửa liên thông” đưa vào sử dụng để xác định rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân và cho phép tiếp nhận thông tin công việc nhanh nhất, công khai nhất Phần mềm dễ sử dụng, phục vụ tốt công tác xử lý hồ sơ, tra cứu và lưu trữ tài liệu Khi cán bộ “một cửa” cập nhật thông tin thì lãnh đạo, phòng chuyên môn kịp thời nắm bắt ngay để chỉ đạo kịp thời và triển khai nhiệm vụ Đồng thời thông qua đó, thường trực HĐND, UBND huyện cũng có thể kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ đến từng phòng chuyên môn
Năm là: Cải cách đặt trọng tâm vào con người Người dân được xác định là
khách hàng của cơ quan hành chính Đây là sự chuyển biến to lớn về nhận thức, về thái độ của công chức đối với người dân trong giải quyết công việccủa dân theo quy định của pháp luật Huyện Thống Nhất chú trọng đào tạo bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách có phẩm chất tốt, có trình độ chuyên môn cao để thực hiện tốt công tác Cải cách hành chính nói chung và CCTTHC thuộc lĩnh vực đất đai nói riêng