Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản như sau: - Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất,
Trang 1HÀ NỘI - 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN VINH DIỆN
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 9380107
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS Nguyễn Quang Tuyến
2 TS Trần Quang Huy
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận án này
Tác giả luận án
Nguyễn Vinh Diện
Trang 4BLDS : Bộ luật dân sự
GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HGĐ : Hộ gia đình
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN 7
1.1 Những nội dung cơ bản của các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến
đề tài luận án 7 1.2 Đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đến đề tài
luận án và những vấn đề trọng tâm cần tiếp tục nghiên cứu 27 Kết luận Chương 1 31
Chương LÝ LUẬN VỀ ỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
VÀ PHÁP LUẬT VỀ ỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM 33
2.1 Lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 33 2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thu hồi đất 33 2.1.2 Khái niệm, đặc điểm và mục đích, ý nghĩa của bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất 34 2.1.3 Thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất và vấn đề giải quyết các lợi ích phát sinh
khi Nhà nước thu hồi đất 45 2.1.4 Cơ sở lý luận của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 56 2.2 Lý luận pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 65 2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất 65 2.2.2 Cơ cấu điều chỉnh pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất 67 2.2.3 Tiêu chí đánh giá pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 69 2.2.4 Các yếu tố tác động đến việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất 74 Kết luận Chương 2 78
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ỒI THƯỜNG VỀ ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM 80
3.1 Các quy định chung về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất và thực
tiễn áp dụng 80 3.1.1 Phạm vi và đối tượng được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất 80 3.1.2 Căn cứ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã
hội vì lợi ích quốc gia, công cộng 81 3.1.3 Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất 85
Trang 63.2 Các quy định cụ thể về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất và thực
tiễn áp dụng 103
3.2.1 Bồi thường đối với đất nông nghiệp 103
3.2.2 Bồi thường đối với đất phi nông nghiệp 106
3.2.3 Bồi thường đối với một số trường hợp khác 118
3.3 Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế của pháp luật và việc thực thi pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất 128
3.3.1 Nguyên nhân khách quan 128
3.3.2 Nguyên nhân chủ quan 130
Kết luận Chương 3 131
Chương 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG VỀ ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM 133
4.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất 133
4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất 137
4.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất 163
Kết luận Chương 4 173
KẾT LUẬN CHUNG 175 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là một trong những chế định cơ bản của pháp luật đất đai Chế định pháp luật này ra đời với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất khi bị Nhà nước thu hồi đất, tạo cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất cho các mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng chế định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn, thách thức; bởi lẽ, nó “đụng chạm” đến lợi ích thiết thực của người dân nói chung và của người sử dụng đất nói riêng Không phải ở bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu, việc thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cũng xử lý và giải quyết hài hoà lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và lợi ích của người bị thu hồi đất Sự không đồng thuận của người bị thu hồi đất đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân cơ bản là các quy định của pháp luật hiện hành về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chưa phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn cho dù chế định này thường xuyên được sửa đổi, bổ sung
Luật Đất đai năm 2013 được ban hành trên cơ sở tổng kết, đánh giá các quy định phù hợp, chưa phù hợp của Luật Đất đai năm 2003 để có những sửa đổi, bổ sung cần thiết Tuy nhiên, đến nay sau một thời gian thi hành, Luật Đất đai năm 2013 đã bộc lộ những bất cập nhất định, trong đó có các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Thu hồi đất và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vẫn là vấn đề nóng Tranh chấp, khiếu kiện phát sinh từ thực tiễn áp dụng chế định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chiếm số lượng lớn nhất (tỷ lệ 70%) trong các tranh chấp, khiếu kiện về đất đai [106] Các khiếu kiện về thu hồi đất và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phát sinh
ở các địa phương trong cả nước Có không ít trường hợp, người có đất bị thu hồi không tin tưởng vào chính sách bồi thường mà địa phương áp dụng, không tin tưởng việc giải quyết khiếu nại ở cơ sở dẫn đến khiếu nại đông người đến các cơ quan trung ương Nội dung bất đồng giữa người bị thu hồi đất và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không nằm ngoài những vấn đề cơ bản của chế định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất như căn cứ thu hồi đất, giá đất bồi thường, loại đất được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Trong những bất đồng, khiếu kiện này thì bồi thường về đất luôn là vấn
đề trung tâm, nhạy cảm và phức tạp nhất Bởi vì, mọi quyền lợi của người bị thu hồi đất luôn gắn liền với đất, xuất phát từ đất và là căn cứ của những quyền lợi bồi
Trang 8thường, hỗ trợ khác Mặt khác, đất đai là tài sản có giá trị lớn, là không gian sống, là
tư liệu sản xuất và gắn liền với đời sống tâm linh, tín ngưỡng nên đa phần người sử dụng đất không muốn bị thu hồi dẫn đến cuộc sống bị đảo lộn, quyền lợi bị ảnh hưởng, từ đó nảy sinh tư tưởng chống đối việc thu hồi đất Hơn nữa, việc sử dụng đất của người dân thường xuyên biến động; trong khi đó việc quản lý nhà nước về đất đai chưa chặt chẽ, cơ sở dữ liệu đất đai, đăng ký đất đai và tài sản gắn liền với đất còn nhiều hạn chế cũng là nguyên nhân của những khiếu kiện kéo dài, phức tạp Dường như có thể nói rằng ở đâu có thu hồi đất thì ở đó có khiếu kiện về đất và liên quan đến đất Những khiếu kiện này thể hiện các quy định của pháp luật hiện hành chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, chưa bảo hộ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất, cản trở phát triển kinh tế - xã hội, tiềm ẩn nguy cơ gây mất
ổn định chính trị - xã hội
Rõ ràng những sửa đổi, bổ sung của Luật Đất đai năm 2013 vẫn bộc lộ nhiều bất cập và chưa phát huy được vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi chính đáng của người có đất bị thu hồi, giải quyết kém hiệu quả bài toán về sự đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người bị thu hồi đất, chưa “hạ nhiệt” các khiếu kiện và chưa phát huy hết tác dụng tích cực trong việc bảo đảm sử dụng nguồn lực đất đai và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Những vấn đề trên đây đặt ra nhu cầu cấp thiết phải tiếp tục nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ về phương diện lý luận và thực tiễn pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, đặc biệt là pháp luật bồi thường về đất để đánh giá một cách toàn diện, tìm ra nguyên nhân của những tồn tại để có những giải pháp hữu hiệu góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế Với ý nghĩa đó, nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” làm luận án tiến sĩ luật học Thành
công của luận án góp phần nâng cao hiệu quả thực thi Luật Đất đai năm 2013 nói chung và chế định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam nói riêng
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; phân tích thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để nhận diện những tồn tại, vướng mắc; trên cơ sở đó, luận án đề xuất những định hướng, giải pháp hoàn
Trang 9thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và nâng cao hiệu quả thực thi
ở nước ta
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu
cơ bản như sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm quan điểm, đường lối của Đảng về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và quyền tài sản của người sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất; khái niệm, đặc điểm; mục đích, ý nghĩa của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; phân tích thiệt hại phát sinh khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm một số khái niệm của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; cơ cấu điều chỉnh của pháp luật và các yếu tố tác động đến việc xây dựng pháp luật
về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghiên cứu nội dung của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và đánh giá thực trạng thi hành chế định pháp luật này ở Việt Nam;
- Đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và nâng cao hiệu quả thực thi ở Việt Nam
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau đây:
- Các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay;
- Các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành về bồi thường;
- Các quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành
về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đặt trong mối liên hệ, so sánh với Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản pháp luật khác có liên quan;
Trang 10- Các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của một số nước trên thế giới dưới góc độ luật học so sánh;
- Thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam là đề tài có phạm
vi nghiên cứu rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bản luận án tiến sĩ luật học, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu ở một số nội dung cụ thể sau:
- Giới hạn về nội dung: i) Nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành; ii) Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng có nội hàm bao gồm các nội dung bồi thường về đất, bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất; hỗ trợ, tái định cư v.v Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận án tiến sĩ này, tác giả đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất mà không đề cập đến vấn đề bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất; vấn đề hỗ trợ, tái định
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm luận án, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin trong việc nghiên cứu nguồn gốc, bản chất của sự vật, hiện tượng; nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của sự vật, hiện tượng đặt trong mối quan hệ tương tác với các sự vật, hiện tượng khác;
- Ngoài ra, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Trang 11i) Phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp lập luận logic v.v được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ
sở lý thuyết của luận án;
ii) Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu v.v được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam;
iii) Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp v.v được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu thực trạng pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam;
iv) Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải v.v được sử dụng tại Chương 4 khi nghiên cứu định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất và nâng cao hiệu thực thi ở Việt Nam
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về phương diện lý luận: Luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên quan đến thu hồi đất và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Trên cơ
sở đó, luận án góp phần củng cố và hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam
Về phương diện thực tiễn: Những bất cập được chỉ ra trong các quy định hiện hành về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và những kiến nghị của luận án có thể được xem xét, tham khảo trong việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật Đất đai năm
2013 trong thời gian tới; đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người bị thu hồi đất Luận án là tài liệu tham khảo bổ ích không chỉ đối với các nhà lập pháp, đối với đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về đất đai mà còn là tài liệu tham khảo có giá trị cho các cơ sở đào tạo luật học ở nước ta
6 Những điểm mới của luận án
Luận án có những điểm mới sau:
- Hệ thống hóa, bổ sung, phát triển và làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
ở Việt Nam
Trang 12- Làm rõ khái niệm, đặc điểm của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; mục đích, ý nghĩa của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; xác định những thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất; các lợi ích và cơ sở của việc giải quyết các lợi ích phát sinh khi Nhà nước thu hồi đất; các yếu tố tác động đến việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật
về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
- Đánh giá thực trạng pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở nước ta hiện nay, từ đó chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành cũng như thực trạng áp dụng; nguyên nhân của những bất cập, hạn chế
- Đưa ra định hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở nước
ta
7 Kết cấu của luận án
Ngoài lời cam đoan, danh mục các từ viết tắt, mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được bố cục với 04 chương cụ thể như sau:
- Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của luận án
- Chương 2 Lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam
- Chương 3 Thực trạng pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
ở Việt Nam
- Chương 4 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN
1.1 Những nội dung cơ bản của các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án
Ở nước ta, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất (NNTHĐ) luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu của giới luật học ở nhiều cấp độ khác nhau Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài được thực hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, tập trung ở một số nhóm vấn đề chủ yếu sau đây: i) Nhóm công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về bồi thường khi NNTHĐ; ii) Nhóm công trình nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn về bồi thường khi NNTHĐ; iii) Nhóm công trình nghiên cứu về nâng cao hiệu quả thực thi và hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi
NNTHĐ Việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” có
liên quan trực tiếp đến các nhóm vấn đề trên Thông qua việc tìm hiểu các công trình có liên quan mật thiết đến đề tài, nghiên cứu sinh nhận thấy những nội dung trên đã được nhiều tác giả đề cập, nghiên cứu ở những phương diện khác nhau Do đó, để thực hiện đề
tài “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” thì việc nghiên cứu, đánh giá kết
quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đến đề tài được công bố là hết sức cần thiết
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu về các khái niệm liên quan đến bồi thường
khi NNTHĐ, có một số công trình tiêu biểu sau đây:
Luận án tiến sĩ của Phạm Thu Thủy: “Pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ nông
nghiệp ở Việt Nam”, bảo vệ năm 2014; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thảo My:
“Thực trạng pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ trên địa bàn huyện Lâm Bình, tỉnh
Tuyên Quang”, bảo vệ năm 2014; Luận văn thạc sĩ của Trần Cao Hải Yến: “Thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi NNTHĐ trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay”,
bảo vệ năm 2014 v.v Các luận án, luận văn trên đây đã phân tích, luận giải khái niệm đất
nông nghiệp, khái niệm thu hồi đất (THĐ); các khái niệm trưng dụng, trưng mua, trưng thu đất; khái niệm bồi thường, khái niệm hỗ trợ khi NNTHĐ; khái niệm tái định cư (TĐC); phân biệt, so sánh giữa bồi thường khi NNTHĐ với bồi thường thiệt hại trong
Trang 14dân sự, lao động, bồi thường trách nhiệm Nhà nước (NN); phân biệt giữa THĐ với trưng dụng, trưng thu và trưng mua đất
Bài viết “Về khái niệm bồi thường khi NNTHĐ trong Luật Đất đai (LĐĐ) năm 2003” của tác giả Nguyễn Quang Tuyến - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7/2008;
Bài viết “Vấn đề lý luận xung quanh khái niệm bồi thường khi NNTHĐ” của tác giả
Nguyễn Quang Tuyến - Tạp chí Luật học, số 01/2009 Các bài viết đã phân tích một số vấn đề lý luận liên quan đến khái niệm bồi thường khi NNTHĐ như cơ sở lý luận xây dựng khái niệm bồi thường khi NNTHĐ, lý luận về khái niệm bồi thường khi NNTHĐ theo LĐĐ năm 2003 Tác giả cũng đi sâu phân tích, so sánh khái niệm bồi thường khi NNTHĐ và khái niệm đền bù; phân biệt giữa bồi thường thiệt hại khi NNTHĐ với bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự (BLDS), với trách nhiệm bồi thường của NN, với bồi thường oan sai trong tố tụng hình sự, trong pháp luật lao động
Bài viết “Bảo đảm tài sản là quyền sử dụng đất (SDĐ) của người có đất bị thu
hồi - nhìn từ quy định trong các bản hiến pháp và pháp luật đất đai” của tác giả Lê
Ngọc Thạnh - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2013 Bài viết đưa ra khái niệm THĐ Theo tác giả, THĐ là việc NN lấy lại quyền SDĐ đã giao cho các tổ chức, cá nhân
sử dụng hoặc lấy lại quyền SDĐ do người khác lấn chiếm của NN
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu nền tảng lý luận của pháp luật về bồi
thường khi NNTHĐ; những yếu tố chi phối đến pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ; giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa NN, nhà đầu tư và người bị THĐ
Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về các vấn đề này như sau: Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Thị Lan: “Quan hệ lợi ích kinh tế trong THĐ
của nông dân để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội”, bảo vệ
năm 2012 Luận án cho rằng, trong quá trình THĐ của nông dân để xây dựng các khu công nghiệp còn nhiều bất cập, như thiếu đồng bộ trong quy hoạch, chính sách THĐ chưa hợp lý, chưa giải quyết hợp lý các vấn đề về lợi ích kinh tế của nông dân có đất
bị thu hồi Trong đó nổi lên tình trạng bất bình trong nông dân về việc chưa được giải quyết hợp lý các quan hệ lợi ích trong quá trình THĐ, từ đó tích tụ mâu thuẫn trong việc giải quyết lợi ích này, tạo ra xung đột xã hội, gây ra biến động xấu về chính trị Tác giả chỉ ra mối quan hệ lợi ích bao gồm lợi ích của xã hội mà NN là đại diện, lợi ích của doanh nghiệp với tư cách là nhà đầu tư và lợi ích của nông dân bị THĐ Tác giả đã nghiên cứu các đặc điểm của quan hệ lợi ích và các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích Các lợi ích có những sự thống nhất chung mà dự án tạo ra nhưng
Trang 15cũng còn nhiều mâu thuẫn, đó là THĐ làm ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống của người bị THĐ; nông dân muốn bồi thường cao còn doanh nghiệp thì ngược lại;
NN chưa điều tiết được lợi ích phát sinh khi bồi thường thấp nhưng nhà ở của dự án được bán giá cao… Các lợi ích này biện chứng thống nhất nhưng cũng mâu thuẫn Vì thế, phải giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích này
Các bài viết đăng trong cuốn Kỷ yếu hội thảo “Thi hành pháp luật về đất đai ở
Việt Nam hiện nay - thực trạng và những giải pháp hoàn thiện” do Viện Nghiên cứu Lập
pháp và Viện ROSA Luxemburg (Cộng hòa Liên bang Đức) tổ chức - Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân (2012), bao gồm:
Một là, bài viết “Những điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ - Thực trạng và kiến nghị” của tác giả
Nguyễn Quang Tuyến Trên cơ sở nghiên cứu LĐĐ năm 2003, bài viết phân tích, nhận diện những điều kiện cơ bản cho việc thực hiện chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ, đó là: Quan điểm, đường lối của Đảng về thực hiện bồi thường,
hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ; chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng; cơ chế quản lý NN đối với đất đai; ý thức pháp luật, trình độ dân trí; yếu tố lợi ích nhóm
Hai là, bài viết “Phương án giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa NN, người bị THĐ và nhà đầu tư trong các dự án THĐ để phát triển kinh tế” của tác giả Trần
Quang Huy Bài viết phân tích mối quan hệ về lợi ích giữa NN, nhà đầu tư với người bị THĐ trong trường hợp THĐ cho mục đích phát triển kinh tế, bao gồm lợi ích mà các bên được nhận, được hưởng lợi từ việc THĐ Tác giả chỉ ra thực trạng các quy định về bồi thường, hỗ trợ chưa đáp ứng đúng yêu cầu về lợi ích giữa ba bên Trong quyền lợi chung này, người bị THĐ vẫn là người bị thiệt thòi nhất, kế đến là lợi ích của NN Trong khi đó
“địa tô chênh lệch” thì doanh nghiệp là người được hưởng lợi nhiều nhất khi NNTHĐ để thực hiện dự án đầu tư Để giải quyết hài hòa mối quan hệ về các lợi ích này, cần có các phương án như: Xem xét lại căn cứ và cơ chế áp dụng giá đất vì giá đất xác định bồi thường còn thấp; giải quyết tốt vấn đề định canh, định cư, hỗ trợ cho người bị THĐ; NNTHĐ và giao cho trung tâm phát triển quỹ đất phân phối lại; người bị THĐ được bồi thường bằng đất hoặc giá trị tương ứng tại thời điểm có quyết định thu hồi; hạn chế trường hợp THĐ vì mục đích phát triển kinh tế, chỉ thu hồi trong một số trường hợp nhất định, còn lại áp dụng cơ chế thỏa thuận giữa doanh nghiệp với người SDĐ
Cuốn sách “Land in transition: Reform and Poverty in Rural Vietnam” (Đất
đai trong thời kỳ chuyển đổi: Cải cách và Nghèo đói ở Nông thôn Việt Nam) của
Trang 16Martin Ravallion và Dominique van de Walle (Ngân hàng Thế giới), Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin (2008) Các tác giả nghiên cứu những thay đổi về thể chế và công tác giao đất trong quá trình chuyển đổi ruộng đất ở Việt Nam đã tác động đến mức sống của người nghèo, đặc biệt là người nghèo ở nông thôn Các tác giả cho rằng đất đai ở Việt Nam là tài sản lớn của HGĐ, là một phương tiện quan trọng để tạo ra sinh
kế, tích lũy của cải và chuyển giao giữa các thế hệ Vì thế, việc thu hồi đất nông nghiệp đã tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân
Thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu về giá đất liên quan đến bồi thường khi
NNTHĐ
Bài viết “Định giá đất và phân cấp trong việc định giá đất; cập nhật, quản lý hệ
thống thông tin về giá đất, đáp ứng yêu cầu quản lý của NN và góp phần phát triển thị trường bất động sản ở nước ta” của tác giả Trần Kim Chung đăng trong cuốn Kỷ yếu
hội thảo “Thi hành pháp luật về đất đai ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và những giải
pháp hoàn thiện” do Viện Nghiên cứu Lập pháp và Viện ROSA Luxemburg (Cộng hoà
Liên bang Đức) tổ chức - Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân (2012) Bài viết phân tích các quy định về giá đất theo LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, bao gồm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp (đất ở tại nông thôn, đất ở đô thị) và đất sản xuất - kinh doanh phi nông nghiệp, chỉ ra thực trạng giá đất ở nhiều nơi được định giá chỉ bằng 30-60% giá thị trường, phần lớn các tỉnh quy định giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp có mức bằng khoảng 55 - 80% mức giá đất tại cùng vị trí Tác giả chỉ ra nguyên nhân của thực trạng này là: Người SDĐ chỉ có quyền SDĐ và vì quyền SDĐ chỉ
là một phần giá trị của đất nên giá trị quyền SDĐ không phản ánh hết các thuộc tính của giá đất; chưa cập nhật đúng và đầy đủ các biến động về giá đất trên địa bàn; không kiểm soát đầy đủ giá trong các giao dịch về đất đai, bất động sản
Bài viết “Về giá đất làm căn cứ tính bồi thường khi NNTHĐ” của tác giả Phạm
Thu Thủy - Tạp chí Luật học, số 9/2012 Bài viết chỉ ra những hạn chế trong các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về giá đất làm căn cứ tính bồi thường, như: Giá đất tính bồi thường là giá đất theo mục đích sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi, không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng, đặc biệt là trong trường hợp THĐ nông nghiệp để chuyển sang mục đích phi nông nghiệp; thực tiễn giá đất bồi thường thấp hơn nhiều so với giá thị trường trong các giao dịch dân
sự về đất đai Tác giả chỉ ra các nguyên nhân như thiếu quy trình cụ thể về định giá đất; trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ chuyên trách về định giá còn nhiều hạn chế Từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định về giá đất
Trang 17làm căn cứ bồi thường, như cần xem xét lại căn cứ và cơ chế áp dụng giá đất, đào tạo đội ngũ cán bộ định giá đất chuyên nghiệp
Bài viết “Những nguyên tắc xác định giá trị bồi thường quyền SDĐ khi NNTHĐ”
của tác giả Trần Minh Đạo - Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 01/2013 Từ việc phân tích giá đất là một trong những nguyên nhân dẫn đến 70 - 80 % khiếu nại hiện nay liên quan đến đất đai, phân tích các đặc trưng về quyền sở hữu và quyền SDĐ ở nước ta, tác giả cho rằng khi THĐ vì mục đích công ích hoặc dự án kinh doanh thương mại phải đảm bảo các nguyên tắc: i) Việc đền bù phải trên cơ sở tương đương bảo tồn mức tài sản, nguồn sinh kế của người bị THĐ; ii) Phải xác định, quan niệm giá đất bị thu hồi trong nhiều trường hợp chỉ là một bộ phận trong tổng chi phí đền bù cho người có đất bị thu hồi; iii) Phải giải quyết việc THĐ gắn liền với phân phối địa tô phát sinh; iv) Phát triển, quản lý tốt thị trường bất động sản sẽ giúp xác định giá đất được chính xác, từ đó xác định giá đất khi đền bù cũng chính xác hơn
Cuốn sách “Pháp luật về định giá đất trong bồi thường, giải phóng mặt bằng ở
Việt Nam” do tác giả Doãn Hồng Nhung chủ biên, Nhà xuất bản Tư pháp 2014 Trên cơ
sở phân tích LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, cuốn sách phân tích một số vấn đề về giá đất, như khái niệm giá đất, bản chất của giá đất, các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất; phân tích các quy định và thực trạng định giá đất nói chung, định giá đất trong bồi thường khi NNTHĐ nói riêng Từ đó, tác giả chỉ ra những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật về giá đất phục vụ bồi thường như sự chênh lệch quá lớn giữa giá đất tính bồi thường và giá thị trường, các phương pháp xác định giá đất chưa hợp lý, bảng giá đất do Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh ban hành sử dụng cho nhiều mục đích là không hợp lý
Bài viết “Về giá đất trong LĐĐ năm 2013” của tác giả Nguyễn Thị Dung - Tạp
chí Luật học, số 11/2014 Bài viết phân tích khái niệm giá đất, các quy định về giá đất trong LĐĐ năm 2013, như nguyên tắc xác định giá đất, phương pháp xác định giá đất, khung giá và bảng giá đất, giá đất cụ thể, đấu giá quyền SDĐ Theo tác giả, giá đất là một trong những điểm mấu chốt trong các quy định, chính sách bồi thường và là một trong những nguyên nhân dẫn đến khiếu nại phức tạp
Bài viết “Xác định giá đất để tính bồi thường khi NNTHĐ” của tác giả Phan
Trung Hiền - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1+2 (329+330) T1/2017 Bài viết phân tích thực trạng pháp luật về nguyên tắc, phương pháp, chủ thể, quy trình, tư vấn, thời điểm xác định giá đất; đối chiếu giá đất tính bồi thường, hỗ trợ và giá đất khi tính tiền SDĐ để TĐC Từ việc phân tích thực trạng này, tác giả đưa các kiến nghị hoàn thiện
Trang 18pháp luật về cơ chế xác định giá đất để người dân tham gia vào quá trình xây dựng giá đất, cơ chế xác định giá đất theo giá thị trường
Bài viết “Hoàn thiện các quy định về định giá đất ở Việt Nam hiện nay” của các
tác giả Châu Hoàng Thân và Phan Trung Hiền - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2/2017 Bài viết phân tích các quy định của LĐĐ năm 2013 về định giá đất, các yếu tố ảnh hưởng đến định giá đất, những bất cập của định giá đất hiện nay và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về định giá đất
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và thực tiễn thi hành
Các công trình, bài viết nghiên cứu về nhóm nội dung này có thể kể đến như sau:
Sách chuyên khảo “Điều tra đặc điểm tâm lý nông dân bị THĐ làm khu công
nghiệp” do tác giả Lưu Song Hào chủ biên, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa (2009)
Cuốn sách phân tích thực tiễn THĐ nông nghiệp của nông dân để phát triển khu công nghiệp đã dẫn đến mất việc làm, đảo lộn cuộc sống người dân Người nông dân nhận tiền đền bù nhưng sử dụng không có hiệu quả và chúng ta cũng chưa có giải pháp hữu hiệu khắc phục hạn chế này Chưa có các biện pháp hữu hiệu và các quy định gắn liền việc THĐ với hỗ trợ chuyển đổi nghề, gây nhiều hệ lụy và bức xúc cho xã hội Phần lớn nông dân chưa hài lòng với chính sách đền bù, hỗ trợ chuyển đổi nghề mà nguyên nhân chính
là giá đất đền bù thấp
Báo cáo tổng kết khoa học đề tài: “Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất
việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện LĐĐ” của Viện Chiến lược, chính sách Tài nguyên và
Môi trường, do tác giả Nguyễn Văn Tài làm chủ nhiệm đề tài (2010) Tại các báo cáo
“Nhận dạng những bất cập, tồn tại của LĐĐ 2003 và công tác quản lý đất đai hiện nay” (Chương II), báo cáo “Bối cảnh kinh tế - xã hội; mục đích, yêu cầu; phạm vi, những nội
dung lớn cần sửa đổi, bổ sung trong LĐĐ 2003; Khung dự án Bộ LĐĐ” (Chương V), đã
trình bày một số hạn chế trong các quy định của LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành LĐĐ 2003, như các quy định về bồi thường, hỗ trợ, TĐC thay đổi thường xuyên dẫn đến khó khăn và chậm trễ khi triển khai, giá đền bù thấp, pháp luật quy định hai cơ chế THĐ (bắt buộc và chủ đầu tư thỏa thuận) có giá đền bù khác nhau dẫn đến việc người bị THĐ có tâm lý so sánh Từ đó, họ cho rằng quyền lợi của mình bị thiệt hại, dẫn đến khiếu kiện kéo dài và cố ý chây ì không chịu bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư khiến cho tiến độ thực hiện dự án bị chậm trễ
Trang 19Bài viết “Về chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ” của tác giả
Nguyễn Thị Phượng - Tạp chí Quản lý Nhà nước số 176 (9-2010) Bài viết đánh giá thực trạng, nguyên nhân THĐ và bồi thường với một số phát hiện chính như: Cơ chế, chính sách liên quan đến bồi thường khi NNTHĐ mặc dù thường xuyên được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn tồn tại một số bất cập; khu TĐC không đảm bảo các điều kiện đồng bộ về hạ tầng kĩ thuật và hạ tầng xã hội; giá đất tính bồi thường ở những vùng giáp ranh, liền kề giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được áp dụng khác nhau
Bài viết “Chính sách hỗ trợ khi NNTHĐ” của tác giả Trần Quang Huy - Tạp chí
Luật học, số 10/2010 Bài viết phân tích sự cần thiết xây dựng chính sách hỗ trợ khi NNTHĐ, cơ sở pháp lý của việc thực thi chính sách hỗ trợ khi NNTHĐ; các quy định về
hỗ trợ người SDĐ khi THĐ theo quy định của LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Trên cơ sở phân tích các quy định, tác giả nêu ra một số kiến nghị về chính sách
hỗ trợ đối với người bị NNTHĐ, như xây dựng khu TĐC phải có đầy đủ cơ sở hạ tầng, kiểm soát quỹ đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất ao, vườn không được công nhận
là đất ở v.v
Bài viết “Pháp luật về trình tự, thủ tục THĐ, bồi thường và giải phóng mặt bằng
và những vướng mắc nảy sinh trong quá trình áp dụng” của tác giả Nguyễn Thị Nga -
Tạp chí Luật học, số 11/2010 Bài viết phân tích các quy định về trình tự, thủ tục; các bước cụ thể khi THĐ, bồi thường và giải phóng mặt bằng trong LĐĐ năm 2003 Theo tác giả, các quy định này khi triển khai trên thực tế còn gặp một số vướng mắc như quy định NNTHĐ phải thực hiện theo quy hoạch SDĐ được xét duyệt và công bố, nên nếu quy hoạch sai thì thu hồi, bồi thường cũng sai và dẫn đến nhiều hệ quả phát sinh Mặt khác, sự điều chỉnh, bổ sung quy hoạch chi tiết quá nhiều trong cùng một dự án chủ yếu
vì lợi ích của nhà đầu tư mà chưa xuất phát từ lợi ích của người SDĐ gây bức xúc trong nhân dân Quy định khi có khiếu nại thì người bị THĐ vẫn phải thực hiện quyết định THĐ sẽ gây ra những hậu quả nhất định nếu như sau khi giải quyết khiếu nại cho thấy quyết định THĐ là sai nhưng quyết định này đã được thực hiện
Bài viết “Những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng các
phương thức bồi thường khi NNTHĐ” của tác giả Nguyễn Thị Nga - Tạp chí Luật học,
số 5/2011 Tác giả phân tích các quy định và đánh giá thực trạng các phương thức bồi thường khi NNTHĐ theo quy định của LĐĐ năm 2003, bao gồm: Bồi thường bằng việc giao đất mới, bồi thường bằng tiền, thực hiện chính sách TĐC và các chính sách hỗ trợ khác Các phương thức này trong quá trình triển khai gặp nhiều vướng mắc như quỹ đất không đủ để thực hiện phương án “đất đổi đất”, đặc biệt là đối với việc THĐ nông
Trang 20nghiệp, áp dụng phương án bồi thường bằng tiền thì phát sinh nhiều khiếu kiện do người
bị THĐ cho rằng giá đất bồi thường quá thấp Đối với vấn đề TĐC thì chất lượng nhà ở,
hạ tầng, tiến độ bàn giao không đảm bảo
Cuốn sách “Cơ chế NNTHĐ và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam” của
Ngân hàng thế giới, xuất bản năm 2011 Cuốn sách bao gồm 03 báo cáo, trong đó Báo cáo 1 (Đề xuất về hoàn thiện chính sách NNTHĐ và cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam) và Báo cáo 2 (Nghiên cứu cơ chế xác định giá đất phục vụ bồi thường, hỗ trợ và TĐC ở Việt Nam) liên quan trực tiếp đến vấn đề bồi thường khi NNTHĐ Trên cơ sở phân tích các quy định của LĐĐ năm 2003, các báo cáo phân tích hai hình thức NNTHĐ ở Việt Nam là THĐ bắt buộc và THĐ tự nguyện; phân tích thực
tế triển khai việc THĐ ở Việt Nam, bao gồm: Đánh giá thực tế triển khai việc THĐ dưới góc nhìn của lãnh đạo cấp tỉnh, của nhà đầu tư, của người bị THĐ và thực tiễn triển khai THĐ bắt buộc ở Việt Nam; phân tích và nhận xét các quy định về giá đất phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC
Các bài viết đăng trong cuốn Kỷ yếu hội thảo “Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp
luật đất đai trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do Viện Nghiên cứu
Lập pháp và Viện ROSA Luxemburg tổ chức - Nhà xuất bản Lao động (2011), bao gồm:
Thứ nhất, bài viết “THĐ và chuyển đổi mục đích SDĐ - Những vấn đề cần nghiên cứu” của tác giả Đào Trung Chính Bài viết phân tích các quy định, thực trạng và các
vướng mắc phát sinh từ việc áp dụng LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến bồi thường khi NNTHĐ Trong đó, tập trung vào các vấn đề liên quan đến căn cứ thực hiện việc THĐ, cơ chế và chính sách về THĐ, bồi thường, hỗ trợ, TĐC Các vướng mắc như quy hoạch còn mang tính “xin - cho”, khái niệm THĐ vì lợi ích quốc gia, công cộng còn chưa rõ ràng, giá đất tính bồi thường chưa phù hợp, các khu TĐC chưa đảm bảo về chất lượng
Thứ hai, bài viết “Một số vấn đề hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai đảm bảo hài hòa lợi ích của NN, của người SDĐ và của nhà đầu tư” của tác giả
Trần Quang Huy Bài viết phân tích hậu quả của việc THĐ và quyền lợi của người nông dân khi bị THĐ; thực trạng các quy định của LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành LĐĐ năm 2003 chưa đáp ứng yêu cầu về mặt lợi ích giữa NN, doanh nghiệp và người bị THĐ, trong đó người bị THĐ luôn bị thiệt thòi nhất Để đảm bảo hài hòa giữa các lợi ích này, thì tiếp cận đất đai của các nhà đầu tư theo nguyên tắc thị trường là một phương thức quan trọng
Trang 21Thứ ba, bài viết “Hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh Hằng Tác giả cho rằng việc giải
quyết khiếu nại phát sinh từ hoạt động bồi thường khi NNTHĐ chưa hiệu quả, chưa triệt
để là một trong những nguyên nhân dẫn đến khiếu nại kéo dài, phức tạp trong lĩnh vực THĐ Bài viết hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết khiếu nại về bồi thường khi NNTHĐ và chỉ ra những vướng mắc về thời hiệu, thời hạn và thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực này
Báo cáo số 193/BC-BTNMT ngày 06/9/2012 về “Tổng kết tình hình thi hành LĐĐ năm 2003 và định hướng sửa đổi LĐĐ” của Bộ Tài nguyên và Môi trường Báo cáo này chỉ rõ thực tiễn giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành làm căn cứ để tính bồi thường chỉ bằng 30 - 60% so với giá thị trường Quy định này có lợi cho người SDĐ khi thực hiện các nghĩa vụ tài chính nhưng lại không phù hợp khi áp giá bồi thường, dẫn đến người bị THĐ không đồng thuận với phương án bồi thường do NN đưa ra
Đề tài khoa học cấp trường (2013) “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi
NNTHĐ - Thực trạng và hướng hoàn thiện” của Trường Đại học Luật Hà Nội do tác giả
Nguyễn Thị Nga làm chủ nhiệm Đề tài bao gồm 15 chuyên đề chia thành 03 nội dung
chính sau: Nội dung thứ nhất: Những vấn đề lý luận về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ; Nội dung thứ hai: Thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ; Nội dung thứ ba: Một số định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ Các chuyên đề đã đề cập khá toàn diện những nội dung cơ bản liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ, bao gồm những phân tích về lý luận, thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật Từ việc phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ,
nhóm tác giả đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này
Bài viết “Cụ thể hóa các quy định về đất đai trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013”
của tác giả Nguyễn Văn Giàu - Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số T1(2)+T2(1)/2014 Trên cơ sở phân tích các quy định của Hiến pháp năm 2013, tác giả phân tích các quy định của LĐĐ năm 2013 đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, bao gồm quy định các trường hợp THĐ tại Điều 61, Điều 62; các quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC, như điều kiện, nguyên tắc bồi thường, các khoản hỗ trợ, quy định về giá đất khi bồi thường
Bài viết “Bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ theo LĐĐ năm 2013” của tác giả
Phạm Thu Thủy - Tạp chí Luật học số 11/2014 Bài viết phân tích các khái niệm bồi thường, hỗ trợ, TĐC; nguyên tắc và giá đất bồi thường, vấn đề hỗ trợ và TĐC theo quy định của LĐĐ năm 2013 Tác giả chỉ ra các vướng mắc khi áp dụng các quy định này
Trang 22như: Quy định NNTHĐ đang sử dụng đất vào mục đích nào thì được giao đất có cùng mục đích sử dụng ít có tính khả thi trong trường hợp THĐ nông nghiệp, vì quỹ đất nông nghiệp gần như đã được giao hết; Quy định trường hợp bồi thường bằng tiền theo giá đất tại thời điểm thu hồi tồn tại nhiều bất cập bởi sau khi thu hồi một thời gian NN mới chi trả được tiền bồi thường do thủ tục thực hiện phức tạp
Cuốn sách “Báo cáo tổng hợp hỗ trợ tiếp cận các nguồn lực phát triển cho người
dân TĐC thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế” của Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn
Quản lý tài nguyên (CORENARM), Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển xã hội (CSRD)
và Tổ chức ICCO, Nhà xuất bản Nông nghiệp (2014) Cuốn sách gồm 06 phần nghiên cứu về hiện trạng xây dựng các công trình thủy điện, các chương trình TĐC, thực trạng
về di dân giải phóng mặt bằng từ các công trình thủy điện, quy trình thu hồi và công tác bàn giao đất trên địa bàn thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; những tác động về môi trường và xã hội của việc di dân TĐC từ các công trình thủy điện Mặc dù phạm vi nghiên cứu là địa bàn thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế nhưng báo cáo đã chỉ ra thực trạng, bất cập mang tính phổ biến của việc THĐ, bồi thường và TĐC Cụ thể là LĐĐ và Hiến pháp có sự mâu thuẫn về trưng dụng, trưng thu và trưng mua tài sản; chính sách thu hồi và bồi thường liên tục thay đổi dẫn đến khó khăn trong thực thi Theo đó, trong thời gian ngắn nhưng chính sách sau cao hơn chính sách trước dẫn đến sự so sánh, khiếu nại từ phía người bị THĐ; giá đền bù quá thấp, chỉ bằng 45%, thậm chí có nơi bằng 25% giá thị trường; chính sách “đất đổi đất” hầu như không thực hiện được; khu
TĐC không đáp ứng được yêu cầu về diện tích, độ phẳng, hạ tầng
Đề tài khoa học cấp bộ (2014) “Cơ sở pháp lý của quản lý NN đối với đất đai
trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” của Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam, do tác giả Phạm Hữu Nghị làm chủ nhiệm Đề tài đánh giá thực trạng cơ sở pháp lý của quản lý NN đối với đất đai ở nước ta tại thời điểm LĐĐ năm 2013 vừa có hiệu lực thi hành, phân tích những thiệt hại do THĐ trên các phương diện kinh tế (bao gồm các thiệt hại về đất, công sức đầu tư, tài sản trên đất, ngừng trệ sản xuất - kinh doanh, thiệt hại vô hình khác), phương diện xã hội (bao gồm thiệt hại do cuộc sống, sản xuất bị đảo lộn; tâm lý người dân bất an, lo lắng, không yên tâm lao động sản xuất; mất thời gian để thích nghi cuộc sống mới hoặc không thể thích nghi được), phương diện chính trị (nếu không giải quyết tốt quyền lợi kinh tế, không giải quyết hài hòa lợi ích giữa các bên sẽ gây bất ổn xã hội, mâu thuẫn nội bộ tăng cao, khiếu nại đông người, làm giảm lòng tin của người dân; làm ảnh hưởng và rạn nứt khối liên minh công nông; gây ra tệ nạn xã hội; ảnh hưởng vấn đề an ninh lương thực) Bên cạnh những ưu
Trang 23điểm, pháp luật về THĐ còn tồn tại những bất cập như giá đất bồi thường thấp so với giá thị trường, thời gian thực hiện thu hồi và bồi thường kéo dài, THĐ nông nghiệp tràn lan
mà chưa chú trọng quyền lợi của nông dân, cuộc sống của người dân sau THĐ không được cải thiện Những bất cập này đã dẫn đến tình trạng khiếu nại, tố cáo có chiều hướng gia tăng về số vụ và tính phức tạp
Bài viết “Vấn đề hỗ trợ khi NNTHĐ trong LĐĐ năm 2013” của tác giả Phạm Văn
Võ - Tạp chí Luật học số 1/2015 Bài viết phân tích chính sách hỗ trợ khi NNTHĐ, bao gồm sự cần thiết của chính sách hỗ trợ khi NNTHĐ, mối quan hệ giữa chính sách hỗ trợ
và chính sách bồi thường; đối tượng được hỗ trợ; hình thức, điều kiện và các khoản hỗ trợ (bao gồm hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm; hỗ trợ TĐC; hỗ trợ khi THĐ công ích của xã, phường, thị trấn và hỗ trợ khác) theo LĐĐ năm 2013 và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính
phủ về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ (sau đây gọi tắt là Nghị định số
47/2014/NĐ-CP)
Đề tài khoa học cấp NN (2015) “Sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai trong phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của Tạp chí Cộng sản do tác
giả Vũ Văn Phúc làm chủ nhiệm Liên quan đến pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ,
đề tài đã chỉ ra những vấn đề nổi cộm trong THĐ, bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ
trợ, TĐC, bao gồm: Một là, việc THĐ, bồi thường chưa có một cơ chế giải quyết rõ ràng, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa NN, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi; Hai là, chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC chưa hợp lý, tính khả thi thấp; Ba là, nông dân được hưởng
lợi ít nhất từ đất đai khi THĐ nông nghiệp do đền bù thấp dẫn đến cuộc sống vẫn nghèo,
thậm chí nghèo hơn trước khi THĐ; Bốn là, sau khi THĐ nông nghiệp và chuyển sang
đất phi nông nghiệp có giá cao hơn nhiều lần nông nghiệp nhưng khoản chênh lệch giá này điều tiết vào ngân sách NN còn thấp, chủ yếu rơi vào tay chủ đầu tư nhận đất và
người đầu cơ đất; Năm là, giá NN sử dụng để đền bù cho dân khi THĐ quá thấp so với
giá giao dịch trên thị trường (nhiều ý kiến cho rằng chỉ bằng 30 - 40% giá giao dịch thành công trên thị trường)
Đề tài khoa học cấp bộ (2016) “Khắc phục bất cập trong cơ chế, chính sách,
pháp luật về đất đai ở Việt Nam hiện nay góp phần phòng ngừa tham nhũng” của Ban
Nội chính Trung ương do tác giả Vũ Thu Hạnh làm chủ nhiệm Liên quan đến pháp luật
về bồi thường khi NNTHĐ, đề tài đã chỉ ra những bất cập trong cơ chế, chính sách và
pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng, bao gồm: Một là,
THĐ để thực hiện các dự án phát triển kinh tế, xã hội vẫn chưa giải quyết được hài hòa
Trang 24lợi ích của các bên do phạm vi THĐ còn khá rộng, khó tránh khỏi sự lạm dụng đối với
các dự án này; Hai là, cơ chế, chính sách và pháp luật đất đai hiện hành ghi nhận sự tham
gia của người dân trong quá trình lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC
nhưng chưa rõ ràng, cụ thể tạo ra “kẻ hở” dẫn đến tình trạng tham nhũng khi THĐ; Ba
là, giá đất bồi thường còn thấp, việc điều tiết lợi ích chưa hợp lý, chưa chú trọng đến lợi
ích của NN và người có đất bị thu hồi dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người, kéo dài, làm tăng chi phí đầu tư, ảnh hưởng môi trường đầu tư và là nơi phát sinh tham nhũng, tiêu cực lớn nhất, nhiều nhất
Đề tài khoa học cấp bộ (2016) “THĐ và giải quyết khiếu nại về THĐ ở Việt Nam
hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Viện Khoa học Thanh tra (Thanh tra
Chính phủ) do tác giả Đinh Văn Minh làm chủ nhiệm Đề tài chỉ ra các nguyên nhân dẫn
đến khiếu nại khi THĐ theo LĐĐ năm 2013 Thứ nhất, về nguyên nhân khách quan: Một
là, do quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho nhu cầu về đất tăng lên thúc đẩy giá
đất tăng cao dẫn đến lợi ích liên quan đến đất lớn; Hai là, chính sách liên quan đến lợi
ích người SDĐ còn nhiều bất cập, nhất là giá đất chưa phù hợp và thường xuyên thay
đổi; Ba là, THĐ nhưng không ưu tiên trả bằng đất mà trả bằng tiền, điều kiện tại khu TĐC không bằng khu dân cư có đất bị thu hồi; Bốn là, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế nên đòi hỏi quyền lợi vượt quá quy định Thứ hai, về nguyên nhân chủ quan: Một là, cơ chế, chính sách trong lĩnh vực quản lý đất đai hiện nay chưa chú ý đúng mức quyền lợi của người dân; Hai là, công tác chỉ đạo, điều hành và quản lý đất đai còn yếu kém, bị buông lỏng; Ba là, chưa có chế tài hoặc xử lý không cương quyết nhiều dự án treo; Bốn là, khi thực hiện dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế
- xã hội, nhiều địa phương, ban quản lý dự án chưa thực hiện đầy đủ quy định, quy trình
THĐ và chưa làm tốt công tác tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của THĐ; Năm là,
công tác thanh tra, kiểm tra chưa được chú trọng đúng mức và việc giải quyết khiếu nại
từ cơ sở đến các cấp chưa kịp thời, có biểu hiện qua loa, có trường hợp giải quyết không đúng hoặc không giải quyết
Dự án điều tra cơ bản cấp bộ (2016) “Đánh giá thực trạng đảm bảo các quyền và
lợi ích hợp pháp của cá nhân, cộng đồng trong các dự án có THĐ nông nghiệp” của
Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) do tác giả Võ Đình Toàn làm chủ nhiệm Thông
qua hoạt động điều tra cơ bản về THĐ nông nghiệp ở nước ta, dự án đã phân tích, đánh giá nhu cầu tất yếu khách quan của việc THĐ nông nghiệp; những tác động tích cực, tiêu cực và yêu cầu phát triển bền vững của việc THĐ nông nghiệp; những bất cập khi THĐ nông nghiệp, như thực tế không có đất để bồi thường, giá đất bồi thường thấp, các chính
Trang 25sách hỗ trợ thấp và không đảm bảo để ổn định cuộc sống sau THĐ Từ những phân tích này, dự án kết luận rằng: Chính sách, pháp luật THĐ nông nghiệp chắp vá, thiếu đồng bộ và thiếu sự ổn định cần thiết; cơ chế thực thi chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quyền lợi chính đáng của người có đất nông nghiệp bị thu hồi; tình trạng nông dân không có đất là một vấn đề vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính chính trị - xã hội, tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi, không đơn giản và có tính dây chuyền với phát triển bền vững đất nước như thất nghiệp, di dân, “giàu tạm thời, nghèo bền vững”,
tệ nạn xã hội, tâm lý mất niềm tin vào chính quyền
Bài viết “Bất cập trong quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục THĐ vì mục
đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng” của tác giả Châu Hoàn Thân - Tạp chí Khoa học, số 44 (2016) Bài viết chỉ ra
những bất cập về trình tự, thủ tục THĐ của LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đó là có nhiều văn bản quy định về nội dung này, hạn chế trong quy định về hội đồng bồi thường, hỗ trợ và TĐC; quy định về trình tự, thủ tục THĐ chưa thống nhất
Đề tài khoa học cấp bộ (2017) “Cơ chế pháp lý bảo đảm thực hiện nguyên tắc đất
đai thuộc sở hữu toàn dân do NN đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” của Viện
Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) do tác giả Võ Đình Toàn làm chủ nhiệm Khi đánh giá thực tế vận hành cơ chế pháp lý bảo đảm nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
NN đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý từ thực tiễn thực hiện THĐ và công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC, đề tài nhận định việc THĐ theo LĐĐ năm 2013 đã khắc phục được tình trạng THĐ tràn lan như trước, sàng lọc được các nhà đầu tư có năng lực bảo đảm đưa đất vào sử dụng, không để đất đai lãng phí; các quy định về bồi thường, hỗ trợ, TĐC từng bước được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế thị trường, bảo đảm tốt hơn quyền lợi hợp pháp của người bị THĐ Bên cạnh những ưu điểm, việc THĐ còn một số hạn chế như căn cứ THĐ để phát triển kinh tế - xã hội tạo điều kiện cho các nhà đầu thư THĐ ồ ạt để “ôm đất”, “giữ đất” để bán kiếm lời, nhiều dự án “treo” cũng sinh ra từ đây trong khi người dân không có đất để sinh sống và sản xuất phải di cư
tự phát đến đô thị hoặc xuất khẩu lao động; có nhiều dự án phát triển kinh tế - xã hội tương tự nhau nhưng có dự án chính quyền đứng ra THĐ, có dự án doanh nghiệp thỏa thuận với người SDĐ; giá đất nông nghiệp được bồi thường thấp hơn rất nhiều giá thị
trường mang lại lợi ích cho nhà đầu tư nhưng thiệt hại cho người bị THĐ
Các bài viết sau đây được đăng trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Chính sách, pháp luật TĐC: Từ lý thuyết đến thực tiễn” do Trường Đại học Luật - Đại học Huế và Trường Kinh doanh - Đại học QUEENSLAND (Australia) tổ chức ngày 14/12/2017 tại Thừa
Trang 26Thiên Huế: Bài viết “Chính sách quản lý TĐC ở Việt Nam: Lý thuyết và thực tiễn” của tác giả Võ Thị Phương Mai; bài viết “Những hạn chế, bất cập của pháp luật về
bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi THĐ ở Việt Nam - Một số gợi mở cải cách theo hướng phát triển bền vững” của tác giả Đặng Công Cường; bài viết “Một số giải pháp bảo đảm thực hiện tốt chính sách TĐC trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” của tác giả
Trần Việt Dũng và Trần Ngọc Thúy; bài viết “Vấn đề lập dự án TĐC và các bảo đảm
hậu TĐC theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Lê Ngọc Đoàn và Lê Thị Thìn; bài
viết “Các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục THĐ, đất nông nghiệp để phát
triển kinh tế - xã hội và hỗ trợ, TĐC: Những vướng mắc và một số giải pháp” của tác
giả Nguyễn Văn Đông; bài viết “Thực trạng, giải pháp cơ chế quản lý, chính sách
TĐC cho người dân bị ảnh hưởng bởi dự án thủy điện” của tác giả Trần Thị Diệu
Hương; bài viết “Những vướng mắc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về
TĐC - Qua thực tiễn tại một số dự án ở khu vực Trung Trung bộ” của tác giả Đoàn
Đức Lương và Nguyễn Lương Sỹ; bài viết “Những bất cập trong chính sách, pháp
luật Việt Nam về TĐC” của tác giả Lê Thị Nga; bài viết “Thực trạng và giải pháp cho công tác TĐC các công trình thủy điện ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị
Hồng Trinh; bài viết “Một số vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC và
giải pháp hoàn thiện” của tác giả Đặng Thị Hà; bài viết “Những vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và vấn đề hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Thị Nữ; bài viết “Áp dụng pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế” của tác giả Nguyễn
Duy Phương; bài viết “Thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ qua
thực tiễn địa bàn huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” của tác giả Lê Thị Thảo;
bài viết “Quyền tiếp cận thông tin của công dân trong việc THĐ, bồi thường và hỗ
trợ TĐC” của tác giả Bùi Thuận Ánh; bài viết “TĐC cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hữu Khánh Linh; bài viết “TĐC tại Việt Nam: Bảo vệ quyền con người và ứng phó với biến đổi khí hậu” của tác giả Nguyễn Ngọc Thanh
Hà; bài viết “Đánh giá tác động giới (GIA) cho trường hợp các công trình thủy điện
tại Miền trung và Tây nguyên Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Diệu My; bài viết
“Đảm bảo cư dân tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản tại khu TĐC - Thực tiễn nghiên cứu tại khu TĐC Hương Sơ, Thừa Thiên Huế” của tác giả Trương Thị Yến và Trần Thị
Diệu Hà
Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau như phân tích các quy định hiện hành về TĐC, tiếp cận thực trạng TĐC tại một số địa phương, vùng kinh tế hoặc dự án cụ thể, các tác giả đã phân tích một cách khá toàn diện các quy định hiện hành về TĐC; đánh
Trang 27giá thực trạng các công trình TĐC, hạ tầng TĐC; phân tích nhu cầu của người dân TĐC về đất sản xuất, về công ăn việc làm, về quyền tiếp cận thông tin, các dịch vụ xã hội cơ bản tại khu TĐC; TĐC cho người dân tộc thiểu số Từ những phân tích này, các tác giả đã chỉ ra hàng loạt bất cập về thực trạng TĐC hiện nay, đó là: Công trình TĐC kém chất lượng; các khu TĐC thiếu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; người dân TĐC không có đất nông nghiệp để sản xuất dẫn đến bỏ nơi TĐC để quay về chỗ
ở cũ; việc bồi thường, hỗ trợ, cấp đất sản xuất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) chậm trễ; diện tích đất ở TĐC không đủ cho nhu cầu ở của các hộ gia đình (HGĐ) đông người; khu TĐC không đảm bảo an ninh, thiếu điện, thiếu nước; dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục không đảm bảo; công trình TĐC không phù hợp với phong tục, tập quán của từng vùng, miền; không gian văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo không được đảm bảo; công tác hậu TĐC chưa được chú trọng Các tác giả cũng đề xuất nhiều giải pháp giải quyết những bất cập này để đạt đến mục tiêu người dân TĐC phải có cuộc sống bằng hoặc tốt hơn trước khi bị THĐ
Bài viết „Xác định giá trị bồi thường đối với nhà, công trình xây dựng khi
NNTHĐ” của tác giả Trần Vang Phủ - Tạp chí Nhà nước & Pháp luật số 2 (2018) Từ
việc phân tích các nguyên tắc chung áp dụng bồi thường về nhà, công trình xây dựng trên đất khi THĐ và chỉ ra những bất cập, tác giả kiến nghị bổ sung các quy định như xác định giá trị đối với các công trình có giá trị tâm linh, lịch sử cũng như bồi thường đối với
các thiệt hại gắn liền với việc bồi thường các nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất
1.1.3 Nhóm công trình nghiên cứu về nâng cao hiệu quả thực thi và hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Bài viết “Những điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện chính sách, pháp luật về
bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ - thực trạng và kiến nghị” của tác giả Nguyễn
Quang Tuyến - Kỷ yếu hội thảo khoa học “Thi hành pháp luật về đất đai ở Việt Nam
hiện nay - thực trạng và những giải pháp hoàn thiện” do Viện Nghiên cứu Lập pháp và
Viện ROSA Luxemburg (Cộng hòa Liên bang Đức) tổ chức - Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân (2011) Trên cơ sở phân tích, nhận diện những điều kiện cơ bản cho việc thực hiện chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ, những kết quả đạt được và những hạn chế, khiếm khuyết và nguyên nhân của những hạn chế, khiếm khuyến, tác giả kiến nghị các biện pháp tạo cơ chế để cộng đồng dân cư và người
bị THĐ tham gia trực tiếp vào quá trình THĐ, bồi thường và TĐC như: i) Nâng cao năng lực của bộ máy quản lý đất đai; ii) Nâng cao nhận thức cộng đồng về pháp luật đất đai; iii) Tăng cường kiểm tra, giám sát về việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC; iv) Tạo cơ chế để
Trang 28cộng đồng dân cư và người bị THĐ tham gia trực tiếp vào quá trình thu hồi, bồi thường,
hỗ trợ và TĐC; v) Sửa đổi, bổ sung các quy định về địa vị pháp lý của Trung tâm phát triển quỹ đất
Bài viết “Công khai, minh bạch để bảo vệ quyền lợi của người bị THĐ” của tác
giả Nguyễn Quang Tuyến - Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 2/2012 Bài viết phân tích các ưu điểm, hạn chế của LĐĐ năm 2003 về sự công khai, minh bạch trong các quy định
về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ; thực trạng công khai, minh bạch trong thực thi các quy định về bồi thường, giải phóng mặt bằng Từ việc phân tích này, tác giả đưa ra năm giải pháp để nâng cao tính công khai, minh bạch khi NNTHĐ, bao gồm: i) Bổ sung yếu tố công khai trong nguyên tắc THĐ; ii) NNTHĐ để tạo ra các quỹ đất sạch và giao cho Trung tâm phát triển quỹ đất thực hiện việc bồi thường; iii) Xã hội hóa dịch vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng; iv) Quy định giá tính bồi thường theo thời điểm trả tiền bồi thường trên thực tế, quy định cụ thể điều kiện “khu TĐC có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”; v) Thành lập quỹ trợ cấp thất nghiệp, quỹ giải quyết việc làm cho nông dân bị THĐ nông nghiệp
Bài viết “Các giải pháp đảm bảo quyền có việc làm của hộ nông dân bị THĐ”
của tác giả Nguyễn Thanh Tuấn - Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số T9/2012 Tác giả đưa ra các giải pháp để đảm bảo quyền có việc làm của các hộ nông dân khi bị THĐ nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, bao gồm: i) Xây dựng và phát triển một chương trình về đào tạo nghề cho những người thuộc diện THĐ để phát triển kinh tế, xã hội và thực hiện chiến lược phát triển nông thôn; ii) Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thị trường lao động cho những người lao động là nông dân khi gia nhập vào thị trường lao động tự do sau khi bị THĐ; iii) Hạn chế số hộ nông dân bị THĐ
Bài viết “Hoàn thiện pháp luật về THĐ, bồi thường, hỗ trợ, TĐC trong giai đoạn
hiện nay” của tác giả Phan Trung Hiền - Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 23/2012; Bài
viết “Kiến nghị hoàn thiện cơ sở hiến định về THĐ, bồi thường, hỗ trợ và TĐC” của tác
giả Phan Trung Hiền - Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 3/2013 Các bài viết tập trung phân tích một số ưu điểm, hạn chế của các quy định về THĐ, bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi NNTHĐ trong LĐĐ năm 2003, phân tích sự tiến bộ đã được ghi nhận trong dự thảo Hiến pháp năm 2013 liên quan đến đất đai, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định này, như: i) Xây dựng cơ sở hiến định và hoàn thiện cơ sở pháp định về THĐ trong trường hợp THĐ tự nguyện; luật hóa về trình tự, thủ tục THĐ; ii) Xây dựng các quy định
về bồi thường tài sản vô hình; iii) Hoàn thiện các quy định về hỗ trợ theo hướng tập trung, thống nhất và hiệu quả, tránh việc tùy tiện và không công bằng; iv) Quy định cụ
Trang 29thể về khái niệm “khu TĐC có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”; v) Bảo đảm bồi thường về đất là giá giao dịch trên thị trường; vi) Bảo đảm người bị THĐ ở có
đủ điều kiện lựa chọn nơi ở mới
Bài viết “Giải quyết việc làm, ổn định thu nhập cho người dân khi THĐ nông
nghiệp” của tác giả Đàm Khắc Cử - Tạp chí Cộng sản, số 68 (8-2012) Bài viết chỉ ra
thực trạng mặc dù NN đã có khá nhiều chủ trương, chính sách tạo việc làm cho người dân thuộc diện THĐ nhưng tình hình vẫn chưa được cải thiện Nguyên nhân là do nông dân trình độ hạn chế, các chính sách và quy định của pháp luật về hỗ trợ việc làm còn nhiều hạn chế Từ đó tác giả đưa ra các kiến nghị về cơ chế thực thi và hoàn thiện các quy định của pháp luật về THĐ, như công khai hóa kế hoạch SDĐ nông nghiệp, đào tạo nghề cho người nông dân bị THĐ, cần có quy định cụ thể về trách nhiệm giải quyết việc làm cho nông dân bị THĐ
Cuốn sách “Giải phóng mặt bằng ở Hà Nội - hệ lụy và hướng giải quyết” của các
tác giả Nguyễn Chí Mỳ, Nguyễn Ngọc Bắc, Hoàng Xuân Nghĩa, Nguyễn Thanh Đình, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật (2012) Từ việc đánh giá các tác động tích cực, tiêu cực; đánh giá các vấn đề giải phóng mặt bằng và hậu giải phóng mặt bằng ở Hà Nội, nhóm tác giả đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác giải phóng mặt bằng, bao gồm: i) Giải pháp về tư tưởng, nhận thức, tuyên truyền giáo dục; ii) Giải pháp về hoàn thiện pháp luật, chính sách về bồi thường khi NNTHĐ; iii) Giải pháp về cơ chế đền bù theo giá thị trường trong điều kiện bình thường; iv) Giải pháp về quy hoạch và cải cách hành chính; v) Giải pháp về TĐC và ổn định cuộc sống; vi) Giải pháp về đào tạo nghề và
bố trí việc làm; vii) Giải pháp về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ổn định tâm lý, tập quán, lối sống, văn hóa; viii) Giải pháp về hậu kiểm và xử lý dự án “treo”
Bài viết “Đảm bảo quyền con người trong các quyết định hành chính về bồi
thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ” của tác giả Cao Vũ Minh - Tạp chí Luật học, số
1/2013 Từ việc chỉ ra thực trạng ban hành quyết định hành chính về bồi thường, hỗ trợ, TĐC trong nhiều trường hợp chưa đảm bảo tính hợp pháp (chưa đúng thẩm quyền, không đúng hình thức, không phù hợp với pháp luật và quyết định của cấp trên), vi phạm tính hợp lý (không rõ ràng về ngôn ngữ, văn phong, chưa hợp lý về giá bồi thường) dẫn đến quyền lợi của người bị THĐ bị xâm phạm, tác giả kiến nghị các quyết định hành chính liên quan đến bồi thường khi NNTHĐ phải đảm bảo tính hợp pháp như cần có cơ chế đặc biệt để giám sát các quyết định này, thậm chí đối với các quyết định mang tính quy phạm không hợp pháp thì người dân cũng có quyền khiếu nại
Trang 30Luận án tiến sĩ của Phạm Thu Thủy: “Pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ nông
nghiệp ở Việt Nam”, bảo vệ năm 2014 Tác giả nêu ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả thực thi như sau: i) Quy định về nguyên tắc tính giá bồi thường theo thời điểm bồi thường trên thực tế; ii) Hoàn thiện quy định về cơ chế xác định giá đất khi bồi thường đất nông nghiệp; iii) Hoàn thiện các quy định liên quan đến điều kiện bồi thường khi NNTHĐ nông nghiệp; iv) Hoàn thiện quy định về việc NN điều tiết một phần lợi ích từ việc thu hồi, chuyển mục đích SDĐ để thực hiện các khoản hỗ trợ cho người SDĐ; v) Hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục thu hồi và bồi thường khi NNTHĐ nông nghiệp; vi) Hoàn thiện quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo về bồi thường khi NNTHĐ nông nghiệp; vii) Hoàn thiện các chính sách về hỗ trợ, giải quyết việc làm cho nông dân bị THĐ; viii) Đẩy mạnh công khai hóa, minh bạch hóa quá trình thu hồi và bồi thường; ix) Đẩy nhanh công tác cấp GCNQSDĐ; x) Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai và thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm; xi) Thực hiện nghiêm công tác quy hoạch, kế hoạch SDĐ
Luận án tiến sĩ của Đào Trung Chính: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới
pháp luật về THĐ, bồi thường, hỗ trợ và TĐC”, bảo vệ năm 2014 Tác giả đề xuất
những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và TĐC như sau: i) Thiết kế chính sách THĐ, bồi thường, hỗ trợ và TĐC phải trên cơ sở nhận thức đầy đủ, toàn diện vai trò của đất đai; ii) Làm rõ mục đích THĐ để phát triển kinh tế theo LĐĐ
2003 và làm rõ quan hệ lợi ích giữa NN, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi; iii) hỗ trợ đầy đủ cho cho người bị THĐ để ổn định đời sống, chuyển đổi việc làm và bù đắp thiệt hại về thu nhập; iv) Khu TĐC phải được quy hoạch gắn với điều kiện thuận lợi về hạ tầng phục vụ đời sống
Cuốn sách “Việc làm cho người lao động bị THĐ trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa ở các vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ” của các tác giả
Trần Đình Chín và Nguyễn Dũng Anh (đồng chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
- Sự thật (2014) Tại Chương II, các tác giả tập trung nghiên cứu 5 tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ là Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định
và chỉ ra thực trạng còn nhiều hạn chế trong việc tạo việc làm cho người lao động bị THĐ Từ những hạn chế này, các tác giả đưa ra các giải pháp để giải quyết việc làm cho người bị THĐ như: i) Rà soát, hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch đất nông nghiệp phải giải tỏa; ii) Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa ngành, nghề đào tạo; iii) Hoàn thiện cơ chế giải quyết việc làm cho người bị THĐ; iv) Tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, từ
Trang 31đó giải quyết việc làm cho người bị THĐ, tăng cường trách nhiệm cho doanh nghiệp ở vùng THĐ trong việc giải quyết việc làm cho người bị THĐ
Luận án tiến sĩ kinh tế của Phạm Thị Thủy “Việc làm cho nông dân khi THĐ ở
Hà Nội”, bảo vệ năm 2014 Luận án đưa ra các giải pháp sau để giải quyết việc làm cho
nông dân khi THĐ nông nghiệp: i) Khuyến khích phát triển đa dạng các tổ chức sản xuất
- kinh doanh để tạo việc làm; ii) Nâng cao trình độ và tính chủ động để nông dân chủ động tìm kiếm việc làm; iii) Phát triển và mở rộng thị trường lao động; iv) Nâng cao hiệu quả quản lý NN trong việc giải quyết việc làm cho nông dân; v) Liên kết kinh tế phát triển sản xuất, thu hút lao động
Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Văn Thắng “Chính sách việc làm cho thanh
niên nông thôn vùng THĐ của Hà Nội”, bảo vệ năm 2014 Trên cơ sở phân tích thực
trạng, luận án cho rằng việc hoàn thiện chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng THĐ của Hà Nội cần hoàn thiện theo các định hướng như: i) NN thực hiện hỗ trợ nhưng thanh niên chủ động tìm và tự tạo việc làm; ii) Tạo việc làm tại chỗ, tập trung vào khu vực ngoại thành vùng mới sáp nhập; iii) Có chính sách việc làm riêng đối với thanh niên nông thôn vùng THĐ ở Hà Nội; iv) Hướng tới việc làm bền vững Từ đó, tác giả đưa ra 5 nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng THĐ của Hà Nội: i) Khuyến khích phát triển doanh nghiệp trên địa bàn để tạo việc làm tại chỗ; ii) Phát triển làng nghề để tạo việc làm tại chỗ; iii) Hoàn thiện chính sách xuất khẩu lao động để tạo việc làm; iv) Hỗ trợ tín dụng cho thanh niên tìm và tự tìm việc làm; v) Đào tạo nghề cho thanh niên để tìm và tự tìm việc làm
Bài viết “Giải quyết tranh chấp trong THĐ nông nghiệp” của tác giả Phạm Duy
Nghĩa - Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 7/2014 Bài viết tập trung phân tích thực trạng
và nguyên nhân nông dân tranh chấp trong THĐ nông nghiệp, phân tích các quy định về quy trình thu hồi, bồi thường và cưỡng chế đất đai theo LĐĐ năm 2013; các kênh giải quyết tranh chấp THĐ theo pháp luật Việt Nam, bao gồm phổ biến, giáo dục pháp luật, đối thoại, hòa giải cơ sở, tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tài phán hành chính, giải quyết khiếu kiện đông người Từ việc phân tích các kênh giải quyết tranh chấp này, tác giả đưa
ra kết luận bản chất của những xung đột liên quan đến THĐ là những xung đột về lợi ích của NN, nhà đầu tư và nhà nông khi THĐ nông nghiệp để chuyển cho các nhà đầu tư Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các khuyến nghị để hoàn thiện pháp luật như: i) Cần đảm bảo các quyền tài sản chắc chắn cho nông dân; ii) Xây dựng chính quyền minh bạch, đảm bảo sự tham gia tích cực của nông dân trong quy hoạch, sử dụng đất đai, THĐ; iii) Tăng cường vai trò của Tòa án chuyên trách theo khu vực
Trang 32Luận án tiến sĩ kinh tế “Việc làm cho nông dân bị THĐ trong quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng” của Phạm Dũng Anh, bảo vệ năm 2014
Luận án nghiên cứu vấn đề việc làm cho nông dân bị THĐ dưới góc độ kinh tế - chính trị
và chỉ ra những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực phát sinh từ việc NNTHĐ Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp để tạo việc làm cho nông dân sau khi bị THĐ nông nghiệp
Bài viết “Triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 với vấn đề hoàn thiện pháp
luật đất đai” của tác giả Lưu Quốc Thái - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2015
Trên cơ sở phân tích những nội dung của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến đất đai, tác giả chỉ ra một số vấn đề cần phải giải quyết mà LĐĐ năm 2013 chưa làm được như: i) Quy định việc xác định giá đất do “Hội đồng thẩm định giá” quyết định nhưng thực chất quyền quyết định cuối cùng thuộc về Chủ tịch UBND cấp tỉnh; ii) Khi THĐ, đối với tài sản là phương tiện sản xuất có thể di dời được thì không đặt ra vấn đề bồi thường mà NN chỉ hỗ trợ di dời; iii) Chưa có quy định hiện hành về bảo đảm quyền và lợi ích của
“người thứ ba” khi NNTHĐ
Bài viết “Đánh giá việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi NNTHĐ để triển
khai một số dự án tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh” của các tác giả Đặng Tiến Sĩ,
Phạm Thị Tuyền, Đặng Hùng Võ, Đỗ Thị Tám - Tạp chí Khoa học và Phát triển 2015, tập 13, số 1: 82 - 82 Thông qua việc nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ ở hai dự án tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, nhóm tác giả nêu ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi NNTHĐ, như: i) Về tư tưởng, cần quán triệt nguyên tắc công bằng, dân chủ, công khai và đúng pháp luật; ii) Tăng cường đối thoại giữa chính quyền và người dân, tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quá trình thực hiện công tác bồi thường; iii) Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai hoàn chỉnh, đầy đủ và thường xuyên được cập nhật
Bài viết “Hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế THĐ vì mục đích quốc phòng, an
ninh, phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam” của các tác giả Phan Trung Hiền và Huỳnh
Thanh Toàn - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12(364) T6/2018 Từ việc phân tích khái niệm, đặc điểm và các quy định của LĐĐ năm 2013 về cưỡng chế THĐ, các tác giả kiến nghị bổ sung, sửa đổi những quy định về cưỡng chế thực hiện quyết định THĐ như quy định cụ thể hơn về nội dung và cách thức thực hiện công tác vận động, thuyết phục người có đất bị thu hồi; bổ sung quy định thời điểm tiến hành cưỡng chế; quy định thời hạn xử lý tài sản trong quá trình tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định THĐ; quy định cụ thể về quyền phỏng vấn, ghi âm, quay phim, chụp ảnh trong cưỡng chế thực hiện quyết định THĐ
Trang 33Luận án tiến sĩ luật học của Lê Ngọc Thạnh: “Pháp luật về THĐ nông nghiệp ở
Việt Nam”, bảo vệ năm 2018 Luận án phân tích thực trạng về THĐ nông nghiệp ở Việt
Nam về các vấn đề như nguyên tắc lập, công bố quy hoạch SDĐ, kế hoạch SDĐ nông nghiệp; trình tự, thủ tục THĐ nông nghiệp; quy định về bồi thường, hỗ trợ khi NNTHĐ nông nghiệp; quy định về khiếu nại khi NNTHĐ nông nghiệp Từ những phân tích này, luận án đề xuất các giải pháp về hoàn thiện pháp luật khi THĐ nông nghiệp, bao gồm: i) Hoàn thiện quy định pháp luật về quy hoạch, kế hoạch SDĐ; ii) Hoàn thiện quy định pháp luật về thẩm quyền THĐ nông nghiệp, các trường hợp THĐ nông nghiệp và trình
tự, thủ tục THĐ nông nghiệp; iii) Hoàn thiện quy định pháp luật về thẩm quyền THĐ nông nghiệp, các trường hợp THĐ nông nghiệp và trình tự, thủ tục THĐ nông nghiệp; iv) Hoàn thiện quy định pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ nông nghiệp; v) Hoàn thiện quy định pháp luật về hỗ trợ khi NNTHĐ nông nghiệp; vi) Hoàn thiện quy định pháp luật về khiếu nại khi NNTHĐ nông nghiệp
1 Đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đến
đề tài luận án và những vấn đề trọng tâm cần tiếp tục nghiên cứu
1.2.1 Đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đến
đề tài luận án
Thứ nhất, các công trình đã xây dựng được các khái niệm THĐ, khái niệm
trưng dụng, trưng mua, trưng thu đất; khái niệm bồi thường khi NNTHĐ, hỗ trợ khi NNTHĐ; khái niệm TĐC; phân biệt, so sánh giữa bồi thường khi NNTHĐ với bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực dân sự, lao động, bồi thường trách nhiệm NN; phân biệt giữa THĐ với trưng dụng, trưng thu và trưng mua đất
Các khái niệm trên được các tác giả chủ yếu xây dựng, phân tích, so sánh trên cơ
sở phân tích, tiếp cận LĐĐ năm 2003, BLDS năm 2005 Tuy nhiên, hiện nay LĐĐ năm
2013 đã được ban hành và có hiệu lực, BLDS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 nên cần tiếp cận và xây dựng các khái niệm này trên cơ sở nghiên cứu LĐĐ năm 2013, BLDS năm 2015
Thứ hai, các công trình đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bồi thường khi
NNTHĐ, đó là lý luận về bồi thường khi NNTHĐ dựa trên nền tảng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, bản chất ưu việt của NN ta là NN của dân, do dân và vì dân; các yếu tố chi phối pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ như quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai; cơ chế quản lý kinh tế; quá trình hội nhập quốc tế; thị trường bất động sản; chênh lệch địa tô trong giao đất, cho thuê đất
Trang 34Các nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng để tác giả tham khảo và kế thừa trong quá trình nghiên cứu luận án của mình
Tuy nhiên, các công trình chưa tiếp cận một cách thấu đáo từ lý thuyết về vật quyền và quyền tài sản để trả lời câu hỏi vì sao đất đai thuộc sở hữu toàn dân, NN là đại diện chủ sở hữu, NN chỉ trao quyền SDĐ cho người SDĐ ổn định, lâu dài chứ không trao quyền sở hữu đất mà tại sao NN khi THĐ lại phải bồi thường
Thứ ba, các công trình đã xác định các thiệt hại khi THĐ phải bồi thường là các
thiệt hại thực tế và nhìn thấy được, bao gồm thiệt hại về đất bị thu hồi, thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, thiệt hại do bị mất công ăn việc làm, thiệt hại do phải di chuyển, di dời nhà ở Tuy nhiên, có những thiệt hại thực tế nhưng hiện nay chưa được pháp luật quy định để bồi thường như các ảnh hưởng về môi trường, không gian văn hóa, đời sống tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng dân cư nơi có đất bị thu hồi cần phải tiếp tục nghiên cứu
Thứ tư, các công trình nghiên cứu chỉ ra một số bất cập, tồn tại trong nội dung
quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi NNTHĐ Tuy nhiên, phần lớn các công trình này nghiên cứu quy định về bồi thường khi NNTHĐ và thực trạng áp dụng theo LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành LĐĐ năm 2003 LĐĐ năm 2013 và các bản hướng dẫn thi hành được ban hành trên tinh thần kế thừa LĐĐ năm 2003 với nhiều sửa đổi, bổ sung nhưng còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện
Thứ năm, ở phạm vi và mức độ khác nhau, nhiều công trình đã đưa ra các giải
pháp để nâng cao hiệu quả thực thi và hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ Phần lớn các kiến nghị được đề xuất trên cơ sở phân tích những hạn chế trong các quy định của LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành LĐĐ năm 2003 Theo đó, một số kiến nghị đã được tiếp thu và ghi nhận trong LĐĐ năm 2013 Tuy nhiên, LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành LĐĐ năm 2013 đã được ban hành song thực tế số lượng các tranh chấp, khiếu nại liên quan đến bồi thường khi NNTHĐ vẫn còn rất nóng bỏng và số lượng khiếu nại không hề giảm Điều này tiềm ẩn nguy cơ để các thế lực xấu lợi dụng gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Do đó, vấn đề này cần tiếp tục nghiên cứu đề xuất những giải pháp hoàn thiện là rất cần thiết
1.2.2 Những vấn đề trọng tâm mà luận án cần phải tiếp tục nghiên cứu
Như trên đã phân tích, mặc dù LĐĐ năm 2013 được ban hành trên cơ sở đánh giá, tổng kết thi hành các quy định về bồi thường khi NNTHĐ của LĐĐ năm 2003 và
Trang 35các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, hiện nay khiếu nại liên quan đến bồi thường khi NNTHĐ vẫn không hề giảm mà có xu hướng gia tăng với tính chất hết sức phức tạp Do đó, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những tư tưởng khoa học, những kết quả nghiên cứu của các công trình trước đó, luận án tiếp tục nghiên cứu, lý giải những vấn đề
mà các tác giả chưa nghiên cứu, tiếp cận hoặc nghiên cứu, tiếp cận chưa đầy đủ, cụ thể:
Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện về mặt lý luận các khái niệm THĐ,
bồi thường khi NNTHĐ; phân biệt, so sánh giữa bồi thường khi NNTHĐ với bồi thường thiệt hại trong dân sự, bồi thường trách nhiệm NN, bồi thường do trưng dụng và trưng mua đất trên cơ sở phân tích, tiếp cận LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, BLDS năm 2015
Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, tiếp cận một cách thấu đáo từ phương diện lý
thuyết về vật quyền và quyền tài sản để hoàn thiện cơ sở lý luận về bồi thường khi NNTHĐ; nghiên cứu các yếu tố chi phối, tác động đến chính sách, pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ; trả lời thỏa đáng vấn đề vì sao đất đai thuộc sở hữu toàn dân do NN là đại diện chủ sở hữu song NN chỉ trao quyền SDĐ chứ không trao quyền sở hữu đất đai cho người SDĐ nhưng khi NNTHĐ lại phải bồi thường
Thứ ba, tiếp tục nghiên cứu những thiệt hại phát sinh khi NNTHĐ, bao gồm
những thiệt hại hữu hình và vô hình mà người SDĐ phải gánh chịu do THĐ gây ra
Thứ tư, đi sâu nghiên cứu các quy định cụ thể về bồi thường về đất khi NNTHĐ
được quy định trong LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành và thực trạng áp dụng các quy định này để đánh giá sự phù hợp, nhận diện những vướng mắc, tồn tại trong các quy định này
Thứ năm, tiếp tục nghiên cứu về định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường
về đất khi NNTHĐ; kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp thuật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bồi thường về đất khi NNTHĐ
1.3 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, lý thuyết nghiên cứu và dự kiến những kết quả đạt được
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án được triển khai với những câu hỏi nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ cần được xây dựng trên những cơ
sở lý luận nhất định Lý thuyết về vật quyền và về quyền tài sản cần được sử dụng để lý giải vấn đề bồi thường cho người bị THĐ như thế nào?
Trang 36Thứ hai, cần xác định rõ, đầy đủ các thiệt hại phát sinh khi NNTHĐ gồm những
thiệt hại gì? Từ đó, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện chính sách bồi thường thỏa đáng cho người có đất bị thu hồi
Thứ ba, pháp luật đất đai hiện hành về bồi thường khi NNTHĐ đã phù hợp với
cuộc sống chưa, đã bảo đảm được quyền của người có đất bị thu hồi chưa?
Thứ tư, pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ cần phải được hoàn thiện theo
hướng như thế nào để phù hợp với cuộc sống và bảo đảm quyền của người có đất bị thu hồi, lợi ích của NN, nhà đầu tư?
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Từ các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, luận án đặt ra các giả thuyết nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, cơ sở lý luận của pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ chưa được xây
dựng một cách đầy đủ và vững chắc Cho đến nay lý thuyết về vật quyền và về quyền tài sản chưa được sử dụng một cách thuyết phục để lý giải vấn đề bồi thường khi NNTHĐ
Thứ hai, hiện nay chưa xác định rõ và đầy đủ các thiệt hại phát sinh khi NNTHĐ,
từ đó, việc bồi thường cho người có đất bị thu hồi chưa được thỏa đáng
Thứ ba, pháp luật đất đai hiện hành về bồi thường khi NNTHĐ chưa phù hợp với
cuộc sống, chưa bảo đảm được quyền của người có đất bị thu hồi, do vậy, cần phải được tiếp tục hoàn thiện
Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ theo hướng bảo đảm phù
hợp với cuộc sống và bảo đảm quyền của người có đất bị thu hồi, lợi ích của NN, nhà đầu tư và lợi ích công cộng là yêu cầu cấp bách hiện nay Việc hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ cần được thực hiện trên cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc
1.3.3 Lý thuyết nghiên cứu
Lý thuyết nghiên cứu của luận án là dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về NN và pháp luật; đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của NN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đất đai trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người SDĐ và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ đất đai nói chung, bồi thường khi NNTHĐ nói riêng
Lý thuyết về vật quyền và quyền tài sản: “Vật quyền là quyền của một chủ thể nhất định đối với một tài sản nhất định, cho phép chủ thể này trực tiếp thực hiện các quyền năng được pháp luật thừa nhận đối với tài sản đó” [52, tr 5] Quyền SDĐ khi
Trang 37được trao cho người SDĐ trở thành tài sản của người SDĐ, là “vật quyền hạn chế”, độc lập với quyền sở hữu đất đai và được pháp luật bảo hộ Lý thuyết về vật quyền và quyền tài sản được sử dụng để làm rõ cơ sở của việc NN phải bồi thường khi THĐ và đánh giá pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ hiện hành trong việc bảo đảm quyền tài sản của người bị THĐ
Lý thuyết về phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn phải bảo
đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa” [125] Lý thuyết về phát triển bền vững
được sử dụng để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ trong việc bảo đảm cuộc sống của người dân sau khi bị THĐ, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ
1.3.4 Dự kiến những kết quả đạt được
Bằng việc chứng minh các giả thuyết nghiên cứu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu nói trên, luận án dự kiến đạt được những kết quả sau:
Thứ nhất, phân tích, chỉ ra cơ sở lý luận về bồi thường khi NNTHĐ; các yếu tố
chi phối, tác động đến chính sách, pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ
Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện về mặt lý luận các khái niệm THĐ, khái niệm
bồi thường khi NNTHĐ; phân biệt, so sánh giữa bồi thường khi NNTHĐ với bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường của NN theo Luật Trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước số 10/2017/QH14 ngày 20/6/2017 (sau đây gọi tắt là
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước) và bồi thường khi trưng dụng, trưng mua
tài sản
Thứ ba, xác định và phân tích những thiệt hại hữu hình và vô hình phát sinh khi
NNTHĐ
Thứ tư, chỉ ra được các quy định phù hợp và bất cập về bồi thường về đất khi
NNTHĐ được quy định trong LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Thứ năm, xác định và phân tích định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
bồi thường khi NNTHĐ Trên cơ sở đó, luận án đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bồi thường về đất khi NNTHĐ
Kết luận Chương 1
1 Pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ ở nước ta là đề tài nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của giới luật học trong nước và một số tổ chức quốc tế ở những cấp
Trang 38độ khác nhau Các công trình đã phân tích, xây dựng một số khái niệm trong lĩnh vực bồi thường khi NNTHĐ, như khái niệm THĐ; khái niệm bồi thường khi NNTHĐ; khái niệm TĐC ; phân tích, so sánh giữa bồi thường khi NNTHĐ với bồi thường trong một số trường hợp khác
2 Các công trình đã phân tích cơ sở lý luận của bồi thường khi NNTHĐ dựa trên
chế độ sở hữu toàn dân về đất đất đai, bản chất ưu việt của chế độ; phân tích sự chi phối của quan điểm của Đảng, quá trình hội nhập quốc tế, chênh lệch địa tô, cơ chế quản lý kinh tế trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ
3 Các công trình đã nghiên cứu các quy định của pháp luật thực định ở các khía cạnh về căn cứ THĐ, giá bồi thường các nguyên tắc bồi thường, TĐC, giải quyết việc làm và những vấn đề hậu THĐ Từ những nghiên cứu này, các công trình đã chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật đất đai hiện nay cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Đồng thời, các công trình đã đề xuất một số kiến nghị trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ
4 Từ việc đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đến
đề tài luận án, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những tư tưởng khoa học, những kết quả nghiên cứu của các công trình trước đó, luận án có nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu, lý giải một cách sâu sắc hơn, toàn diện hơn cả về lý luận và thực tiễn pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ ở các chương tiếp theo những vấn đề mà các tác giả chưa nghiên cứu, tiếp
cận hoặc nghiên cứu, tiếp cận chưa đầy đủ
Trang 39Chương
LÝ LUẬN VỀ ỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ ỒI THƯỜNG
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM
1 Lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thu hồi đất
2.1.1.1 Khái niệm thu hồi đất
Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do NN đại diện chủ sở hữu Tuy nhiên, trên thực tế NN không trực tiếp SDĐ mà giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền SDĐ của tổ chức, HGĐ, cá nhân Bên cạnh đó, bằng pháp luật, NN cho phép người SDĐ được chuyển quyền SDĐ Mặc dù NN trao quyền SDĐ cho tổ chức, HGĐ, cá nhân; song NN cũng thu lại quyền SDĐ vì nhiều lý do khác nhau như người SDĐ vi phạm pháp luật về đất đai, THĐ do chấm dứt việc SDĐ theo quy định của pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; THĐ vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Nếu như NN trao quyền SDĐ làm phát sinh quyền SDĐ thì THĐ sẽ làm chấm dứt quyền SDĐ của người SDĐ
Việc THĐ phải do cơ quan NN có thẩm quyền thực hiện theo trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định nhằm ngăn ngừa việc THĐ bừa bãi làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người SDĐ Vậy THĐ là gì? Theo khoản 11 Điều 3 LĐĐ năm
2013: “NNTHĐ là việc NN quyết định thu lại quyền SDĐ của người được NN trao
quyền SDĐ hoặc thu lại đất của người SDĐ vi phạm pháp luật về đất đai” Nghiên
cứu sinh cho rằng quan niệm của LĐĐ năm 2013 chưa bao quát hết các trường hợp THĐ, không đề cập đến trình tự, thủ tục THĐ Dựa trên quan niệm THĐ và nội dung các quy định về THĐ của LĐĐ năm 2013, nghiên cứu sinh cho rằng khái niệm THĐ
được hiểu như sau: Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất
của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất khi thuộc các trường hợp và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
2.1.1.2 Đặc điểm của thu hồi đất
THĐ có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, THĐ được thực hiện bởi NN Chỉ có NN là cơ quan duy nhất được
thực hiện việc THĐ của người SDĐ NN vừa là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, vừa là cơ quan quyền lực NN có chức năng, nhiệm vụ thống nhất quản lý đất đai
Trang 40trong cả nước NN thông qua các cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc THĐ; các cơ quan này bao gồm UBND cấp tỉnh hoặc UBND cấp huyện
Thứ hai, THĐ là quyết định hành chính mang tính mệnh lệnh NN với tư cách
là cơ quan quyền lực có chức năng, nhiệm vụ thống nhất quản lý đất đai trong phạm
vi cả nước có quyền THĐ Quyết định THĐ mang tính mệnh lệnh hành chính mà người bị THĐ và tổ chức, cá nhân có liên quan có nghĩa vụ chấp hành
Thứ ba, THĐ được thực hiện trong các trường hợp do pháp luật quy định Cụ
thể là THĐ do người SDĐ vi phạm pháp luật về đất đai, do chấm dứt việc SDĐ theo quy định của pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; THĐ vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Ngoài các trường hợp trên thì NN không được THĐ
Thứ tư, việc THĐ phải thực hiện bằng văn bản theo trình tự, thủ tục do pháp
luật quy định
Việc THĐ phải thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, bao gồm các bước cơ bản như: Xây dựng và thực hiện kế hoạch THĐ; điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm; lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC; quyết định THĐ, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC Các bước này phải được thực hiện đúng trình tự và phải thực hiện bằng văn bản bởi người có thẩm quyền và cơ quan NN có thẩm quyền
Thứ năm, hậu quả của việc THĐ làm chấm dứt quyền SDĐ, gây ra cho người
bị THĐ những thiệt hại nhất định và xác lập trách nhiệm của NN đối với những thiệt hại này
Kể từ khi quyết định THĐ do cơ quan NN có thẩm quyền ban hành có hiệu lực pháp luật thì người bị THĐ bị chấm dứt quyền SDĐ Đồng thời với việc bị chấm dứt quyền SDĐ thì THĐ gây ra hậu quả là thiệt hại cho người SDĐ Theo đó, tùy từng trường hợp mà người SDĐ bị những thiệt hại nhất định, như thiệt hại về đất, tài sản gắn liền với đất, thiệt hại đối với vật nuôi, thiệt hại do di chuyển, mất việc làm, mất
ổn định cuộc sống, thiệt hại đến không gian văn hóa, tâm linh Đồng thời với quyết định THĐ thì xác lập trách nhiệm của NN trong việc bồi thường những thiệt hại này Như vậy, mặc dù bị chấm dứt quyền SDĐ nhưng người SDĐ được NN bồi thường và giải quyết những hậu quả phát sinh từ việc THĐ theo quy định của pháp luật
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm và mục đích, ý nghĩa của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
* Khái niệm bồi thường khi NNTHĐ