1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán tại công ty TNHH Ernst Young Việt Nam

98 436 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 5,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

những quy định về đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán đã được chuẩn hóa và trở thành các Chuẩn mực Kiểm toán như ISA 315, VSA 315. Ngày nay, vai trò của kiểm toán viên lại càng trở nên quan trọng hơn khi nhu cầu về sử dụng BCTC đã kiểm toán ngày càng tăng cao do toàn cầu hóa kinh tế thế giới, đặc biệt là thi trường tài chính. Do đó, để đảm báo chất lượng dịch vụ, giảm thiểu rủi ro kiểm toán xuống mức tối thiểu, các doanh nghiệp kiểm toán đã có những hướng tiếp cận mới về đánh giá rủi ro nhằm đảm bảo thủ tục đánh giá rủi ro mang lại kết quả tốt nhất. Hướng tiếp cần mới đó chính là đánh giá rủi ro trên cơ sở xác định rủi ro kinh doanh của đơn vị thay vì chỉ tập trung vào rủi ro tài chính như trước đây. Hiểu được tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, đồng thời có cơ hội được thực tại công ty TNHH Ernst Young Việt Nam, người viết đã chọn đề tài “Quy trình đánh giá rủi ro trongnhững quy định về đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán đã được chuẩn hóa và trở thành các Chuẩn mực Kiểm toán như ISA 315, VSA 315. Ngày nay, vai trò của kiểm toán viên lại càng trở nên quan trọng hơn khi nhu cầu về sử dụng BCTC đã kiểm toán ngày càng tăng cao do toàn cầu hóa kinh tế thế giới, đặc biệt là thi trường tài chính. Do đó, để đảm báo chất lượng dịch vụ, giảm thiểu rủi ro kiểm toán xuống mức tối thiểu, các doanh nghiệp kiểm toán đã có những hướng tiếp cận mới về đánh giá rủi ro nhằm đảm bảo thủ tục đánh giá rủi ro mang lại kết quả tốt nhất. Hướng tiếp cần mới đó chính là đánh giá rủi ro trên cơ sở xác định rủi ro kinh doanh của đơn vị thay vì chỉ tập trung vào rủi ro tài chính như trước đây. Hiểu được tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, đồng thời có cơ hội được thực tại công ty TNHH Ernst Young Việt Nam, người viết đã chọn đề tài “Quy trình đánh giá rủi ro trongnhững quy định về đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán đã được chuẩn hóa và trở thành các Chuẩn mực Kiểm toán như ISA 315, VSA 315. Ngày nay, vai trò của kiểm toán viên lại càng trở nên quan trọng hơn khi nhu cầu về sử dụng BCTC đã kiểm toán ngày càng tăng cao do toàn cầu hóa kinh tế thế giới, đặc biệt là thi trường tài chính. Do đó, để đảm báo chất lượng dịch vụ, giảm thiểu rủi ro kiểm toán xuống mức tối thiểu, các doanh nghiệp kiểm toán đã có những hướng tiếp cận mới về đánh giá rủi ro nhằm đảm bảo thủ tục đánh giá rủi ro mang lại kết quả tốt nhất. Hướng tiếp cần mới đó chính là đánh giá rủi ro trên cơ sở xác định rủi ro kinh doanh của đơn vị thay vì chỉ tập trung vào rủi ro tài chính như trước đây. Hiểu được tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, đồng thời có cơ hội được thực tại công ty TNHH Ernst Young Việt Nam, người viết đã chọn đề tài “Quy trình đánh giá rủi ro trong

Trang 1

SVTH: Võ Thị Thảo Nguyên – KI01

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN 3

1.1 Tổng quan về rủi ro kiểm toán 3

1.1.1 Khái quát về rủi ro kiểm toán 3

1.1.1.1 Khái niệm 3

1.1.1.2 Mô hình rủi ro kiểm toán 4

1.1.2 Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán với mức trọng yếu 7

1.1.3 Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán 8

1.2 Đánh giá rủi ro kiểm toán 8

1.2.1 Đánh giá rủi ro 8

1.2.1.1 Khái niệm 8

1.2.1.2 Tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro 8

1.2.1.3 Thủ tục đánh giá rủi ro 10

1.2.1.4 Đánh giá rủi ro kiểm toán trên cơ sở rủi ro kinh doanh 10

1.2.2 Yêu cầu của các chuẩn mực kiểm toán về việc đánh giá rủi ro 12

1.2.2.1 Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu theo yêu cầu của VSA 315 12

1.2.2.2 Đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu 18

1.2.2.3 Xác định rủi ro phát hiện 19

1.3 Lịch sử ra đời và phát triển của các chuẩn mực kiểm toán về đánh giá rủi ro 19

1.4 Những bài nghiên cứu về đánh giá rủi ro 20

1.4.1 Ảnh hưởng của kinh nghiệm kiểm toán và hướng dẫn đánh giá rủi ro gian lận một cách rõ ràng trong việc phát hiện rủi ro có gian lận khi thực hiện thủ tục phân tích - The effects of experience and explicit fraud risk assessement in detecting fraud with analytical procedures (Carol A.Knapp & Michanel C.Knapp, 2001) 20

1.4.2 Vai trò của loại hình doanh nghiệp và quốc gia của khách hàng trong việc đánh giá rủi ro kiểm toán và các quyết định trong việc lập kế hoạch kiểm toán – Exploring the role of country and client type on the auditor’s client risk assessments and audit planning decisions (Michael De Martinis, Hironori Fukukawa, Theodore J.Mock, 2011) 22

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY KIỂM TOÁN ERNST & YOUNG VIỆT NAM 24

2.1 Tổng quan về công ty kiểm toán Ernst & Young Việt Nam 24

Trang 2

SVTH: Võ Thị Thảo Nguyên – KI01

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 24

2.1.1.1 Công ty kiểm toán Ernst & Young toàn cầu 24

2.1.1.2 Công ty kiểm toán Ernst & Young Việt Nam 25

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của EY Việt Nam 25

2.1.2.1 Sơ đồ tổ chức quản lý ở văn phòng TP HCM 25

2.1.2.2 Đội ngũ nhân viên tại Ernst & Young Việt Nam 25

2.1.3 Các dịch vụ cung cấp 25

2.1.4 Nguyên tắc và phương châm hoạt đông 26

2.2 Quy trình kiểm toán BCTC tại công ty kiểm toán Ernst & Young Việt Nam (EY GAM) 27

2.2.1 Giai đoạn lập kế hoạch 27

2.2.2 Nhận dạng và đánh giá rủi ro 28

2.2.3 Thiết kế các thủ tục kiểm toán đối phó với những rủi ro đã đánh giá 28

2.2.4 Giai đoạn hoàn thành kiểm toán 28

CHƯƠNG 3 QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY ERNST & YOUNG VIỆT NAM 31

3.1 Quy trình đánh giá rủi ro tại công ty Ernst & Young Việt Nam 31

3.1.1 Giai đoạn tiền kế hoạch 31

3.1.2 Giai đoạn lập kế hoạch 32

3.1.2.1 Hiểu biết chung về đơn vị và môi trường của đơn vị 33

3.1.2.2 Tìm hiểu về HTKSNB của khách hàng và thực hiện phép thử Walkthrough 36

3.1.2 Phép thử Walkthrough 40

3.1.3 Đánh giá HTKSNB 40

3.1.4 Rủi ro kết hợp (CRA) với thử nghiệm cơ bản 41

3.2 Vận dụng quy trình đánh giá rủi ro kiểm tcủa công ty kiểm toán Ernst & Young Việt Nam tại đơn vị ABC 44

3.2.1 Sơ lược về khách hàng 44

3.2.2 Các bước đánh giá rủi ro tại đơn vị ABC 44

3.2.2.1 Hiểu biết về đơn vị và môi trường của đơn vị 44

3.2.2.2 Tìm hiểu về HTKSNB của đơn vị ABC và thực hiện phép thử Walkthrough 53

3.2.2.3 Đánh giá sơ bộ rủi ro kết hợp (CRA) 61

3.3 Khảo sát việc tuân thủ quy trình đánh giá rủi ro tại EY 63

Trang 3

SVTH: Võ Thị Thảo Nguyên – KI01

3.3.1 Mục tiêu, đối tượng và phương pháp khảo sát 63

3.3.2 Nội dung khảo sát 64

3.3.2.1 Một số thông tin cơ bản về đối tượng được khảo sát 64

3.3.2.2 Kết quả khảo sát 66

3.3.3 Kết luận 69

CHƯƠNG 4 NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ VỀ QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN TẠI EY VIỆT NAM 71

4.1 Nhận xét về quy trình đánh giá rủi ro tại Ernst & Young Việt Nam 71

4.1.1 So sánh giữa quy trình đánh giá rủi ro tại EY với việc thực hiện trong thực tế 71

4.1.2 So sánh quy trình đánh giá rủi ro tại EY với các chuẩn mực kiểm toán liên quan 72

4.1.3 Nhận xét về quy trình đánh giá rủi ro tại EY Việt Nam 73

4.1.3.1 Ưu điểm 73

4.1.3.2 Hạn chế 75

4.1.4 Các kiến nghị cho quy trình đánh giá rủi ro tại EY 76

4.2 Những bài học kinh nghiệm thu được thông qua quá trình tìm hiểu quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán 76

4.2.1 Đánh giá rủi ro tiềm tàng 76

4.2.2 Đánh giá về rủi ro kiểm soát 77

4.3 Kết luận 77

Trang 4

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tầm quan trọng của đề tài

Sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán và loại hình công ty cổ phần vào khoảng thể kỷ XVIII đã dần dần tạo nên sự tách rời giữa quyền sở hữu và chức năng quản lý Chính vì

lý do đó, kiểm toán độc lập đã ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ sở hữu trong việc kiểm tra và chống lại hành vi gian lận của các nhà quản lý

Trải qua hơn 25 tồn tại và phát triển, ngành Kiểm Toán Độc Lập Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò của mình trong việc góp phần xây dựng niềm tin trong công chúng Cùng với sự phát triển đó, các doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ cạnh tranh cũng như đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng dịch vụ kiểm toán cung cấp cho khách hàng Chính vì lý do đó, các doanh nghiệp kiểm toán nếu muốn duy trì và thu hút thêm khách hàng mới thì vấn đề cần quan tâm đó là làm sao mang đến cho khách hàng chất lượng dịch vụ tốt nhất, và đặc biệt mức độ đảm bảo cho BCTC của đơn vị là phản ánh trung thực và hợp lý phải ngày càng nâng cao

Một trong những thủ tục kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch sẽ giúp cho các kiểm toán

viên thực hiện cuộc kiểm toán một cách hiệu quả và tiết kiệm thời gian hơn đó chính là “Đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán” Việc đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị

kiểm toán là vô cùng quan trọng, giúp kiểm toán viên có cơ sở cho việc thiết kế nội dụng, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo Bên cạnh đó, đánh giá rủi ro còn giúp kiểm toán viên nhận diện được các khu vực có rủi ro cao, từ đó tập trung nguồn lực nhằm đảm bảo không bỏ sót sai sót trọng yếu có thể xảy ra Hơn nữa, việc đánh giá rủi ro còn giúp kiểm toán viên tiết kiệm được thời gian, từ đó mang lại sự cân bằng giữa lợi ích và chi phí và công sức của kiểm toán viên nhưng vẫn đảm bảo chất lượng cuộc kiểm toán

Hiện nay, những quy định về đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán đã được chuẩn hóa và trở thành các Chuẩn mực Kiểm toán như ISA 315, VSA 315 Ngày nay, vai trò của kiểm toán viên lại càng trở nên quan trọng hơn khi nhu cầu về sử dụng BCTC đã kiểm toán ngày càng tăng cao do toàn cầu hóa kinh tế thế giới, đặc biệt là thi trường tài chính Do

đó, để đảm báo chất lượng dịch vụ, giảm thiểu rủi ro kiểm toán xuống mức tối thiểu, các doanh nghiệp kiểm toán đã có những hướng tiếp cận mới về đánh giá rủi ro nhằm đảm bảo thủ tục đánh giá rủi ro mang lại kết quả tốt nhất Hướng tiếp cần mới đó chính là đánh giá rủi ro trên cơ sở xác định rủi ro kinh doanh của đơn vị thay vì chỉ tập trung vào rủi ro tài chính như trước đây

Hiểu được tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, đồng thời có cơ hội được thực tại công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam, người viết đã

chọn đề tài “Quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán tại công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam” để làm khóa luận tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

- Tìm hiểu các khái niệm, yêu cầu và các thủ tục đánh giá rủi ro thông qua hiểu biết về

đơn vị và môi trường của đơn vị, trong đó có HTKSNB;

- Xem xét việc thực hiện quy trình đánh giá rủi ro trên tại công ty TNHH Ernst & Young

Việt Nam;

Trang 5

Trang 2

- Đưa ra nhận xét về ưu, nhược điểm cũng như các kiến nghị đối với việc thực hiện quy

trình đánh giá rủi ro tại EY;

- Những bài học kinh nghiệm rút ra được từ việc tìm hiểu này

3 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu cách thực tiếp cận và các quy định của EY đối với việc đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán thông qua việc tìm hiểu chương trình kiểm toán EY GAM của Ernst & Young (EY Global Audit Methodology);

- Xem xét các giấy tờ làm việc liên quan đến đề tài cũng như phỏng vấn các anh chị trưởng nhóm kiểm toán;

- Tìm hiểu về quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán thông qua chuẩn mực ISA 315 và VSA 315

Do công việc đánh giá rủi ro là một công việc phức tạp, đòi hỏi kinh nghiệm lâu năm trong nghề của các kiểm toán viên cấp cao Chính vì lý do đó, trong thời gian thực tập tại EY, người viết chưa có cơ hội được tham gia vào các cuộc đánh giá rủi ro của các kiểm toán viên cấp cao Do đó, những hiểu biết của kiểm toán viên chủ yếu dựa trên các tài liệu hồ sơ làm việc của Ernst & Young, do đó không thể tránh khỏi những sai sót

5 Bố cục đề tài

Bài khóa luận được chia thành 4 phần như sau:

Chương 1: Lý luận chung về rủi ro kiểm toán và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn

chuẩn bị kiểm toán

Chương 2: Tổng quan về công ty kiểm toán và quy trình kiểm toán BCTC tại Ernst &

Young Việt Nam

Chương 3: Quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán tại công ty Ernst

& Young Việt Nam

Chương 4: Nhận xét và kiến nghị về quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị

kiểm toán tại EY Việt Nam

Trang 6

Trang 3

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN

1.1 Tổng quan về rủi ro kiểm toán

1.1.1 Khái quát về rủi ro kiểm toán

1.1.1.1 Khái niệm

Theo đoạn 13 VSA 200 định nghĩa: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểm toán không phù hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn chứa đựng sai sót trọng yếu Rủi ro kiểm toán là hệ quả của rủi ro có sai sót trọng yếu (gồm rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát) và rủi ro phát hiện.”

Ngoài ra, đoạn A33 VSA 200 cho rằng: “Rủi ro kiểm toán không bao gồm rủi ro mà kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến là BCTC có sai sót trọng yếu nhưng trên thực tế BCTC không

có sai sót như vậy Rủi ro này thường không nghiêm trọng Nó chỉ ảnh hưởng đến tính hiệu quả của cuộc kiểm toán do kiểm toán viên thực hiện nhiều thủ tục hơn để chứng minh BCTC không có sai sót trọng yếu Ngoài ra, rủi ro kiểm toán là một thuật ngữ chuyên môn liên quan đến quá trình kiểm toán, không bao hàm rủi ro mà kiểm toán viên gặp phải trong kinh doanh như bị thua kiện, để lộ thông tin, không thu được phí kiểm toán, … hoặc các sự kiện phát sinh trong mối liên hệ với cuộc kiểm toán BCTC”

Có nhiều nguyên nhân khiến cho kiểm toán viên đưa ra ý kiến không phù hợp trong khi BCTC đã được kiểm toán vẫn còn chứa đựng sai sót trọng yếu, bao gồm:

- Cuộc kiểm toán BCTC chỉ mang đến mức đảm bảo hợp lý (mức đảm bảo cao có thể chấp nhận được nhưng không tuyệt đối)

- Không thể phát hiện mọi sai sót tại đơn vị do sự tồn tại của những hành vi gian lận, không tuân thủ hay thông đồng giữa các nhân viên tại khách hàng được kiểm toán

- Sự giới hạn về mặt thời gian cũng như mức phí kiểm toán Cuộc kiểm toán được diễn

ra dưới sự cân bằng giữa thời gian và mức phí kiểm toán Kiểm toán viên thực hiện cuộc kiểm toán với một mức phí hợp lý những cũng đảm bảo chất lượng của dịch vụ được cung cấp

- Hạn chế về năng lực chuyên môn của kiểm toán viên và năng lực trong lĩnh vực hoạt động của khách hàng

- Hạn chế trong các thủ tục kiểm toán dẫn đến việc không phát hiện được hết các sai sót trọng yếu tại khách hàng

- Do bản chất của việc lập BCTC: các ước tính kế toán, các khoản dự phòng,…

- Rủi ro trong kỹ thuật chọn mẫu dẫn đến mẫu được chọn không đại diện cho tổng thể

- Sự vi phạm giả định hoạt đông liên tục của khách hàng…

Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro kiểm toán nói trên đã được cụ thể hóa trong chuẩn mực

kiểm toán số VSA 200, đoạn A45: “Kiểm toán viên không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro kiểm toán và không thể đạt được sự đảm bảo tuyệt đối về việc BCTC hoàn toán không có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn Cuộc kiểm toán luôn có những hạn chế vốn có làm cho hầu hết các bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên dựa vào để đưa ra kết luận và hình thành ý kiến kiểm toán đều mang tính thuyết phục nhiều hơn là tính khẳng định chắc chắn Những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán bắt nguồn từ:

- Bản chất của việc lập và trình bày BCTC;

Trang 7

Trang 4

- Bản chất của các thủ tục kiểm toán;

- Sự cần thiết phải thực hiện cuộc kiểm toán với thời gian và giá phí hợp lý.”

1.1.1.2 Mô hình rủi ro kiểm toán

Một rủi ro tiềm ẩn trên BCTC (rủi ro tiềm tàng) nhưng không được ngăn chặn và phát hiện thông qua các hoạt động kiểm soát của đơn vị (rủi ro kiểm soát) sẽ có thể được phát hiện bởi các thủ tục kiểm toán của kiểm toán viên Tuy nhiên, do những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán, kiểm toán viên có thể không phát hiện được mọi rủi ro có sai trọng yếu (rủi ro phát hiện) dẫn đến BCTC vẫn còn chứa đựng những sai sót trọng yếu.1

Mô hình rủi ro kiểm toán được thể hiện qua mô hình sau:

AR = CR x IR x DR

Trong đó:

AR (Audit risk): Rủi ro kiểm toán

IR (Inherent risk): Rủi ro tiềm tàng

CR (Control risk): Rủi ro kiểm soát

DR (Detection risk): Rủi ro phát hiện

Rủi ro có sai sót trọng yếu (rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát) tồn tại độc lập với các thử nghiệm cơ bản của kiểm toán viên nên có sự khác biệt so với rủi ro phát hiện Những rủi ro có sai sót trọng yếu tồn tại trước khi cuộc kiểm toán diễn ra và nằm ngoài sự kiểm soát của kiểm toán viên KIểm toán viên dù muốn hay không thì những rủi ro này vẫn hiện diện tại đơn vị Chính vì lý do đó, kiểm toán viên chỉ có thể giảm thiểu rủi ro kiểm toán thông qua việc kiểm soát rủi ro phát hiện Kiểm toán viên kiểm soát rủi ro phát hiện bằng cách sử dụng các thủ tục kiểm toán (thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản) để đảm bảo phát hiện hầu hết các sai sót trọng yếu trên BCTC

Kiểm toán viên kiểm soát rủi ro phát hiện thông qua việc điều chỉnh phạm vị, nội dung và lịch trình của các thủ tục kiểm toán Đây là điểm quan trọng cần lưu ý, giúp kiểm toán viên có thể điều chỉnh cuộc kiểm toán một cách hợp lý sao cho mức rủi ro kiểm toán được giảm thiểu xuống mức thấp chấp nhận được cùng với một mức phí kiểm toán hợp lý Theo đoạn A42

VSA 200 “Với một mức rủi ro kiểm toán cho trước, mức độ rủi ro phát hiện được chấp nhận

có mối quan hệ trái chiều với rủi ro có sai sót trọng yếu được đánh giá ở cấp độ cơ sở dẫn liệu Ví dụ, nếu kiểm toán viên xác định là rủi ro có sai sót trọng yếu ở mức độ càng cao thì rủi ro phát hiện có thể chấp nhận ở mức càng thấp và càng cần các bằng chứng kiểm toán có tính thuyết phục cao.” Điều này được minh hoa thông qua ma trận rủi ro phát hiện sau đây:

1 Trang 91, Sách kiểm toán – Nhà xuất bản Kinh tế Thành

2 Trang 123, Sách Kiểm toán – Nhà xuất bản Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 8

Trang 5

về rủi ro tiềm

tàng

1.1.1.2.1 Rủi ro tiềm tàng

Theo đoạn 13 VSA 200: “Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có, do khả năng cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh có thể chứa đựng sai sót trọng yếu, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, trước khi xem xét đến bất kỳ kiểm soát nào có liên quan.”

Một số cơ sở dẫn liệu của các khoản mục hay thông tin thuyết minh trình bày trên BCTC chứa đựng rủi ro tiềm tàng ở mức cao hơn so với các cơ sở dẫn liệu khác Sự khác biệt về mức rủi ro tiềm tàng giữa các cơ sở dẫn liệu phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp Ví dụ, với một doanh nghiệp chế biến thực phẩm thì vấn đề ở đây là hàng tồn kho dễ bị hư hỏng nếu không được bảo quản đúng cách và rủi ro liên quan đến hàng tồn kho tại doanh nghiệp này là việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho không đầy đủ Do vậy,

cơ sở dẫn liệu đánh giá hàng tồn kho của doanh nghiệp chế biến thực phẩm có rủi ro tiềm tàng rất cao

Ngoài ra, những nhân tố bên ngoài như là môi trường kinh doanh, mức độ cạnh tranh, lĩnh vực đang hoạt động, các yếu tố pháp lý văn hóa cũng ảnh hưởng đến rủi ro tiềm tàng của đơn

vị Ví dụ, với một công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực nhiều rủi ro, cạnh tranh cao thì nguy cơ doanh thu sẽ bị khai khống để đảm bảo việc thu hút đầu tư và tiếp tục được niêm yết trên sàn chứng khoán Do đó, cơ sơ dẫn liệu phát sinh của doanh thu tại doanh nghiệp này có rủi ro tiềm tàng ở mức rất cao Bên cạnh đó, nhiều nhân tố bên trong cũng có ảnh hưởng đến rủi ro tiềm tàng của đơn vị như: tính chính trực của ban giám đốc, năng lực chuyên môn, cách thức quản lý,… Một doanh nghiệp sản xuất, đánh giá kết quả làm việc của ban giám đốc dựa trên doanh số thì rủi ro được xác định ở đây là khả năng khai khống doanh thu để đạt được mức lương, thưởng theo như quy định đã đề ra

1.1.1.2.2 Rủi ro kiểm soát

Theo đoạn 13 VSA 200: “Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu, khi xét riêng

lẻ hay tổng hợp lại, đối với cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh mà kiểm soát nội bộ của đơn vị không thể ngăn chặn hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời.”

Rủi ro kiểm soát liên quan đến tính hữu hiệu của việc thiết kế, vận hành và duy trì HTKSNB tại đơn vị trong việc ngăn chặn và phát hiện những rủi ro đã xác định, có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc hoàn thành các mục tiêu đề ra của đơn vị Tuy nhiên, dù cho HTKSNB có hữu hiệu đến đâu thì cũng không thể ngăn chặn và loại bỏ hoàn toàn mọi rủi ro, hay nói cách khác luôn tồn tại rủi ro kiểm soát tại đơn vị, HTKSNB hữu hiệu chỉ có thể giúp giảm thiểu mức độ rủi ro xảy ra, từ đó mức rủi ro kiểm soát sẽ giảm đi

1.1.1.2.3 Rủi ro phát hiện

Trang 9

Trang 6

Theo đoạn 13 VSA 200: “Rủi ro phát hiện là rủi ro mà các thủ tục mà kiểm toán viên thực hiện nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán xuống tới mức thấp có thể chấp nhận được nhưng vẫn không phát hiện được hết các sai sót trọng yếu khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại.”

Loại rủi ro này có sự khác biệt so với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát Rủi ro phát hiện chịu sự kiểm soát của kiểm toán viên thông qua các thử nghiệm cơ bản Mức độ rủi ro phát hiện chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, trong đó có:

- Nội dung, lịch trình và phạm vi của các thử nghiệm kiểm toán Kiểm toán viên có thể giảm mức rủi ro phát hiện xuống thấp bằng cách tăng cường các thử nghiệm cơ bản,

mở rộng phạm vi kiểm toán hay tăng cỡ mẫu Tuy nhiên, kiểm toán viên cũng không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro phát hiện cho dù kiểm toán viên thực hiện việc kiểm tra toàn bộ các giao dịch tại đơn vị, đó có thể là do việc lựạ chọn thủ tục kiểm toán không thích hợp, chọn mẫu sai hay là do năng lực của kiểm toán viên;

- “Rủi ro lấy mẫu là rủi ro mà kết luận của kiểm toán viên dựa trên việc kiểm tra mẫu

có thể khác so với kết luận đưa ra nếu kiểm tra toàn bộ tổng thể với cùng một thủ tục kiểm toán.” (Đoạn 5 VSA 530)

- “Rủi ro ngoài lấy mẫu là rủi ro khi kiểm toán viên đi đến một kết luận sai vì các nguyên nhân không liên quan đến rủi ro lấy mẫu.” (Đoạn 5, VSA 530)

1.1.1.2.4 Mối quan của các bộ phận trong mô hình rủi ro kiểm toán

Theo đoạn 13, VSA 200: “Rủi ro có sai sót trọng yếu là rủi ro khi BCTC chứa đựng những sai sót trọng yếu trước khi kiểm toán.” Rủi ro có sai sót trọng yếu bao gồm hai cấp độ: cấp độ

tổng thể BCTC và cấp độ cơ sơ dẫn liệu

Theo đoạn A105, VSA 315 định nghĩa: “Rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ BCTC là những rủi ro có ảnh hưởng lan tỏa đến tổng thể BCTC và có ảnh hưởng tiềm tàng đến nhiều

cơ sở dẫn liệu Các rủi ro này có thể không phải là rủi ro có thể phát hiện được với các cơ sở dẫn liệu cụ thể tại các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thuyết minh.” Còn ở cấp độ cơ sở

dẫn liệu của nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thuyết minh thì rủi ro có sai sót trọng yếu là

sự kết hợp của rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát tại đơn vị Kiểm toán viên cần xem xét rủi

ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thuyết minh vì nó sẽ giúp kiểm toán viên trong việc xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo

Thông qua việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu tại đơn vị kết hợp với một mức rủi ro kiểm toán chấp nhận được, kiểm toán viên sẽ xác đinh được mức độ rủi ro phát hiện chấp nhận được Từ đó, kiểm toán viên sẽ dựa vào mức rủi ro phát hiện để tiến hành xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo Ví dụ, nếu kiểm toán viên xác định rủi ro có sai sót trọng yếu là cao thì rủi ro phát hiện sẽ được chấp nhận ở mức càng thấp

để đảm bảo rủi ro kiểm toán ở mức thấp có thể chấp nhận được Lúc này, kiểm toán viên sẽ phải tăng cường các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập nhiều bằng chứng kiểm toán có tính thuyết hơn làm cơ sở cho việc hình thành ý kiến kiểm toán

Trang 10

Trang 7

Sơ đồ 1.1 – Mối quan hệ giữa các bộ phận trong rủi ro kiểm toán

1.1.2 Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán với mức trọng yếu

Theo đoạn 9a VSA 320 tính trọng yếu được định nghĩa như sau: “Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong BCTC Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu chính xác của thông tin

đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC.” Còn theo đoạn 9b VSA 320 mức trọng yếu: “Là một giá trị do kiểm toán viên xác định tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính.”

Rủi ro kiểm toán và mức trọng yếu có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau Điều này có nghĩa là, nếu rủi ro kiểm toán được đánh giá ở mức càng thấp thì mức trọng yếu sẽ được xác lập ở mức cao hơn và ngược lại Hay nói cách khác, khi kiểm toán viên xác định sai sót có thể chấp nhận được tăng lên lúc này rủi ro kiểm toán sẽ được giảm xuống Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên tiến hành đánh giá sơ bộ rủi ro tại khách hàng thông qua những hiểu biết chung về khách hàng Từ đó, kiểm toán viên sẽ đưa ra các xét đoán về quy mô của các sai sót sẽ được coi là trọng yếu Các xét đoán này sẽ là cơ sơ cho việc:

- Xác đinh nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục đánh giá rủi ro;

- Nhận biết và đánh giá các rủi ro có sai sót trọng yếu; và

- Xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo

Trong quá trình kiểm toán BCTC, kiểm toán viên luôn phải đánh giá mối quan hệ giữa rủi

ro kiểm toán và mức trọng yếu Một sự kiện phát sinh dẫn đến việc kiểm toán viên đánh giá lại rủi ro kiểm toán tại đơn vị là cao hơn so với mức đánh giá ban đầu, điều đó cũng có nghĩa là sai sót có thể chấp nhận được sẽ giảm xuống Với mức sai sót có thể được chấp nhận giảm xuống, kiểm toán viên sẽ phải điều chỉnh lại các thủ tục kiểm toán một cách thích hợp (tăng cỡ mẫu, mở rộng phạm vi hay thực hiện thêm các thủ tục kiểm toán bổ sung) nhằm đảm bảo phát hiện hầu hết các sai sót trọng yếu có thể ảnh hưởng đến BCTC của đơn vị Bên cạnh đó, việc xác lập mức trọng yếu dựa trên rủi ro đã đánh giá còn giúp kiểm toán viên đánh giá được ảnh hưởng của các sai sót chưa được điều chỉnh (nếu có) trên BCTC làm cơ sở cho việc hình thành

ý kiến kiểm toán

Hiện nay, trong các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và Quốc tế không có một quy định cụ thể nào về việc xác lập mức trọng yếu trong kiểm toán BCTC Điều này có nghĩa là việc xác lập mức trọng yếu sẽ chủ yếu dựa vào các xét đoán chuyên môn và kinh nghiệm của kiểm toán

Rủi ro có sai sót trọng yếu

Rủi ro phát hiện

Rủi ro kiểm soát

Rủi ro tiềm tàng Rủi ro kiểm

toán

Trang 11

Trang 8

viên Kiếm toán viên sẽ căn cứ vào những hiểu biết của mình về khách hàng thông qua việc tìm hiểu cũng như đánh giá rủi ro tại khách hàng để có thể đưa ra mức trọng yếu hợp lý, nhằm đảm bảo rủi ro kiểm toán sẽ được giảm thiểu xuống mức thấp có thể chấp nhận được Chính vì vậy, việc xem xét mối quan hệ giữa mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán là vô cùng quan trọng trong suốt quá trình kiểm toán Hơn nữa, việc xem xét khả năng xảy ra sai sót trọng yếu ở từng khoản mục, số dư tài khoản hay thuyết minh còn giúp kiểm toán viên khoanh vùng được những nơi có rủi ro cao, và cần tập trung nguồn lực cũng như cần thiết trong việc thiết kế lại các thủ tục kiểm toán sao cho rủi ro kiểm toán luôn duy trì ở mức thấp chấp nhận được

1.1.3 Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán

Theo đoạn 5 VSA 500: “Bằng chứng kiểm toán là thông tin được kiểm toán viên sử dụng

để đưa ra các kết luận làm cơ sở hình thành ý kiến kiểm toán Bằng chứng kiểm toán bao gồm

cả thông tin chứa đựng trong các tài liệu, sổ kế toán được sử dụng để lập và trình bày BCTC

và những thông tin khác.”

Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán được thể hiện thông qua rủi ro phát hiện và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập Hay nói cách khác, số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ phụ thuộc vào mức rủi ro được đánh giá, đây là mối quan hệ

tỷ lệ nghịch với nhau Với mức rủi ro phát hiện được chấp nhận ở mức càng thấp thì càng cần thu thập nhiều bằng chứng kiểm toán và ngược lại

Ngoài ra, theo đoạn 17 VSA 200: “Để đạt được sự đảm bảo hợp lý, kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm giảm rủi ro kiểm toán tới một mức thấp

có thể chấp nhận được, từ đó cho phép kiểm toán viên đưa ra các kết luận phù hợp làm cơ sở cho việc hình thành ý kiến kiểm toán.”

1.2 Đánh giá rủi ro kiểm toán

1.2.1 Đánh giá rủi ro

1.2.1.1 Khái niệm

Theo đoạn 4d VSA 315: “Thủ tục đánh giá rủi ro là thủ tục kiểm toán được thực hiện để tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, trong đó có kiểm soát nội bộ, nhằm xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn ở cấp độ BCTC hoặc cơ sở dẫn liệu.”

1.2.1.2 Tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro

Kiểm toán viên không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro kiểm toán cũng như đảm bảo tuyệt đối rằng BCTC sau khi kiểm toán không còn chứa đựng sai sót trọng yếu Kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra ý kiến với mức đảm bảo cao có thể chấp nhận được rằng BCTC sau khi kiểm toán không còn chứa đựng những sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn Điều này có nghĩa

là, luôn luôn tồn tại những hạn chế vốn có trong mọi cuộc kiểm toán dẫn đến việc kiểm toán viên không thể đưa ra ý kiến với mức đảm bảo bảo tuyệt đối mà chỉ có thể đảm bảo ở mức cao

có thể chấp nhận được

Theo đoạn A45 VSA 200: “Kiểm toán viên không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro kiểm toán

và không thể đạt được sự đảm bảo tuyệt đối về việc BCTC hoàn toàn không có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn Cuộc kiểm toán luôn có những hạn chế vốn có làm cho hầu hết các bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên dựa vào để đưa ra kết luận và hình thành ý

Trang 12

Trang 9

kiến kiểm toán đều mang tính thuyết phục nhiều hơn là tính khẳng định chắc chắn Những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán bắt nguồn từ:

- Bản chất của việc lập và trình bày BCTC;

- Bản chất của các thủ tục kiểm toán;

- Sự cần thiết phải thực hiện cuộc kiểm toán với thời gian và giá phí hợp lý.”

Ngoài ra, những hạn chế trên còn bắt nguồn từ những nguyên nhân sau đây:

- Đơn vị có thể cố tình che giấu hoặc cung cấp sai thông tin cho kiểm toán viên;

- Không có một HTKSNB nào là hoàn hảo cho việc ngăn chặn hay phát hiện hết mọi rủi

ro có thể ảnh hưởng đến mục tiêu của đơn vị;

- Quá trình kiểm toán đòi hỏi kiểm toán viên phải đưa ra các xét đoán chuyên môn;

- Việc thu thập bằng chứng kiểm toán nhằm làm cơ sở cho kiểm toán viên hình thành ý kiến mang tính thuyết phục hơn là chứng minh cho số liệu của đơn vị là đúng và không chưa đựng sai sót;

- Với tốc độ phát triển nền kinh tế như hiện này, số lượng các giao dịch kinh tế phát sinh rất nhiều tại đơn vị, kiểm toán viên không thể kiểm tra toàn bộ các giao dịch phát sinh trên do hạn chế về nguồn lực kiểm toán viên, thời gian và mức phí;

- Bên cạnh đó, tốc độ phát triển của công nghệ thông tin cũng là một rào cản lớn cho các cuộc kiểm toán khi mà hầu hết các công ty đều tiến hành chuyển từ kế toán thủ công sang hệ thống kế toán trên phần mềm;

- Ngoài ra, sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty kiểm toán dẫn đến việc các công ty kiểm toán cố gắng tìm cách giảm mực phí kiểm toán xuống mức thấp nhất có thể, từ đó rủi ro kiểm toán có nguy cơ ngày càng tăng cao

Chính vì những lý do trên, việc đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch có vai trò vô cùng quan trọng đối với mọi cuộc kiểm toán Việc đánh giá rủi ro một cách hiệu quả sẽ giúp kiểm toán viên có những hành động thích hợp nhằm đảm bảo phát hiện hầu hết các rủi ro có sai sót trọng yếu Đánh giá rủi ro có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, không những giúp kiểm toán viên trong việc thiết kế các thủ tục kiểm toán thích hợp mà còn mang lại sự cân bằng trong mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí trong từng giai đoạn của cuộc kiểm toán, đặc biệt là trong giai đoạn lập kế hoạch

Đánh giá rủi ro trong từng giai đoạn của cuộc kiểm toán BCTC:

Giai đoạn tiền kế hoạch:

- Xem xét việc chấp nhận hay từ chối khách hàng mới, duy trì hay chấm dứt mối quan

hệ với khách hàng cũ;

- Việc đánh giá rủi ro còn giúp kiểm toán viên tính toán khối lượng công việc hoàn thành làm cơ sở cho việc bố trí nguồn lực hợp lý, thời gian cho cuộc kiểm toán và tính toán mức phí kiểm toán

Giai đoạn lập kế hoạch:

- Giới hạn phạm vi công việc ở mức độ cần thiết để vừa tiết kiệm thời gian vừa đảm bảo được chất lượng của cuộc kiểm toán với một mức phí hợp lý;

- Khoanh vùng được những khoản mục có rủi ro cao, cần tập trung nguồn lực và có những thủ tục kiểm toán thích hợp nhằm thỏa mãn các mục tiêu kiểm toán

Giai đoạn thực hiện kiểm toán

Trang 13

- Hỗ trợ cho công việc kiểm toán vào những năm kế tiếp

Giai đoạn hoàn thành kiểm toán

Làm cơ sở cho việc rà soát lại hồ sơ kiểm toán, đánh giá tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán và các công việc đã thực hiện, qua đó đảm bảo chất lượng cuộc kiểm toán

Ngoài những ý nghĩa nêu trên, việc đánh giá rủi ro còn là một quy trình bắt buộc trong cuộc kiểm toán BCTC và đã được quy định trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và Quốc tế mà kiểm toán viên bắt buộc phải thực hiện khi tiến hành cuộc kiểm toán

1.2.1.3 Thủ tục đánh giá rủi ro

Theo đoạn 6 VSA 315: “Thủ tục đánh giá rủi ro phải bao gồm các bước sau:

a) Phỏng vấn Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị mà theo xét đoán của kiểm toán viên có khả năng cung cấp thông tin hỗ trợ cho việc xác định rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn;

b) Thực hiện thủ tục phân tích;

c) Quan sát và điều tra.”

Mục tiêu của các thủ tục này là nhằm xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp

độ BCTC và cấp độ cơ sở dẫn liệu, thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, trong đó có kiểm soát nội bộ, từ đó cung cấp cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý đối với rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá

1.2.1.4 Đánh giá rủi ro kiểm toán trên cơ sở rủi ro kinh doanh

Trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp luôn gắn với các rủi ro kinh doanh mà

nó có thể ảnh hưởng đến mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp Chính vì lý do đó, để đạt được mục tiêu lợi nhuận, các doanh nghiệp cần phải nhận dạng được rủi ro trong các hoạt động kinh doanh hằng ngày và cả những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai, từ đó có những hành động thích hợp để quản trị rủi ro một cách hợp lý Việc tiếp cận rủi ro kinh doanh của khách hàng sẽ giúp kiểm toán viên thực hiện cuộc kiểm toán một cách hữu hiệu và hiệu quả, trong đó bao gồm việc đánh giá và quản trị rủi ro kiểm toán

Theo đoạn 4 VSA 315: “Rủi ro kinh doanh là rủi ro phát sinh từ các điều kiện, sự kiện, tình huống, việc thực hiện hay không thực hiện các hành động có ảnh hưởng đáng kể mà có thể dẫn đến ảnh hưởng bất lợi tới khả năng đạt được mục tiêu và thực hiện chiến lược của đơn

vị, hoặc là rủi ro phát sinh từ việc xác định mục tiêu và chiến lược không phù hợp.”

Việc tìm hiểu rủi ro kinh doanh của khách hàng sẽ giúp kiểm toán viên đánh giá được những ảnh hưởng của nó đến các hành vi gian lận, sai sót hay bất thường có thể xảy ra, và làm cho BCTC chứa đựng những sai sót trọng yếu Rủi ro kinh doanh tác động đến rủi ro kiểm toán chủ yếu thông qua rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC qua các phương diện sau:

Trang 14

Trang 11

- Ảnh hưởng đến khả năng có sai sót trọng yếu trên BCTC Ví dụ, tình trạng suy thoái của nền kinh tế dẫn đến việc kinh doanh trở nên khó khăn hơn, các doanh nghiệp cổ phần hóa sẽ đối mặt với việc sụt giảm các khoản đầu tư hoặc các giám đốc kinh doanh

sẽ bị mất đi các khoản tiền thưởng nếu như tình hình kinh doanh trở nên yếu kém Chính vì lý do đó, nhiều công ty thực hiện việc khai khống khoản doanh thu nhằm tạo

ra một bức tranh đẹp về tình hình tài chính cũng như đảm bảo việc đạt được mục tiêu doanh số như kế hoạch để không bị mất đi các khoản tiền thưởng

- Tác động đến khả năng ngăn chặn sai sót trọng yếu của HTKSNB Tiếp tục ví dụ trên, một khi Ban giám đốc thực hiện hành vị gian lẫn trong việc khai khống doanh thu để đạt được lợi ích thì hành vi này đã nằm ngoài sự kiểm soát của HTKSNB của doanh nghiệp Cho dù kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp có hữu hiệu đến đâu thì cũng khó

có thể ngăn chặn được hành vi gian lận này, vì đây là hành vi do chính nhà quản lý người chịu trách nhiệm trong việc thiết kế và vận hành HTKSNB thực hiện

Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa rủi ro kinh doanh và rủi ro kiểm toán với chiến lược tiếp

cận rủi ro kiểm toán 3

Đặc điểm của cách tiếp cận rủi ro kinh doanh

- Đánh giá rủi ro kinh doanh thông qua việc tìm hiểu về môi trường, chiến lược và tình hình kinh doanh của đơn vị;

- Tìm hiểu về HTKSNB để đánh giá khả năng của hệ thống trong việc ứng phó với các rủi ro kinh doanh có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc đạt được mục tiêu của đơn vị và qua đó, đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu;

- Xác định mức rủi ro phát hiện chấp nhận được trên cơ sở rủi ro đã đánh giá và từ đó lựa chọn các thủ tục kiểm toán phù hợp để giảm thiểu rủi ro kiểm toán xuống mức thấp

có thể chấp nhận được

Quy trình vận dụng mô hình rủi ro kiểm toán trên cơ sở tiếp cận rủi ro kinh doanh

- Bước 1: Tìm hiểu về chiến lược kinh doanh của khách hàng;

- Bước 2: Tìm hiểu về cách thức doanh nghiệp phản ứng và kiểm soát đối với những thay đổi trong môi trường kinh doanh của khách hàng;

- Bước 3: Đánh giá rủi ro kinh doanh mà khách hàng đang đối mặt;

3 Trang 127, sách kiểm toán – Nhà xuất bản Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 15

Trang 12

- Bước 4: Xem xét khả năng có gian lẫn, sai sót do rủi ro kinh doanh mang lại;

- Bước 5: Xem xét ảnh hưởng của rủi ro kinh doanh đến rủi ro kiểm toán;

- Bước 6: Định hướng các thủ tục kiểm toán theo hướng tập trung nhiều hơn ở những khu vực có rủi ro cao

Sơ đồ 1.3 Quy trình vận dụng mô hình rủi ro kiểm toán trên cơ sở tiếp cận rủi ro kinh

doanh 4

1.2.2 Yêu cầu của các chuẩn mực kiểm toán về việc đánh giá rủi ro

1.2.2.1 Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu theo yêu cầu của VSA 315

1.2.2.1.1 Những hiểu biết cần có về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị

Theo đoạn A1 VSA 315: “Việc tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn

vị, trong đó có kiểm soát nội bộ là một quy trình liên tục và linh hoạt để thu thập, cập nhật và phân tích thông tin trong suốt quá trình kiểm toán Hiểu biết về đơn vị được kiểm toán cung cấp cho kiểm toán viên cơ sở để lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện các xét đoán chuyên môn trong suốt quá trình kiểm toán.” Những thông tin kiểm toán viên cần thu thập để đạt được sự

hiểu biết về đơn vị bao gồm:

Các yếu tố ngành nghề, pháp lý và những yếu tố bên ngoài khác, bao gồm cả khuôn khổ

về lập và trình bày BCTC được áp dụng

Các yếu tố ngành nghề mà kiểm toán viên cần phải tìm hiểu khi đánh giá rủi ro bao gồm:

- Thị trường và sự cạnh tranh, bao gồm nhu cầu, khả năng sản xuất và sự cạnh tranh về giá, mối quan hệ với khách hàng và nhà cung cấp;

- Các hoạt động kinh doanh mang tính chu kỳ hoặc thời vụ;

- Những công nghệ có liên quan tới sản phẩm của đơn vị;

- Nguồn cung cấp năng lượng và chi phí

Xem xét khả năng có gian lận, sai sót do rủi ro kinh doanh mang lại

Định hướng các thủ tục kiểm

toán theo hướng tập trung nhiều

hơn ở những khu vực có rủi ro

cao

Xem xét ảnh hưởng của rủi ro

kinh doanh đến rủi ro kiểm toán

Trang 16

Trang 13

Các yếu tố pháp lý ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của đơn vị bao gồm:

- Chế độ kế toán mà ngành nghề đang áp dụng và các thông lệ của ngành;

- Hệ thống quy định cho từng ngành nghề chịu sự quản lý của nhà nước;

- Khuôn khổ pháp lý và những quy định có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động kinh doanh của đơn vị, trong đó có các hoạt động giám sát trực tiếp;

- Các quy định về thuế bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và các loại thuế khác;

- Các chính sách, quy định khác (tiền tệ, tài khóa hay các quy định về môi trường) Bên cạnh đó, kiểm toán viên có thể củng cố thêm cho hiểu biết của mình về đơn vị thông qua việc tìm hiểu các yếu tố bên ngoài khác như tình hình kinh tế chung, lãi suất, và các nguồn vốn nhàn rỗi, lạm phát hoặc biến động tỷ giá

Đặc điểm của đơn vị được kiểm toán

Những hiểu biết về đặc điểm của đơn vị mà kiểm toán viên cần tìm hiểu bao gồm những vấn đề sau:

- Lĩnh vực hoạt động (sản xuất, thương mại, dịch vụ hay xây dựng,…);

- Loại hình sở hữu và bộ máy quản trị (cổ phần, tư nhân, trách nhiệm hữu hạn hay các doanh nghiệp FDI,…);

- Các hình thức đầu tư mà doanh nghiệp tham gia, kể cả việc đầu tư vào các doanh nghiệp không hợp nhất hay đơn vị có mục đích đặc biệt;

- Cơ cấu tổ chức, sản xuất kinh doanh và cơ cấu nguồn vốn của đơn vị (cơ cấu nợ);

- Các vấn đề liên quan đến lập và trình bày BCTC (chính sách, chế độ kế toán, quy định ngành nghề, kế toán các giao dịch phức tạp,…)

Những hiểu biết về đặc điểm của đơn vị sẽ giúp kiểm toán viên hiểu được các vấn đề sau:

- Cơ cấu tổ chức của đơn vị có phức tạp không, như có nhiều công ty con hoặc các đơn

vị thành viên hay không? Bởi vì một đơn vị có cơ cấu tổ chức phức tạp thường có thể dẫn đến khả năng hiện hữu các rủi ro có sai sót trọng yếu, chẳng hạn như xác định giá trị của các khoản lợi thế thương mại, khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết có được xác định một cách hợp lý hay không?

- Hình thức sở hữu cũng như các mối quan hệ giữa chủ sở hữu với những cá nhân, đơn

vị khác Những hiểu biết này giúp kiểm toán viên xác định được những giao dịch với các bên liên quan của đơn vị đã được ghi nhận và hạch toán phù hợp chưa

Các chính sách kế toán mà đơn vị lựa chọn áp dụng

Kiểm toán viên tìm hiểu về các chính sách kế toán mà đơn vị áp dụng bao gồm những vấn

đề sau:

- Các phương pháp kế toán dùng để hạch toán các giao dịch quan trọng, nghiệp vụ bất thường mà đơn vị áp dụng;

- Những thay đổi trong chính sách kế toán của đơn vị;

- Ảnh hưởng của các chính sách kế toán quan trọng trong các lĩnh vực mới hoặc gây tranh cãi do thiếu hướng dẫn cụ thể hay chưa thống nhất;

- Các chuẩn mực về lập và trình bày BCTC, pháp luật và các quy định mới

Mục tiêu, chiến lược và những rủi ro kinh doanh có liên quan

Trang 17

Trang 14

Mục tiêu là những yêu cầu mà ban giám đốc đơn vị đặt ra và phải đạt được trong quá trình hoạt động kinh doanh của đơn vị và được cụ thể hóa thành kế hoạch tổng thể của đơn vị Mục tiêu của đơn vị được thiết lập dựa trên các yếu tố sau: năng lực, nguồn lực của đơn vị, mong muốn của các nhà quản lý, chủ sở hữu kết hợp với tình hình của nền kinh tế và các quy định của pháp luật liên quan Chiến lược là những phương pháp hay cách thức mà đơn vị thiết lập

và sử dụng trong việc đạt được các mục tiêu nói trên

Rủi ro kinh doanh là những yếu tố có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc đạt được mục tiêu của đơn vị Đây là những rủi ro phát sinh từ môi trường kinh doanh mà đơn vị đang hoạt động, hoặc cũng có thể phát sinh từ chính hoạt động phức tạp của đơn vị Chính vì lý do đó, việc hiểu biết về rủi ro kinh doanh sẽ giúp kiểm toán viên đánh giá rủi ro một cách hiệu quả hơn và

từ đó, làm tăng khả năng nhận diện các rủi ro có sai sót trọng yếu Tuy nhiên, trách nhiệm của kiểm toán viên không phải là nhận diện hết tất cả rủi ro kinh doanh tồn tại ở đơn vị, bởi vì không phải rủi ro kinh doanh nào cũng dẫn đến rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC

Khi tìm hiểu về mục tiêu, chiến lược và những rủi ro kinh doanh liên quan có thể dẫn đến rủi ro có sai sót trọng yếu, kiểm toán viên cần quan tâm đến những vấn đề như: sự phát triển ngành nghề, sản phẩm hoặc dịch vụ mới, mở rộng phạm vi kinh doanh, những yêu cầu mới về

kế toán, những quy định pháp lý mới, những yêu cầu về nguồn vốn của đơn vị, việc sử dụng công nghệ thông tin hay ảnh hưởng của việc thực hiện chiến lược mới

Theo đoạn A33 VSA 315: “Một rủi ro kinh doanh có thể dẫn đến rủi ro có sai sót trọng yếu đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thuyết minh ở cấp độ cơ sở dẫn liệu hoặc cấp độ BCTC Ví dụ, rủi ro kinh doanh xuất phát từ việc nguồn khách hàng bị thu hẹp có thể làm tăng rủi ro có sai sót trọng yếu trong việc đánh giá các khoản phải thu.”

Việc đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của đơn vị

Việc đo lường và đánh giá kết quả hoạt động, từ bên trong hay bên ngoài đều có thể tạo ra những áp lực cho đơn vị Những áp lực này có thể là nguyên nhân thúc đẩy Ban giám đốc thực hiện những hành động nhằm cải thiện kết quả hoạt động hoặc làm sai lệch thông tin BCTC Chính vì lý do đó, việc hiểu biết về cách thức đo lường kết quả hoạt động của đơn vị sẽ giúp kiểm toán viên tập trung xem xét những áp lực trong việc đạt được mục tiêu hoạt động có thể dẫn đến việc Ban giám đốc thực hiện các hành vi gian lận, từ đó làm tăng nguy cơ có sai sót trọng yếu trên BCTC do hành vi gian lận hoặc sai sót gây ra

Theo hướng dẫn ở đoạn A38, VSA 315: “Ví dụ về các thông tin nội bộ được Ban giám đốc

sử dụng để đo lường và đánh giá kết quả hoạt động mà kiểm toán viên có thể xem xét, bao gồm:

- Những chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động chủ yếu (tài chính và phi tài chính), những

tỷ suất quan trọng, xu hướng và số liệu thống kê hoạt động;

- Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh theo từng giai đoạn;

- Kế hoạch tài chính, dự báo, phân tích biến động, thông tin về các bộ phận và các báo cáo đánh giá hoạt động của bộ phận, phòng ban hay các cấp khác;

- Đánh giá kết quả công việc cũng như chính sách lương bỗng ưu đãi cho nhân viên;

- So sánh kết quả hoạt động của đơn vị với các đối thủ cạnh tranh.”

Bên cạnh đó, việc đo lường và đánh giá kết quả hoạt động có thể giúp kiểm toán viên nhận diện được sự tồn tại của những rủi ro có sai sót liên quan đến BCTC Thí dụ, thông qua việc tìm hiểu, kiểm toán viên nhận thấy đơn vị có tốc độ tăng trưởng nhanh hoặc lợi nhuận cao bất

Trang 18

1.2.2.1.2 Tìm hiểu về HTKSNB của đơn vị được kiểm toán

Theo đoạn 12 VSA 315: “Kiểm toán viên phải tìm hiểu các thông tin về kiểm soát nội bộ của đơn vị có liên quan đến cuộc kiểm toán Mặc dù hầu hết các kiểm soát liên quan tới cuộc kiểm toán thường liên quan tới BCTC đều liên quan đến cuộc kiểm toán Kiểm toán viên phải

sử dụng xét đoán chuyên môn để xác định kiểm soát nào, riêng lẻ hay kết hợp với kiểm soát khác, có liên quan tới cuộc kiểm toán.”

Một HTKSNB cho dù có hữu hiệu đến đâu thì cũng không thể loại trừ hết rủi ro có thể ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị Bởi vì, bất kỳ HTKSNB nào cũng tồn tại những hạn chế vốn có do đó, luôn tồn tại rủi ro kiểm soát tại đơn vị Kiểm toán viên tiến hành tìm hiểu về HTKSNB làm cơ sở cho việc đánh giá rủi ro kiểm soát đối với từng khoản mục trên BCTC Việc tìm hiểu HTKSNB tại đơn vị sẽ giúp kiểm toán viên có cơ sở để đánh giá về tính hữu hiệu của kiểm soát và từ đó xác định việc có tin tưởng vào kiểm soát của đơn vị hay không?

Khi kiểm toán viên đưa ra kết luận liệu các kiểm soát khi xét riêng lẻ hay kết hợp với các kiểm soát khác có liên quan đến cuộc kiểm toán hay không, kiểm toán viên cần quan tâm đến các vấn đề sau: tính trọng yếu, rủi ro có liên quan, quy mô và đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị, các quy định hiện hành, các thành phần trong kiểm soát nội bộ áp dụng tại đơn vị

Nội dung và mức độ hiểu biết về các kiểm soát có liên quan

Khi tìm hiểu về các kiểm soát của đơn vị, kiểm toán viên cần đánh giá mặt thiết kế cũng như xem xét khả năng ngăn chặn hoặc phát hiện và sửa chữa một cách hiệu quả các sai sót trọng yếu khi xét riêng lẻ hoặc kết hợp với các kiểm soát khác Nếu một kiểm soát không được thiết kế thích hợp thì việc thực hiện kiểm soát đó cũng không mang lại lợi ích gì, do đó việc xem xét về mặt thiết kế của kiểm soát là vô cùng quan trọng Một kiểm soát không được thiết

kế phù hợp trong việc ngăn chặn hoặc phát hiện và sửa chữa sai sót là một khiếm khuyết nghiêm trọng trong kiểm soát nội bộ tại đơn vị

Kiểm toán viên có thể thu thập bằng chứng về việc thiết kế và thực hiện các kiểm soát bằng các thủ tục sau:

- Phỏng vấn Ban giám đốc và nhân sự có liên quan;

- Quan sát việc áp dụng các kiểm soát tại đơn vị;

- Kiểm tra các báo cáo và tài liệu;

- Kiểm tra các hệ thống và giao dịch trên hệ thống thông tin liên quan đến BCTC Kiểm toán viên tiến hành tìm hiểu năm thành phần của HTKSNB như sau:

- Môi trường kiểm soát: Kiểm toán viên tìm hiểu môi trường kiểm soát của đơn vị

thông qua việc xem xét các yếu tố như tính chính trực và các giá trị đạo đức, phong cách điều hành, cam kết về năng lực hay sự tham gia của Ban quản trị vào trong hoạt động kinh doanh Việc tìm hiểu về môi trường kiểm soát của đơn vị có thể giúp kiểm toán viên đưa ra được đánh giá về rủi ro có sai sót trọng yếu tại đơn vị Ví dụ, thông

Trang 19

Trang 16

qua tìm hiểu kiểm toán viên nhận thấy rằng Hội đồng quản trị của đơn vị không thực hiện một cách đầy đủ chức năng giám sát của mình sẽ là một cơ hội cho các nhân viên thực hiện các hành vi gian lận của mình

- Tìm hiểu về đánh giá rủi ro: Kiểm toán viên tiến hành tìm hiểu về quy trình đánh giá

rủi ro (nếu có) do nhà quản lý tại đơn vị thiết lập Kiểm toán viên xác định liệu đơn vị

đã có một quy trình đánh giá rủi ro liên quan đến việc lập và trình bày BCTC, liệu các nhà quản lý đã ước tính được mức rủi ro cũng như khả năng xảy ra và những hay động thích hợp để đối phó với những rủi ro này hay không? Một đơn vị không có quy trình đánh giá rủi ro thì rủi ro xảy ra sai sót trong quá trình lập và trình bày BCTC là cao hơn so với đơn vị khác Từ đó, rủi ro có sai sót trọng yếu sẽ cao và kiểm toán viên cần tăng cường các thủ tục kiểm toán thích hợp nhằm đảm bảo rủi ro kiểm toán xuống mức thấp có thể chấp nhận được

- Tìm hiểu về thông tin và truyền thông: Thực chất đây là việc tìm hiểu về những thông

tin và cách thức đơn vị trao đổi những thông tin liên quan đến việc lập và trình bày BCTC trong đơn vị Những thông tin liên quan đến việc lập và trình bày BCTC mà kiểm toán viên cần tìm hiểu như: các chu trình kinh doanh chính, quan trọng và có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC (chu trình bán hàng, mua hàng, tiền lương); các tài liệu, chứng từ kế toán, các thủ tục kiểm soát hay quy trình lập và trình bày BCTC Ví dụ, sau khi tìm hiểu kiểm toán viên nhận thấy rằng quá trình lưu chuyển chứng từ trong đơn vị có sự chậm trễ trong việc luân chuyển chứng từ từ bộ phận giao hàng đến phòng

kế toán Khi đó, kiểm toán viên sẽ phải lưu ý về việc ghi nhận đúng kỳ của doanh thu

và từ đó, có những thủ tục kiểm toán thích hợp để thỏa mãn cơ sở dẫn liệu đúng kỳ của doanh thu

- Tìm hiểu về hoạt động kiểm soát: Như đã trình bày ở trên, kiểm toán viên sẽ tiến hành

tìm hiểu những hoạt động kiểm soát mà theo xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên

là có liên quan đến cuộc kiểm toán và phục vụ cho việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC Kiểm toán viên không cần tìm hiểu hết tất cả những hoạt động kiểm soát tại đơn vị mà chỉ tập trung vào các kiểm soát có liên quan Điều này phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn của mỗi người và thông thường kiểm toán viên sẽ tìm hiểu

về những kiểm soát liên quan đến các chu trình kinh doanh chính như: chu trình thu tiền bán hàng, trả tiền mua hàng hay chu trình ghi nhận và thanh toán lương Ví dụ, kiểm toán viên tìm hiểu về những kiểm soát liên quan đến chu trình chi tiền của đơn vị

và nhận thấy việc xét duyệt chi tiền không được thực hiện đầy đủ, nhiều phiếu chi không có chữ ký của Kế toán trưởng Một khiếm khuyết trong quy trình chi tiền này có thể dẫn đến sai sót trọng yếu trên BCTC và rủi ro có sai sót trọng yếu sẽ được đánh giá

là cao

- Tìm hiểu về giám sát: Kiểm toán viên cần tìm hiểu những hoạt động giám sát liên

quan đến việc lập và trình bày BCTC Thông qua việc tìm hiểu này, kiểm toán viên sẽ đánh giá được mức độ quan tâm của các nhà quản lý đối với hệ thống kiểm soát nôi bộ của đơn vị Ví dụ, khi tìm hiểu về hoạt động giám sát của đơn vị, kiểm toán viên nhận thấy rằng đơn vị có thực hiện việc giám sát các hoạt động kiểm soát thông qua việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của đơn vị và của từng bộ phận hay giám sát việc tuân thủ các quy định trong đơn vị Từ đó, kiểm toán viên sẽ đánh giá được mức

độ rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC tại đơn vị Đối với một đơn vị có thực hiện hoạt động giám sát thì rủi ro có sai sót sẽ được đánh giá thấp hơn so với các doanh nghiệp không có hoạt động giám sát

Trang 20

Trang 17

Kiểm toán viên sẽ tiến hành tìm hiểu HTKSNB của đơn vị thông qua các phương pháp:

- Dựa vào kinh nghiệm của cuộc kiểm toán trước;

- Phỏng vấn nhà quản lý, nhân viên hoặc những người có liên quan;

- Thực hiện việc kiểm tra tài liệu;

- Quan sát các hoạt động kiểm soát và sự vận hành của chúng trong thực tế

1.2.2.1.3 Các thủ tục đánh giá rủi ro

Phỏng vấn ban giám đốc và các cá nhân khác có liên quan trong đơn vị

Phần lớn các thông tin được thu thập làm cơ sở cho việc đánh giá rủi ro của kiểm toán viên chủ yếu thông qua thủ tục phỏng vấn ban giám đốc và cá nhân có liên quan Thông qua thủ tục phỏng vấn, kiểm toán viên sẽ đánh giá được môi trường kiểm soát và từ đó, đánh giá được môi trường lập BCTC tại đơn vị Bên cạnh đó, việc phỏng vấn những cá nhân liên quan đến các hoạt động của đơn vị còn giúp kiểm toán viên có được những thông tin hữu ích làm cơ sở cho việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu tại đơn vị

Thủ tục phân tích

Thông qua thủ tục phân tích, kiểm toán viên sẽ có được những hiểu biết về đặc điểm của đơn vị làm cơ sở cho việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu tại đơn vị Thủ tục phân tích sử dụng trong quy trình đánh giá rủi ro có thể liên quan đến thông tin tài chính và phi tài chính, ví

dụ như mối quan hệ giữa số lượng nhân viên và tiền lương hay mối quan hệ giữa tỷ lệ lãi gộp của đơn vị với tỷ lệ bình quân ngành Thí dụ, khi kiểm toán viên nhận thấy rằng chi phí tiền lương cho nhân viên đột ngột giảm mạnh trong năm nay, trong khi đó, đơn vị có tuyển dụng thêm lao động, đồng thời doanh thu lại tăng Khi đó, kiểm toán viên phải đặt ra câu hỏi tại sao lại có sự bất thường này, kiểm toán viên sẽ phải có những thủ tục kiểm toán thích hợp nhằm đảm bảo rằng chi phí lương phải được ghi nhận đầy đủ Một trong những thủ tục kiểm toán có thể thực hiện là tính toán lại chi phí lương dựa trên bảng lương chi tiết của phòng nhân sự gửi, kết hợp với thực hiện phép thử Walkthrough một hợp đồng lao động để kiểm tra tính chính xác trong việc tính toán chi phí lương tại đơn vị

Quan sát và điều tra

Thủ tục này nhằm củng cố thêm cho kiểm toán viên những thông tin về đơn vị và môi trường của đơn vị Thông qua thủ tục quan sát và điều tra kiểm toán viên sẽ đánh giá được liệu đơn vị có thực hiện các thủ tục kiểm soát trong thực tế hay không? Ngoài ra, quan sát và điều tra sẽ giúp hỗ trợ cho thủ tục phỏng vấn, giúp kiểm toán viên xác định mức độ tin cậy vào các câu trả lời phỏng vấn, làm cơ sở cho việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC

Thu thập thông tin từ các cuộc kiểm toán trước

Thông tin thu thập từ các cuộc kiểm toán trước có thể sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những thông tin về đặc điểm của đơn vị và môi trường của đơn vị được kiểm toán, các sai sót trong quá khứ và việc sữa chữa những sai sót này hay những thay đổi quan trọng của đơn vị trong giai đoạn từ kỳ kiểm toán trước đến thời điểm kiểm toán hiện tại, làm cơ sở cho việc xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu tại đơn vị Khi sử dụng những thông tin thu thập được về các hiểu biết tại đơn vị trong đó có kiểm soát nội bộ từ các cuộc kiểm toán trước, kiểm toán viên cần đánh giá liệu những thông tin này có còn phù hợp cho cuộc kiểm toán hiện tại hay không Một sự thay đổi trong các hoạt động kiểm soát có thể ảnh hưởng đến tính thích hợp của những thông tin đã thu thập được, kiểm toán viên có thể phải thực hiện các thủ tục

Trang 21

Trang 18

phỏng vấn, quan sát để thu thập thêm thông tin cũng như kiểm tra tính phù hợp của những thông tin từ các cuộc kiểm toán trước

1.2.2.2 Đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu

Sau khi kiểm toán viên đã thu thập đầy đủ thông tin về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, bao gồm có HTKSNB Theo yêu cầu VSA 315, lúc này kiểm toán viên phải xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở hai cấp độ tổng thể BCTC và cơ sở dẫn liệu

Ngoài ra, những hiểu biết của kiểm toán viên về kiểm soát nội bộ của đơn vị còn có thể dẫn đến nghi ngờ về khả năng thực hiện kiểm toán cho khách hàng hay không Thí dụ:

- Những lo ngại nghiêm trọng về tính chính trực của ban giám đốc đơn vị dẫn đến kiểm toán viên kết luận rủi ro ban giám đốc cố tình trình bày sai các thông tin trên BCTC là lớn tới mức kiểm toán viên không thể thực hiện kiểm toán được, hay;

- Kiểm toán viên lo ngại về độ tin cậy của các tài liệu, hồ sơ kiểm toán của đơn vị khiến kiểm toán viên kết luận rằng khó có thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp làm cơ sở cho việc ra ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần đối với BCTC của đơn vị

Cấp độ cơ sở dẫn liệu

Xem xét rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu sẽ hổ trợ trực tiếp cho kiểm toán viên trong việc xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo Bên cạnh đó, khi xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trên cấp độ cơ sở dẫn liệu, kiểm toán viên cũng có thể kết luận rủi ro đã xác định có có ảnh hưởng rộng hơn đến tổng thể BCTC và khả năng ảnh hưởng tiềm tàng đến nhiều cơ sở dẫn liệu

Bảng 1.2 – Cơ sở dẫn liệu cho các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và trình bày, thuyết

Trang 22

là ở mức thấp có thể chấp nhận được Hơn nữa, trong trường hợp này khi rủi ro phát hiện xác định ở mức thấp cũng đồng nghĩa kiểm toán viên sẽ phải tăng cường các thủ tục kiểm toán để

có thể thu thập thêm nhiều bằng chứng kiểm toán mang tính thuyết phục hơn Mức rủi ro phát hiện được xác định sẽ là cơ sở cho kiểm toán viên thiết kế và xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán Rủi ro phát hiện là sự kết hợp giữa tính hiệu quả của thủ tục kiểm toán và việc thực hiện các thủ tục đó Do đó, nhằm đảm bảo hiệu quả cho các thủ tục kiểm toán được áp dụng, kiểm toán viên cần thực hiện đầy đủ các công việc sau:

- Kế hoạch kiểm toán phải được lập đầy đủ và thích hợp;

- Đảm bảo nhận sự cho cuộc kiểm toán được bố trí một cách hợp lý;

- Kiểm toán viên phải luôn duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp;

- Thực hiện việc giám sát, kiểm tra các công việc thực hiện

Một lưu ý rằng, cho dù các thủ tục kiểm toán được thiết kế hiệu quả đến đâu thì cũng không thể loại bỏ hết các sai sót trên BCTC do những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán Do đó, rủi

ro phát hiện luôn luôn tồn tại trong mọi cuộc kiểm toán, điều quan trọng là kiểm toán viên có thể kiểm soát mức rủi ro phát hiện này thấp đến mức tối thiểu

1.3 Lịch sử ra đời và phát triển của các chuẩn mực kiểm toán về đánh giá rủi ro

Thế giới

Vào năm 1969, tổ chức nghiên cứu kế toán quốc tế (Accountants International Study Group) đã cho xuất bản một vài báo cáo kiểm toán, đưa ra các so sánh về tình hình kế toán – kiểm toán ở các nước như Anh, Mỹ, Canada vào thời gian đó Những báo cáo kiểm toán này là nền tảng cho sự ra đời của bộ Chuẩn mực kiểm toán quốc tế Năm 1973, Uỷ ban Chuẩn mực

kế toán quốc tế (IASC) ra đời do những yêu cầu cấp thiết cần có một tổ chức quốc tế về kế toán – kiểm toán

Vào thập niên 1970, bài nghiên cứu của Maurice Moonitz – CEO tổ chức Nghiên cứu Kế toán của Hiệp hội Kế toán công chứng Hoa Kỳ (AICPA) trình bày các trường hợp thường nãy sinh trong quá trình thực hiện kiểm toán, dẫn đến sự ra đời của Hội đồng Chuẩn mực kiểm toán (IaudSC) Và cuối thập niên 1973, Hội đồng liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) thành lập

Uỷ ban thông lệ kiểm toán quốc tế (IAPC) Giữa năm 1980 và 1991, IAPC cho ban hành Hướng dẫn Kiểm toán quốc tế (IAG), và đến năm 1994 đã có 31 IAGs được ban hành Trong

đó, IAG 6 đã nêu lên những quy định về thực hiện đánh giá rủi ro và HTKSNB trong cuộc kiểm toán

Trang 23

Cũng trong thời gian này, Chuẩn mực kiểm toán “ISA 315 – Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị và môi trường của đơn vị” đã chính thức ra đời

và thay thế cho các chuẩn mực cũ ISA 310 và ISA 400, chính thức có hiệu lực từ 15 tháng 2 năm 2004

Năm 2009, IAASB đã hoàn thành dự án minh bách hóa chuẩn mực kiểm toán (Clarity Project), đã có 36 Chuẩn mực kiểm toán quốc tế mới và một Chuẩn mực về kiểm soát chất lượng có hiệu lực từ ngày 15 tháng 12 năm 2009

Việt Nam

Ngày 29 tháng 12 năm 2000, Chuẩn mực kiểm toán VSA 310 – Hiểu biết về tình hình kinh doanh ban hành theo QĐ số 219/2000/QĐ-BTC Tiếp theo, ngày 21 tháng 12 năm 2001, Chuẩn mực VSA 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ ban hành theo QĐ số 143/2001/QĐ-BTC Và VSA 330 – Thủ tục kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro ra đời theo

QĐ số 101/2005/QĐ-BTC ngày 29 tháng 12 năm 2005

Theo QĐ số 1053/2008/QĐ-BTC ngày 13 tháng 5 năm 2008, Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) được Bộ trưởng Bộ tài chính ủy quyền cho việc thực hiện soạn thảo, nghiên cứu và cập nhật Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phù hợp với Chuẩn mực kiểm toán quốc tế hiện hành Vào ngày 1 tháng 1 năm 2014, 37 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đã chính thức có hiệu lực sau 3 lần phê duyệt của Bộ tài chính

1.4 Những bài nghiên cứu về đánh giá rủi ro

1.4.1 Ảnh hưởng của kinh nghiệm kiểm toán và hướng dẫn đánh giá rủi ro gian lận một cách rõ ràng trong việc phát hiện rủi ro có gian lận khi thực hiện thủ tục phân tích - The effects of experience and explicit fraud risk assessement in detecting fraud with analytical procedures (Carol A.Knapp & Michanel C.Knapp, 2001)

Mục tiêu nghiên cứu: bài nghiên cứu này với mục đích đánh giá xem liệu có sự khác biệt

đáng kể nào trong việc đánh giá rủi ro có gian lận bằng thủ tục phân tích cơ bản giữa các kiểm toán viên có nhiều kinh nghiệm kiểm toán hơn so với các kiểm toán viên ít kinh nghiệm thực

tế Và xem xét liệu với những kiểm toán viên được hướng dẫn về việc đánh giá rủi ro có gian

Trang 24

Trang 21

lận một cách rõ ràng so với các kiểm toán viên không được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng mà chỉ thực hiện đánh giá rủi ro có gian lận trong quy trình đánh giá rủi ro chung Bài nghiên cứu này nhằm giải quyết hai vấn đề sau:

H1: Các chủ nhiệm kiểm toán (Audit Manager) sẽ thực hiện đánh giá rủi ro BCTC có gian lận hiệu quả hơn so với các trưởng nhóm kiểm toán (Audit Senior) với thủ tục phân tích cơ bản (Analytical procedure)

H2: Sự hiện diện của hướng dẫn về đánh giá rủi ro có gian lận một cách rõ ràng sẽ cải thiện hiệu quả trong việc đánh giá rủi ro BCTC có gian lận với thủ tục phân tích cơ bản

Mẫu nghiên cứu: Các tác giá chọn ra 119 kiểm toán viên (57 chủ nhiệm kiểm toán và 62

trưởng nhóm kiểm toán) đến từ 6 công ty kiểm toán quốc tế khác nhau với trình độ kiến thức, kinh nghiệm là khác nhau BCTC được chọn để phục vụ cho việc đánh giá rủi ro có gian lận là của một công ty sản xuất dược BCTC này được một công ty kiểm toán đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần trong khi thực tế BCTC lại chưa đựng sai sót trọng yếu do hành vi gian lận Sau khi BCTC này được công bố thì sau đó Uỷ ban Chứng khoán (SEC) đã phát hiện ra gian lận trên BCTC về việc khai khống khoản lợi nhuận Uỷ bán Chứng khoán này đã yêu cầu công

ty trình bày và công bố lại BCTC của mình BCTC được sử dụng trong bài nghiên cứu này là bản BCTC có gian lận

Bảng 1.3 - Bảng mô tả mức kinh nghiệm của các kiểm toán viên

Chủ nhiệm kiểm toán Trưởng nhóm kiểm toán

Gian lận Không gian

Trang 25

Trang 22

Kết quả nghiên cứu:

- Với giả thuyết H1: Các chủ nhiệm kiểm toán (Audit Manager) đánh giá khả năng có

gian lận là cao hơn so với các trưởng nhóm kiểm toán trong trường hợp các kiểm toán viên biết được mục tiêu của thủ tục phân tích cơ bản là đánh giá rủi ro BCTC có gian lận Kết quả này là phù hợp với giả thuyết H1 đã đưa ra cho mục tiêu nghiên cứu đề tài này Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, các chủ nhiệm kiểm toán đánh giá khả năng có gian lận là cao hơn trong trường hợp họ biết rõ về mục tiêu của thủ tục phân tích là đánh giá rủi ro có gian lận so với trường hợp mục tiêu của thủ tục phân tích không được thể hiện Tóm lại, những kiểm toán viên có nhiều kinh nghiệm kiểm toán hơn thì khả năng đánh giá rủi ro của họ cũng sẽ tốt hơn so với những kiểm toán viên chưa có nhiều kinh nghiệm

- Với giả thuyết H2: Theo như kết quả nghiên cứu, cả chủ nhiệm kiểm toán và các

trưởng nhóm kiểm toán có khả năng đánh giá rủi ro có gian lận trên BCTC là cao hơn trong trường hợp họ được hướng dẫn về việc đánh giá rủi ro có gian lận một cách rõ ràng (phát hiện ra nhiều vấn đề bất thường hơn) Kết quả này là phù hợp với giả thuyết H2 đã đề ra Lưu ý, kết quả cho giả thuyết H2 hoàn toàn không xét đến sự phụ thuộc của kinh nghiệm kiểm toán

- Để có thể đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do hành vi gian lận một cách hiệu quả, kiểm toán viên nên được hướng dẫn về việc đánh giá rủi ro có gian lận một cách rõ ràng Điều này có nghĩa là kiểm toán viên phải biết được việc đánh giá rủi ro có gian lận sẽ được thực hiện trong giai đoạn nào, những thông tin cần thiết cho việc đánh giá

là gì, các thủ tục để thủ thập thông tin là gì hay sự cần thiết của thủ tục phân tích cơ bản trong đánh gia rủi ro có gian lận và cách thực hiện thủ tục này như thế nào? Bên cạnh đó, để tăng khả năng phát hiện các gian lận, khi thực hiện bất kỳ thủ tục đánh giá rủi ro nào kiểm toán viên phải nhận thức được mục tiêu của thủ tục này là gì, nhằm thỏa mãn mục đích gì?

1.4.2 Vai trò của loại hình doanh nghiệp và quốc gia của khách hàng trong việc đánh giá rủi ro kiểm toán và các quyết định trong việc lập kế hoạch kiểm toán – Exploring the role of country and client type on the auditor’s client risk assessments and audit planning decisions (Michael De Martinis, Hironori Fukukawa, Theodore J.Mock, 2011)

Mục tiêu nghiên cứu: xem xét mức ảnh hưởng của loại hình doanh nghiệp và quốc gia của

khách hàng đến việc đánh giá rủi ro của kiểm toán viên, cũng như các quyết định trong việc lập kế hoạch sau đó Cụ thể, bài nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa đánh giá rủi ro và

số giờ kiểm toán theo kế hoạch Bài nghiên cứu nhằm giải quyết hai vấn đề sau:

Trang 26

Trang 23

RQ1: Đánh giá rủi ro của khách hàng và số giờ kiểm toán theo kế hoạch có liên quan đến

sự khác biệt giữa các quốc gia và loại khách hàng hay không?

RQ2: Mối quan hệ giữa việc đánh giá rủi ro của khách hàng và số giờ kiểm toán theo kế hoạch bị ảnh hưởng bởi sự khác nhau giữa các quốc gia và khách hàng?

Mẫu nghiên cứu: Dữ liệu sử dụng trong bài nghiên cứu này được lấy từ hai công ty kiểm

toán ở Úc và Nhật Bản Tại thời điểm thu thập dữ liệu, hai công ty kiểm toán này có phương pháp và cách tiếp cận kiểm toán tương tự nhau,dưa trên rủi ro và tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán tại quốc gia đó Công ty kiểm toán từ Úc là công ty kiểm toán chủ yếu cho chính phủ, công ty cung cấp dịch vụ công và các tổ chức phi lợi nhuận, mẫu được chọn là 47 hợp đồng kiểm toán lớn cho năm tài chính kết thúc ngày 31 tháng 12 năm 2001 Những hợp đồng được chọn dựa trên cơ sở là mức phí kiểm toán và mức độ sẵn có của các dữ liệu cần thiết từ các giấy tờ làm việc Mẫu nghiên cứu được chọn từ công ty kiểm toán Nhật Bản là 215 khách hàng là các công ty nhà nước, tư nhân sản xuất, bán sĩ và công ty dịch vụ Các mẫu nghiên cứu này cũng năm trong năm tài chính 2001

Kết quả nghiên cứu: Theo kết quả nghiên cứu, việc đánh giá rủi ro có sự thay đổi đáng kể

trong các cuộc kiểm toán bao gồm giữa các cuộc kiểm toán trong cùng một mẫu và giữa hai mẫu được lựa chọn Tuy nhiên, tổng số giờ kiểm toán theo kế hoạch lại không có sự thay đổi giữa hai mẫu Kết quả nghiên cứu cho thấy, rủi ro của khách hàng sẽ ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán theo kế hoạch của mẫu các công ty Nhật và không ảnh hưởng đối với các công ty của Úc Kết quả này góp phần hỗ trợ quan điểm loại hình doanh nghiệp và các quốc gia có ảnh hưởng đến phạm vi mà đánh giá rủi ro của khách hàng ảnh hưởng đến tổng số giờ kiểm toán theo kế hoạch Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cho mẫu gộp lại cho thấy rằng loại hình doanh nghiệp và quốc gia ảnh hưởng đến số giờ kiểm toán theo kế hoạch

Liên hệ đến đề tài:

- Kết quả bài nghiên cứu này rất hữu ích cho các nhà xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế, kiểm soát chất lượng kiểm toán và các lý thuyết kiểm toán ở chỗ, chúng đưa ra bằng chứng đầu tiên về sự khác biệt trong các quyết định kế hoạch kiểm toán liên quan đến các quốc gia và khách hàng là khác nhau Có nghĩa là, giữa các quốc gia khác nhau sẽ

có các quyết định trong việc xây dựng kế hoạch kiểm toán là khác nhau thậm chí khi các chuẩn mực kiểm toán áp dụng chung cho các quốc gia được thông qua

- Phục vụ cho các nghiên cứu trong tương lai về việc phân biệt rõ hơn nguyên nhân của

sự khác biệt giữa các quốc gia và khách hàng trong việc đánh giá rủi ro của khách hàng

và các quyết định về kế hoạch của kiểm toán viên

Trang 27

2.1.1.1 Công ty kiểm toán Ernst & Young toàn cầu

Ernst & Young toàn cầu là một trong những công ty dịch vụ chuyên nghiệp hàng đầu thế giới chuyên cung cấp các dịch vụ tư vấn về các lĩnh vực kế toán, kiểm toán, thuế, tư vấn doanh nghiệp và các dịch vụ tư vấn khác Hiện nay, nhân viên EY có khoảng hơn 231.000 người đang làm việc tại hơn 700 văn phòng đại diện có mặt trên hơn 150 quốc gia EY toàn cầu có trụ sở chính đặt tại thủ đô Luân Đôn, vương quốc Anh

Ernst & Young toàn cầu được sáng lập bởi hai doanh nhân Arthur Young người Anh và Alwin C Ernst người Mỹ

Arthur Young sinh năm 1983 tại Scotland, ông theo học đại học tại Glasgow, sau khi tốt nghiệp ông di cư sang Mỹ và lập nghiệp tại thành phố Chicago Arthur Young là một con người thông minh và có một niềm đam mệ lớn đối với lĩnh vực kế toán tài chính Chính vì lý

do đó, ông đã đi đến với nghề kế toán và kiểm toán thông qua việc thành lập công ty kiểm toán Arthur Young vào năm 1906

A.C.Ernst sinh năm 1881 tại bang Cleveland của Mỹ, ông là một người có nhiều niềm đam

mê và hoài bão trong sự nghiệp của mình Sau khi tốt nghiệp trung học, ông làm nhân viên kế toán cho một công ty và sau 4 năm làm việc đến năm 1903, ông cùng người anh trai của mình

là Theodore thành lập công ty kiểm toán Ernst & Ernst Ernst là người tiên phong trong việc đưa ra ý tưởng “Thông tin kế toán được sử dụng để ra quyết định kinh doanh” Hơn nữa, ông cũng là người đầu tiên quảng bá rộng rãi cho dịch vụ kế toán kiểm toán

Hai công ty này nhanh chóng thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường tài chính toàn cầu Vào khoảng đầu năm 1924, hai công ty này liên kết với các công ty kiểm toán hàng đầu của Anh như Ernst liên kết với Whinney Smith & Whinney thành lập công ty hợp danh Ernst & Whinney và Young liên kết với Broads Paterson Đến năm 1989, hai công ty này hợp nhất với nhau và thành lập công ty Ernst & Young toàn cầu như ngày nay

Ernst & Young với cam kết cung cấp cho khách hàng những dịch vụ chất lượng và chuyên nghiệp trong các lĩnh vực kế toán, kiểm toán, tư vấn thuế, tư vấn doanh nghiệp song song với việc xây dựng một môi trường làm việc chuyên nghiệp, thân thiện luôn đặt con người lên trên hết EY với sứ mênh trở thành một trong những công ty hàng đầu thế giới trong lịch vực tài chính-kế toán, nhấn mạnh tầm quan trọng của con người vào sự thành công của công ty cũng như xây dựng một nền tảng kiển thức vững chắc nhằm đảm bảo cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất

Vào năm 2013, EY đã chính thức trở thành tên gọi thay thế cho Ernst & Young trên toàn

cầu với khẩu hiệu mới là “Building a better working world” Ngày 1/7/2013, Mark A

Weinberger chính thức trở thành vị chủ tịch và CEO mới của EY trên toàn cầu

Với cơ cấu tổ chức bao gồm bốn khu vực như sau:

- EMEIA: châu Âu, Trung Đông, Ấn Độ và châu Phi;

- Americas: các nước Mỹ La-tinh;

Trang 28

Trang 25

- Châu Á – Thái Bình Dương;

- Nhật Bản

2.1.1.2 Công ty kiểm toán Ernst & Young Việt Nam

Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam được thành lập vào tháng 3/1992, là công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam trong lĩnh kế toán, kiểm toán và tư vấn Tính đến năm 2017, trải qua hơn 25 năm hình thành và phát triển EY Việt Nam hiện đang có hơn 1.000 nhân viên bao gồm cả các chuyên gia đến từ Mỹ, châu Úc, châu Âu, Malaysia, Singapore và Philipine trong các lĩnh vực kế toán, kiểm toán, thuế và tư vấn

Hiện nay, EY Việt Nam có hai văn phòng đại diện tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh với hơn 1.000 đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp trong các lĩnh vực kế toán – tài chính với nền tảng kiến thức chuyên môn vững, kỹ năng tác phong chuyên nghiệp và đạo đức tốt sẽ cam kết mang đến những dịch vụ tốt nhất cho khách hàng

Trải qua hơn 25 năm hình thành và phát triển, EY Việt Nam đã không ngừng đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của khách hàng trong bối cảnh kinh tế thị trường phát triển như ngày nay Bên canh đó, EY cam kết mang lại cho khách hàng những dịch vụ chuyên nghiệp và chất lượng nhất Chính vì lý do đó, việc chú trọng tuyển dụng những

cá nhân có nền tảng kiến thức chuyên môn vững với phẩm chất đạo đức tốt là tiêu chí hàng đầu của EY khi tuyển chọn nhân viên Hiện nay, EY đang cung cấp đa dạng các dịch vụ tư vấn, kiểm toán liên quan đến 6 lĩnh vực chính như: kiểm toán, thuế, tư vấn doanh nghiệp, phát triển thị trường, đầu tư hay các dịch vụ đặc biệt khác

Vào năm 2008, EY trở thành thành viên trực thuộc của khu vực Viễn Đông và năm 2010 tiếp tục hội nhập sâu hơn và trở thành thành viên của khu vực châu Á – Thái Bình Dương Theo thống kê của VACPA về xếp hạng các công ty kiểm toán tại Việt Nam vào năm 2016,

EY hiện đang dẫn đầu thị trường trong lĩnh vực kiểm toán cho các công ty có lợi ích công chúng, công ty cổ phần niêm yết và kiểm toán BCTC cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, EY Việt Nam cũng được đánh giá là một trong những doanh nghiệp có mức tăng trưởng doanh thu cao nhất trong 152 doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của EY Việt Nam

2.1.2.1 Sơ đồ tổ chức quản lý ở văn phòng TP HCM

Tham khảo “Phụ lục 1 – Sơ đồ tổ chức tại Ernst & Young Việt Nam”

2.1.2.2 Đội ngũ nhân viên tại Ernst & Young Việt Nam

Hiên nay, EY Việt Nam có hơn 1.000 đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp trong các lĩnh vực như: kiểm toán, thuế, tư vấn doanh nghiệp, quản trị rủi ro và các dịch vụ tư vấn khác đang làm việc tại hai văn phòng ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Đội ngũ nhân viên tại EY Việt Nam không những có kiến thức chuyên môn vững chắc trong các lĩnh vực kế toán – tài chính,

kỹ năng làm việc tốt (làm việc nhóm, giao tiếp với khách hàng, đồng nghiệp, kỹ năng ngoại ngữ) mà còn có đạo đức tốt

2.1.3 Các dịch vụ cung cấp

Ernst & Young Việt Nam là công ty cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp hàng đầu trong các lĩnh vực như kiểm toán, thuế và tư vấn trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh và được chia làm

Trang 29

Trang 26

ba bộ phận chính gồm: Bộ phận kiểm toán và tư vấn doanh nghiệp (AABS), Bộ phận Thuế (TAX), Bộ phận tư vấn kinh doanh quốc tế (TAS)

Dịch vụ kiểm toán (AABS)

Kiểm toán là dịch vụ chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của công ty và là dịch vụ mang đến nguồn doanh thu lớn nhất cho EY Với cam kết mang lại cho khách hàng dịch vụ kiểm toán chất lượng, cùng với đó là hỗ trợ khách hàng trong việc giải quyết những vấn đề khó khăn trong thực tiễn từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Các dịch vụ kiểm toán bao gồm:

- Kiểm toán BCTC theo luật định;

- Soát xét BCTC theo luật định;

- Kiểm tra thông tin tài chính trên có sở các thủ tục thỏa thuận;

- Dịch vụ điều tra gian lận và giải quyết tranh chấp;

- Dịch vụ tư vấn rủi ro và bảo mật trong công nghệ thông tin (ITRA)

Dịch vụ tư vấn thuế (TAX)

EY Việt Nam cung cấp đội ngũ các nhân viên tư vấn có kiến thức thuế chuyên sâu, tập trung vào việc tư vấn và đưa ra những giải pháp tốt nhất cho khách hàng trong các vấn đề liên quan đến thuế tại Việt Nam như:

- Dịch vụ thuế và tư vấn trong lĩnh vực kinh doanh;

- Dịch vụ hỗ trợ và quản lý nguồn nhân lực;

- Dịch vụ tư vấn thuế quốc tế;

- Dịch vụ tư vấn thuế đối với các giao dịch tái cơ cấu, mua bán và sáp nhập

Dịch vụ tư vấn doanh nghiệp (TAS)

Bộ phận tư vấn doanh nghiệp của EY chuyên cung cấp các dịch vụ tư vấn liên quan đến lĩnh vực tài chính, thương mại cho các doanh nghiệp mà chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Bộ phận TAS tại EY chuyên cung cấp các dịch vụ chủ yếu sau:

- Hỗ trợ các giao dịch tài chính;

- Định giá và lập mô hình kinh doanh;

- Dịch vụ tư vấn tài chính cho các dự án, tích hợp các giao dịch, giao dịch bất động sản;

- Hỗ trợ tái cơ cấu doanh nghiệp;

- Hay tư vấn mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

2.1.4 Nguyên tắc và phương châm hoạt đông

Nguyên tắc hoạt động của EY là chú trọng vào chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng, coi trọng vấn đề đạo đức nghề nghiệp cũng như cam kết xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, thân thiện nơi mọi người có cơ hội chia sẽ kinh nghiệm, trao đối các vấn đề chuyên môn

Phương châm hoạt động:

“Building a better working world – Xây dựng môi trường làm việc tốt hơn”

Sứ mênh:

Trang 30

Trang 27

“Ernst & Young Việt Nam cam kết cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp có chất lượng cao nhất nhằm hỗ trợ khách hàng đạt được mục tiêu của mình đồng thời thực hiện thành công kế hoạch phát triển của mỗi cá nhân và toàn thể công ty và đóng góp tích cực cho cộng đồng.”

Những thành tựu mà EY đạt được trong những năm vừa qua:

Năm 2016, EY Việt Nam đứng đầu trong các công ty kiểm toán đang hoạt động tại Việt Nam về số lượng khách hàng, số lượng nhân viên, và đặc biệt dẫn đầu về doanh thu trong lĩnh vực kiểm toán BCTC cho các công ty có lợi ích công chúng Một số khách hàng lớn của EY như: Hoàng Anh Gia Lai, Vingroup, Ô tô Trường Hải, Bảo Việt, Sabeco, Trường Thành,… Và cũng trong năm 2016, EY Việt Nam lọt vào danh sách 100 nơi làm việc tốt nhất Việt Nam do

mạng nghề nghiệp Anphabe và Công ty nghiên cứu thị trường Nielsen công bố

2.2 Quy trình kiểm toán BCTC tại công ty kiểm toán Ernst & Young Việt Nam (EY GAM)

EY GAM (EY Global Audit Methodology) là một chương trình kiểm toán mẫu được áp dụng tại các công ty kiểm toán EY trên toàn cầu EY GAM cung cấp cho các kiểm toán viên một nền tảng cơ bản về quy trình kiểm toán BCTC, cũng như giúp các kiểm toán viên có thể xác định được các công việc cần phải thực hiện cho một cuộc kiểm toán Tuy nhiên, chương tình kiểm toán mẫu EY GAM không được viết nhằm mục đích phục vụ kiểm toán cho bất kỳ một đơn vị cụ thể nào cả Chính vì lý do đó, khi áp dụng EY GAM vào trong thực tế, các kiểm toán viên cần điều chỉnh sao cho phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp mình đang kiểm toán Những nền tảng kiến thức trong EY GAM được biên soạn theo tinh thần của các chuẩn mực kiểm toán quốc tế do các kiểm toán viên cấp cao có nhiều năm kinh nghiệm biên soạn ra Một quy trình kiểm toán BCTC theo EY GAM bao gồm bốn bước như sau: giai đoạn lập kế hoạch, xác định và đánh giá rủi ro, thiết kế và thực hiện những thủ tục kiểm toán thích hợp để đối phó với những rủi ro đã đánh giá và cuối cùng là việc đưa ra kết luận cho BCTC của đơn

vị

2.2.1 Giai đoạn lập kế hoạch

Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên sẽ tiến hành xác định phạm vi của cuộc kiểm toán, và gặp gỡ ban giám đốc hay hội đồng quản trị của đơn vị để xác định những mong đợi của họ cũng như các yêu cầu của cuộc kiểm toán Bên cạnh đó, kiểm toán viên sẽ tiến hành thiết lập nhóm kiểm toán bao gồm các kiểm toán viên chuyên nghiệp có kiến thức chuyên môn cùng các chuyên gia trong các lĩnh vực như thuế hoặc công nghệ thông tin nhằm đảm bảo cuộc kiểm toán được hỗ trợ một cách tối ưu, mang đến cho khách hàng dịch vụ kiểm toán có chất lượng

Trong giai đoạn này, kiểm toán viên cần phải xác định được mục đích của cuộc kiểm toán thông qua việc trao đổi với Ban giám đốc và các thành viên Hội đồng quản trị của đơn vị được kiểm toán Bên cạnh đó, kiểm toán viên sẽ phải thống nhất với đơn vị về các mong đợi của khách hàng mà cuộc kiểm toán có thể mang lạị, cũng như các điều kiện để thực hiện cuộc kiểm toán Kiểm toán viên cần phải đạt được sự hiểu biết một cách toàn diện về đặc điểm, bản chất và môi trường kinh doanh của khách hàng, đồng thời là việc xác định những rủi ro kinh doanh liên quan có thể ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp Thông qua đó, kiểm toán viên sẽ xác định được phạm vi của cuộc kiểm toán làm cơ sở cho việc xác định thời gian, phân

bổ nguồn lực hợp lý nhằm đảm bảo cuộc kiểm toán diễn ra đúng theo thời gian đã thỏa thuận Kiểm toán viên phải xác lập mức trọng yếu trên cơ sở rủi ro đã đánh giá, xác định những

Trang 31

Trang 28

khoản mục trọng yếu và các thuyết minh quan trọng cần công bố Đồng thời nhận dạng rủi ro

có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn trên cấp độ tổng thể BCTC và cấp độ cơ sở dẫn liệu, liên kết rủi ro đã đánh giá với các khoản mục trọng yếu trên BCTC, khoanh vùng những khoản mục có rủi ro cao cần tập trung nguồn lưc

Bên cạnh đó, kiểm toán viên sẽ đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn, và những rủi ro liên quan đến BCTC ở cấp độ tổng thể BCTC và những cơ sở dẫn liệu liên quan cho những khoản mục trọng yếu và các công bố quan trọng Hơn nữa, kiểm toán viên cần phải xác định và tìm hiểu về các nhóm giao dịch trọng yếu (SCOTs), quá trình công bố những thông tin quan trọng, quy trình lập và trình bày BCTC cũng như mức độ ảnh hưởng của công nghệ thông tin (IT) đến BCTC của đơn vị, từ đó đánh giá rủi ro có sai sót trọng yêu trên

BCTC của đơn vị (Combined Risk Assessments – CRA)

2.2.3 Thiết kế các thủ tục kiểm toán đối phó với những rủi ro đã đánh giá

Trong giai đoạn này, kiểm toán viên tiến hành xác định chiến lược kiểm toán và phát triển một kế hoạch kiểm toán thông qua việc xây dựng và thiết kế các thủ tục kiểm toán để đối phó với những rủi ro có sai sót trọng yếu đã xác định Kiểm toán viên xác định nội dung, thời gian

và mực độ của các thử nghiệm kiểm soát và các thử nghiệm cơ bản mà kiểm toán viên dự định thực hiện để đối phó với những rủi ro đã đánh giá Bên cạnh đó, kiểm toán viên sẽ thực hiện những thủ tục kiểm toán đặc biệt cho những giao dịch với các bên liên quan, luật và những quy định có thể ảnh hưởng đến đơn vị, cũng như xác định xem sự hợp lý của giả định hoạt động liên tục của đơn vị và các vấn đề pháp lý có liên quan đến đơn vị được kiểm toán

Kiểm toán viên thực hiện cuộc kiểm toán khi đã đạt được những hiểu biết về các nhóm giao dịch trọng yếu, quá trình công bố các thông tin quan trọng, các kiểm soát của đơn vị và tiến hành thực hiện các thử nghiệm kiểm soát, thử nghiệm cơ bản và những thủ tục kiểm toán đặc biệt khác như kế hoạch kiểm toán Kiểm toán viên tiến hành đánh giá các kết quả đạt được và đánh giá lại rủi ro kết hợp trong suốt quá trình thực hiện cuộc kiểm toán để xác định liệu có bất kỳ thay đổi nào là cần thiết cho chiến lược kiểm toán trong việc phản ứng lại với các thay đổi rủi ro kết hợp đã được đánh giá

2.2.4 Giai đoạn hoàn thành kiểm toán

Kiểm toán viên hoàn thành cuộc kiểm toán và thông báo với Hội đồng quản trị hay các nhà quản lý về các phát hiện và những vấn đề trọng yếu phát sinh tại đơn vị được kiểm toán Bên cạnh đó, kiểm toán viên phải đảm bảo thu thập đầy các bằng chứng kiểm toán thích hợp để cung cấp sự đảm bảo hợp lý rằng BCTC xét trên phương diện tổng thể không còn chứa đựng những sai sót trọng yếu do gian lận hay nhầm lẫn Trong suốt quá trình kiểm toán, khi có bất

cư thông tin nào mới kiểm toán viên cần phải nhanh chóng cập nhật và xem xét lại các thủ tục kiểm toán đã xác định ban đầu có còn phù hợp hay không và có những thay đổi thích hợp trong các thủ tục kiểm toán

Trang 32

Trang 29 Dưới đây là sơ đồ thể hiện các công việc mà kiểm toán viên cần phải thực hiện trong suốt quá trình kiểm toán tương ứng với từng giai đoạn cụ thể

Trang 33

hàng

Xác định các giao dịch trọng yếu và quy trình trình bày

Tìm hiểu và đánh giá các

khóa sổ lập BCTC

Thực hiện thử nghiệm đối với nhật ký chung và thủ tục phát hiện gian lận

Xác định nhu cầu cần

có sự tham gia của

Lập bảng tóm tắt những ghi nhớ

hoạch về các thủ tục kiểm toán

Thực hiện các thủ tục kiểm toán chung

kiểm toán Lập chiến lược cuộc kiểm toán

Lập kế hoạch và nhận diện

rủi ro

Lập chiến lược và đánh giá rủi ro Thực hiện kiểm toán Kết luận và ra báo cáo

Trang 34

Trang 31

CHƯƠNG 3 QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY ERNST & YOUNG VIỆT NAM

3.1 Quy trình đánh giá rủi ro tại công ty Ernst & Young Việt Nam

3.1.1 Giai đoạn tiền kế hoạch

Trong giai đoạn này, kiểm toán viên sẽ tiến hành đánh giá sơ bộ rủi ro tại khách hàng để

đi đến kết luận về việc có chấp nhận kiểm toán cho khách hàng hay không Công việc đánh giá rủi ro trong giai đoạn này thường do các kiểm toán viên cấp cao như chủ phần hùn, các chủ nhiệm kiểm toán hay các trưởng nhóm kiểm toán có kinh nghiệm thực hiện

Kiểm toán viên cần phải thu thập những thông tin cơ bản về khách hàng nhằm phục vụ cho việc đánh giá sơ bộ rủi ro, xác định phạm vi kiểm toán và những yêu cầu của khách hàng, bao gồm:

- Loại hình doanh nghiệp (công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty hợp danh);

- Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp bao gồm ngành nghề kinh doanh, môi trường kinh doanh, sản phẩm cung cấp, mức độ cạnh tranh trong ngành, các nhà cung cấp chính và các khách hàng lớn của doanh nghiệp;

- Thông tin cơ bản về các bên có liên quan (công ty mẹ, công ty con, công ty liên doanh, liên kết);

- Tình hình tài chính của doanh nghiệp, bao gồm tổng tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, tổng doanh thu, lãi/lỗ,…;

- Mục địch của cuộc kiểm toán là nhằm phục vụ cho đối tượng nào (các cổ đông, nhà đầu tư, chủ nợ, ngân hàng, cơ quan thuế và các bên có liên quan khác);

- Những rủi ro kinh doanh liên quan mà doanh nghiệp có thể đối mặt (tình hình chung nền kinh tế, các quy định, yêu cầu pháp luật mới có thể ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp);

- Ý kiến của kiểm toán viên tiền nhiệm về BCTC của đơn vị

Các kiểm toán viên cấp cao sẽ tiến hành đánh giá sơ bộ rủi ro tại khách hàng dựa trên những thông tin thu thập được nhằm đảm bảo:

- Việc chấp nhận khách hàng nằm trong kênh “Thích hợp” để bảo vệ mối quan hệ với khách hàng hiện tại và các khách hàng mới;

- Xác định liệu những khách hàng tiềm năng (khách hàng mới) hoặc hiện tại mà rủi

ro hợp đồng được đánh giá là cao dẫn đến việc công ty không nên thiết lập hoặc duy trì mối quan hệ với khách hàng tiềm năng hoặc hiện tại;

- Thực hiện dịch vụ kiểm toán nằm trong khung dịch vụ cung cấp bởi EY và không liên quan đến các dịch vụ bị cấm;

- Tuân thủ tất cả các yêu cầu về luật pháp, quy định và chuyên môn, bao gồm việc tuân thủ “EYG Independence Policy”6 và “Business Relationship and Maintaining Our Independence”7;

- Phân loại được nguy cơ tham gia và cuộc kiểm toán như mức độ giám sát thấp, trung bình hay thường xuyên;

- Các thủ tục kiểm toán bổ sung có thể thực hiện được hay không để quản lý rủi ro liên quan đến những khách hàng tiềm năng hoặc hiện tại mà rủi ro cung cấp dịch vụ kiểm toán là không thấp

6 Chính sách tuân thủ tính độc lập theo EY GAM

7 Mối quan hệ với khách hàng và duy trì tính độc lập của kiểm toán viên

Trang 35

Trang 32

Bên cạnh ngoài việc đánh giá những rủi ro có thể tồn tại ở khách hàng, kiểm toán viên cũng đồng thời xem xét các vấn đề như nguồn lực kiểm toán viên mà EY hiện có, sự am hiểu chuyên môn trong lĩnh vực khách hàng đang hoạt động, để có thể xác định liệu việc chấp nhận kiểm toán cho khách hàng có làm cho mức rủi ro kiểm toán vẫn duy trì ở mức

độ thấp có thể chấp nhận được hay không Nếu kiểm toán viên xác định việc chấp nhận kiểm toán cho khách hàng là có rủi ro cao, ngay cả khi kiểm toán viên có thể thực hiện các thủ tục kiểm toán thay thế thì việc từ chối khách hàng trong trường hợp này là lựa chọn tối

ưu Kiểm toán viên phải luôn luôn xem xét việc chấp nhận khách hàng có thể ảnh hưởng đến uy tín của EY cũng như mối quan hệ với các khách hàng tiềm năng hay hiện tại hay không

Để đi đến kết luận về việc chấp nhận hoặc duy trì mối quan hệ với khách hàng, ngoài các thông tin cơ bản cần thu thập nêu trên, kiểm toán viên cần xem xét đến năm yếu tố sau:

- Tính chính trực của nhà quản lý, đây là một yếu tố trong môi trường kiểm soát của đơn vị và đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp nhỏ, hoạt động kinh doanh không phức tạp Ví dụ, một đơn vị mà các nhà quản lý có tính chính trực cũng như luôn cam kết với các giá trị đạo đức thì rủi ro họ cố tình làm sai hay gian lận sẽ giảm xuống;

- Những rủi ro có thể xảy ra đối với EY như thiệt hại về danh tiếng, nguy cơ đối mặt với các vụ kiện tụng, hay ảnh hưởng đến tài chính từ việc kiểm toán cho khách hàng đó;

- Khả năng cung cấp dịch vụ kiểm toán cho khách hàng bao gồm việc xác định liệu

có cần các nguồn lực cần thiết để thực hiện và giám sát công việc hay không (số lượng kiểm toán viên, trợ lý kiểm toán hay các chuyên gia) Bên cạnh đó, kiểm toán viên cũng cần xem xét các vần đề về kinh nghiệm và chuyên môn của kiểm toán viên liên quan đến lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp;

- Sự phù hợp giữa mức phí kiểm toán và mức độ rủi ro liên quan;

- Mối quan hệ lâu dài với khách hàng: các cuộc hẹn kiểm toán có dự kiến lặp lại trong tương lai hay không? Ví dụ, các cuộc hẹn kiểm toán một lần, trong đó khách hàng tiềm năng chỉ muốn tạm thời sử dụng danh tiếng của EY không nên được chấp nhận

Tham khảo phụ lục 2 - Bảng câu hỏi về mô tả hiểu biết và những rủi ro liên quan đến khách hàng

Dựa trên những thông tin thu thập được thông qua tìm hiểu về khách hàng và bảng tổng hợp câu hỏi cho việc mô tả rủi ro của khách hàng, các kiểm toán viên cấp cao sẽ nghiên cứu và đánh giá sơ bộ rủi ro tại khách hàng để đi đến quyết định cuối cùng của việc có chấp nhận khách hàng đó hay không Kiểm toán viên sẽ đánh giá sơ bộ rủi ro của khách hàng trên bốn cấp độ sau: Rủi ro thấp (Low Risk), trung bình (Moderate Risk), cao – cần

có sự giám sát chặt chẽ (Close - Monitoring) và rất cao – không nên thiết lập mối quan hệ với khách hàng đó

3.1.2 Giai đoạn lập kế hoạch

Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán với khách hàng, việc đánh giá rủi ro vẫn tiếp tục được thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch Trong giai đoạn này, kiểm toán viên sẽ tiến hành thu thập thông tin cho các hiểu biết của mình về khách hàng và môi trường của khách hàng làm cơ sơ cho việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu Trên cơ sở rủi ro được đánh giá, kiểm toán viên sẽ tiến hành thiết kế các thủ tục kiểm toán một cách phù hợp sao cho các mục tiêu kiểm toán đã đề ra được thõa mãn

Trang 36

Trang 33

3.1.2.1 Hiểu biết chung về đơn vị và môi trường của đơn vị

Việc hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị sẽ giúp cho kiểm toán viên xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm toán một cách hữu hiệu và hiệu quả Để đạt được điều đó, kiểm toán viên cần phải đạt được sự hiểu biết một cách đầy đủ về khách hàng cũng như môi trường của khách hàng, những hiểu biết này sẽ giúp kiểm toán viên đánh giá được những rủi ro tồn tại có thể gây ra các sai sót trọng yếu trên BCTC Bên cạnh

đó, việc hiểu biết về môi trường của đơn vị sẽ giúp kiểm toán viên xác định được những rủi ro kinh doanh mà đơn vị có thể phải đối mặt, mà những rủi ro kinh doanh này có thể dẫn đến những hành động nhằm cải thiện kết quả hoạt động của Ban giám đốc đơn vị khiến cho BCTC chưa đựng những sai sót trọng yếu do gian lận Thông qua những hiểu biết đó, kiểm toán viên sẽ đánh giá được những yếu tố có thể gây ra sai sót trên BCTC, những khoản mục trọng yếu có rủi ro sai sót cao, từ đó, có biện pháp xử lý thích hợp nhằm đảm bảo rủi ro kiểm toán ở mức thấp có thể chấp nhận được

Để đạt đươc sự hiểu biết về đơn vị và môi trường của đơn vị, kiểm toán viên phải đạt được sự hiểu biết về:

- Các xu hướng và điều kiện kinh tế xã hội, môi trường kinh doanh;

- Ngành nghề kinh doanh, các yếu tố pháp lý, quy định và các nhân tố bên ngoài khác liên quan đến hoạt động của đơn vị;

- Bản chất hoạt động của đơn vị;

- Sự lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán;

- Mục tiêu và chiến lược hoạt động của đơn vị được kiểm toán;

- Cách thức đo lường và đánh giá tình hình hoạt động tài chính của đơn vị;

- Những thông tin tài chính và phi tài chính của đơn vị, mối quan hệ giữa chúng thông qua việc thực hiện các thủ tục phân tích cơ bản ở cấp độ tổng thể

Các thủ tục kiểm toán có thể sử dụng: phỏng vấn, tài liệu (bên trong, bên ngoài: internet, báo chí, bài nghiên cứu, số liệu thống kê,…)

 Hiểu biết về bản chất của đơn vị được kiểm toán

Để đạt được hiểu biết về bản chất của đơn vị kiểm toán viên cần thu thập những thông tin liên quan đến những vấn đề sau:

- Hoạt động kinh doanh của đơn vị như: loại sản phẩm/dịch vụ, bao gồm các nghiên cứu về thiết kế sản phẩm mới (nếu có);

- Cơ cấu sở hữu và cơ cấu tổ chức của đơn vị;

- Loại hình đầu tư mà doanh nghiệp đang thực hiện và lên kế hoạch thực hiện, bao gồm đầu tư vào các doanh nghiệp có mục đích đặc biệt, các đơn vị không hợp nhất, công ty liên doanh;

- Cách thức tổ chức và hình thức tài trợ tài chính của doanh nghiệp (phát hành cổ phần, trái phiếu hay vay nợ,…)

 Việc lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán

Kiểm toán viên tìm hiểu về việc lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán tại đơn vị, bao gồm cả lý do cho bất kỳ sự thay đổi chính sách nào trong đơn vị Kiểm toán viên phải đánh giá liệu những chính sách kế toán mà đơn vị đang áp dụng là thích hợp cho hoạt động của đơn vị và nhất quán với khuôn khổ lập và trình bày BCTC đang áp dụng, cũng như phù hợp với lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động hay không

 Tìm hiểu tình hình thị trường và nhân tố môi trường tác động

Trang 37

Trang 34

Tình hình thị trường và các nhân tố trong môi trường kinh doanh có thể mang đến cơ hội và thách thức cho đơn vị Ngoài ra, chúng còn là yếu tố gây ra các rủi ro kinh doanh

mà doanh nghiệp đang và có thể sẽ đối mặt trong tương lai Những rủi ro kinh doanh này

có thể cản trở việc đạt được mục tiêu của đơn vị cũng như gây ra các sai sót tiềm tàng trên BCTC của đơn vị Do đó, việc tìm hiểu về các yếu tố này có thể giúp kiểm toán viên nhận diện và đánh giá được những rủi ro kinh doanh và rủi ro tiềm tàng có liên quan, làm cơ sở cho việc đánh giá rủi ro kết hợp Kiểm toán viên cần cân nhắc những vấn đề sau khi tìm hiểu về tình hình thị trường và các nhân tố môi trường, bao gồm:

- Tình hình chung của nền kinh tế như: xu hướng phát triển ngành, lĩnh vực, nền kinh tế;

Để thành công doanh nghiệp phải thỏa mãn hoặc ít nhất cân bằng mong muốn của các

cổ đông hay các chủ sở hữu Những mong muốn và kỳ vọng của các cổ đông có thể ảnh hưởng đến các mục tiêu và chiến lược hoạt động của đơn vị Do đó, kiểm toán viên cần xem xét ảnh hưởng của những kỳ vọng đó đến những hành động của Ban giám đốc trong quá trình đánh giá rủi ro tiềm tàng Những thông tin kiểm toán viên cần tìm hiểu, bao gồm:

- Thành phần các cổ đông của đơn vị;

- Tìm hiểu về những cổ đông then chốt của đơn vị;

- Tìm hiểu về ảnh hưởng của những mong muốn, kỳ vọng của các cổ đông then chốt đến hành động của Ban giám đốc

Thí dụ, trong năm tài chính hiện tại các cổ đông yêu cầu doanh số năm nay phải tăng gấp 1.5 lần so với năm trước Xét thấy, mong muốn này của các cổ đông đã gây ra một áp lực lớn cho các Giám đốc của đơn vị Do đó, nếu đến cuối năm Ban giám đốc nhận thấy tình hình kinh doanh của công ty không tốt và không thể đáp ứng mong muốn của các cổ đông, Ban giám đốc có thể đối mặt với nguy cơ bị phạt Chính vì lý do đó, Ban giám đốc

có xu hướng thực hiện những hành vi gian lận trong doanh thu như khai không doanh thu

để đạt được mục tiêu mong muốn của các cổ đông và tránh được khả năng bị xử phạt

 Mục tiêu và chiến lược hoạt động của đơn vị

Kiểm toán viên tiến hành tìm hiểu về các mục tiêu và các chiến lược hoạt động của đơn

vị, cũng như những rủi ro kinh doanh mà doanh nghiệp đang đối mặt và có thể gây cản trở tới việc đạt được các mục tiêu đã đề ra Từ những hiểu biết này, kiểm toán viên sẽ đánh giá được khả năng Ban giám đốc thực hiện những hành vi gian lận trên BCTC nhằm cải thiện kết quả hoạt động để đạt được các mục tiêu đề ra Bên cạnh đó, việc tìm hiểu này còn giúp kiểm toán viên đánh giá liệu những mục tiêu đề ra này có khả thi và có khả năng

Trang 38

Trang 35

thực hiện đối với khả năng kinh doanh của đơn vị hiện tại hay không? Kiểm toán viên sẽ đánh giá được những yếu tố trên BCTC có rủi ro cao bị sai sót do các hành vi gian lận, từ

đó, thiết kế các thủ tục kiểm toán thích hợp nhằm đối phó với những rủi ro đó

 Cách thức đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của đơn vị

Kiểm toán viên sẽ phải tìm hiểu về cách thức đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của đơn vị Ban giám đốc sẽ xem xét và đánh giá các yếu tố kết quả mà họ cho rằng là quan trọng để kiểm tra liệu các kết quả hoạt động kinh doanh có đạt được những mục tiêu đề ra hay không? Việc đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính sẽ tạo ra các áp lực cho công ty Đối với các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán, kiểm toán viên cần phải tìm hiểu về những mong đợi của các cổ đông, nhà đầu tư đối với doanh nghiệp Những thông tin này sẽ giúp kiểm toán viên đánh giá được cách thức mà các nhà quản lý, nhân viên thực hiện các hành vi gian lận của mình để đạt được các mục tiêu kế hoạch đã đề

ra Ví dụ, khi doanh nghiệp có chính sách thưởng cho Giám đốc kinh doanh nếu doanh số trong năm đạt được mức doanh số theo kế mục tiêu đã đề ra, lúc này giám đốc kinh doanh

sẽ có xu hướng khai khống doanh thu nhằm đảm bảo đạt được mức doanh thu mục tiêu và nhận được phần thưởng Trong tình huống này, kiểm toán viên cần phải đặc biệt lưu ý khi nhận thấy doanh số năm nay tăng đột biến trong khi đó nền kinh tế thì đang khó khăn Lúc này, kiểm toán viên sẽ phải đánh giá rủi ro tiềm tàng liên quan đến cơ sở dẫn liệu phát sinh của doanh thu là cao và cần tập trung nguồn lực cũng như các thủ tục kiểm toán phải được thiết kế phù hợp nhằm đảm bảo doanh thu không bị ghi nhận khống

 Thực hiện thủ tục phân tích cơ bản cho các thông tin tài chính và phi tài chính

Kiểm toán viên thực hiện các thủ tục phân tích tổng thể thông tin tài chính và phi tài chính của đơn vị, bổ sung các yêu cầu về quản lý tài chính và hoạt động Vấn đề ghi nhận doanh thu thường xuyên là nguồn gốc của các trường hợp gian lận được xác định Chính vì

lý do đó, kiểm toán viên sẽ phải thực hiện những thủ tục phân tích liên quan đến doanh thu nhằm xác định những biến động bất thường trong doanh thu và các tài khoản liên quan khác Ví dụ, khi nhận thấy doanh thu năm nay tăng cao bất thường, trong khi giá vốn lại giảm lúc này kiểm toán viên sẽ phải đặt câu hỏi là tại sao lại không có sự tương thích như vậy, đây có thể là dấu hiệu cho hành vi ghi nhận doanh thu khống Bên cạnh đó, việc phân tích mối quan hệ giữa các thông tin tài chính và phí tài chính cũng có thể giúp kiểm toán viên phát hiện ra các dấu hiệu bất thường Thí dụ, phân tích mối quan hệ giữa số lượng nhân viên và chi phí tiền lương

Kết luận: Khi thu thập các thông tin phục vụ cho việc đạt được sự hiểu biết về đơn vị và

môi trường của đơn vị, kiểm toán viên cần phải xác định liệu các thông tin thu thập được

từ khách hàng có liên quan đến việc xác định các yếu tố rủi ro hay không Để có thể thu thập những thông tin trên, kiểm toán viên cần phải thực hiện kết hợp các thủ tục kiểm toán sau đây:

- Xem xét lại các thông tin thu thập được từ cuộc kiểm toán trước hoặc các thông tin

từ các cuộc kiểm toán khác trong cùng ngành;

- Phỏng vấn Ban giám đốc, nhưng cá nhân phù hợp có liên quan đến kiểm soát nội

bộ của doanh nghiệp (nếu có) và những cá nhân khác có liên quan;

- Thực hiện thủ tục phân tích thông tin tài chính và phi tài chính;

- Quan sát các kiểm soát trong thực tế và điều tra các dấu hiệu bất thường Kiểm toán viên thực hiện thủ tục quan sát và điều tra nhằm củng cố cho các hiểu biết của mình

về đơn vị thông qua các thủ tục đánh giá rủi ro trình bày ở trên

Khi đạt được sự hiểu biết về đơn vị và môi trường của đơn vị, kiểm toán viên phải xác định các yếu tố rủi ro, bao gồm các rủi ro kinh doanh của đơn vị Kiểm toán viên phải xác

Trang 39

Trang 36

định rằng liệu các yếu tố nguy cơ này có phải là rủi ro tiềm tàng hay không Sau đó, kiểm toán viên sẽ đánh giá rủi ro tiềm tàng liên quan đến tổng thể BCTC và từng cơ sở dẫn liệu

cụ thể cho các khoản mục và các thuyết minh quan trọng

Theo EY GAM, khi tìm hiểu về đơn vị và môi trường của đơn vị, kiểm toán viên cần phải tìm hiểu vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là trong công tác kế toán của doanh nghiệp Kiểm toán viên phải xác định được các ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến cuộc kiểm toán hiện tại

Tham khảo phụ lục 3 - Sơ đồ thể hiện việc tìm hiểu về khách hàng kiểm toán tại EY

3.1.2.2 Tìm hiểu về HTKSNB của khách hàng và thực hiện phép thử Walkthrough

EY GAM yêu cầu kiểm toán viên phải thực hiện việc tìm hiểu các thành phần trong HTKSNB tại doanh nghiệp làm cơ sở cho việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC (rủi ro kiểm soát), cũng như xác định ảnh hưởng hiệu quả của các thành phần này đối với chiến lược kiểm toán cho đơn vị Việc tìm hiểu HTKSNB của doanh nghiệp là bước vô cùng quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch, giúp kiểm toán viên đánh giá được các sai sót trọng yếu trên BCTC do gian lận hay nhầm lẫn, cũng như xác định mức độ tin tưởng vào kiểm soát của đơn vị để có thể thiết kế các thủ tục kiểm toán phù hợp

3.1.2.2.1 Môi trường kiểm soát

Kiểm toán viên cần phải thu thập thông tin liên quan đến các khía cạnh sau của môi trường kiểm soát, bao gồm:

- Tính chính trực, các giá trị đạo đức, hành vi ứng xử của các nhà quản lý cấp cao;

- Ý thức quản trị và phong cách điều hành của nhà quản lý;

- Sự cam kết về năng lực;

- Sự tham gia quản lý và giám sát của Hội đồng quản trị vào hoạt động của doanh nghiệp;

- Cơ cấu tổ chức, phân chia quyền hạn và trách nhiệm;

- Các chính sách và thực tiễn liên quan đến nhân sự, quy trình tuyển dụng

Kiểm toán viên sẽ tiến hành đánh giá ảnh hưởng của sự thiếu vắng các yếu tố của môi trường kiểm soát đối với việc xác định xem môi trường kiểm soát của đơn vị là hữu hiệu trong việc giúp ngăn ngừa hoặc phát hiện và điều chỉnh các sai sót trọng yếu hay không

Thủ tục thực hiện: Thu thập tài liệu, quan sát thái độ, tác phong làm việc của nhân

viên, xem xét sơ đồ cấu trúc tổ chức, xem xét các chính sách liên quan đến tuyển dụng

3.1.2.2.2 Đánh giá rủi ro

Kiểm toán viên sẽ tìm hiểu xem khách hàng có quy trình cho việc:

- Nhận diện và đánh giá các rủi ro kinh doanh có liên quan đến việc lập và trình bày BCTC;

- Ước tính tầm quan trọng của rủi ro;

- Đánh giá khả năng xảy ra của chúng và;

- Xác định các hành động thích hợp để đối phó với các rủi ro này

Nếu như đơn vị có thiết lập quy trình đánh giá rủi ro, kiểm toán viên sẽ phải tìm hiểu về cách thức hoạt động cũng như là hiệu quả mà quy trình này đem đến trong việc nhận dạng

và đối phó với các rủi ro

Khi kiểm toán viên xác định có rủi ro có sai sót trọng yếu mà quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị không xác định đươc, và kiểm toán xác định những rủi ro mà kiểm toán viên mong đợi này sẽ được xác định bởi quy trình đó, kiểm toán viên cần:

Trang 40

Nếu đơn vị chưa có một quy trình đánh giá rủi ro, kiểm toán viên cần phải:

- Phỏng vấn Ban giám đốc đơn vị về việc liệu những rủi ro kinh doanh có liên quan đến mục tiêu BCTC đã được xác định chưa và cách thức đơn vị đối phó với những rủi ro này;

- Đánh giá xem liệu sự vắng mặt của một quy trình đánh giá rủi ro đã được xác định trong hoàn cảnh cụ thể;

- Hay đây được xem là một sự thiếu sót đáng kể và là một khiếm khuyết nghiêm trọng trong HTKSNB của đơn vị

Thủ tục thực hiện: xem xét các báo cáo, biên bản họp ban giám đốc, hội đồng quản trị,

xem xét các báo cáo quản trị hàng tháng, quý của ban giám đốc,…

3.1.2.2.3 Giám sát

Kiểm toán viên tìm hiểu về các hành động được thực hiện bởi các nhà quản lý, Hội đồng quản trị trong việc đánh giá tính hữu hiệu của HTKSNB Kiểm toán viên tiến hành phỏng vấn nhà quản lý về nguồn thông tin họ sử dụng trong các hoạt động giám sát và mức

độ hài lòng của họ đối với độ chính xác của những thông tin này Kiểm toán viên cũng cần phải tìm hiểu, bằng cách phỏng vấn các nhà quản lý về những hành động mà họ sẽ thực hiện nếu như họ xác định có khiếm khuyết trong các hoạt động kiểm soát tại đơn vị Đồng thời, kiểm toán viên phải thu thập bằng chứng kiểm toán để chứng minh rằng các hoạt động giám sát mà đơn vị thiết lập là có hiện hữu trong thực tế

Bên cạnh đó, kiểm toán viên cũng phải xác định rằng đơn vị có bộ phận kiểm toán nội

bộ hay không, nếu câu trả lời là có, kiểm toán viên cần phải tìm hiểu về chức năng, nhiệm

vụ và trách nhiệm của bộ phận kiểm toán nội bộ đối với kiểm soát nội bộ của đơn vị nói chung và hoạt động giám sát các kiểm soát nói riêng Một đơn vị có hoạt động giám sát hữu hiệu sẽ giúp phát hiện kịp thời các khiếm khuyết, từ đó có những biện pháp thích hợp

để khắc phục các yếu kém Nhờ đó, nguy cơ xảy ra các sai sót trọng yếu trên BCTC sẽ được giàm thiểu

3.1.2.2.4 Thông tin và truyền thông

Kiểm toán viên sẽ thu thập hiểu biết về cách thức đơn vị truyền đạt thông tin về vai trò

và trách nhiệm của các cá nhân liên quan đến việc lập và trình bày BCTC và bất kỳ những vấn đề trọng yếu nào liên quan đến BCTC, bao gồm:

- Truyền đạt thông tin giữa ban giám đốc và các thành viên Hội đồng quản trị;

- Truyền thông với bên ngoài như các cơ quan chức năng, các nhà cung cấp hay khách hàng;

- Truyền thông giữa các bộ phận nhân viên về các chính sách, quy định hay các mục tiêu của đơn vị

Kiểm toán viên cần thu thập những thông tin sau đây để củng cố cho những hiểu biết của mình về hoạt động truyền thông của đơn vị:

- Nhiệm vụ và trách nhiệm của các nhà quản lý, ban giám đốc trong việc truyền đạt những thông tin liên quan đến việc lập và trình bày BCTC cho các cá nhân có trách nhiệm liên quan

Ngày đăng: 29/10/2019, 21:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w