Chế định pháp luật này ra đời với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất SDĐ khi bị NNTHĐ, tạo cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất THĐ cho các mục đích quốc phòng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN VINH DIỆN
PHÁP LUẬT
VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 9380107
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Luật Hà Nội
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia
và Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất (NNTHĐ) là một trong những chế định cơ bản của pháp luật đất đai Chế định pháp luật này ra đời với mục đích bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất (SDĐ) khi bị NNTHĐ, tạo cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất (THĐ) cho các mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng chế định bồi thường khi NNTHĐ gặp rất nhiều khó khăn, thách thức; bởi lẽ, nó “đụng chạm” đến lợi ích thiết thực của người dân nói chung và của người SDĐ nói riêng Không phải ở bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu, việc thi hành pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ cũng xử lý và giải quyết hài hoà lợi ích của Nhà nước (NN), nhà đầu tư và lợi ích của người bị THĐ Sự không đồng thuận của người bị THĐ đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (TĐC) khi NNTHĐ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong
đó có nguyên nhân cơ bản là các quy định của pháp luật hiện hành về bồi thường khi NNTHĐ chưa phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn cho dù chế định này thường xuyên được sửa đổi, bổ sung
Luật Đất đai (LĐĐ) năm 2013 được ban hành trên cơ sở tổng kết, đánh giá các quy định phù hợp, chưa phù hợp của LĐĐ năm 2003 để có những sửa đổi, bổ sung cần thiết Tuy nhiên, đến nay sau một thời gian thi hành, LĐĐ năm 2013 đã bộc lộ những bất cập nhất định, trong đó có các quy định về bồi thường khi NNTHĐ THĐ và bồi thường khi NNTHĐ vẫn là vấn đề nóng Tranh chấp, khiếu kiện phát sinh từ thực tiễn
áp dụng chế định bồi thường khi NNTHĐ chiếm số lượng lớn nhất (tỷ lệ 70%) trong các tranh chấp, khiếu kiện về đất đai Các khiếu kiện về THĐ và bồi thường khi NNTHĐ phát sinh ở các địa phương trong cả nước Có không ít trường hợp, người có đất bị thu hồi không tin tưởng vào chính sách bồi thường mà địa phương áp dụng, không tin tưởng việc giải quyết khiếu nại ở cơ sở dẫn đến khiếu nại đông người đến các cơ quan trung ương Nội dung bất đồng giữa người bị THĐ và các cơ quan NN có thẩm quyền không nằm ngoài những vấn đề cơ bản của chế định bồi thường khi NNTHĐ như căn cứ THĐ, giá đất bồi thường, loại đất được bồi thường, hỗ trợ, TĐC Trong những bất đồng, khiếu kiện này thì bồi thường về đất luôn là vấn đề trung tâm, nhạy cảm và phức tạp nhất Bởi vì, mọi quyền lợi của người bị THĐ luôn gắn liền với đất, xuất phát từ đất và là căn cứ của những quyền lợi bồi thường, hỗ trợ khác Mặt khác, đất đai là tài sản có giá trị lớn, là không gian sống, là tư liệu sản xuất và gắn liền với đời sống tâm linh, tín ngưỡng nên đa phần người SDĐ không muốn bị thu hồi dẫn đến cuộc sống bị đảo lộn, quyền lợi bị ảnh hưởng, từ đó nảy sinh tư tưởng chống đối việc THĐ Hơn nữa, việc SDĐ của người dân thường xuyên biến động; trong khi đó việc quản lý NN về đất đai chưa chặt chẽ, cơ sở dữ liệu đất đai, đăng ký đất đai và tài
Trang 4sản gắn liền với đất còn nhiều hạn chế cũng là nguyên nhân của những khiếu kiện kéo dài, phức tạp Dường như có thể nói rằng ở đâu có THĐ thì ở đó có khiếu kiện về đất
và liên quan đến đất Những khiếu kiện này thể hiện các quy định của pháp luật hiện hành chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, chưa bảo hộ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của người bị THĐ, cản trở phát triển kinh tế - xã hội, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị - xã hội
Rõ ràng những sửa đổi, bổ sung của LĐĐ năm 2013 vẫn bộc lộ nhiều bất cập và chưa phát huy được vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi chính đáng của người có đất bị thu hồi, giải quyết kém hiệu quả bài toán về sự đảm bảo hài hòa lợi ích của NN, nhà đầu tư và người bị THĐ, chưa “hạ nhiệt” các khiếu kiện và chưa phát huy hết tác dụng tích cực trong việc bảo đảm sử dụng nguồn lực đất đai và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Những vấn đề trên đây đặt ra nhu cầu cấp thiết phải tiếp tục nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ về phương diện lý luận và thực tiễn pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ, đặc biệt là pháp luật bồi thường về đất để đánh giá một cách toàn diện, tìm
ra nguyên nhân của những tồn tại để có những giải pháp hữu hiệu góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ và nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế Với ý
nghĩa đó, nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất” làm luận án tiến sĩ luật học
2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung: i) Nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về bồi thường khi NNTHĐ vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành; ii) Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật bồi thường về đất khi NNTHĐ mà không đề cập đến vấn
đề bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất; vấn đề hỗ trợ, TĐC v.v
- Giới hạn về không gian: Luận án nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ trong phạm vi cả nước
- Giới hạn về thời gian: Luận án giới hạn nghiên cứu pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ từ năm 2003 (năm ban hành LĐĐ 2003 đến nay)
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về phương diện lý luận: Luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên quan đến THĐ và pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ Trên cơ sở đó, luận án góp phần củng cố và hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về bồi thường khi NNTHĐ và pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ ở Việt Nam
Về phương diện thực tiễn: Những bất cập được chỉ ra trong các quy định hiện hành về bồi thường khi NNTHĐ và những kiến nghị của luận án có thể được xem xét, tham khảo trong việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện LĐĐ năm 2013 trong thời gian tới; đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ
Trang 5đối với các cơ quan NN có thẩm quyền và người bị THĐ Luận án là tài liệu tham khảo bổ ích không chỉ đối với các nhà lập pháp, đối với đội ngũ cán bộ quản lý NN về đất đai mà còn là tài liệu tham khảo có giá trị cho các cơ sở đào tạo luật học ở nước ta
4 Những điểm mới của luận án
- Hệ thống hóa, bổ sung, phát triển và làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
ở Việt Nam
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; mục đích, ý nghĩa của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; xác định những thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất; các lợi ích và cơ sở của việc giải quyết các lợi ích phát sinh khi Nhà nước thu hồi đất; các yếu tố tác động đến việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật
về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
- Đánh giá thực trạng pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở nước ta hiện nay, từ đó chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành cũng như thực trạng áp dụng; nguyên nhân của những bất cập, hạn chế
- Đưa ra định hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở nước ta
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
CỦA LUẬN ÁN
Đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án:
Thứ nhất, các công trình đã xây dựng được các khái niệm THĐ, khái niệm trưng
dụng, trưng mua, trưng thu đất; khái niệm bồi thường khi NNTHĐ, hỗ trợ khi NNTHĐ; khái niệm TĐC; phân biệt, so sánh giữa bồi thường khi NNTHĐ với bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực dân sự, lao động, bồi thường trách nhiệm NN; phân biệt giữa THĐ với trưng dụng, trưng thu và trưng mua đất
Các khái niệm trên được các tác giả chủ yếu xây dựng, phân tích, so sánh trên
cơ sở phân tích, tiếp cận LĐĐ năm 2003, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 Tuy nhiên, hiện nay LĐĐ năm 2013 đã được ban hành và có hiệu lực, BLDS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 nên cần tiếp cận và xây dựng các khái niệm này trên cơ
sở nghiên cứu LĐĐ năm 2013, BLDS năm 2015
Thứ hai, các công trình đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bồi thường thiệt
hại khi NNTHĐ, đó là lý luận về bồi thường khi NNTHĐ dựa trên nền tảng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, bản chất ưu việt của NN ta là NN của dân, do dân và vì dân; các yếu tố chi phối pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ Các nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng để tác giả tham khảo và kế thừa trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án của mình
Tuy nhiên, các công trình chưa tiếp cận một cách thấu đáo từ lý thuyết về vật chất và quyền tài sản để trả lời câu hỏi vì sao đất đai thuộc sở hữu toàn dân, NN là đại diện chủ sở hữu, NN chỉ trao quyền SDĐ cho người SDĐ ổn định, lâu dài chứ không trao quyền sở hữu đất mà tại sao NN khi THĐ lại phải bồi thường
Thứ ba, các công trình đã xác định các thiệt hại khi THĐ phải bồi thường là các
thiệt hại thực tế và nhìn thấy được, bao gồm thiệt hại về đất bị thu hồi, thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, thiệt hại do bị mất công ăn việc làm, thiệt hại do phải di chuyển, di dời nhà ở Tuy nhiên, có những thiệt hại thực tế nhưng hiện nay chưa được pháp luật quy định để bồi thường như các ảnh hưởng về môi trường, không gian văn hóa, đời sống tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng dân cư nơi có đất bị thu hồi cần phải tiếp tục nghiên cứu
Thứ tư, các công trình nghiên cứu chỉ ra một số bất cập, tồn tại trong nội dung
quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi NNTHĐ Tuy nhiên, phần lớn các công trình này nghiên cứu quy định về bồi thường khi NNTHĐ và thực trạng áp dụng theo LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành LĐĐ năm 2003 LĐĐ năm 2013 và các bản hướng dẫn thi hành được ban
Trang 7hành trên tinh thần kế thừa LĐĐ năm 2003 với nhiều sửa đổi, bổ sung nhưng còn bộc
lộ nhiều hạn chế cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện
Thứ năm, ở phạm vi và mức độ khác nhau, nhiều công trình đã đưa ra các giải
pháp để nâng cao hiệu quả thực thi và hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ Phần lớn các kiến nghị được đề xuất trên cơ sở phân tích những hạn chế trong các quy định của LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành LĐĐ năm
2003 Theo đó, một số kiến nghị đã được tiếp thu và ghi nhận trong LĐĐ năm 2013 Tuy nhiên, LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành LĐĐ năm 2013 đã được ban hành song thực tế số lượng các tranh chấp, khiếu nại liên quan đến bồi thường khi NNTHĐ vẫn còn rất nóng bỏng và số lượng khiếu nại không hề giảm Điều này tiềm ẩn nguy cơ để các thế lực xấu lợi dụng gây mất ổn định chính trị, trật tự
an toàn xã hội Do đó, vấn đề này cần tiếp tục nghiên cứu đề xuất những giải pháp hoàn thiện là rất cần thiết
Trang 8Chương 2
LÝ LUẬN VỀ ỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
VÀ PHÁP LUẬT VỀ ỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
Ở VIỆT NAM 2.1 Lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thu hồi đất
2.1.1.1 Khái niệm thu hồi đất: Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại
quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất khi thuộc các trường hợp và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
2.1.1.2 Đặc điểm của thu hồi đất
Thứ nhất, THĐ được thực hiện bởi NN Chỉ có NN là cơ quan duy nhất được
thực hiện việc THĐ của người SDĐ; Thứ hai, THĐ là quyết định hành chính mang tính mệnh lệnh; Thứ ba, THĐ được thực hiện trong các trường hợp do pháp luật quy định, ngoài các trường hợp này thì NN không được THĐ; Thứ tư, việc THĐ phải thực hiện bằng văn bản theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; Thứ năm, hậu quả của
việc THĐ làm chấm dứt quyền SDĐ, gây ra cho người bị THĐ những thiệt hại nhất định và xác lập trách nhiệm của NN đối với những thiệt hại này
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm và mục đích, ý nghĩa của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
* Khái niệm bồi thường khi NNTHĐ: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là
việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất, bù đắp những thiệt hại về tài sản gắn liền với đất và thiệt hại khác cho người có đất bị thu hồi để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
* Đặc điểm của bồi thường khi NNTHĐ
Thứ nhất, cơ sở làm phát sinh việc bồi thường khi NNTHĐ là việc NNTHĐ của
người đang SDĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã
hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Thứ hai, người bị THĐ được bồi thường khi đủ điều kiện theo quy định của pháp luật; Thứ ba, giá đất, tài sản và các quyền lợi bồi thường phụ thuộc vào ý chí của NN; Thứ tư, người SDĐ không chỉ được bồi thường
về đất và bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất mà còn được NN giải quyết các vấn
đề mang tính xã hội như giải quyết chỗ ở, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, bố trí sắp
xếp công ăn việc làm để ổn định cuộc sống và sản xuất; Thứ năm, bồi thường khi
NNTHĐ gắn liền với việc giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa NN, nhà đầu tư, người bị THĐ và người được hưởng lợi từ việc THĐ
2.1.2.2 Phân biệt bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với một số trường hợp bồi thường khác, bao gồm phân biệt giữa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng; với bồi thường khi trưng dụng, trưng mua tài sản và với trách nhiệm bồi thường của NN theo Luật Trách nhiệm bồi thường của NN
Từ việc so sánh các loại bồi thường trên, chúng ta thấy rằng, bồi thường khi
Trang 9NNTHĐ chưa giải quyết được các vấn đề sau:
Thứ nhất, về thiệt hại được bồi thường
Trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bồi thường do trưng dụng đất gây
ra và bồi thường trách nhiệm NN thì thiệt hại được bồi thường là toàn bộ và thực tế, nghĩa là người bị thiệt hại có bất kỳ thiệt hại nào nếu có căn cứ chứng minh thì được bồi thường Trong khi đó, thiệt hại được bồi thường khi NNTHĐ bao gồm thiệt hại về đất, về chi phí đầu tư vào đất còn lại, về tài sản, thiệt hại do ngừng sản xuất, kinh doanh và thiệt hại về chi phí di chuyển Còn những thiệt hại khác là thiệt hại vô hình
và các thiệt hại thực tế khác không được bồi thường, như thiệt hại về mất thu nhập, thiệt hại do mất việc làm
Thứ hai, về giá được bồi thường
Quyền SDĐ khi bị thiệt hại trong các trường hợp bồi thường nêu trên đều là tài sản và là tài sản có giá trị lớn của người SDĐ Về bản chất, quyền SDĐ bị thiệt hại khi trưng mua, trưng dụng hoặc thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra và khi NNTHĐ không có gì khác nhau, đều làm mất đi quyền SDĐ Tuy nhiên, giá đất và giá đất tính bồi thường lại khác nhau là điều vô lý Theo đó, nếu NN trưng mua đất thì giá đất được xác định theo giá thị trường, bồi thường do trưng dụng đất và bồi thường trách nhiệm NN cũng được xác định bồi thường theo giá thị trường nhưng bồi thường khi NNTHĐ lại không theo giá thị trường mà theo giá đất cụ thể
2.1.2.3 Các phương thức bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
i) Phương thức bồi thường bằng việc giao đất mới
Đây được coi là phương thức “đất đổi đất”, tức là NNTHĐ thì bồi thường bằng đất cho người có đất bị thu hồi Đây là phương thức bồi thường mang lại nhiều lợi ích cho người SDĐ
ii) Phương thức bồi thường bằng tiền
Đây là phương thức bồi thường phổ biến hiện nay và trong thời gian tới Phương thức này được áp dụng khi quỹ đất không còn để bồi thường Trong nhiều trường hợp bồi thường bằng tiền sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của người bị THĐ, không bảo vệ được một cách tốt nhất quyền tài sản của người SDĐ
iii) Phương thức bồi thường bằng chính sách tái định cư
TĐC là việc bồi thường bằng đất ở trong khu TĐC hoặc nhà ở TĐC để tạo lập chỗ ở mới cho người bị THĐ bị mất chỗ ở Bồi thường bằng TĐC có những ưu điểm như phương thức bồi thường bằng đất
2.1.2.4 Mục đích, ý nghĩa của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Thứ nhất, việc bồi thường khi NNTHĐ nhằm trả lại giá trị quyền SDĐ bị mất
cho người SDĐ, bồi hoàn cho người SDĐ những thành quả lao động, kết quả đầu tư
mà họ bị thiệt hại do việc THĐ gây ra, từ đó góp phần thực hiện các quyền của người SDĐ được pháp luật ghi nhận và bảo hộ
Thứ hai, việc bồi thường khi NNTHĐ không chỉ bảo đảm quyền và lợi ích hợp
Trang 10pháp của người SDĐ mà còn góp phần duy trì ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh
Thứ ba, thông qua việc bồi thường khi NNTHĐ, giúp cho đội ngũ cán bộ, công
chức thực hiện công tác bồi thường nâng cao được ý thức phục vụ nhân dân, tôn trọng
và lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân
Thứ tư, giải quyết tốt bồi thường khi NNTHĐ góp phần thực hiện các chính
sách lớn về kinh tế, xã hội của Đảng và NN thông qua việc giải quyết hài hòa các lợi ích của NN, của người SDĐ và nhà đầu tư
Thứ năm, giải quyết tốt việc bồi thường sẽ tạo ra sự nhất trí cao của người dân,
sự đồng thuận của xã hội đối với các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và NN, qua đó góp phần làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư ở nước ta
Thứ sáu, ở một mức độ nhất định có thể thấy rằng, bồi thường khi NNTHĐ còn
góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi nghề nghiệp của người nông dân
2.1.3 Thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất và vấn đề giải quyết các lợi ích phát sinh khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.3.1 Thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
* Thiệt hại hữu hình
Đây là những thiệt hại nhìn thấy được một cách trực diện, mang tính định lượng
và dễ dàng tính toán, xác định được cụ thể, bao gồm: Thiệt hại về đất; thiệt hại về chi phí đầu tư vào đất còn lại; thiệt hại về di chuyển hài cốt, mồ mả; thiệt hại đối với tài sản gắn liền với đất; thiệt hại do di chuyển tài sản; thiệt hại do phải cải tạo, sửa chữa nhà; thiệt hại về vật nuôi
* Thiệt hại vô hình
Đây là những thiệt hại không nhìn thấy một cách trực diện, không nhận thấy bằng thị giác Tuy nhiên, những thiệt hại này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi vật chất mà còn tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần của người bị THĐ và gia đình
họ Những thiệt hại vô hình có thể phát sinh tại thời điểm THĐ, cũng có thể ảnh hưởng đến cuộc sống lâu dài, bao gồm: Thiệt hại do mất ổn định cuộc sống, sản xuất
bị đình trệ, việc làm bị mất, thu nhập bị mất hoặc giảm sút; thiệt hại do hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ an toàn gây ra; thiệt hại về không gian sống, không gian văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo; thiệt hại đối với những
giá trị của các công trình cổ
2.1.3.2 Giải quyết các lợi ích phát sinh khi Nhà nước thu hồi đất
Khi THĐ sẽ làm phát sinh các lợi ích của NN, nhà đầu tư, người có đất bị thu hồi và người không bị THĐ nhưng lại được hưởng lợi từ việc THĐ Việc xác định và giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích này có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc công bằng giữa các chủ thể SDĐ, đảm bảo thiệt hại của người bị THĐ
Trang 11được bồi thường thỏa đáng, thực hiện có hiệu quả quá trình thu hồi và bồi thường, bảo đảm SDĐ có hiệu quả, phát huy được tiềm năng và nguồn lực của đất đai, điều tiết phần giá trị tăng thêm này để bù đắp cho ngân sách NN
2.1.4 Cơ sở lý luận của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.4.1 Đường lối, quan điểm của Đảng về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Mỗi một thời kỳ, Đảng ta luôn đề ra những chính sách quan trọng về đất đai nói chung và bồi thường khi NNTHĐ nói riêng Các chính sách này thể hiện quan điểm của Đảng và là cơ sở, là tiền đề cho việc xây dựng, ban hành các quy định về đất đai nói chung, về bồi thường khi NNTHĐ nói riêng
2.1.4.2 Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
Xét cả về mặt lý luận và thực tiễn, ở nước ta đã hình thành khái niệm “quyền sở hữu đất” và khái niệm “quyền SDĐ” Quyền SDĐ đã tách ra khỏi quyền sở hữu, theo
đó quyền sở hữu đất thuộc về toàn dân mà NN là đại diện chủ sở hữu, người SDĐ được quyền SDĐ Mặc dù không có quyền sở hữu tuyệt đối với đầy đủ ba quyền năng
là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đất đai nhưng quyền SDĐ là tài sản thuộc về người SDĐ và gắn liền với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai Vì thế, khi NNTHĐ của người SDĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng thì người SDĐ được bồi thường
2.1.4.3 Bảo vệ quyền tài sản của người có quyền sử dụng đất hợp pháp bị Nhà nước thu hồi
Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng khi quyền SDĐ được trao cho người SDĐ thì nó là tài sản của người SDĐ với các quyền năng cụ thể đã được pháp luật ghi nhận và bảo hộ Vì thế, NN chỉ được thu hồi trong một số trường hợp nhất định Vì là tài sản của người SDĐ nên khi NNTHĐ vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì NN phải bồi thường
2.2 Lý luận pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
2.2.1.1 Khái niệm pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh khi Nhà nước thu hồi đất
2.2.1.2 Đặc điểm của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Thứ nhất, pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ chịu sự chi phối của chế độ sở
hữu toàn dân về đất đai; Thứ hai, điểm căn bản của pháp luật về bồi thường khi
NNTHĐ là phải giải quyết mâu thuẫn giữa việc phải bảo vệ quyền tài sản của người SDĐ đối với quyền SDĐ và việc phải THĐ cho nhu cầu quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với việc bảo đảm sự hài hòa lợi ích của các chủ thể tham
gia vào quan hệ pháp luật này; Thứ ba, pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ ở nước ta
Trang 12được xây dựng và hoàn thiện trong điều kiện việc SDĐ thường xuyên biến động nhưng công tác quản lý đất đai chưa hiệu quả
2.2.2 Cơ cấu điều chỉnh pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
Đối với bồi thường về đất khi NNTHĐ, cơ cấu điều chỉnh của pháp luật như sau:
Thứ nhất, các quy định chung về bồi thường về đất khi NNTHĐ, bao gồm các
quy định về phạm vi và đối tượng được bồi thường về đất khi NNTHĐ; các quy định
về căn cứ THĐ; các quy định về nguyên tắc bồi thường về đất khi NNTHĐ; các quy định về điều kiện để được bồi thường về đất và các trường hợp không được bồi thường
về đất
Thứ hai, các quy định cụ thể về bồi thường về đất khi NNTHĐ, bao gồm quy
định về bồi thường đối với đất nông nghiệp, bồi thường đối với đất phi nông nghiệp và bồi thường đối với một số trường hợp khác (bao gồm bồi thường về chi phí đầu tư vào đất còn lại, bồi thường cho đồng quyền SDĐ, bồi thường trong trường hợp diện tích đất đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền SDĐ và bồi thường đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng các công trình có hành lang bảo vệ
2.2.3 Tiêu chí đánh giá pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Thứ nhất, công khai và minh bạch; Thứ hai, công bằng và bình đẳng; Thứ ba,
mục đích THĐ phải vì lợi ích quốc gia, công cộng; Thứ tư, đảm bảo góp phần ổn định
chính trị xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, hội
nhập quốc tế; Thứ năm, người có đất bị thu hồi phải có cuộc sống bằng hoặc tốt hơn trước khi bị THĐ; Thứ sáu, xác định đầy đủ thiệt hại và thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và thực tế
2.2.4 Các yếu tố tác động đến việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Thứ nhất, đường lối, quan điểm của Đảng; Thứ hai, chế độ sở hữu toàn dân về
đất đai; Thứ ba, vai trò của đất đai ở Việt Nam; Thứ tư, quá trình quản lý NN về đất đai; Thứ năm, hội nhập quốc tế và tham khảo hệ thống pháp luật nước ngoài
Trang 13Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ỒI THƯỜNG
VỀ ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM
3.1 Các quy định chung về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất và thực tiễn áp dụng
3.1.1 Phạm vi và đối tượng được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
Phạm vi và đối tượng được bồi thường là người SDĐ bị THĐ vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
3.1.2 Căn cứ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế
- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
THĐ vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng dựa trên các căn cứ: Dự án thuộc các trường hợp THĐ quy định tại Điều 61 và Điều 62 của LĐĐ năm 2013; kế hoạch SDĐ hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan NN có thẩm quyền phê duyệt; tiến độ SDĐ thực hiện dự án
Quy định dự án chỉnh trang đô thị, chỉnh trang khu dân cư nông thôn hiện nay chưa được giải thích, quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành nên có nhiều cách hiểu khác nhau và dễ bị lợi dụng để THĐ cho tư nhân, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người SDĐ mà nổi bật là lấy đất để phân lô bán nền, xây nhà và các khu thương mại, dịch vụ để bán thu lợi nhuận cho tư nhân
3.1.3 Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
Việc bồi thường về đất khi NNTHĐ phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, người SDĐ được bồi thường khi có đủ các điều kiện quy định tại
Điều 75 LĐĐ năm 2013
Thứ hai, việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử
dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền
Việc thực thi nguyên tắc bồi thường bằng đất gặp những khó khăn sau:
Một là, không có đất để bồi thường hoặc nếu có thì trong một số trường hợp giá
trị của đất được bồi thường với đất bị thu hồi không có giá trị tương đương; Hai là,
quy định không còn đất thì được bồi thường bằng tiền không hợp lý trong trường hợp
THĐ ở; Ba là, do quá trình quản lý NN về đất đai qua từng thời kỳ không chặt chẽ,
đặc biệt là việc người SDĐ tự ý chuyển mục đích SDĐ mà chưa được cơ quan có thẩm
quyền cho phép và cũng không được ngăn chặn, xử lý; Bốn là, căn cứ hiện trạng để
xác định loại đất trong nhiều trường hợp không thể chính xác do người SDĐ thay đổi mục đích SDĐ đối với một thửa đất dẫn đến hiện trạng thay đổi diễn ra thường xuyên
và trong thời gian ngắn cho mỗi lần thay đổi hiện trạng
Thứ ba, giá đất để tính bồi thường là giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy
ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định THĐ
Các quy định hiện hành về giá đất còn một số bất cập sau:
Một là, giá đất nói chung và giá đất cụ thể làm căn cứ bồi thường khi NNTHĐ