Nhóm phương pháp dạy học môn học Giáo dục thể chất cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân Sau Tr.108 học GDTC cho sinh viên Học viện ANND n=35 Sau Tr.108 phương pháp dạy học môn học Giá
Trang 1VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
=================
THIỀU TÂN THẾ
ỨNG DỤNG NHÓM PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC MÔN TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Ở HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận án
Thiều Tân Thế
Trang 4Trang bìa
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục ký hiệu viết tắt trong luận án
Danh mục đơn vị đo lường trong luận án
Danh mục các biểu bảng, biểu đồ trong luận án
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề đổi mới phương
1.5 Yêu cầu, nguyên tắc và tiêu chuẩn lựa chọn phương pháp dạy
học đại học và dạy học môn học Giáo dục thể chất
32
1.6 Vai trò của công tác rèn luyện thân thể đối với sức khoẻ của
cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng Công an nhân dân và với sinh viên
Học viện ANND
37
Trang 52.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 56
3.1 Khảo sát đánh giá thực trạng dạy học các môn thể thao
trong chương trình Giáo dục thể chất ở Học viện An ninh nhân dân
64
3.1.1 Xác định các yếu tố cơ bản chi phối tới hiệu quả môn học
Giáo dục thể chất tại Học viện An ninh nhân dân
64
3.1.2 Thực trạng các yếu tố chi phối tới hiệu quả môn học Giáo
dục thể chất tại Học viện An ninh nhân dân
66
3.2 Lựa chọn các nhóm phương pháp dạy học phù hợp trong
dạy học Giáo dục thể chất ở Học viện An ninh nhân dân
92
3.2.1 Căn cứ khoa học lựa chọn nhóm phương pháp dạy học Giáo
dục thể chất cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân
92
3.2.2 Xác định nhóm phương pháp dạy học Giáo dục thể chất cho
sinh viên Học viện An ninh nhân dân
97
3.2.3 Kiểm định mức độ phù hợp của nhóm phương pháp dạy học
cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân qua phỏng vấn các đối tượng
có liên quan
108
3.2.4 Kết quả lựa chọn các nhóm phương pháp dạy học các môn
trong chương trình Giáo dục thể chất ở Học viện An ninh nhân dân qua
phương pháp hội thảo khoa học
109
3.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các nhóm phương pháp 117
Trang 6An ninh nhân dân
Trang 71 Các chữ viết tắt:
CHXHCNVN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 8Số TT Tên bảng Trang
Danh mục các bảng
hiệu quả môn học GDTC tại Học viện ANND (n=32)
viên GDTC tại Học viện ANND về mục tiêu dạy học và vai trò của người thầy trong dạy học GDTC (n=9)
69
viên Học viện ANND (n=376)
70
Học viện ANND (n=1283)
73
Học viện ANND năm học 2015-2016
74
Học viện ANND (n=9)
Sau Tr.75
học GDTC tại Học viện ANND (n=9)
77
phương pháp dạy học GDTC tại Học viện ANND (n=9)
Sau Tr.79
phương pháp dạy học GDTC tại Học viện ANND (n=367)
Sau Tr.79
GDTC tại Học viện ANND (n=12)
81
Trang 9Bảng 3.15 Kết quả phỏng vấn phân nhóm PPDH GDTC trong
chương trình GDTC tại Học viện ANND (n=32)
98
GDTC cho sinh viên Học viện ANND
Sau Tr.99 Bảng 3.17 Nhóm phương pháp dạy học môn học Giáo dục thể chất
cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân
Sau Tr.108
học GDTC cho sinh viên Học viện ANND (n=35)
Sau Tr.108
phương pháp dạy học môn học Giáo dục thể chất cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân (n=15)
Sau Tr.110
thể chất cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân
Sau Tr.110
trong dạy học môn Điền kinh cho sinh viên nhóm thực nghiệm
Sau Tr.119
trong dạy học môn Bơi lội cho sinh viên nhóm thực nghiệm
Sau Tr.119
trong dạy học môn tự chọn Bóng chuyền cho sinh viên nhóm thực nghiệm
Sau Tr.119
nhóm thực nghiệm thời điểm trước khi học môn Điền kinh (n=391)
120
nhóm thực nghiệm thời điểm trước khi học môn Bơi (n=391)
Sau Tr.120
nhóm thực nghiệm thời điểm trước khi học môn Bóng
Sau Tr.120
Trang 10Bảng 3.27 So sánh tỷ lệ đạt tiêu chuẩn thể lực của sinh viên nhóm
đối chứng và nhóm thực nghiệm thời điểm trước khi học môn Điền kinh (n=391)
121
đối chứng và nhóm thực nghiệm thời điểm trước khi học môn Bơi
Sau Tr.121
đối chứng và nhóm thực nghiệm thời điểm trước khi học môn Bóng chuyền (n=97)
Sau Tr.121
chuyền (tự chọn) của sinh viên nhóm đối chứng và thực nghiệm, thời điểm sau thực nghiệm
122
nhóm thực nghiệm thời điểm sau khi học môn Điền kinh (n=391)
124
nhóm thực nghiệm thời điểm sau khi học môn Bơi (n=391)
Sau Tr.124
nhóm thực nghiệm thời điểm sau khi học môn Bóng chuyền (n=97)
Sau Tr.124
đối chứng và nhóm thực nghiệm thời điểm sau khi học môn Điền kinh (n=391)
125
đối chứng và nhóm thực nghiệm thời điểm sau khi học môn Bơi
Sau Tr.125
đối chứng và nhóm thực nghiệm thời điểm sau khi học môn Bóng chuyền (n=97)
Sau Tr.125
Trang 11Điền kinh thời điểm kết thúc thực nghiệm
Bơi thời điểm kết thúc thực nghiệm
Sau Tr.126
chọn Bóng chuyền thời điểm kết thúc thực nghiệm
Sau Tr.126
pháp dạy học môn Điền kinh, Bơi và Bóng chuyền thời điểm kết thúc môn học
128
Danh mục các sơ đồ
Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ sinh viên thi qua lần 1 của nhóm đối chứng và thực
nghiệm thời điểm kết thúc thực nghiệm
123
Biểu đồ 3.2 So sánh phân loại kết quả học tập môn Điền kinh của
nhóm đối chứng và thực nghiệm, thời điểm kết thúc thực nghiệm
Sau Tr.123
Biểu đồ 3.3 So sánh phân loại kết quả học tập môn Bơi lội của nhóm
đối chứng và thực nghiệm, thời điểm kết thúc thực nghiệm
Sau Tr.123 Biểu đồ 3.4 So sánh phân loại kết quả học tập môn Bóng chuyền của
nhóm đối chứng và thực nghiệm, thời điểm kết thúc thực nghiệm
Sau Tr.123
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
Học viện An ninh nhân dân, tiền thân là Trường Huấn luyện Công an được thành lập ngày 25/6/1946 Cùng với sự phát triển chung của hệ thống giáo dục quốc dân, Học viện ANND đã có những bước phát triển quan trọng, đóng góp to lớn cho
sự nghiệp giáo dục, đào tạo của Ngành Trải qua hơn 70 năm xây dựng và phát triển, Học viện ANND đã, đang và ngày càng khẳng định vị thế và uy tín của một
cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của ngành Công an
Ngày 22/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1229/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Quy hoạch tổng thể, nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong Công an nhân dân đến năm 2020” Trong đó, nội dung của Đề án chỉ rõ “Ưu tiên đầu tư, phát triển Học viện ANND trở thành cơ
sở đào tạo, nghiên cứu khoa học đầu ngành, có chất lượng cao, làm nòng cốt cho sự phát triển của hệ thống giáo dục, đào tạo Công an nhân dân”
Ngày 26/6/2015, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định số BCA-X11 công nhận Học viện ANND là cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của ngành Công an Đây là dấu mốc quan trọng ghi nhận quá trình xây dựng, phát triển
3969/QĐ-và những đóng góp của Học viện ANND trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo, đồng thời là tiền đề vững chắc, là cơ sở đảm bảo cho Học viện phát triển nhanh và bền vững, trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm quốc gia vào năm 2020 Sớm đạt các tiêu chuẩn theo Thông tư số 24/2015/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục đại học
Dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ, Ban giám đốc, Học viện ANND đã không ngừng phát triển trở thành cơ sở đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, là trung tâm nghiên cứu khoa học hàng đầu của ngành Công an, có uy tín trong hệ thống các trường đại học; từng bước xây dựng được cơ cấu tổ chức bộ máy phù hợp chức năng, nhiệm
vụ trường đại học trọng điểm với đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đủ về
số lượng, chuẩn về trình độ và cơ cấu chức danh, cơ sở vật chất được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, hiện đại, tiến tới đạt chuẩn theo qui mô đào tạo và yêu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học
Thực hiện Nghị quyết số 29 (Khoá XI) của Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, trong những năm qua, Học viện đã chủ động, tích cực triển khai xây dựng và đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, chương trình đào
Trang 13tạo theo chủ trương chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Bộ Công an Nhờ đó, chương trình đào tạo các bậc học, ngành học được xây dựng, hoàn thiện, đảm bảo tính hiện đại, bám sát yêu cầu của thực tiễn và sự phát triển của lý luận nghiệp vụ cũng như tính liên thông về hệ thống kiến thức các bậc học đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ bảo vệ ANQG và nhu cầu đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho
Trong tổng thể chương trình giáo dục, đào tạo chung của Học viện ANND, môn Giáo dục thể chất (GDTC) là môn học bắt buộc thuộc khối kiến thức cơ bản đại cương trong chương trình khung giáo dục đại học, khoa học an ninh với mục tiêu đào tạo như sau: Giáo dục và nâng cao các kỹ năng vận động cơ bản cho học viên; nâng cao thể chất cho các học viên và sinh viên; bồi dưỡng phương pháp tập luyện thể thao suốt đời cho người học
Trong nhiều năm qua Bộ môn Quân sự - Võ thuật - TDTT của Học viện ANND đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong công tác giảng dạy và huấn luyện TDTT Hàng năm học viên tốt nghiệp ra trường đã có thể lực và kỹ năng vận động
cơ bản tương đối tốt đáp ứng được yêu cầu của công tác thực tế
Tuy vậy, nghiêm túc nhìn nhận công tác giảng dạy môn GDTC ở Học viện ANND vẫn còn tồn tại một số mặt hạn chế dẫn tới hiệu quả công tác GDTC chưa thực sự cao Chương trình môn học GDTC tại học viện ANND được xây dựng với
3 tín chỉ, trong đó có 2 tín chỉ bắt buộc và 1 tín chỉ tự chọn Phân phối chương trình
đa dạng cả về lý thuyết và thực hành; đội ngũ giảng viên có trình độ cao; cơ sở vật chất tương đối đầy đủ… tuy nhiên, việc sử dụng các PPDH của giảng viên qua quan sát và nhận định của một số chuyên gia còn chậm đổi mới, chưa tiếp cận xu thế phát triển của lý luận dạy học chung cũng như lý luận dạy học thể dục thể thao nói riêng
Trang 14Phương pháp dạy học tốt có thể tận dụng triệt để và tối ưu các điều kiện dạy học như trình độ kinh nghiệm người thầy, điều kiện phương tiện dạy học…, nhằm phát huy tối đa được tính tích cực học tập của người học, đạt được các kết quả học tập cao nhất Tuy nhiên, vấn đề này trên thực tế tại Học viện ANND lại chưa được quan tâm hợp lý
Vấn đề nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các PPDH đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu như: Đồng Văn Triệu (2006) [70], Đỗ Hữu Trường (2008) [738], Nguyễn Hải Bằng (2016) [8], Chu Thị Thu Huyền (2013) [30], Trần Thị Hồng Việt (2016) [80] và gần đây nhất là tác giả Lê Vương Anh (2018) [1]… Các tác giả đã nghiên cứu về cả vấn đề giảng dạy lý thuyết cũng như giảng dạy thực hành TDTT nhưng phần lớn mới tiến hành nghiên cứu cho sinh viên chuyên TDTT hoặc nghiên cứu phương pháp dạy học lý thuyết hay thực hành trong giảng dạy một môn học hay một môn thể thao, còn việc nghiên cứu các phương pháp tập luyện TDTT cho các đối tượng tập luyện không chuyên và đặc biệt là sinh viên khối các trường lực lượng vũ trang thì chưa có tác giả nào quan tâm nghiên cứu
Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc đổi mới, sử dụng phương pháp dạy học các môn trong chương trình GDTC ở trong các học viện, trường đại học công an nhân dân (CAND) nói chung và Học viện ANND nói riêng Tôi nghiên cứu đề tài:
“Ứng dụng nhóm phương pháp dạy học các môn trong chương trình giáo dục thể chất ở Học viện An ninh nhân dân”
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, lựa chọn và xây dựng các PPDH khoa học, tích cực, hợp lý và có hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy học các môn GDTC tại Học viện ANND Bước đầu ứng dụng được các nhóm PPDH đã lựa chọn và xây dựng trong thực tế và đánh giá hiệu quả Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy các môn trong chương trình GDTC cho sinh viên Học viện ANND, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên trong Nhà trường
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu 1: Khảo sát đánh giá thực trạng dạy học các môn thể thao trong
chương trình GDTC ở Học viện ANND
Trang 15Mục tiêu 2: Lựa chọn các nhóm PPDH phù hợp trong dạy học GDTC ở
Học viện ANND
Mục tiêu 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các nhóm phương pháp giảng
dạy các môn trong chương trình GDTC cho sinh viên Học viện ANND
Giả thuyết khoa học của đề tài
Kết quả dạy học môn học GDTC tại học viện ANND chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Yếu tố chính ảnh hưởng chưa tốt tới kết quả học tập môn học GDTC của sinh viên Học viện ANND là giảng viên sử dụng các PPDH chưa thực sự phù hợp, có hiệu quả Nếu xác định được các nhóm PPDH khoa học, tích cực, hợp lý và
có hiệu quả áp dụng trong dạy học GDTC tại Học viện ANND sẽ giúp nâng cao được chất lượng dạy học các môn trong chương trình GDTC, từ đó nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên trong Nhà trường
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời người đã có một thời kỳ trực tiếp làm công tác dạy học đó là vào những năm đầu của thế kỷ 20 Bác đã làm thầy của nhiều em nhỏ ở Trường Dục Thanh tỉnh Phan Thiết Năm 1911, Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước ở khắp các nước trên thế giới, năm 1929 Bác Hồ trở về Quảng Châu Trung Quốc với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người đã mở lớp huấn luyện chính trị cho các thanh niên yêu nước của Việt Nam để đào tạo các cán bộ nòng cốt cho cách mạng Việt Nam Ở các lớp học này, Bác Hồ đã thể hiện một phong cách mẫu mực trong giảng dạy Các bài giảng của Bác được biên soạn không theo kiểu “Bày sẵn kiến thức” mà Người sử dụng lối cấu trúc theo hướng phát huy tính tích cực động não suy nghĩ của người học Trong quá trình dạy học Bác đã luôn quan tâm tới việc chọn các nội dung sao cho thiết thực không quá “nặng” hoặc quá “nhẹ” Người nói “trong quá trình dạy học, nếu chương trình quá nặng thì dù vận dụng bất
cứ cách nào học viên cũng không thể tiếp thu được” [25]
Cũng theo Bác Hồ thì việc cải tiến nội dung và phương pháp dạy học thì không chỉ là lựa chọn các chất liệu mà còn là cải tiến cách xác định liều lượng và
bố trí sao cho phù hợp với các mục tiêu đào tạo để từ đó giúp người học đào sâu suy nghĩ hiểu kỹ hiểu sâu để từ đó đề ra và trình bày ý kiến của mình góp phần làm
sáng tỏ chân lý Bác từng nói “những người làm thầy giáo phải tránh kiểu nhồi sọ
không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu nhưng nhiệm vụ được giao thì không thành được” [28]
Để khắc phục dạy học theo kiểu “nhồi sọ”, Người dạy phải vận dụng triệt để
nguyên lý dạy học “học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn” Với quan điểm này Bác Hồ đã dạy “Lý luận cốt để ứng dụng vào thực tế, lý luận mà không áp
dụng vào thực tế là lý luận xuông Dù xem được hàng vạn quyển lý luận nếu không biết đem ra thực hành thì có khác nào các hòm đựng sách” [29]
Đặc biệt Bác còn đặc biệt coi trọng phương pháp dạy học trong quá trình dạy học Bác nhấn mạnh “phải tìm cách dạy để người học biết tự học làm cốt, dùng chỉ
Trang 17đạo và thảo luận trợ giúp vào” Ở đây, vai trò của người thầy giáo và của tập thể được Người đề cập đến như một người trang bị cho học sinh về phương pháp học tập, tư duy và nhận thức Đồng thời khắc phục lối dạy học thụ động, truyền thụ một chiều, cần tổ chức dạy học bằng phương pháp thảo luận, tăng cường đối thoại thầy trò và tập thể học sinh Chỉ có như vậy mới phát huy được tính tích cực nhận thức của người học Chính quan điểm và tư tưởng giáo dục này của Bác trở thành đặc trưng của hệ phương pháp dạy học phát huy tính tích cực nhận thức của người học [28]
Quán triệt và thực hiện tư tưởng, quan điểm của Bác về đổi mới phương pháp dạy học, Đảng và Nhà nước ta đã định hướng cho công tác đổi mới phương pháp dạy học thông qua các Báo cáo chính trị, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Chính phủ cũng như các lời huấn thị của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ sau thống nhất đất nước năm 1975 đến nay, Đảng ta hết sức coi trọng đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo trong đó có đổi mới hình thức và phương pháp giáo dục đào tạo
Năm 1979, Bộ Chính trị Khóa IV đã ban hành Nghị quyết số: 14-NQ/TW ngày 11 tháng 01 năm 1979 về cải cách giáo dục Nghị quyết nêu mục tiêu của cải cách giáo dục lần này là “làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi
ấu thơ cho tới lúc trưởng thành, nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể và phát triển toàn diện” Nguyên lý cải cách giáo dục là việc học phải đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội Nội dung chủ yếu của công tác cải cách giáo dục lần này gồm ba mặt: cải cách cơ cấu của hệ thống giáo dục, cải cách nội dung giáo dục và cải cách phương pháp giáo dục Nghị quyết nêu hệ thống giáo dục mới của nước ta là: “một thể thống nhất và hoàn chỉnh”, bao gồm: “giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và đại học; mạng lưới trường, lớp tập trung và mạng lưới trường, lớp không thoát ly sản xuất và công tác” Nghị quyết nhấn mạnh biện pháp cải tiến chương trình học và biên soạn sách giáo khoa mới; tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho các trường học bằng cách tăng đầu tư; kiện toàn tổ chức quản lý và tăng cường công tác quản lý của ngành giáo dục; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học giáo dục Đây là nghị quyết đầu
Trang 18tiên về chuyên đề giáo dục sau khi đất nước được thống nhất, có nhiều vấn đề cần
cụ thể hoá bằng các chính sách, các đề án để thực hiện, từ xác định mục tiêu cụ thể, sắp xếp lại cơ cấu hệ thống cho đến vấn đề biên soạn sách giáo khoa thống nhất cho các cấp học bậc học Nghị quyết số 14-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá IV) là một Nghị quyết rất quan trọng Nó đặt nền móng cho công cuộc cải cách giáo dục của đất nước trong những năm 80 của thế kỷ XX Do vậy, việc cải cách toàn diện nền giáo dục nước nhà là một việc rất cần thiết và cấp bách Nhu cầu xây dựng một hệ thống giáo dục thống nhất là nhu cầu thực tiễn đặt ra tại thời điểm ban hành Nghị quyết [9]
Năm 1993, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa VII đã ra Nghị quyết số: 04-NQHNTW ngày 14/01/1993 về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và
đào tạo, trong đó, một trong mười chủ trương, chính sách và biện pháp lớn là: “Đổi
mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học Kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Chú ý bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu” [3] Như vậy, vấn đề đổi mới phương pháp dạy và
học ở tất cả các cấp học đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Đảng ta, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có kỳ họp riêng bàn về một số vấn đề xã hội, trong đó tập trung xem xét sâu rộng vấn đề giáo dục, đào tạo và ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục, đào tạo Đây
là Nghị quyết đáp ứng lòng mong đợi từ lâu của toàn Đảng, toàn dân ta, nhất là đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên trong cả nước, về việc xác định quan điểm, chủ trương, chính sách, biện pháp tiếp tục phát triển mạnh mẽ
sự nghiệp giáo dục Nghị quyết không những chỉ ra những giải pháp cấp bách để xử
lý những vấn đề nóng bỏng đối với công tác giáo dục và đào tạo mà còn định hướng lâu dài cho việc phát triển sự nghiệp này theo cương lĩnh và chiến lược của Đảng ta cho đến sau năm 2000, nhằm chuẩn bị cho nhân dân ta, đặc biệt cho thế hệ trẻ vững bước tiến vào thế kỷ XXI
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Muốn tiến hành công nghiệp
Trang 19hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Để thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương quyết định định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến nǎm 2000, trong đó, một trong 4 giải pháp chủ
yếu là đổi mới công tác quản lý giáo dục, trong đó khẳng định: “Các chủ trương về
chính sách giáo dục, những đổi mới về nội dung, quy trình, phương pháp giáo dục, đánh giá, thi đều phải dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng và trải qua thực nghiệm, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đưa vào nhà trường theo đúng quy định” [4] Như vậy, việc cải cách phương pháp giáo dục đã bắt đầu được chú trọng
về chất lượng
Tại Đại hội IX, về vấn đề giáo dục và đào tạo, Nghị quyết nêu rõ: “ Tiếp tục
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và
học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện “chuẩn hoá, hiện
đại hoá, xã hội hoá” Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào tự học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập” Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội” Coi trọng công tác hướng nghiệp
và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương Xây dựng quy hoạch đào tạo nhân lực theo phương thức kết hợp học tập trung, học từ xa, học qua máy tính [5] Như vậy, vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học đã được đặt ra rất rõ ràng trong giải pháp phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn này
Trong Luật Giáo dục năm 2005 cũng đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”, đặc biệt, trong giáo dục đại học, “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực
Trang 20hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”
[49] Như vậy, vấn đề về phương pháp giáo dục, đào tạo đã được Đảng và Nhà nước ta quy định ngay trong Luật Giáo dục, văn bản pháp quy cao nhất trong vấn
đề giáo dục tại Việt Nam
Trong Nghị quyết Số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế cũng đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [7] Có thể nói, quan
điểm trên của Đảng cộng sản Việt Nam đã thể hiện sự đổi mới về tư duy giáo dục toàn diện, về những vấn để nổi bật, quan trọng nhất trong nền giáo dục Việt Nam Như vậy, các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đều tập trung vào việc xây dựng nền giáo dục thực học, thực nghiệp và dân chủ Điều đó đã được thể hiện rõ trên các bình diện mục tiêu: Hình thành, phát triển năng lực thực tiễn cho người học, quán triệt yêu cầu hướng nghiệp để thực hiện phân luồng mạnh sau trung học cơ sở và bảo đảm tiếp cận nghề nghiệp ở trung học phổ thông; trao quyền
và trách nhiệm tổ chức kế hoạch dạy học cho cơ sở giáo dục phù hợp với yêu cầu của địa phương, tạo điều kiện cho người học được lựa chọn môn học và hoạt động giáo dục phù hợp sở trường và nguyện vọng; phát huy tính năng động, tư duy độc lập và sáng tạo của người học Trong đó, yếu tố được cho là quyết định chính là sự tương tác đồng bộ của các thành tố trong các phương pháp dạy học tích cực (người dạy, người học, học liệu, môi trường…) Việc kết hợp hài hòa giữa dạy kiến thức công cụ với kiến thức phương pháp, đặc biệt chú trọng dạy cách học, phương pháp
tự học để người học có thể học tập suốt đời
Từ ưu thế của các phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức dạy học mới đã triển khai trong những năm gần đây như: Phương pháp bàn tay nặn bột, giáo dục
Trang 21trải nghiệm sáng tạo, giáo dục STEM Việc đổi mới phương pháp dạy học cần được thực hiện trên cơ sở phân hóa đối tượng, các căn cứ về điều kiện, loại hình năng lực và phẩm chất cần phát triển ở người học Cũng chính từ đó để lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học phù hợp, tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong tổ chức dạy học thông qua việc sử dụng các mô hình học tập kết hợp giữa lớp học truyền thống với các lớp học trực tuyến
Cùng với việc tổ chức cho người học thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn việc học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường Chú trọng đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học để nâng cao chất lượng dạy học theo chiều sâu Tăng cường xây dựng các mô hình học tập gắn với thực tiễn Cùng với đó cần tăng cường hơn nữa các hoạt động giao lưu, hợp tác nhằm thúc đẩy hứng thú học tập, rèn luyện kỹ năng sống, nâng cao hiểu biết về các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới…
Giáo viên tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập cần tạo ra môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề nhằm khuyến khích người học tích cực tham gia các hoạt động học tập Chính người thầy giáo phải khơi gợi, khuyến khích học sinh tự khẳng định năng lực và nguyện vọng của bản thân, đồng thời rèn cho các em thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và vận dụng hiệu quả những kiến thức, kỹ năng đã tích lũy Từ đây tạo tiền đề để phát triển con người toàn diện trong bối cảnh phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0, hướng tới một nền giáo dục Việt Nam hiện đại và hội nhập quốc tế
1.2 Khái quát về phương pháp dạy học và phương pháp dạy học Thể dục thể thao
1.2.1 Một số khái niệm có liên quan
Để tìm hiểu khái quát về phương pháp dạy học và phương pháp dạy học TDTT, trước tiên, chúng tôi tìm hiểu về một số khái niệm có liên quan tới vấn đề nghiên cứu như:
1.2.1.1 Khái niệm “Phương pháp”
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê [45], Phương pháp có nghĩa là cách thức, nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội (phương pháp biện chứng, phương pháp thực nghiệm) hoặc là hệ thống các cách sử
Trang 22dụng để tiến hành một hoạt động nào đó (Phương pháp học tập, làm việc có phương pháp) Theo vấn đề nghiên cứu của luận án, chúng tôi tiếp cận ý nghĩa thứ
2, phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó
Các tác giả Lecne I.Ia (1984) [37], Phan Trọng Ngọ (2005) [41] và Phạm Viết Vượng (2014) [84] đã tiếp cận khái niệm “phương pháp” theo ngôn ngữ gốc bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: "Metodos" có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định Khái niệm này gần tương đương với khái niệm tiếp cận trong Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê và cộng sự
Cũng tiếp cận từ góc độ tương tự, Nguyễn Bá Kim (2009) sử dụng khái niệm: “Phương pháp là con đường, cách thức để đạt mục đích nhất định” [36] Hay tác giả I.Ia Lecner (1997) đã sử dụng khái niệm: “Phương pháp là xây dựng hoạt động và các hình thức của nó, với một trình tự nhất định với những phương tiện tương ứng để đạt mục đích dự kiến” [38]
Như vậy, tiếp cận với những nghĩa rộng, hẹp, nông sâu khác nhau, trong thực tế ta còn hiểu phương pháp là hệ thống những quy tắc, nguyên tắc, quy phạm dùng để chỉ đạo kỹ thuật; là tổ hợp các bước đi, là quy trình mà trí tuệ phải đi theo
để tìm ra và chứng minh chân lý, phương pháp còn được hiểu theo nghĩa kế hoạch được tổ chức hợp lý trong quản lý Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu luận án, chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm: “Phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó”
1.2.1.2 Khái niệm “Phương pháp dạy học”
Có rất nhiều tác giả đã tiếp cận về phương pháp dạy học dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể tham khảo các quan điểm của một số tác giả sau:
Theo quan điểm của Lecne I Ia (1997), PPDH là một hệ thống hành động
có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức các hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo học sinh lĩnh hội nội dung học vấn [38] Ở quan điểm này, Lecne I.Ia đã tuyệt đối hóa vai trò của người thầy trong dạy học, người thầy đóng vai trò chủ đạo và đảm bảo lượng kiến thức học trò lĩnh hội, như vậy, người học hoàn toàn thụ động
Cũng tiếp cận dưới góc độ của Lecne I Ia., nhóm tác giả Trần Thị Tuyết Oanh, Phạm Khắc Chương, Phạm Tuyết Vượng, Bùi Minh Hiền, Nguyễn Ngọc Bảo, Bùi Văn Quân, Phan Hồng Vinh, Từ Đức Văn (2011) cho rằng: PPDH là cách
Trang 23thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học [44] Hay Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức (2013) sử dụng quan điểm: PPDH ở đại học là tổng hợp các cách thức hoạt động của giáo viên và sinh viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở đại học góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, kĩ thuật, cán bộ quản lí, nghiệp vụ có trình độ đại học [26] Có thể nói, đây là cách tiếp cận phản ánh quan niệm cũ về vai trò của người giáo viên trong quá trình dạy học Theo quan niệm này thì giáo viên là nhân vật trung tâm, giữ vai trò chủ đạo, hoạt động tích cực, còn học sinh thì thụ động thực hiện những điều thầy dạy Quan niệm đó cũng dẫn tới coi các PPDH đều là phương pháp của thầy
Tiếp cận ở một góc độ khác, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Khánh Bằng (2009) [66] cho rằng: PPDH là tổng hợp các cách thức làm việc, phối hợp thống nhất của thầy và trò (trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo, trò đóng vai trò tích cực- chủ động) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Ở đây, dễ dàng nhận thấy, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn và Lê Khánh Bằng đã tiếp cận dưới cả góc độ người thầy đóng vai trò chủ đạo, nhưng người trò không tiếp thu thụ động mà đóng vai trò tích cực- chủ động trong quá trình tiếp thu kiến thức Cũng theo góc độ này, tác giả Trịnh Trung Hiếu (1999) sử dụng khái niệm: Phương pháp giảng dạy là những hình thức, những biện pháp được đặt ra trong quá trình giảng dạy để hoàn thành tốt các nhiệm
vụ đề ra [21], tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1990) [47] cho rằng: "PPDH là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tự lực đạt tới mục đích dạy học" Như vậy, khác so với các quan điểm cũ đã trình bày, các tác giả đã tiếp cận theo một khái niệm mới, PPDH là một sự kết hợp ngang hàng của hai hoạt động dạy và học Nhiệm vụ truyền tri thức của thầy cũng quan trọng như nhiệm vụ lĩnh hội tri thức của trò
Có một quan điểm xuất hiện hiện sau khi lý thuyết về sự lĩnh hội tri thức ra đời Theo quan điểm này thì dạy học chính là quá trình tổ chức cho sinh viên lĩnh hội tri thức Vai trò của sinh viên trong quá trình dạy học là vai trò chủ động Nói khác đi thì phương pháp học tập, xuất phát từ các qui luật của sự lĩnh hội tri thức quyết định hoạt động của giáo viên, phương pháp dạy của giáo viên Tiếp cận từ quan điểm này, có thể tham khảo một số tác giả: Theo tác giả Bùi Hiển, Vũ Văn
Trang 24Tảo, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh (2013) sử dụng khái niệm: PPDH là cách thầy tiến hành việc dạy nội dung đi đôi với việc dạy cách học cho trò trau dồi phương pháp tự học, để nắm vững nội dung dạy học đồng thời để rèn luyện cách học suốt đời [22]; Tác giả Phạm Viết Vượng (2014) coi: PPDH là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp, tương tác giữa giáo viên và học sinh, nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kĩ năng kĩ xảo, thực hành sáng tạo và thái độ chuẩn mực theo mục tiêu của quá trình dạy học [84]; Tác giả Lê Đức Ngọc (1996) cho rằng: PPDH là một “khoa học và cũng là một nghệ thuật” Tính khoa học của PPDH đại học đòi hỏi phải hiểu rõ bản chất của quá trình đào tạo đại học Tính nghệ thuật của việc dạy học đại học thể hiện ở năng lực truyền đạt của giáo viên sao cho khơi dậy được tiềm năng tiếp thu, phát triển và sáng tạo của người học để nhận thức, để cảm nhận và để có kỹ năng cao [42]…
Nói chung, khi định nghĩa về PPDH, tuy các tác giả đề cập tới nhiều mặt của quá trình dạy học, nhưng mặt hoạt động tương tác giữa thầy và trò được nhiều tác giả quan tâm và đi sâu nghiên cứu nhất
Về tính chất quá trình dạy học này có hai mặt: Dạy của thầy và học của trò Hai mặt, hoạt động này có mối quan hệ biện chứng Do đó, PPDH không chỉ hoạt động của giáo viên hoặc chỉ của sinh viên Mà phải là tổng hợp các cách thức làm việc chung cả giáo viên và sinh viên, trong đó giáo viên đóng vai trò chủ đạo, sinh viên đóng vai trò tích cực, chủ động
Tiếp cận từ góc độ này, luận án sử dụng khái niệm: “Phương pháp dạy học
là cách thức hoạt động phối hợp, tương tác giữa người dạy và người học, giúp người học chủ động, tự giác, tích cực chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học, nhằm mục đích thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học”
1.2.1.3 Khái niệm “Phương pháp dạy học Thể dục thể thao”
Tương tự như các phương pháp dạy học, phương pháp dạy học Thể dục thể thao cũng đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu như:
Tác giả Đồng Văn Triệu (2006) trong luận án tiến sĩ của mình đã sử dụng khái niệm: PPDH môn Lí luận và phương pháp TDTT là hệ thống những biện pháp, cách thức dạy và học nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học và mục tiêu đào tạo môn học Trong đó, phương pháp học là chủ động tích cực, phương pháp giảng dạy
là tổ chức hướng dẫn [79]
Trang 25Tác giả Lecne.I.Ia (1984) khi nghiên cứu về cơ sở của phương pháp dạy học
đã cho rằng: “Phương pháp giảng dạy TDTT là phương thức vận dụng tập luyện cơ thể trong giáo dục TDTT” [37]
Tác giả Khúc Miên Nghị, Lý Tường (2000) khi nghiên cứu về giáo dục thể thao đã cho rằng: “PPDH TDTT là các phương thức công tác mà thầy và trò sử dụng để hoàn thành nhiệm vụ dạy và học TDTT để thực hiện mục đích dạy học TDTT” [86]
Các tác giả Exipov (1977), Kharlamop (1979) trong các nghiên cứu của mình đã sử dụng quan điểm: “PPDH TDTT là những phương pháp mà thầy và trò dựa vào đó để đạt được mục đích dự định” [15], [35]
Trong luận án Tiến sĩ của mình, tác giả Lê Vương Anh (2018) đã tiếp cận quan điểm: PPDH TDTT đều giải quyết các nhiệm vụ dạy học, được thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo viên và sinh viên thông qua các phương tiện dạy học để đạt được mục đích dạy học [1]
Như vậy, có thể thấy các quan điểm về PPDH TDTT được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu lý luận dạy học tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi sử dụng quan điểm: PPDH TDTT là cách thức giải quyết các nhiệm vụ dạy học TDTT thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo viên và sinh viên thông qua các phương tiện dạy học để trang bị kỹ năng,
kỹ xảo vận động, phát triển thể chất và tạo thói quen vận động suốt đời cho người học
1.2.2 Đặc điểm cơ bản của phương pháp dạy học đại học và phương pháp dạy học Thể dục thể thao
1.2.2.1 Đặc điểm cơ bản của phương pháp dạy học đại học
Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ, đặc điểm của nhà trường hiện nay, căn cứ vào bản chất của quá trình dạy học, có thể thấy đặc điểm cơ bản của phương pháp dạy học đại học gồm:
- Phương pháp dạy học đại học gắn liền với ngành nghề đào tạo ở trường
đại học Đặc điểm này thể hiện tính mục đích đào tạo của nhà trường đại học Nó
đòi hỏi giảng viên khi tìm chọn các phương pháp dạy học Các bộ môn khoa học cơ bản, cơ sở chuyên ngành và chuyên ngành đều phải hướng vào mục tiêu đào tạo
Trang 26của nhà trường, đặc biệt chú ý đến việc rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho sinh viên [33], [34]
- Phương pháp dạy học đại học gắn liền với thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc
sống và sự phát triển của khoa học và công nghệ Đặc điểm này phản ánh mối quan
hệ có tính quy luật giữa dạy học với thực tiễn cuộc sống, dạy học với sự phát triển khoa học và công nghệ Đòi hỏi giảng viên đại học trong quá trình giảng dạy phải luôn bám sát yêu cầu của thực tiễn kinh tế - xã hội và sự phát triển khoa học và công nghệ, đặc biệt là sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông mới để cập nhật
và kịp thời đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo ở đại học [32], [39]
- Phương pháp dạy học đại học ngày càng tiếp cận với phương pháp nghiên
cứu khoa học Đặc điểm này phản ánh yêu cầu cao về mục đích, nội dung, phương
pháp dạy học ở đại học Nó đòi hỏi giảng viên trong quá trình dạy học phải chú ý trình bày các tư tưởng, quan điểm khác nhau, các học thuyết khác nhau, các giải pháp khác nhau về một vấn đề nào đó; đặc biệt phải quan tâm đến việc bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên [53], [55]
- Phương pháp dạy học đại học có tác dụng phát huy cao độ tính tự giác,
tích cực, độc lập và sáng tạo của sinh viên Đặc điểm này, một mặt phản ánh yêu
cầu của mục đích, nội dung dạy học ở đại học, mặt khác phản ánh đặc điểm của đối
tượng sinh viên, lứa tuổi đang trưởng thành, đang “phát triển về trí tuệ” Đòi hỏi
giảng viên phải tôn trọng ý kiến của sinh viên trong quá trình dạy học đại học; tổ chức, hướng dẫn sinh viên tích cực tham gia hoạt động học tập, tự học và nghiên cứu khoa học Đặc biệt, trong giảng dạy, giảng viên dùng phương pháp giúp sinh
viên sáng tạo “cái mới” trong khoa học [64]
- Phương pháp dạy học đại học phong phú, đa dạng, nó thay đổi tùy theo
trường đại học, đặc điểm, điều kiện của bộ môn, phương tiện dạy học, đặc điểm nhân cách của giảng viên và sinh viên Đặc điểm này phản ánh tính chất phong
phú, đa dạng, phức tạp của hoạt động dạy học ở đại học, đòi hỏi giảng viên trong giảng dạy phải vận dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt, sáng tạo sao cho đảm bảo các yếu tố nói trên, đặc biệt là phù hợp với đặc điểm bộ môn, đặc điểm của sinh viên và trình độ của chính bản thân mình [65]
Trang 27- Phương pháp dạy học đại học ngày càng gắn liền với các thiết bị và các
phương tiện dạy học hiện đại
Dạy học môn học GDTC trong các trường đại học nói chung và trong Học viện ANND nói riêng cũng có đầy đủ các đặc điểm về phương pháp dạy học đại học đã kể trên
1.2.2.2 Đặc điểm phương pháp dạy học Thể dục thể thao
Dạy học TDTT đã hình thành và phát triển từ thế kỷ 19 cho đến nay trải qua hàng trăm năm cũng đã hình thành nên một số khái niệm tuy có khác nhau về cách trình bày song đều có chung bản chất là dạy học vận động
Giáo dục thể chất và văn hóa thể chất đã hình thành khá sớm cùng lịch sử loài người Do vậy loài người đã sớm hình thành nên các phương pháp giáo dục thể chất Song phương pháp dạy học môn GDTC thực sự mới được phát triển từ khi nền giáo dục và đào tạo được phát triển từ cuối thế kỷ 19 đến nay Trải qua hàng trăm năm phát triển cộng với quá trình đi sâu nghiên cứu đổi mới tìm tòi, các học giả giáo dục học và lý luận dạy học TDTT đã sớm hình thành nên 1 loạt các phương pháp dạy học truyền thống đối với môn GDTC như:
- Phương pháp giảng giải
- Phương pháp thị phạm (còn gọi là trực quan trực tiếp): làm mẫu động tác
- Phương pháp trực quan gián tiếp mô hình, tranh vẽ
- Phương pháp tập luyện lặp lại
- Phương pháp tập luyện dòng chảy
- Phương pháp trò chơi
- Phương pháp thi đấu
Đến cuối thế kỷ 20 cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ Các học giả nghiên cứu về phương pháp dạy học TDTT đã sáng tạo thêm các phương pháp khác nhau như:
- Phương pháp tập luyện vòng tròn
- Phương pháp dạy học tích cực
- Phương pháp dạy học ứng dụng công nghệ thông tin
Do mục tiêu của môn GDTC là ngoài việc dạy kỹ thuật thể thao còn phải tập luyện nâng cao các tố chất thể lực cho người học Bởi vậy trong dạy học môn
Trang 28GDTC còn sử dụng các phương pháp dạy học để phát triển thể chất cho người học như các phương pháp sau:
- Phương pháp nâng dần độ khó (cự ly, tốc độ )
- Phương pháp biến tốc
- Phương pháp giãn cách …
Trong giảng dạy kỹ thuật TDTT còn sử dụng một số phương pháp như:
- Phương pháp tập luyện nguyên vẹn
- Phương pháp phân chia hợp nhất
1.2.3.1 Cách phân loại phương pháp dạy học đại học
Việc phân loại các PPDH là một số vấn đề hết sức phức tạp Hiện nay ở nước ta cũng như ở nước ngoài đã và đang tồn tại nhiều cách phân loại khác nhau,
do đó có nhiều hệ thống phân loại khác nhau, sau đây, Tác giả luận án đưa ra các cách phân loại PPDH được các nhà khoa học quan tâm nhiều nhất
Theo I Ia Lecne (1997) [38], dựa trên mức độ sáng tạo trong nhận thức của học sinh chia PPDH thành các nhóm: nhóm phương pháp giải thích - minh họa, nhóm phương pháp tái hiện, phương pháp trình bày nêu vấn đề, tìm hiểu từng phần, nghiên cứu
Hilbert Meyer (2014) [20,Tr.99 ], tác giả đã mô tả cấu trúc PPDH theo mặt bên trong và mặt bên ngoài Mặt bên ngoài của PPDH: Là những hình thức bên ngoài hoạt động của giáo viên và người học trong dạy học, có thể nhận biết ngay khi quan sát giờ học Mặt bên trong của PPDH: Là những thành phần dễ dàng nhận biết ngay, thông qua ngay, qua quan sát giờ dạy cần có sự quan sát kĩ và phân tích
để nhận biết chúng
Trong công trình nghiên cứu của mình về phương pháp dạy và học đại học, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn và Lê Khánh Bằng (2009) [66] đã phân loại PPDH đại học thành 5 nhóm: Các phương pháp kích thích sinh viên tự giác học tập; Các
Trang 29phương pháp trình bày và nắm vững thông tin mới Ở đây, các phương pháp thông báo (giảng giải, minh họa), nêu vấn đề, nghiên cứu dạy học chương trình hóa và các phương pháp cụ thể như diễn giảng, đọc sách, tự học ; Các phương pháp rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo (luyện tập); Các phương pháp củng cố và hệ thống hóa tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và các phương pháp kiểm tra - đánh giá uốn nắn tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, tổ chức thi sát hạch, bảo vệ khóa luận, luận văn
Tiếp cận từ các quan điểm khác, cũng có những tác giả phân loại PPDH thành
2 nhóm: Phương pháp dạy học truyền thống: Là những phương pháp đã có từ lâu, hiện nay vẫn được sử dụng như phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại vấn đáp, phương pháp trực quan Phương pháp dạy học không truyền thống: Là những PPDH theo định hướng hoạt động hóa người học, xuất phát từ những yêu cầu và bản chất của quá trình nhận thức như: phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề, phương pháp nghiên cứu tình huống, phương pháp hợp tác theo nhóm Một cách phân loại thường được sử dụng rộng rãi trong dạy học đại học ở Việt Nam hiện nay là phân thành 4 nhóm: Nhóm PPDH sử dụng ngôn ngữ, nhóm PPDH trực quan, nhóm PPDH thực hành và nhóm PPDH kiểm tra - đánh giá kết quả học tập Chúng tôi tiếp cận cách phân loại này trong quá trình nghiên cứu tiếp theo của luận án
1.2.3.2 Cách phân loại phương pháp dạy học môn Giáo dục thể chất
Về cách phân loại và việc xác định các đặc điểm của các nhóm phương pháp dạy học môn GDTC của các học giả trong và ngoài nước cho thấy Hầu hết các học giả về lý luận và phương pháp giáo dục thể chất trong và ngoài nước như Novicop
và Matveep (1979) (Nga), Hàn Quế Phong (2003) (Trung Quốc), Nhiếp Lâm Hổ (2003) (Trung Quốc), Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (2006) (Việt Nam) đều đem các phương pháp dạy học môn GDTC phân thành các nhóm phương pháp sau:
- Nhóm phương pháp dùng lời nói chữ viết
- Nhóm phương pháp trực quan, thị phạm, hình ảnh mô hình …
- Nhóm phương pháp tập luyện
- Nhóm phương pháp trò chơi và thi đấu
Ngoài ra một số học giả nước ngoài như: Babanxki, Exipov (Nga), Hàn Quế Phong, Nhiếp Lâm Hổ (Trung Quốc) còn đưa vào hệ phương pháp dạy học môn GDTC thêm 1 nhóm phương pháp mới đó là nhóm phương pháp dạy học phát
Trang 30huy tính tích cực học tập của học sinh như dạy học nêu vấn đề, xinema hoặc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học TDTT Các nhà khoa học trong và ngoài nước đều có quan điểm chung về việc xác định các đặc điểm chung của các nhóm phương pháp:
Đặc điểm chung của các nhóm phương pháp dạy học môn GDTC là phải tuân thủ 5 nguyên tắc về phương pháp giáo dục thể chất là:
- Nguyên tắc tự giác tích cực
- Nguyên tắc trực quan
- Nguyên tắc thích hợp và cá biệt hóa
- Nguyên tắc hệ thống
- Nguyên tắc tăng dần yêu cầu
Đối với nhóm phương pháp dạy học dùng lời nói chữ viết có đặc điểm là: lợi dụng hệ thống tín hiệu 2 là ngôn ngữ chữ viết để xây dựng biểu tượng vận động một cách nhanh chóng và chính xác Đồng thời thông qua ngôn ngữ có thể kịp thời uốn nắn sai lệch kỹ thuật, kích thích động viên được sự chú ý và nâng cao được tính tích cực học tập
Đối với nhóm phương pháp trực quan có đặc điểm là tận dụng các cơ quan nghe nhìn và các cơ quan cảm thụ khác phối hợp chặt chẽ với nhóm phương pháp dùng lời nói chữ viết thúc đẩy nhanh quá trình hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động cho người tập
Nhóm phương pháp tập luyện là nhóm phương pháp quan trọng hàng đầu trong việc hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động, đặc điểm cơ bản của nhóm phương pháp này là thông qua các hình thức và phương pháp tập luyện khác nhau giúp người học nhanh chóng hình thành biểu tượng vận động và tiến tới việc hình thành
kỹ năng kỹ xảo vận động
Đặc điểm của nhóm phương pháp trò chơi và thi đấu là giúp người học có thể vận dụng kỹ thuật học được vào việc nâng cao kỹ thuật thể lực và thành tích học tập môn GDTC Đây cũng là phương pháp tạo ra hứng thú, tích cực sáng tạo cho người học
Đặc điểm nổi bật của phương pháp dạy học phát huy tính tích cực nhận thức của người học (gọi tắt là dạy học tích cực) là 1 phương pháp dạy học chú trọng tới quá trình tâm lý của người học đặc biệt là chú ý tới việc hình thành và phát triển
Trang 31động cơ hứng thú học tập, tập luyện, nghiên cứu, tìm cách hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập Nhóm phương pháp này coi trọng gợi mở tính độc lập sáng tạo của người học Đặc biệt trong thời kỳ bùng nổ thông tin thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một phương pháp quan trọng của nhóm phương pháp dạy học tích cực
Với đặc điểm dạy học môn học GDTC tại Học viện ANND, luận án sử dụng cách phân chia nhóm phương pháp sau:
- Nhóm phương pháp dạy học chung: Bao gồm phương pháp sử dụng lời nói
và phương pháp trực quan Đây là nhóm phương pháp sử dụng trong toàn bộ quá trình dạy học GDTC, cả lý thuyết và thực hành
- Nhóm phương pháp dạy học lý thuyết: Sử dụng trong quá trình dạy học lý thuyết trong chương trình môn học GDTC
- Nhóm phương pháp dạy học động tác: Sử dụng trong quá trình trang bị kỹ năng vận động, kỹ thuật các môn thể thao
- Nhóm phương pháp phát triển thể lực: Sử dụng trong quá trình phát triển thể lực cho sinh viên
1.2.4 Các yếu tố cơ bản chi phối hiệu quả các phương pháp dạy học môn Giáo dục thể chất
Theo các học giả trong và ngoài nước như Novicop và Matveep (1979) (Nga), Hàn Quế Phong (2003) (Trung Quốc), Nhiếp Lâm Hổ (2003) (Trung Quốc), Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (2006) (Việt Nam) thì ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng các nhóm phương pháp trên gồm các yếu tố sau:
- Yếu tố mục tiêu yêu cầu môn GDTC, sự tương thích của phương pháp dạy học đối với mục tiêu yêu cầu và nhiệm vụ của môn học GDTC Các nhóm phương pháp đều phải hướng tới thực hiện 2 mục tiêu cơ bản của GDTC là hình thành kỹ năng kỹ xảo và phát triển thể chất cho người học
- Yếu tố trình độ năng lực của đối tượng học tập môn GDTC Đối tượng của GDTC ở bậc đại học là những sinh viên có thể chất và năng khiếu nắm bắt kỹ thuật bình thường bởi vậy việc lựa chọn phương pháp, nội dung và liều lượng vận động phải phù hợp
- Yếu tố điều kiện sân bãi dụng cụ, thời tiết … cũng là những yếu tố chi phối hiệu quả phương pháp dạy học môn GDTC
Trang 321.3 Phương pháp dạy học tích cực và xu hướng ứng dụng nhóm phương pháp dạy học tích cực
1.3.1 Khái quát về phương pháp dạy học tích cực
“Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn dùng để chỉ những phương pháp dạy học và giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học” Trong đó bao gồm những phương pháp dạy học quen
thuộc như: Dùng lời nói, trực quan, minh họa, vấn đáp, thảo luận nhóm, dạy học nêu và giải quyết vấn đề, trò chơi, thực hành, thí nghiệm và một số phương pháp mới đang áp dụng ở một số nước trên thế giới như: Học theo góc, học theo hợp đồng, học theo dự án, dạy học kiến tạo…
Phương pháp dạy học tích cực xuất hiện ở các nước phương Tây (ở Mỹ, ở Pháp ) từ đầu thế kỷ XX và được phát triển mạnh từ nửa sau của thế kỷ này, nó có ảnh hưởng sâu rộng tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Đó là cách thức dạy học theo lối phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh (nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào người dạy) Vì thế thường gọi phương pháp này là phương pháp dạy học tích cực; ở
đó, giáo viên là người giữ vai trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp cho người học tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới theo kiểu tranh luận, hội thảo theo nhóm Người thầy có vai trò là trọng tài, cố vấn điều khiển tiến trình giờ dạy phương pháp dạy học này rất đáng chú ý đến đối tượng học sinh, coi trọng việc nâng cao quyền năng cho người học Giáo viên là người nêu tình huống, kích thích hứng thú, suy nghĩ và phân xử các ý kiến đối lập của học sinh; từ đó hệ thống hoá các vấn đề, tổng kết bài giảng, khắc sâu những tri thức cần nắm vững Giáo án dạy học theo phương pháp tích cực được thiết kế kiểu chiều ngang theo hai hướng song hành giữa hoạt động dạy của thầy và học của trò
Ưu điểm của phương pháp dạy học tích cực rất chú trọng kỹ năng thực hành, vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn, coi trọng rèn luyện và tự học
Đặc điểm của dạy học theo phương pháp này là giảm bớt thuyết trình, diễn giải; tăng cường dẫn dắt, điều khiển, tổ chức, xử lý tình huống song nếu không tập trung cao, học sinh sẽ không hệ thống và logic Yêu cầu của phương pháp dạy học tích cực cần có các phương tiện dạy học, học sinh chuẩn bị bài kỹ ở nhà trước khi đến lớp và phải mạnh dạn, tự tin bộc lộ ý kiến, quan điểm Giáo viên phải chuẩn bị
Trang 33kỹ bài giảng, thiết kế giờ dạy, lường trước các tình huống để chủ động tổ chức giờ dạy có sự phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động của thầy và hoạt động của trò
1.3.2 Những dấu hiệu đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực có những dấu hiệu đặc trưng sau:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh (học sinh trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề, vận dụng kiến thức vào cuộc sống…)
- Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác, tạo môi trường hợp tác tích cực giữa thầy-trò, trò-trò
- Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của học sinh
- Tăng cường vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi
1.3.3 Xu hướng ứng dụng phương pháp dạy học tích cực trong và ngoài nước
Lý do sử dụng phương pháp dạy học tích cực bởi:
- Vì mục tiêu, yêu cầu đào tạo có sự thay đổi, cần có những con người năng động, sáng tạo, có phương pháp học tập trong thời đại mới
- Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong các Nghị quyết về giáo dục và Luật giáo dục
- Vì các phương pháp dạy học truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế…
- Tình trạng chung vẫn là đọc chép; thày nói trò nghe, truyền giảng thụ động,
áp đặt một chiều Đôi khi giảng giải xen kẽ với vấn đáp, giải thích, minh hoạ và kết hợp với các đồ dùng trực quan
- Giáo viên ít tìm tòi sáng tạo trong việc cải tiến, nâng cao chất lượng bài giảng
- Có tâm lý ngại thay đổi trước những cái mới (trì trệ), quen với lối dạy truyền thống
- Ngại tổ chức ngoại khoá hoặc các hình thức tổ chức dạy học khác (vì thời gian, kinh phí, công tác tổ chức khó khăn )
- Giáo viên thiếu các tài liệu, phương tiện cần thiết để đổi mới phương pháp
Trang 34- Chưa hiểu rõ yêu cầu và cách thức đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng từng bộ môn; còn lúng túng khi sử dụng các phương pháp dạy học tích cực
- Sự quản lí chuyên môn của các cấp còn khuôn cứng, máy móc, khó chấp nhận những cách dạy khác với qui định cũ hoặc ý của riêng mình
Do tác động của việc đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá, đặc biệt là cách ra đề thi tuyển sinh vào đại học những năm gần đây
Do các phương pháp dạy học tích cực mang lại nhiều cơ hội, ưu thế so với các phương pháp dạy học truyền thống
Do vậy, xu thế ứng dụng phương pháp dạy học tích cực được áp dụng sâu rộng ở các nước có nền giáo dục tiên tiến và ở Việt Nam chúng ta hiện nay đang cổ động, khuyến khích cho việc ứng dụng phương pháp này vào quá trình giảng dạy các môn học cũng như các hình thức học
1.4 Đặc điểm phương pháp Giáo dục thể chất
GDTC là môn học đặc thù và vì vậy, nó cũng đòi hỏi phải có các PPDH đặc thù phù hợp Khi nghiên cứu về phương pháp GDTC, có thể kể tới một số nhóm phương pháp sau:
Việc thực hiện LVĐ và quãng nghỉ cũng được định mức trước
Sử dụng các điều kiện bên ngoài, các dụng cụ tập luyện cũng được định trước
Ý nghĩa của việc định mức là ở chỗ đảm bảo điều kiện tối ưu cho tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo vận động mới và phát triển tố chất thể lực
Phương pháp tập định mức chặt chẽ có rất nhiều phương án cụ thể việc sử dụng chúng tuỳ thuộc vào nội dung buổi tập và từng thời kì trong quá trình GDTC
1.4.1.1 Phương pháp tập luyện trong quá trình dạy học động tác
Việc tiếp thu ban đầu các động tác có thể diễn ra theo 2 hướng
Phương pháp phân chia hợp nhất:
Trang 35Phương pháp phân chia được sử dụng trong trường hợp đối với động tác hoặc tổ hợp những động tác cần học có thể phân chia thành những phần tương đối độc lập mà không ảnh hưởng tới cấu trúc động tác VD: Trong giảng dạy kỹ thuật bơi ếch người ta có thể phân chia thành các giai đoạn kỹ thuật động tác: Tay, chân, phối hợp tay chân
Phương pháp tập luyện nguyên vẹn: Sử dụng khi việc phân chia nhỏ động
tác gây ra những biến đổi lớn tới cấu trúc chung của nó Đối với những động tác có
kỹ thuật phức tạp thì lúc đầu cơ cấu của động tác nguyên vẹn được đơn giản hóa nhờ được bỏ bớt các chi tiết riêng lẻ tương đối độc lập Sau đó người ta lại ghép nó trên cơ sở nguyên vẹn động tác Kết hợp với việc sử dụng các bài tập bổ trợ, bài tập dẫn dắt
1.4.1.2 Các phương pháp tập luyện định mức lượng vận động và quãng nghỉ
Các phương pháp này nhằm hoàn thiện kỹ năng kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực Căn cứ vào mục đích sử dụng và tuỳ thuộc vào đặc điểm định hướng và biến thiên các thông số bên ngoài của LVĐ mà sử dụng cho phù hợp phương pháp này được chia thành 2 nhóm phương pháp: phương pháp tập luyện lặp lại ổn định, phương pháp tập luyện lặp lại biến đổi
Phương pháp bài tập lặp lại ổn định là các thông số của LVĐ được ổn định
và tập lặp đi lặp lại bài tập đó
Căn cứ vào quãng nghỉ, phương pháp này được chia làm 2 loại:
Phương pháp ổn định liên tục: Không có quãng nghỉ, nhằm giáo dục tố chất
sức bền, như chạy đồng đều
Phương pháp ổn định ngắt quãng: Giữa các lần lặp lại có quãng nghỉ (có thể
là nghỉ ngắn, đầy đủ hay vượt mức) VD: chạy 5 lần x 60m với 100% sức, quãng nghỉ 3-5phút
Khi cơ thể đã thích nghi với LVĐ cũ rồi thì cần thay đổi với LVĐ mới tương ứng với khả năng chức phận đã tăng của cơ thể Do đó cần chuyển sang phương pháp thứ 2 là:
Phương pháp tập luyện biến đổi theo chế độ LVĐ liên tục và ngắt quãng: tuỳ
từng trường hợp mà thay đổi các thông số vận động (tốc độ, nhịp điệu động tác ) thay đổi cách thức thực hiện động tác, thay đổi quãng nghỉ và các điều kiện tác động bên ngoài
Trang 36Bản chất của vấn đề thể hiện ở chỗ đặt ra những yêu cầu mới cao hơn để kích thích sự phát triển các chức năng cơ thể đồng thời mở rộng tính linh hoạt và hoàn thiện kĩ xảo vận động phương pháp này gồm:
Các phương pháp tập luyện biến đổi liên tục (không có quãng nghỉ): phương pháp này chủ yếu áp dụng cho các bài tập có chu kì và là phương pháp điển hình của nhóm phương pháp bài tập biến tốc
Phương pháp tập luyện biến đổi ngắt quãng: đặc điểm tiêu biểu của phương pháp này là luân phiên các hệ thống giữa LVĐ và nghỉ ngơi Trong đó LVĐ và quãng nghỉ đều có thể thay đổi
Sự kết hợp 2 nhóm phương pháp trên tạo nên phương pháp tổng hợp với rất nhiều các phương pháp khác nhau (Phương pháp tập luyện tổng hợp):
Phương pháp tập luyện lặp lại tăng tiến: Khối lượng không đổi nhưng
cường độ thay đổi VD: Chạy 3lần x 100m với 80-85-100% sức
Phương pháp tập luyện lặp lại với quãng nghỉ giảm dần: Có đặc điểm LVĐ
ổn định nhưng quãng nghỉ giảm dần Nhờ phương pháp này mà sự biến đổi mạnh
mẽ trong cơ thể khi thực hiện bài tập VD: chạy 4 lần x 400m với quãng nghỉ là: 5-4 phút
7-Phương pháp tập luyện vòng tròn: Quá trình thực hiện các bài tập theo thứ
tự từng nhóm với những bài tập đã được lựa chọn và hợp nhất lại thành bài tập liên hợp Các bài tập được thực hiện theo từng trạm kế tiếp nhau, các trạm được bố trí theo dạng vòng tròn Tại mỗi trạm người tập thực hiện một loạt các động tác hoặc những hành động nhất định Số lần lặp lại ở mỗi trạm được xác định theo đặc điểm của người tập, thông thường số lần lặp lại được thực hiện 1/3 đến 2/3 số lần lặp lại tối đa
Hình thức tập luyện vòng tròn nhằm giáo dục các tố chất thể lực, khi thực hiện tập luyện theo phương pháp vòng tròn thường sử dụng những bài tập có kĩ thuật đơn giản và người tập đã nắm vững các kĩ thuật động tác trước đó Ưu điểm của phương pháp vòng tròn là những ưu điểm của tác động chọn lọc được kết hợp với tác động chung, tác động ổn định được kết hợp với tác động biến đổi Đặc biệt
là hiệu quả của sự chuyển quãng (thay đổi hoạt động) được sử dụng rộng rãi Nhờ vậy phát huy được khả năng vận động thể lực và cảm xúc tích cực
Trang 37Phương pháp tập luyện vòng tròn có nhiều dạng khác nhau và các dạng cơ bản của phương pháp tập luyện vòng tròn là:
Tập luyện vòng tròn theo phương pháp tập kéo dài liên tục chủ yếu được sử dụng để phát triển sức bền chung
Tập luyện vòng tròn theo phương pháp giãn cách với quãng nghỉ ngắn được
sử dụng chủ yếu để phát triển sức bền tốc độ và sức mạnh bền
Tập luyện vòng tròn theo phương pháp giãn cách với quãng nghỉ đầy đủ được sử dụng phát triển sức mạnh tốc độ
1.4.2 Phương pháp trò chơi và thi đấu
Mặc dù phương pháp tập luyện có định mức chặt chẽ có nhiều ưu điểm, nhưng phương pháp trò chơi và phương pháp thi đấu không kém phần quan trọng
1.4.2.1 Phương pháp trò chơi
Ý nghĩa phương pháp trò chơi như một hiện tượng xã hội đa diện đã vượt qua ngoài phạm vi GDTC và GD nói chung Xong một trong những chức năng chủ yếu nhất của trò chơi là chức năng GD Từ xa xưa, trò chơi đã là một trong những phương tiện và phương pháp cơ bản của GD theo nghĩa rộng của từ đó
Phương pháp trò chơi không nhất thiết phải gắn với một trò chơi cụ thể nào
đó như bóng đá, bóng chuyền hoặc các trò chơi vận động đơn giản Về nguyên tắc, phương pháp trò chơi có thể sử dụng trong bất kì động tác thể lực nào Tất nhiên chúng phải được tổ chức phù hợp với nguyên tắc trò chơi
Phương pháp trò chơi trong GDTC có những đặc điểm sau:
Tổ chức theo chủ đề Hoạt động của những người chơi được tổ chức tương ứng với chủ đề giả định hoặc có tính chất hình ảnh
Phong phú về phương thức đạt mục đích Hầu như bao giờ cũng có nhiều cách để chiến thắng được luật chơi cho phép
Là một hoạt động độc lập sáng tạo, có yêu cầu cao về sự nhanh trí khéo léo của người chơi
Tạo nên sự đua tranh cẳng thẳng giữa các cá nhân hoặc các nhóm người và tạo nên cảm xúc mạnh mẽ
Nhược điểm: Khả năng điều chỉnh LVĐ bị hạn chế và việc chương trình hoá chỉ ở mức tương đối
Trang 38Ý nghĩa tác dụng: Củng cố và hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo vận động, phát triển các tố chất thể lực, giáo dục tính kỉ luật, tính đồng đội
1.4.2.2 Phương pháp thi đấu
Trong GDTC thi đấu được sử dụng cả dưới hình thức tương đối đơn giản và hình thức phát triển phức tạp
Trong trường hợp thứ nhất được sử dụng các dạng như đấu tập, thi thử có sử dụng thi đấu ngay cả những động tác riêng lẻ nhằm kích thích hứng thú và sự tích cực của người tập Trong trường hợp thứ hai được sử dụng tương đối như một hình thức độc lập như thi kiểm tra, các cuộc thi đấu thể thao chính thức
Đặc điểm cơ bản của phương pháp thi đấu là so sánh sức lực trong điều kiện đua tranh thứ bậc, vị trí để đạt thành tích cao nhất Yếu tố đua tranh trong thi đấu là điều kiện tiến hành tổ chức cuộc thi sẽ tạo nên cảm xúc tâm lí đặc biệt làm tăng thêm tác dụng của bài tập Sự đua tranh giữa các cá nhân hoặc các tập thể diễn ra một cách gay gắt Vì vậy, nó đòi hỏi phát huy tính tập thể, tính kỉ luật và sự nỗ lực
ý trí cao
Phương pháp thi đấu còn có đặc điểm chuẩn hoá đối tượng thi, quy tắc thi và phương pháp đánh giá thành tích Nhưng phương pháp thi đấu hạn chế sự điều chỉnh LVĐ
Ý nghĩa tác dụng: Phương pháp thi đấu được sử dụng và giải quyết nhiều nhiệm vụ khác nhau như phát triển tố chất thể lực, củng cố hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo vận động và khả năng thể hiện chúng trong những điều kiện phức tạp
Phương pháp thi đấu còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giáo dục các phẩm chất ý chí, tinh thần trách nhiệm đồng thời do sự ganh đua trong thi đấu để hình thành nên những nét tính cách ích kỉ, háo danh, hiếu thắng Vì vậy phải có phương pháp giáo dục đúng đắn
1.4.3 Các phương pháp sử dụng lời nói và trực quan trong quá trình giáo dục thể chất
1.4.3.1 Phương pháp sử dụng bằng lời nói
Bằng lời nói để truyền thụ kiến thức cho người học, kích thích tư duy và điều khiển chúng Phương pháp lời nói còn sử dụng để phân tích, đánh giá kết quả và điều chỉnh hành vi người học
Trang 39Phương pháp lời nói cũng rất cần thiết trong quá trình nhận thức, tự nhận thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh hành động
Do có chức năng đa dạng đó mà lời nói được sử dụng trong nhiều phương pháp khác nhau: Phân tích, giảng giải, chỉ thị, mệnh lệnh
1.4.3.2 Phương pháp trực quan
Quá trình nhận thức của con người bằng trực quan tư duy thực tiễn
Trực quan có hai loại: Trực quan trực tiếp và trực quan gián tiếp Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể trong GDTC mà sử dụng trực quan trực tiếp hoặc trực quan gián tiếp cho phù hợp
Sự cảm thụ của các giác quan bao gồm: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và giác quan thứ 6
Các phương pháp trực quan chủ yếu gồm:
Các phương pháp biểu diễn, thị phạm động tác
Thông qua tài liệu, sơ đồ, hình ảnh, hình vẽ
Mô hình, xa bàn
Biểu diễn bằng cảm giác lựa chọn
Phương pháp cảm giác sơ bộ có chủ đích về động tác (cảm giác chuyên môn)
Phương pháp định hướng (sử dụng âm thanh)
Phương pháp dẫn dắt và chương trình hoá tức thời gian cảm giác
Phương pháp thông tin cấp tốc các thông số vận động
Cụ thể về các phươnng pháp GDTC được trình bày tại Sơ đồ 1.1
Trang 40SƠ ĐỒ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Lời nói và trực quan Phương pháp tập luyện có định mức chặt chẽ Phương pháp trò chơi và thi đấu
Phương pháp tập luyện định mức LVĐ
và quãng nghỉ nhằm hình thành và phát triển KNKX và các Tố chất vận động
Phương pháp bài tập trong quá trình học động tác
Phương pháp phân chia
Phương pháp nguyên vẹn
Phương pháp tập
luyện lặp lại ổn định
Phương pháp tập luyện biến đổi
Phương pháp tập luyện tổng hợp
PP tập luyện biến đổi ngắt quãng
PP tập luyện lặp lại tăng tiến
PP tập luyện lặp lại với quãng nghỉ giảm dần
PP tập luyện lặp lại ổn định biến đổi
PP tập luyện vòng tròn
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ các phương pháp giáo dục thể chất
1.4.4 Đặc điểm, nội dung, phương pháp giáo dục thể chất mang tính nghề nghiệp trong các trường Đại học và Học viện An ninh nhân dân
Công tác GDTC nói chung và việc dạy môn GDTC nói riêng trong các trường đại học có ý nghĩa rất quan trọng về nhiều mặt đối với việc đào tạo đội ngũ cán bộ có tay nghề và trình độ ứng dụng cao
Học tập các bài tập thể chất là điều kiện hết sức cần thiết để sinh viên phát triển cơ thể một cách hài hoà, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ, hình thành năng lực làm việc nói chung và môn chuyên sâu nói riêng, từ đó nhanh chóng thích nghi với những điều kiện hoạt động, học tập và nâng cao nghề nghiệp
Trong giờ học GDTC và các hoạt động thể thao, những phẩm chất ý chí như lòng dũng cảm, tính bạo dạn, quyết đoán, kiên trì, tự kiềm chế…sẽ được hình thành