5.1. Xỏc d?nh co s? lý lu?n c?a vi?c t? ch?c giỏo d?c GTNN cho sinh viờn ngành GDTH, làm rừ h? th?ng GTNN c?n hỡnh thành cho sinh viờn d?i h?c ngành GDTH ? nu?c ta trong giai do?n hi?n nay.5.2. Kh?o sỏt th?c tr?ng giỏo d?c GTNN cho sinh viờn ngành GDTH hi?n nay.5.3. Xõy d?ng cỏc quy trỡnh t? ch?c giỏo d?c GTNN cho sinh viờn ngành GDTH qua ho?t d?ng th?c hành NVSP. Tri?n khai th?c nghi?m su ph?m d? ki?m ch?ng v? tớnh kh? thi và hi?u qu? c?a cỏc quy trỡnh dú.8.1. Giáo dục GTNN là một nội dung, nhiệm vụ giáo dục quan trọng trong quá trình đào tạo của nhà trường sư phạm nhằm hình thành ở người sinh viên nhân cách của nhà giáo dục.8.2. Thực hành NVSP là con đường chứa đựng những khả năng to lớn trong việc giáo dục GTNN cho sinh viên sư phạm nói chung, sinh viên đại học ngành GDTH nói riêng. Để những khả năng đó trở thành hiện thực, cần phải vận hành đồng thời hoạt động giáo dục GTNN và hoạt động thực hành NVSP trong sự gắn kết hữu cơ với nhau. 8.3. Thực hiện giáo dục GTNN cho sinh viên ngành GDTH theo các quy trình, trong đó mỗi quy trình được thiết kế tương thích và gắn kết hữu cơ với quy trình tổ chức một loại hình hoạt động thực hành NVSP nhất định, là cách thức để tăng cường và nâng cao hiệu quả giáo dục GTNN trong quá trình đào tạo cử nhân GDTH.
Trang 1Mở ĐầU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong lao động s phạm, nhân cách ngời giáo viên có vai trò vôcùng quan trọng Nó là tác nhân chủ yếu chi phối quá trình hình thành và pháttriển nhân cách học sinh, là yếu tố quyết định hàng đầu đến chất lợng giáo dụccủa nhà trờng Bàn về nhân cách ngời giáo viên, nhà giáo dục học nổi tiếngK.D Usinxky đã khẳng định: “Trong việc giáo dục, tất cả phải dựa vào nhâncách ngời giáo dục, bởi vì sức mạnh của giáo dục chỉ bắt nguồn từ nhân cáchcủa con ngời mà có Không một điều lệ, chơng trình, không một cơ quan giáodục nào dù nó đợc tạo ra một cách khôn khéo nh thế nào cũng không thay thế
đợc nhân cách của con ngời trong sự nghiệp giáo dục Không một sách giáokhoa, một lời khuyên răn nào, một hình phạt, một khen thởng nào có thể thaythế ảnh hởng cá nhân ngời thầy giáo đối với học sinh”[55]
ảnh hởng của nhân cách ngời giáo viên đến học sinh thật là to lớn
Điều đó đã góp phần khẳng định vị thế của ngời giáo viên trong công tác giáodục cũng nh trong đời sống xã hội, nhng chính điều đó lại đòi hỏi ngời giáoviên phải có một nhân cách mẫu mực, phải là tấm gơng sáng về đạo đức, lốisống và tài năng trí tuệ cho học sinh noi theo Muốn có một nhân cách nh vậy,ngời giáo viên cần phải không ngừng học tập, tu dỡng để hoàn thiện bản thân
về mọi mặt, song trớc hết họ phải đợc đào tạo một cách chuẩn mực
Đào tạo giáo viên, về bản chất, là quá trình tổ chức các loại hình hoạt
động và giao lu của giáo sinh nhằm giúp họ hình thành đợc nhân cách của nhàgiáo dục Nói đến nhân cách nhà giáo dục là nói đến hệ thống định hớng giátrị nghề nghiệp của họ Bởi lẽ, định hớng GTNN là thành tố cốt lõi trong cấutrúc nhân cách nhà giáo, có tác dụng xác định phơng hớng hoạt động trí tuệ và
sự nỗ lực ý chí của ngời giáo viên, quyết định động cơ của họ trong học tập,sinh hoạt và lao động Các định hớng GTNN là cơ sở bên trong của mọi hoạt
động và hành vi, là hạt nhân cơ bản tạo nên phẩm chất và năng lực của ngờigiáo viên Vì thế, trong quá trình đào tạo của nhà trờng s phạm, tổ chức mộtcách hiệu quả việc giáo dục, hình thành hệ thống định hớng GTNN cho giáosinh là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt
1.2 Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốcdân, bậc học đầu đời của mỗi con ngời Lao động trong lĩnh vực GDTH, ngờigiáo viên có những vai trò hết sức to lớn Giáo viên tiểu học là ngời đầu tiêndẫn dắt trẻ em đi vào thế giới khoa học, giúp các em chiếm lĩnh các giá trị văn
Trang 2hóa của nhân loại để hình thành nên những cơ sở ban đầu, những đờng nét cơbản nhất của nhân cách Trong quá trình giáo dục học sinh, GVTH là “ôngthầy tổng thể”, có nhiệm vụ giảng dạy hầu hết các môn học và tổ chức hầu hếtcác hoạt động giáo dục ở lớp mình phụ trách Nh vậy, GVTH là ngời đóng vaitrò chủ yếu trong việc định hình nhân cách học sinh, tạo dựng cho các em mộtnền tảng vững chắc để tiếp tục học lên các bậc học cao hơn Kết quả lao độngcủa ngời GVTH có ảnh hởng rất lớn đến sự phát triển lâu dài của học sinh,
đến chất lợng giáo dục của nhà trờng tiểu học và rộng hơn là của cả các nhàtrờng ở bậc học sau Tuy nhiên, kết quả lao động của ngời GVTH lại phụthuộc phần lớn vào trình độ phát triển nhân cách của họ Do đó, có nâng caohiệu quả và chất lợng giáo dục nhân cách, giáo dục GTNN trong đào tạo giáoGVTH thì mới đảm bảo đợc chất lợng giáo dục của nhà trờng phổ thông, gópphần vào việc đào tạo nhân lực và nhân tài cho đất nớc
Trong giai đoạn hiện nay, trớc sự phát triển nhanh chóng của khoa học
kỹ thuật cũng nh của đời sống xã hội, nhiều nớc trên thế giới đã phấn đấu đểdần dần toàn bộ GVTH đợc đào tạo ở trình độ đại học Nằm trong xu hớngchung đó, ở nớc ta những năm gần đây, nhiều trờng đại học cũng đã triển khaichơng trình đào tạo cử nhân GDTH Mục tiêu của chơng trình là chuẩn bị chosinh viên có đủ khả năng để trở thành giáo viên cốt cán bậc tiểu học và đápứng đợc sự phát triển của GDTH trong những thập kỷ tới Mục tiêu này đã chothấy, việc tổ chức có hiệu quả quá trình giáo dục nhân cách, giáo dục GTNNcho sinh viên đại học ngành GDTH có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết
1.3 Trong quá trình đào tạo của nhà trờng s phạm, việc giáo dục GTNNcho sinh viên nói chung, sinh viên ngành GDTH nói riêng, đợc thực hiệnthông qua các con đờng: hoạt động dạy học, hoạt động thực hành nghiệp vụ sphạm, xây dựng môi trờng văn hóa s phạm,… Trong đó, hoạt động thực hànhNVSP là con đờng có những tiềm năng rất to lớn
Thực hành NVSP có chức năng hình thành các kỹ năng, rèn luyện taynghề s phạm cho sinh viên Trong suốt quá trình đào tạo, hoạt động thực hànhNVSP đợc triển khai thờng xuyên, liên tục qua các hình thức: thực hành phơngpháp giảng dạy các bộ môn, rèn luyện NVSP thờng xuyên, thực tập s phạmcuối khoá Các hoạt động thực hành này đợc sắp xếp thành hệ thống theo hớnggiúp sinh viên thích ứng dần với nghề dạy học Xét về bản chất, thực hànhNVSP là một hoạt động thực tiễn nên có nhiều u thế trong việc giáo dụcGTNN cho sinh viên Qua các nội dung thực hành nh giảng dạy, chủ nhiệm
Trang 3lớp, tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, sinh viên có điều kiện đểtrải nghiệm những hiểu biết, kỹ năng và tình cảm nghề nghiệp của mình, từ đócủng cố đợc niềm tin, quan điểm và hình thành nên hệ thống định hớngGTNN Thực hành NVSP, với những u thế của nó, chính là con đờng giáo dụcGTNN chủ yếu và quan trọng nhất trong đào tạo giáo viên Vì vậy, để hìnhthành hệ thống định hớng GTNN cho sinh viên ngành GDTH, thì trớc hết,phải tổ chức một cách khoa học và có hiệu quả việc giáo dục GTNN qua cáchoạt động thực hành NVSP
1.4 Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nói chung, trong giáodục học nói riêng, định hớng giá trị và giáo dục giá trị là những vấn đề cònmới mẻ nhng đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học Nhiềucông trình nghiên cứu đã đợc triển khai nhằm làm sáng tỏ bản chất khái niệmgiá trị và định hớng giá trị; tìm hiểu thực trạng định hớng giá trị của các nhómdân c khác nhau; xác định bản chất, mục đích, nội dung và các con đờng giáodục giá trị cho thế hệ trẻ Cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đềgiáo dục giá trị văn hóa truyền thống, giáo dục giá trị văn hóa ứng xử, giáodục giá trị đạo đức, giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên Tuy nhiên,cho đến nay vẫn còn rất ít công trình đề cập đến vấn đề giáo dục GTNN trong
đào tạo giáo viên ở nớc ta Bởi vậy, nghiên cứu về tổ chức giáo dục GTNN chosinh viên ngành GDTH qua hoạt động thực hành NVSP là vấn đề có ý nghĩa lýluận quan trọng
1.5 ở nớc ta hiện nay, xây dựng đội ngũ giáo viên có đủ phẩm chất vànăng lực để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc đã trở thành một trong những nhiệm vụ cơbản của quá trình đổi mới giáo dục Chỉ thị 40 - CT/ TW của Ban Bí th Trung -
ơng Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “phải tăng cờng xây dựng đội ngũnhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện Đây là nhiệm vụ vừa
đáp ứng yêu cầu trớc mắt, vừa mang tính chiến lợc lâu dài, nhằm thực hiệnthành công Chiến lợc phát triển giáo dục 2001 - 2010 và chấn hng đất nớc…”[1]
Trong thực tế những năm qua, chúng ta đã xây dựng đợc đội ngũ nhàgiáo ngày càng đông đảo, phần lớn đều có phẩm chất tốt, trình độ chuyên mônnghiệp vụ ngày càng đợc nâng cao Tuy nhiên, trớc những yêu cầu mới của sựphát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đội ngũ nhàgiáo còn có nhiều hạn chế, bất cập Đặc biệt, trình độ đào tạo của đội ngũ
Trang 4GVTH ở nớc ta nói chung còn thấp Nhiều giáo viên cha nhận thức đúng vaitrò, trách nhiệm to lớn của mình, cha có định hớng GTNN phù hợp, chỉ coidạy học là dạy chữ chứ cha phải là dạy ngời theo nghĩa đầy đủ nhất [2]
Để nâng cao chất lợng đội ngũ GVTH, cần phải triển khai một cách
đồng bộ các giải pháp về đào tạo và bồi dỡng giáo viên Song, dù là giải phápnào thì cũng phải lấy việc hình thành và hoàn thiện ở ngời giáo viên một hệthống định hớng GTNN phù hợp với yêu cầu của thực tiễn giáo dục làm nhiệm
vụ cơ bản Chính vì thế, tổ chức có hiệu quả việc giáo dục GTNN cho sinhviên ngành GDTH qua hoạt động thực hành NVSP sẽ góp phần quan trọng vàoviệc nâng cao chất lợng đội ngũ giáo viên trong giai đoạn hiện nay
Với những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ s phạm” để thực hiện luận án tiến sĩ
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng các quy trình tổ chức giáo dục giá trị thông qua hoạt độngthực hành nghiệp vụ s phạm để tăng cờng và nâng cao hiệu quả giáo dục giátrị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học
3 Khách thể và đối tợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình đào tạo giáo viên tiểu học ở trờng đại học s phạm
3.2 Đối tợng nghiên cứu
Quá trình giáo dục GTNN cho sinh viên đại học ngành GDTH
4 Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện giáo dục GTNN cho sinh viên theo các quy trình, trong
đó mỗi quy trình đợc thiết kế tơng thích và gắn kết chặt chẽ với quy trình tổchức một loại hình hoạt động thực hành NVSP nhất định, thì sẽ nâng cao đợchiệu quả giáo dục GTNN cho sinh viên đại học ngành GDTH
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lý luận của việc tổ chức giáo dục GTNN cho sinh
viên ngành GDTH, làm rõ hệ thống GTNN cần hình thành cho sinh viên đạihọc ngành GDTH ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay
5.2 Khảo sát thực trạng giáo dục GTNN cho sinh viên đại học ngành
GDTH hiện nay
5.3 Xây dựng các quy trình tổ chức giáo dục GTNN cho sinh viên đại
học ngành GDTH qua hoạt động thực hành NVSP Triển khai thực nghiệm sphạm để kiểm chứng về tính khả thi và hiệu quả của các quy trình đó
Trang 56 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu: Giáo dục GTNN cho sinh viên s phạm là
một quá trình liên tục, đợc thực hiện qua nhiều con đờng khác nhau Đề tàinày tập trung nghiên cứu, thiết kế các quy trình tổ chức giáo dục GTNN chosinh viên đại học ngành GDTH qua hoạt động thực hành NVSP Thực nghiệmgiáo dục GTNN cho sinh viên đại học ngành GDTH theo các quy trình tronghoạt dộng rèn luyện NVSP thờng xuyên
6.2 Về địa bàn nghiên cứu: Các nghiên cứu thực tiễn bao gồm: khảo sát
thực trạng, thực nghiệm các quy trình tổ chức giáo dục GTNN đợc thực hiệntại Trờng Đại học S phạm thuộc Đại học Đà Nẵng
7 Phơng pháp nghiên cứu
7.1 Phơng pháp luận triển khai đề tài: Để đảm bảo tính khách quan,
trong quá trình nghiên cứu vấn đề giáo dục GTNN cho sinh viên ngành GDTHcần kết hợp các cách tiếp cận phức hợp và hệ thống, tiếp cận xã hội - lịch sử,tiếp cận hoạt động - giá trị
7.1.1 Tiếp cận phức hợp và hệ thống: Giáo dục giá trị là vấn đề của
giáo dục học, song cũng là vấn đề đợc đề cập đến trong nhiều ngành khoa họckhác nhau Do đó, cần chú ý đến quan điểm phức hợp khi xem xét, xác địnhnội dung và phơng thức giáo dục GTNN cho sinh viên ngành GDTH
Mặt khác, giáo dục giá trị đợc xác định là một nội dung giáo dục nằmtrong hệ thống các nội dung của quá trình giáo dục nhằm hình thành toàn vẹnnhân cách con ngời Đồng thời, bản thân quá trình giáo dục giá trị cũng là một
hệ thống, trong đó là sự tơng tác qua lại một cách hữu cơ giữa các thành tố:mục đích, nội dung, phơng pháp, phơng tiện, hình thức giáo dục giá trị… Vìthế, khi thiết kế các quy trình giáo dục GTNN cho sinh viên ngành GDTH cầnphải quán triệt quan điểm hệ thống
7.1.2 Tiếp cận xã hội - lịch sử: Là một quá trình giáo dục, giáo dục giá
trị luôn mang tính xã hội - lịch sử Trong mỗi quốc gia, vào mỗi giai đoạn lịch
sử cụ thể, giáo dục giá trị đều có những đặc trng riêng về mục đích, nội dung,phơng pháp giáo dục,…Bởi vậy, khi nghiên cứu về giáo dục GTNN cho sinhviên ngành GDTH cần phải chú ý đến các đặc trng của giáo dục giá trị theolịch đại và đồng đại Đặc biệt, phải đặt vấn đề tổ chức giáo dục GTNN chosinh viên ngành GDTH trong bối cảnh phát triển của xã hội về mọi mặt đểxem xét
Trang 67.1.3 Tiếp cận hoạt động - giá trị: Nhân cách của mỗi ngời không phải
sinh ra đã có mà đợc hình thành trong quá trình sống bằng dòng hoạt động củabản thân Trong hoạt động, con ngời chiếm lĩnh các giá trị từ nền văn hoá xãhội của loài ngời để hình thành nên hệ giá trị, thang giá trị và thớc đo giá trị lànhững thành phần cốt lõi của nhân cách Khi đã hình thành, thang giá trị vàthớc đo giá trị lại đợc con ngời vận dụng để tạo ra các hoạt động mới, để tổchức và đánh giá các hoạt động khác nhau trong cuộc sống Nh vậy, hoạt động
và giá trị luôn có sự gắn kết chặt chẽ, chi phối qua lại lẫn nhau Chính nhờ sựtơng tác này mà nhân cách của mỗi con ngời ngày càng đợc hoàn thiện Vìthế, khi nghiên cứu về giáo dục GTNN cho sinh viên ngành GDTH, cần phảichú ý đến các hoạt động đa dạng của nghề, tổ chức các hoạt động đó một cáchthích hợp để tạo điều kiện cho họ nhận thức, đánh giá, trải nghiệm về cácGTNN và vận dụng các giá trị đó vào việc giải quyết các vấn đề trong thựctiễn giáo dục
7.2 Phơng pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm phơng pháp nghiên cứu lý thuyết: Bao gồm các phơng
pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết.Nhóm phơng pháp này đợc sử dụng để xác định bản chất của các khái niệm cơbản trong đề tài, mối quan hệ giữa các khái niệm đó, xác định các loại hìnhthực hành NVSP và vai trò của chúng trong giáo dục GTNN cho sinh viên.Trên cơ sở đó xây dựng các khái niệm công cụ và khung lý thuyết cho vấn đềnghiên cứu
7.2.2 Nhóm các phơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phơng pháp điều tra bằng anket:
Phơng pháp này đợc thực hiện để thu thập thông tin về thực trạng địnhhớng GTNN của sinh viên đại học ngành GDTH và thực trạng tổ chức quátrình giáo dục GTNN cho sinh viên trong nhà trờng đại học s phạm Đối tợng
điều tra gồm sinh viên đại học ngành GDTH các khoá đang đợc đào tạo, cán
bộ quản lý, giảng viên thuộc Trờng Đại học S phạm, Đại học Đà Nẵng
- Phơng pháp phỏng vấn:
Đợc dùng để tìm hiểu các nguyên nhân về thực trạng giáo dục GTNNcho sinh viên đại học ngành GDTH và quan điểm của đội ngũ cán bộ quản lý,giảng viên trong trờng s phạm về việc giáo dục GTNN cho sinh viên qua hoạt
động thực hành NVSP
- Phơng pháp thực nghiệm s phạm:
Trang 7Phơng pháp này đợc sử dụng nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả củacác quy trình tổ chức giáo dục GTNN cho sinh viên đại học ngành GDTH quahoạt động thực hành NVSP.
7.2.3 Các phơng pháp hỗ trợ gồm phơng pháp quan sát, phơng pháp
nghiên cứu sản phẩm hoạt động của sinh viên, phơng pháp toán học
8 Những luận điểm cần bảo vệ
8.1 Giáo dục GTNN là một nội dung, nhiệm vụ giáo dục quan trọng
trong quá trình đào tạo của nhà trờng s phạm nhằm hình thành ở ngời sinhviên nhân cách của nhà giáo dục
8.2 Thực hành NVSP là con đờng chứa đựng những khả năng to lớn
trong việc giáo dục GTNN cho sinh viên s phạm nói chung, sinh viên đại họcngành GDTH nói riêng Để những khả năng đó trở thành hiện thực, cần phải
vận hành đồng thời hoạt động giáo dục GTNN và hoạt động thực hành NVSP trong sự gắn kết hữu cơ với nhau
8.3 Thực hiện giáo dục GTNN cho sinh viên đại học ngành GDTH theo
các quy trình, trong đó mỗi quy trình đợc thiết kế tơng thích và gắn kết hữu cơvới quy trình tổ chức một loại hình hoạt động thực hành NVSP nhất định, làcách thức để tăng cờng và nâng cao hiệu quả giáo dục GTNN trong quá trình
đào tạo cử nhân GDTH
9 Đóng góp mới của luận án
9.1 Luận án trình bày tơng đối đầy đủ, có hệ thống về các vấn đề giá
trị, định hớng giá trị và giáo dục giá trị Bớc đầu nêu lên nhận thức về giá trịnghề nghiệp, định hớng GTNN và giáo dục GTNN Đã tiến hành xác định hệthống GTNN của ngời GVTH, đề xuất nội dung giáo dục GTNN cho sinh viênngành GDTH ở nớc ta hiện nay Có thể xem đó là sự góp phần làm sáng tỏthêm lý luận về vấn đề giáo dục giá trị, đặc biệt là về giáo dục giá trị nghềnghiệp
9.2 Luận án đã thiết kế đợc các quy trình tổ chức giáo dục GTNN cho
sinh viên ngành GDTH qua hoạt động thực hành NVSP Việc vận dụng cácquy trình này có thể giúp các trờng s phạm nâng cao đợc hiệu quả và chất lợng
đào tạo đội ngũ GVTH cho xã hội
10 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, nội dung chính củaluận án gồm 3 chơng
Trang 8Chơng 1: Cơ sở khoa học của giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên
đại học ngành giáo dục tiểu học
Chơng 2: Các hoạt động giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại
học ngành giáo dục tiểu học qua thực hành nghiệp vụ s phạm
Chơng 3: Đánh giá nội dung giáo dục giá trị nghề nghiệp và thực
nghiệm s phạm về quy trình giáo dục
Trang 9Chơng 1 CƠ Sở khoa học CủA GIáO DụC GIá TRị NGHề NGHIệP Cho sinh viên đại học ngành GIáO DụC TIểU HọC
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nớc ngoài
Ngày nay, giáo dục giá trị đợc quan niệm nh là một vấn đề mới, một xuthế mới của giáo dục hiện đại Tuy nhiên, kết quả khảo cứu các tài liệu chothấy, trên thế giới, việc tổ chức giáo dục giá trị trong nhà trờng và nghiên cứu
về giáo dục giá trị đã đợc tiến hành từ trớc đó khá lâu
Có thể xác định lịch sử giáo dục giá trị đợc bắt đầu ở Mỹ vào năm
1776, khi những ngời trong Ban soạn thảo Tuyên ngôn độc lập Mỹ đã đặt ratrách nhiệm của nhà trờng là giáo dục cho thế hệ tơng lai các phẩm chất đạo
đức, truyền đạt cho họ các giá trị, đặc biệt là các giá trị dân chủ Trong thế kỷXIX, giáo dục giá trị ở Mỹ rất đợc chú trọng, nhng sang đầu thế kỷ XX (lúcnày đợc gọi là giáo dục tính cách) có chiều hớng bị giảm sút Vào các năm từ
1925 đến 1929, Trờng Đại học S phạm thuộc Đại học Côlômbô đã thực hiệnmột công trình nghiên cứu về vấn đề này và kết quả cho thấy: các chơng trìnhgiáo dục tính cách trong nhà trờng ở Mỹ không mang lại hiệu quả [42] Côngtrình này mới chỉ tập trung vào việc đánh giá thực trạng giáo dục tính cách,nhng nó đã tạo ra tiền đề quan trọng cho quá trình nghiên cứu giáo dục giá trị
về sau
ở Châu á, từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, vấn đề giáo dục giá trịcũng đã đợc bàn đến Trong cuốn Soka Kyoikugaku Taikei (Tổng luận vềGiáo dục học sáng tạo giá trị) đợc xuất bản năm 1930, nhà giáo dục Nhật BảnTsunesaburo Makiguchi đã nêu lên quan điểm của mình về việc xây dựng mộtnền giáo dục tam phơng Mục đích của nền giáo dục này là đào tạo học sinhthành những con ngời năng động, hạnh phúc, phát triển toàn diện và biết tạo
ra giá trị Để thực hiện đợc nền giáo dục tam phơng, T Makiguchi đề nghị phảichuyển đổi chức năng của ngời giáo viên từ chỗ là ngời truyền thụ tri thứcthành ngời hớng dẫn hữu ích cho tiến trình tìm tòi và học tập của học sinh.Theo đó, ngời giáo viên phải đợc đào tạo và bồi dỡng để phát triển các giá trịtrong nhân cách nghề nghiệp của họ Ông đã nêu lên một số giá trị mà ngờiGVTH cần có và quá trình đào tạo GVTH cần phải hớng vào Các giá trị đó là:
Trang 10những phẩm chất đạo đức cao hơn ngời thờng, có chí, lơng tâm nghề nghiệp, có
kỹ nghệ giảng dạy, vợt qua bản thân để nâng cao tay nghề, tận tuỵ với nghề, hếtlòng vì học sinh Ông cũng đề xuất việc cải cách chơng trình đào tạo GVTHtheo một sơ đồ ba nhánh gồm: kiến thức tổng quát, huấn luyện kỹ thuật - phơngpháp giảng dạy, rèn luyện đạo đức [83]
Nhìn chung, T Makiguchi đã có một quan điểm rất hiện đại về chứcnăng của ngời giáo viên, về nhân cách nghề nghiệp của ngời GVTH và nộidung giáo dục GTNN trong đào tạo GVTH Tuy nhiên, ông cha chỉ ra đợc cáccon đờng để giáo dục GTNN cho ngời giáo sinh
Một thời gian khá dài sau khi T Makiguchi đa ra ý tởng của mình, giáodục giá trị vẫn là vấn đề bị bỏ ngỏ Cho đến những thập kỷ gần đây, vấn đềnày mới thực sự đợc các quốc gia cũng nh các tổ chức quốc tế quan tâmnghiên cứu Nhiều hoạt động khoa học có liên quan đến giáo dục giá trị đã đ-
đối với lứa tuổi từ 18 - 24 tuổi ở 11 nớc trên thế giới và cuộc điều tra do Việnkhảo sát xã hội Châu Âu thực hiện đối với lứa tuổi 15 - 24 tuổi ở 10 nớc Châu Âu
đợc tiến hành vào năm 1985; Cuộc điều tra quốc tế về giá trị đạo đức của con
ng-ời chuẩn bị bớc vào thế kỷ XXI, do The Club of Rome thực hiện theo đề nghị củaUNESCO, đợc tiến hành vào năm 1986… [125]
Có thể nhận thấy, trên đây là những cuộc nghiên cứu điều tra có quy môlớn, mang tầm cỡ châu lục Mục đích của các cuộc nghiên cứu này đều tậptrung vào việc xác định thực trạng giá trị đạo đức và định hớng giá trị củathanh niên trong tình hình thế giới có những biến đổi nhanh chóng, vận dụngkết quả nghiên cứu vào công tác giáo dục nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵnsàng bớc vào cuộc sống Mặc dù các công trình này không trực tiếp nghiêncứu về giáo dục giá trị, nhng đã tạo ra những cơ sở khoa học quan trọng choviệc xây dựng và triển khai chơng trình giáo dục giá trị ở các nớc
- Bên cạnh các cuộc điều tra nghiên cứu định hớng giá trị của thanh niên,nhiều hội nghị khoa học về giáo dục giá trị cũng đã đợc tổ chức Điển hình là:
Hội nghị khoa học với chủ đề “Đẩy mạnh giáo dục giá trị đạo đức nhânvăn, văn hoá quốc tế” đợc tổ chức tại Tôkyô, Nhật Bản vào tháng 2 năm 1994
Trang 11Hội nghị đã tổng kết kinh nghiệm giáo dục giá trị đạo đức nhân văn và thốngnhất đa ra 8 nhóm giá trị đợc xác định trên cơ sở có liên quan đến 8 chủ đề:Quyền con ngời; Dân chủ; Hợp tác và Hòa bình; Bảo vệ môi trờng; Bảo vệ disản văn hóa; Bản thân và những ngời khác; Tính dân tộc; Tâm linh [108];
Hội nghị với chủ đề “Chuẩn bị cho cuộc họp lần thứ 44 của Đại hội
đồng quốc tế về giáo dục” đợc tổ chức tại Philippin vào tháng 3 năm 1994.Hội nghị đã đa ra nhận định là trong thời đại ngày nay có 4 vấn đề lớn cầnquan tâm giáo dục cho mọi ngời, trớc hết là cho học sinh, đó là: Hoà bình,Quyền con ngời, Dân chủ và Phát triển bền vững [108];
Tiếp theo, vào tháng 8 năm 1996, một cuộc hội thảo của 20 nhà giáodục đến từ khắp nơi trên thế giới diễn ra tại trụ sở của UNICEF ở thành phốNew York Hội thảo đã bàn về nhu cầu của trẻ em và những trải nghiệm khitiếp xúc với các giá trị, về Giáo dục Giá trị sống Năm 2005, Hội nghị Bộ tr-ởng giáo dục Châu Mỹ bàn chuyên về giáo dục giá trị dân chủ trong giáo dụcchính quy và không chính quy, về chơng trình, tài liệu và phơng pháp giảngdạy giáo dục giá trị Hội nghị lần thứ 10 (năm 2005) và lần thứ 11 (năm 2007)của APEID thuộc UNESCO Bankok đã bàn chuyên về giáo dục giá trị, coi đây
là nội dung quan trọng nhất để đảm bảo phát triển bền vững [40]
Ngoài các hội nghị khoa học mang tầm cỡ khu vực, nhiều cuộc hội thảocũng đã đợc tổ chức tại các trờng đại học hoặc các cơ quan nghiên cứu giáodục Trong các hội thảo này, nhiều bài tham luận quan trọng về giáo dục giá
trị đã đợc trình bày Đặc biệt, đáng chú ý là bài Giáo dục giá trị trong nhà
tr-ờng phổ thông Mỹ do tác giả Dale N Titut trình bày trong Hội thảo khoa học
về giáo dục tại Đại học Kutztow vào tháng 9 năm 1994 Nội dung của bàitham luận đã tổng kết Chiến lợc giáo dục giá trị ở phổ thông của Mỹ gồm 12
điểm Trong mỗi điểm đều bao gồm các GTNN mà ngời giáo viên cần phải có[42]
Nhìn chung, tại các cuộc hội thảo và hội nghị, các nhà khoa học đãnhấn mạnh đến tầm quan trọng của giáo dục giá trị, chia sẻ kinh nghiệm trongviệc tổ chức giáo dục giá trị, nêu lên những định hớng về nội dung giáo dụcgiá trị cho học sinh, sinh viên trong giai đoạn hiện nay
- Hoạt động xây dựng và triển khai chơng trình giáo dục giá trị cũng đã
đ-ợc các tổ chức quốc tế và nhiều nớc tích cực, chủ động tiến hành, cụ thể là:
Chơng trình Giáo dục các Giá trị sống của LVEP (một tổ chức phi lợinhuận đợc UNESCO hỗ trợ, ủy ban UNICEF Tây Ban Nha và tổ chức BrahmaKumaris tài trợ) đợc triển khai từ năm 1996 Mục đích của chơng trình là cung
Trang 12cấp những nguyên tắc và những công cụ cho sự phát triển của tất cả các cánhân, với sự hiểu biết rằng mỗi cá nhân bao gồm những khía cạnh về thể chất,tinh thần, tình cảm và trí tuệ Thực hiện mục đích này, chơng trình đa ra cáchoạt động giá trị khác nhau dựa trên kinh nghiệm và những phơng pháp thựchành nhằm trang bị cho trẻ em và thanh thiếu niên các tri thức, giúp họ trải
nghiệm và khám phá 12 giá trị căn bản của cá nhân, gồm: Hợp tác, Tự do,
Hạnh phúc, Trung thực, Khiêm tốn, Yêu thơng, Hòa bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị, Khoan dung, Đoàn kết [111].
Bên cạnh Chơng trình Giáo dục các Giá trị sống của LVEP, nhiều nớccũng đã xây dựng và triển khai chơng trình giáo dục giá trị vào trong các trờngphổ thông ở Mỹ, giáo dục giá trị đợc tiến hành thông qua chơng trình giáodục tính cách theo quy định của chính quyền các bang Chẳng hạn, cơ quanlập pháp bang Gioocgia thông qua chơng trình giáo dục tính cách vào năm
1997 và giao cho Hội đồng giáo dục Bang soạn thảo các văn bản cụ thể, xác
định giáo dục giá trị là mang lại cho học sinh các cơ hội phát triển tri thức, kỹnăng và thái độ, tơng ứng với các giá trị và hành vi biểu hiện các giá trị ấy, tậptrung ở niềm tin vào chân và thiện Hội đồng đã soạn ra hệ giá trị gồm 26 giátrị, đề ra một kế hoạch triển khai rất cụ thể, từ xây dựng chơng trình, tài liệugiảng dạy, các hoạt động,… đến việc đào tạo giáo viên, ngân sách, cách đánhgiá [42]
ở nhiều nớc, giáo dục giá trị đợc gắn với giáo dục đạo đức hoặc giáodục công dân Chẳng hạn, Scotland đã nhấn mạnh đến việc hình thành ở họcsinh các giá trị của niềm tin cơ bản, các giá trị giao lu; Bang New South Wales
đã chủ trơng nâng cao chất lợng giáo dục các thái độ và hành vi với 3 loại giátrị: các giá trị của việc học tập, các giá trị về bản thân và về ngời khác, các giátrị của tinh thần trách nhiệm công dân [40]
Một số nớc ở khu vực Đông Nam á cũng đa giáo dục giá trị vào trongnhà trờng và toàn xã hội từ rất sớm Năm 1988, Philippin tiến hành xây dựng
và triển khai “Chơng trình giáo dục cho ngời Philipin” Đồng thời, cũng trongnăm đó, Bộ Văn hoá giáo dục thể thao Philippin đã phát hành tài liệu “Giáodục giá trị cho ngời Philippin” Vào năm 1992, Trung tâm canh tân và côngnghệ giáo dục thuộc Tổ chức Bộ trởng Giáo dục Đông Nam á công bố tài liệu
“Giá trị trong hành động” Tài liệu trình bày về quan điểm, mục tiêu, chơngtrình, cách đa giáo dục giá trị vào nhà trờng và cộng đồng của các nớc
Trang 13Indonesia, Philippin, Singapo, Malaysia, Thailand [125] Những định hớngnêu trong tài liệu đã đợc 5 nớc này vận dụng khá hiệu quả vào việc xây dựng
và triển khai các chơng trình giáo dục giá trị trong suốt hai thập kỷ qua Đặcbiệt, ở Philipin, Hội đồng giáo dục đại học đã quy định Chơng trình đào tạo cửnhân giáo dục tiểu học và cử nhân giáo dục trung học bao gồm các kiến thức,
kỹ năng, thái độ, giá trị, kinh nghiệm bảo đảm cho các giáo viên tơng lai có
đủ những năng lực cơ bản để dạy học có hiệu quả ở bậc học mình phụ trách.Theo đó, môn Giáo dục giá trị đợc quy định nằm trong khối kiến thức chuyênmôn của khung chơng trình đào tạo giáo viên [53]
Tóm lại, hiện nay giáo dục giá trị đã trở thành một xu thế chung trênthế giới, hầu hết các nớc đều rất quan tâm đến việc nghiên cứu và tổ chức giáodục giá trị trong nhà trờng Quan niệm chung của các nớc khi nghiên cứu vàtriển khai giáo dục giá trị đều hớng đến hình thành cho học sinh, sinh viên cácgiá trị cốt lõi, mang tính thời đại nhằm giúp họ có thể thích ứng và hoạt động
có hiệu quả trong một thế giới đang biến đổi hết sức nhanh chóng Tuy nhiên,
do phần lớn các nớc đều mới bớc đầu triển khai giáo dục giá trị, nên nhữngnghiên cứu lý luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song vẫn cha thậttoàn diện và sâu sắc Việc nghiên cứu và triển khai chơng trình giáo dục giá trịmới chỉ tập trung vào các giá trị sống, giá trị đạo đức - nhân văn Trong khi
đó, vấn đề giáo dục GTNN cho ngời học nghề, bao gồm cả nghề dạy học, còn
ít đợc quan tâm
1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
ở nớc ta, vấn đề giáo dục giá trị cũng đợc các nhà khoa học bàn đến từkhá sớm Năm 1986, qua bài viết “Một số vấn đề về phơng pháp giáo dục vàgiảng dạy đạo đức cho học sinh phổ thông” đăng trên tạp chí Thông tin khoahọc giáo dục, Hà Thế Ngữ đã chỉ ra nhân lõi của phơng pháp giáo dục đạo đức
là phải chuyển hóa đợc những giá trị xã hội vào trong ý thức của ngời học, và
do đó, giáo dục giá trị phải là một phần hữu cơ của quá trình giáo dục đạo đức[89]
Bớc vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX, giáo dục giá trị cùng với giá trị và
định hớng giá trị đã trở thành những vấn đề rất đợc quan tâm ở nớc ta và đợcbàn đến trong nhiều công trình nghiên cứu về con ngời, đặc biệt là trong một
số đề tài thuộc hai chơng trình khoa học công nghệ cấp Nhà nớc: Chơng trìnhKX-07 “Con ngời là mục tiêu và động lực phát triển kinh tế xã hội” (1991-
Trang 141995) và Chơng trình KHXH-04 “Phát triển văn hóa, xây dựng con ngời trongthời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (1996-2000)
Trong Chơng trình KX-07, vấn đề định hớng giá trị và giáo dục giá trị
đợc các đề tài KX-07-04 “Những đặc trng và xu thế phát triển nhân cách củacon ngời Việt Nam trong sự phát triển kinh tế xã hội” và đề tài KX-07-10
“ảnh hởng của kinh tế thị trờng đối với sự phát triển nhân cách con ngời ViệtNam” nghiên cứu một cách có hệ thống và khá sâu sắc Cụ thể là, trong đề tàiKX-07-04, các tác giả đã điều tra làm rõ định hớng giá trị của các nhóm xã hộikhác nhau ở nớc ta, tiến hành xác định một cách khái quát về bản chất, mục đích,nhiệm vụ, nội dung và các con đờng giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ [125] Còn ở
đề tài KX-07-10, các tác giả đã tiến hành điều tra, tập trung làm rõ những đặc
điểm nổi bật về định hớng giá trị của thanh niên Việt Nam trong thời kỳ đổi mới,mô tả sự biến đổi định hớng giá trị của họ về các mặt kinh tế, t tởng, chính trị,
đạo đức,… trớc và sau năm 1986 [120]
Trong Chơng trình KHXH-04, cũng có một số đề tài (hoặc chuyên đề)
đã đề cập đến vấn đề định hớng giá trị và giáo dục giá trị Tuy nhiên, trongcác đề tài (chuyên đề) này, vấn đề định hớng giá trị và giáo dục giá trị không
đợc nghiên cứu chuyên biệt, mà đợc đề cập đến thông qua việc phân tích thựctrạng và giải pháp xây dựng t tởng, đạo đức, lối sống, chuẩn giá trị xã hội mớitrong các tầng lớp nhân dân, đề xuất mô hình nhân cách và giải pháp mangtính chiến lợc để thực hiện mô hình nhân cách đó [37]
Ngoài các đề tài nằm trong khuôn khổ hai Chơng trình khoa học côngnghệ nêu trên, vấn đề định hớng giá trị và giáo dục giá trị còn đợc nhiều tácgiả nghiên cứu, bàn đến trong các đề tài khoa học, đề tài luận án tiến sĩ, trongcác hội thảo khoa học, các bài báo khoa học,… Qua khái quát, có thể nhậnthấy, những hớng chủ yếu đợc các tác giả tập trung nghiên cứu hoặc bàn đếngồm:
- Xác định thực trạng định hớng giá trị của học sinh, sinh viên [23], 32],[51], [68], [70], [80], [84], [99], trong đó, có tác giả đã tìm hiểu về thực trạng
định hớng giá trị nghề của sinh viên [95], thậm chí là định hớng giá trị nghềdạy học của sinh viên s phạm [118];
- Giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống cho học sinh, sinh viên [4],[17], [26], [71], [81], [90], [98], [103], [107]
Trang 15- Giáo dục các giá trị đạo đức - nhân văn cho thế hệ trẻ nói chung, chohọc sinh, sinh viên nói riêng [18], [109].
- Giáo dục giá trị sống cho thanh thiếu niên [72], [111], đặc biệt, trongcác năm 2005 và 2006, Viện Chiến lợc và Chơng trình giáo dục đã biên soạn
và phát hành hai tài liệu về giảng dạy các giá trị sống trong nhà trờng [126],[127]
Trên thực tế, từ năm 2000, LVEP đã triển khai Chơng trình Giáo dụccác Giá trị sống vào nớc ta Trong khuôn khổ của Chơng trình, nhiều hoạt
động nh tập huấn giảng viên, cung cấp tài liệu, hớng dẫn thực hành các giá trịsống cho các đối tợng khác nhau đã đợc tổ chức Tuy nhiên, Chơng trình mớichỉ đợc triển khai tại các cơ sở giáo dục - lao động - xã hội với các đối tợng làhọc viên cai nghiện, trẻ em đờng phố, trẻ em bị thiệt thòi,… và một số trờngphổ thông dân lập ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh [111]
Nh vậy, vấn đề giáo dục giá trị đã đợc đông đảo các nhà khoa học ở
n-ớc ta quan tâm từ rất sớm Nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã đ ợcthực hiện với những nội dung nghiên cứu hết sức đa dạng, từ tìm hiểu thựctrạng định hớng giá trị, đề xuất giải pháp giáo dục giá trị ở tầm vĩ mô đếnxác định các con đờng và biện pháp cụ thể để thực hiện giáo dục giá trị vănhóa truyền thống dân tộc, giá trị đạo đức - nhân văn cho học sinh, sinh viên,
… Tuy nhiên, việc xây dựng và triển khai các chơng trình giáo dục giá trịvào trong các nhà trờng còn rất hạn chế và chậm chạp
1.1.3 Vấn đề giáo dục GTNN trong đào tạo giáo viên ở nớc ta
Từ trớc đến nay, các trờng s phạm ở nớc ta rất chú ý đến việc rèn luyệncho giáo sinh các phẩm chất và năng lực nghề nghiệp Đặc biệt, trong các giáotrình Tâm lý học và Giáo dục học đều có dành riêng một chơng để bàn vềnhân cách ngời thầy giáo với những phẩm chất và năng lực mà họ cần phải có.Mặc dù vậy, vấn đề giáo dục GTNN cho giáo sinh còn ít đợc quan tâm nghiêncứu, nhất là vấn đề giáo dục GTNN cho giáo sinh qua con đờng thực hànhNVSP lại càng ít đợc chú ý hơn Thực ra thì cũng không khó để lý giải chothực trạng này, bởi lẽ, giáo dục GTNN không phải là mục đích tự thân của cácnghiên cứu về hoạt động thực hành NVSP Mục đích của các nghiên cứu này
là xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn để tổ chức có hiệu quả các hoạt độngrèn luyện tay nghề cho giáo sinh Do đó, trên thực tế, tuy có ít công trình bàn
Trang 16đến giáo dục GTNN qua hoạt động thực hành NVSP, nhng lại có khá nhiềutác giả quan tâm nghiên cứu về hoạt động thực hành NVSP trong đào tạo giáoviên nói chung, đào tạo GVTH nói riêng Cụ thể, vấn đề hoạt động thực hànhNVSP đã đợc các tác giả tập trung nghiên cứu hoặc bàn đến theo các hớng chủyếu sau đây:
- Làm rõ tầm quan trọng và những cơ sở khoa học của việc tổ chức cáchoạt động thực hành NVSP [52], [56], [57], [66], [133]
- Xác định mục tiêu và nội dung của các hoạt động thực hành NVSP,xây dựng chơng trình và hớng dẫn tổ chức các hoạt động thực hành NVSPtrong đào tạo giáo viên [11], [13], [14], [58], [76], [102], [104], [105], [106]
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động thực hành NVSP, đềxuất các giải pháp, biện pháp và thiết kế quy trình tổ chức các hoạt động thựchành NVSP trong đào tạo giáo viên [59], [67], [85], [96], [110]
Trong những nghiên cứu nêu trên, cũng có tác giả đã bàn về vai trò củahoạt động thực hành NVSP trong việc hình thành những phẩm chất, năng lựcnghề nghiệp cho giáo sinh Chẳng hạn, tác giả Phạm Minh Hùng đã cho rằngcác đợt thực tập s phạm đóng vai trò quan trọng trong việc bồi dỡng lòng yêunghề, yêu trẻ cho sinh viên Việc xuống trờng phổ thông, đợc tập làm nhữngcông việc của ngời giáo viên sẽ tạo nên hứng khởi ban đầu nhng rất cần thiết
đối với nghề nghiệp [58] Các tác giả Phạm Trung Thanh và Nguyễn Thị Lýcũng khẳng định rằng hoạt động rèn luyện NVSP là một bộ phận nòng cốttrong quá trình rèn luyện tay nghề, góp phần quan trọng vào sự hình thành vàphát triển năng lực s phạm của giáo sinh [105]
Nh vậy, vấn đề giáo dục GTNN cho giáo sinh qua con đờng thực hànhNVSP còn ít đợc quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, giáo dục GTNN và thựchành NVSP là hai hoạt động giáo dục có mối quan hệ với nhau hết sức mậtthiết Do đó, những kết quả nghiên cứu về hoạt động thực hành NVSP cũng có
ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nghiên cứu và tổ chức giáo dục GTNN chogiáo sinh
Tóm lại, giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ là vấn đề đã đợc đặt ra từ cách
đây khá lâu, nhng phải đến cuối của thế kỷ XX, vấn đề này mới thực sự trởthành mối quan tâm chung của các tổ chức quốc tế, của các quốc gia và củacác nhà khoa học Qua những khảo cứu ở trên có thể nhận thấy, các hoạt độngnghiên cứu về giáo dục giá trị diễn ra rất đa dạng và ngày càng phát triển rộng
Trang 17rãi Trên phạm vi toàn cầu, nhiều cuộc hội thảo khoa học với các tầm mứckhác nhau đã đợc tổ chức, nhiều chơng trình giáo dục giá trị với các quy môkhác nhau đã đợc xây dựng và triển khai Mặc dù vậy, trong nghiên cứu cũng
nh trong thực tiễn, vấn đề giáo dục GTNN cho sinh viên s phạm còn ít đợc bàn
đến
Giáo viên là ngời mang hệ thống giá trị của nhân loại đến cho họcsinh, là ngời sử dụng các giá trị trong nhân cách nghề nghiệp của mình làmcông cụ lao động chủ yếu Vì thế, để đào tạo ra những thế hệ giáo viên có
đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục trong thời đại hiệnnay, thì việc nghiên cứu vấn đề giáo dục GTNN cho sinh viên s phạm là hếtsức cần thiết
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Giá trị nghề nghiệp
1.2.1.1 Giá trị
Từ thời cổ đại, những hiểu biết đầu tiên về giá trị đã có trong các t tởngtriết học Đến cuối thế kỷ XIX, với sự xuất hiện của giá trị học, thuật ngữ giátrị đợc dùng để chỉ về một khái niệm khoa học và đợc nghiên cứu ngày càngsâu rộng trong triết học, đạo đức học, văn hóa học, xã hội học, tâm lý học…Với mỗi ngành học đều có những hớng tiếp cận riêng đối với khái niệm “giátrị” Vì thế, xung quanh khái niệm “giá trị” có khá nhiều cách định nghĩa khácnhau
Theo một số từ điển Việt Nam và từ điển nớc ngoài, khái niệm “giá trị”
đợc định nghĩa “là phẩm chất tốt hay xấu, tác dụng lớn hay nhỏ của sự vật
hay của con ngời, là cái làm cho vật có ích lợi, đáng quý, là tính ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của khách thể đối với con ngời, giai cấp, nhóm, xã hội nói chung, đợc phản ánh vào các nguyên tắc và chuẩn mực đạo lý, lý tởng, tâm thế, mục đích Có giá trị vật chất và giá trị tinh thần” [33, tr.123].
Nhà xã hội học J H Fichter (Hoa Kỳ) coi: “Tất cả những gì có ích lợi,
đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân hoặc nhóm xã hội đều có một giá trị” [28, tr 173]
Nhà văn hóa học C Kluckholn (Hoa Kỳ) cho rằng: “Ngời ta nhận thấy
ở giá trị những quan niệm thầm kín hoặc bộc lộ cái ao ớc riêng của một cá nhân hay của một nhóm Những quan niệm ấy chi phối sự lựa chọn các phơng thức, phơng tiện và mục đích khả thi của hành động” [27, tr 31].
Trang 18Còn theo quan niệm của nhà giáo dục học T Makiguchi (Nhật Bản) thì:
“Giá trị là sự thể hiện có tính định lợng của mối quan hệ giữa chủ thể đánh
giá và đối tợng của việc đánh giá” [83, tr.104].
Trong những thập kỷ gần đây, ở nớc ta cũng đã có nhiều công trình nghiêncứu về giá trị Nhìn chung, tác giả của các công trình này đều quan niệm giá trị
là tính có ý nghĩa tích cực, tốt đẹp, đáng quý, có ích của các đối tợng đối với chủ
thể Chẳng hạn, theo tác giả Thái Duy Tuyên thì giá trị là: “cái đáng quý, cái cần
thiết, có ích, có nghĩa, thỏa mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần của con ngời, giai cấp, nhóm xã hội nói chung” [121, tr 106].
Nh vậy, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về giá trị Qua các địnhnghĩa có thể nhận thấy những quan điểm chung sau đây:
Thứ nhất, giá trị là tính ích lợi, tính ý nghĩa tích cực của các sự vật, hiện
tợng trong hiện thực khách quan đối với cuộc sống của con ngời Nó nói lênkhả năng của sự vật, hiện tợng trong việc thỏa mãn những nhu cầu vật chấthay tinh thần của từng ngời, từng nhóm ngời, của cộng đồng, xã hội và củatoàn nhân loại Giá trị của một khách thể (sự vật, hiện tợng) hoàn toàn khácvới cái gọi là bản chất và quy luật của chính bản thân khách thể đó Cái bảnchất và quy luật của khách thể luôn tồn tại một cách khách quan, không phụthuộc vào nhu cầu của con ngời Còn giá trị của khách thể lại chỉ có thể tồn tạitrong mối liên hệ với nhu cầu của chủ thể (cá nhân, nhóm, cộng đồng,…).Nhờ nhu cầu mà chủ thể xác định đợc một đối tợng có giá trị hay không và giátrị ấy cao hay thấp
Thứ hai, giá trị là sự biểu hiện mối quan hệ lợi ích, đánh giá của chủ thể
đối với sự vật, hiện tợng trong hiện thực khách quan Điều đó có nghĩa, giá trị
có mặt khách quan và mặt chủ quan Mặt khách quan của giá trị là những đốitợng trong hiện thực chứa đựng những đặc tính có khả năng thỏa mãn nhu cầuvật chất hoặc tinh thần nào đó của con ngời Còn mặt chủ quan của giá trị làthái độ, quan điểm, tiêu chuẩn lựa chọn giá trị cũng nh phơng thức đánh giá
đối tợng của xã hội và cá nhân Sự phân biệt hai mặt cấu thành của giá trị đãcho thấy giá trị chỉ nảy sinh và tồn tại thông qua sự đánh giá của chủ thể, màchủ thể bao giờ cũng là con ngời nên giá trị là một phạm trù mang bản chất xãhội Giá trị là cái thuộc về xã hội, chỉ có trong xã hội loài ngời Các giá trịgiúp con ngời định hớng hoạt động và góp phần tạo dựng nên xã hội loài ngời.Tuy nhiên, sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của một giá trị nào đó không phụthuộc vào ý thức của con ngời mà phụ thuộc vào những yêu cầu và điều kiện
Trang 19thực tiễn trong đó họ sống và hoạt động Do vậy, trong mỗi thời đại lịch sử,mỗi chế độ xã hội, mỗi cộng đồng dân tộc, tôn giáo, giai cấp,… đều có nhữnggiá trị riêng của mình Nói khác đi, giá trị là một phạm trù mang tính xã hội,tính lịch sử - cụ thể, luôn biến đổi theo không gian và thời gian
Thứ ba, Giá trị đợc hình thành trong hoạt động thực tiễn, gắn liền với
hoạt động của con ngời Khi đã hình thành, giá trị có vai trò là chỗ dựa để conngời xác định mục đích, phơng hớng cho hoạt động của mình Mọi cách thức
và hành động của con ngời trong hoạt động đều đợc chỉ đạo bởi các giá trị Vìthế, giá trị là cái chi phối con ngời trong việc lựa chọn các phơng thức, phơngtiện và mục đích hoạt động
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu một cách khái quát: Giá trị là
tính ích lợi, tính có ý nghĩa tích cực của sự vật, hiện tợng đối với sự thỏa mãn nhu cầu của con ngời, có tác dụng chi phối con ngời trong việc lựa chọn mục
đích, phơng thức và phơng tiện hoạt động
Trong xã hội loài ngời có vô số các giá trị khác nhau Thông thờng, cácgiá trị đợc phân chia thành hai loại tơng ứng với hai lĩnh vực cơ bản trong đờisống con ngời, đó là giá trị vật chất (thỏa mãn các nhu cầu vật chất) và giá trịtinh thần (thỏa mãn các nhu cầu tinh thần) Ngời ta cũng thờng phân biệt cácgiá trị xã hội với các giá trị cá nhân Giá trị cá nhân là giá trị mà một con ng -
ời, với t cách là một chủ thể của hoạt động, đã tiếp thu hoặc tạo ra đợc chochính bản thân mình Còn giá trị xã hội là giá trị đợc đa số ngời trong cộng
đồng thừa nhận và cần đến nó nh một nhu cầu thực sự Các giá trị xã hội làcác giá trị căn bản của con ngời, là cơ sở của giá trị cá nhân Do đó, việc giáodục giá trị cho cá nhân phải dựa trên nền tảng của các giá trị xã hội
Các giá trị, dù là giá trị cá nhân hay giá trị xã hội, bao giờ cũng tồn tại
và vận động trong mối liên hệ chặt chẽ với các giá trị khác Khi một tổ hợpcác giá trị khác nhau đợc cấu trúc theo những vị trí thứ bậc khác nhau, tạothành một chỉnh thể thống nhất, phù hợp với việc thực hiện các chức năng đặc
thù của xã hội thì đợc gọi là hệ giá trị (hệ thống giá trị) Mỗi hệ giá trị đều có
một cấu trúc riêng, trong đó các giá trị đợc sắp xếp theo từng nhóm tơng ứngvới từng lĩnh vực hoạt động của con ngời Các nhóm giá trị này có vị trí độclập tơng đối và có sự tơng tác với nhau trong quá trình thực hiện các chứcnăng xã hội
Hệ thống giá trị là một hình thức của hệ thống xã hội nói chung, củacấu trúc xã hội nói riêng, trong đó thể hiện các cấp độ giá trị và mối liên hệ
Trang 20giữa các cấp độ giá trị Nói đến cấp độ giá trị là nói đến sự hệ thống hóa cácgiá trị theo tầng bậc của cộng đồng Cụ thể là, có cấp độ giá trị của toàn nhânloại, cấp độ giá trị của khu vực (châu lục), cấp độ giá trị của quốc gia - dântộc, cấp độ giá trị của một giai cấp, của tộc ngời, của từng nhóm xã hội, cấp
độ giá trị của từng cá nhân Giữa các cấp độ giá trị có nhiều nét đồng nhất vớinhau, nhng cũng có những điểm khác biệt thể hiện ở các giá trị đơn lẻ và đặcbiệt là ở sự xếp đặt thứ tự các giá trị trong tổng thể bảng giá trị
Hệ giá trị luôn có tính lịch sử - cụ thể và chịu sự chế ớc bởi lịch sử.Trong cấu trúc của hệ giá trị có chứa đựng các nhân tố của quá khứ và củahiện tại, có các giá trị đơng đại và các giá trị truyền thống, các giá trị của quốc
tế, của khu vực, của dân tộc, của giai cấp… Cấu trúc đó là kết quả của quátrình hình thành, phát triển và chuyển hóa các giá trị dới tác động của các điềukiện lịch sử cụ thể Do đó, trong mỗi thời kỳ lịch sử, hệ giá trị lại có một cấutrúc tơng ứng Khi điều kiện lịch sử biến đổi thì cấu trúc của hệ giá trị cũngbiến đổi theo, có những giá trị cũ bị mất đi và có những giá trị mới đợc nảysinh Điều đó đã nói lên khả năng thích ứng cũng nh tính phát triển nội tại của
hệ giá trị
Hệ giá trị khác nhau thì trật tự sắp xếp các giá trị cũng khác nhau Việcsắp xếp các giá trị (hay nhóm giá trị) theo một thứ tự u tiên nhất định đợc gọi
là thang giá trị (hay thớc đo giá trị) Thang giá trị đợc hình thành và thay đổi
theo thời gian cùng với sự phát triển, biến đổi của xã hội loài ngời, của dântộc, của cộng đồng, của từng nhóm ngời và của từng cá nhân Thang giá trịkhông tồn tại tự thân mà vận động và phát triển thông qua quá trình con ngời,với t cách là chủ thể của hoạt động và giao lu, vận dụng vào thực tiễn để nhậnthức, đánh giá, lựa chọn và chấp nhận các giá trị cũng nh để sáng tạo ra cácgiá trị mới Vì thế, nói đến thớc đo giá trị là nói đến mặt thực tiễn của thanggiá trị
Thang giá trị, thớc đo giá trị đợc dùng để đánh giá về các giá trị Trênthực tế, mỗi cá nhân hay cộng đồng xã hội đều có những thớc đo giá trị riêng.Tuy nhiên, dù là thớc đo giá trị nào thì trong nó cũng có những giá trị giữ vị trí
là giá trị cốt lõi, chuẩn mực chung cho nhiều ngời, chiếm vị trí ở bậc cao hoặc
vị trí then chốt Những giá trị đó đợc coi là giá trị chuẩn hay chuẩn giá trị
Chuẩn giá trị là một giá trị cụ thể, đợc cộng đồng xã hội lựa chọn, đánhgiá trong quá trình họ tham gia vào các loại hình hoạt động và giao lu Khi giátrị đợc chọn lọc lên đến cấp độ chung cho mọi ngời thì nó trở thành chuẩn giá
Trang 21trị nằm trong hệ giá trị xã hội, giữ vị trí là giá trị cốt lõi, thực hiện vai trò củamột giá trị hạt nhân để điều chỉnh các giá trị khác, đảm bảo cho mối quan hệtơng tác trong nhóm giá trị cũng nh trong cả hệ thống giá trị luôn đa dạng và
ổn định Vai trò hạt nhân của chuẩn giá trị đợc thể hiện rõ nét nhất khi nó nằmtrong cấu trúc của thang giá trị ở đây, chuẩn giá trị đợc lấy làm căn cứ, làmtiêu chuẩn để phân định các giá trị vào từng thang bậc phù hợp Bởi thế, chuẩngiá trị chính là thang bậc chuẩn trong thớc đo giá trị
Chuẩn giá trị có vị trí độc lập tơng đối Tuy nhiên, trong đời sống của mỗicộng đồng xã hội, các giá trị chuẩn không tách rời nhau, mà liên hệ mật thiết vớinhau tạo thành hệ chuẩn giá trị của cộng đồng Hệ chuẩn giá trị giữ vị trí là nhânlõi của hệ giá trị xã hội Nội dung của hệ giá trị xã hội đợc biểu hiện một cáchcô đọng nhất ở hệ chuẩn giá trị Vì vậy, qua hệ chuẩn giá trị của một cộng đồng
có thể xác định đợc những đặc trng cơ bản trong hệ giá trị của cộng đồng đó
Đây là vấn đề có ý nghĩa phơng pháp luận rất quan trọng đối với việc xây dựngnội dung giáo dục giá trị cho học sinh, sinh viên hiện nay
Giá trị luôn gắn liền với sự thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinhthần của con ngời Do đó, nó có vai trò hết sức to lớn trong đời sống cá nhân
và cộng đồng Giá trị là nguồn động lực thôi thúc con ngời hành động và nỗlực vơn tới lý tởng chân, thiện, mỹ Nó có tác dụng nh những biểu tợng địnhhớng cho hoạt động của con ngời, đồng thời cũng lại nh những chuẩn mực,quy tắc để điều chỉnh hành động của họ Mỗi nhóm xã hội và giai tầng xã hội
đều có một hệ giá trị đặc thù đóng vai trò điều chỉnh mọi hoạt động của cộng
đồng Hệ giá trị này là hạt nhân tạo nên tâm thức chung của cộng đồng, địnhhớng cho các thành viên cộng đồng cùng thống nhất hành động theo mục tiêuchung mà xã hội đã đề ra Chính vì thế, xây dựng các hệ thống giá trị để địnhhớng cho xã hội nói chung, cho từng lĩnh vực giáo dục và đào tạo nói riêng làmột nhiệm vụ hết sức quan trọng
1.2.1.2 Giá trị nghề nghiệp
Giá trị nghề nghiệp là một bộ phận của hệ thống giá trị xã hội, là mộtloại giá trị gắn liền với hoạt động nghề nghiệp của con ngời Bởi vậy, kháiniệm “giá trị nghề nghiệp” chỉ trở nên rõ ràng khi nó đợc xem xét trong mốiquan hệ với khái niệm “nghề nghiệp”
Nghề nghiệp, theo tài liệu “Dân số - lao động - việc làm - giải pháp” của
Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, đợc xác định là: “một lĩnh vực mà trong đó
con ngời sử dụng sức lao động của mình để tạo ra những cái cần thiết cho xã
Trang 22hội, nhờ đó con ngời có thể thỏa mãn những nhu cầu cần thiết cho việc tồn tại
và phát triển của mình” [129, tr 68]
Trong Từ điển Tiếng Việt thông dụng, “nghề” đợc định nghĩa là: “Công
việc chuyên môn theo sở trờng hoặc theo sự phân công của xã hội” [134, tr.
702], còn “nghiệp” là: “Nghề làm ăn, sinh sống” [134, tr 710].
Vậy, có thể xác định nghề nghiệp là công việc chuyên môn trong một lĩnhvực hoạt động nhất định, là dạng lao động đòi hỏi ở ngời làm việc phải có nhữngkiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, những phẩm chất, đạo đức phù hợp với yêu cầu củacông việc chuyên môn Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con ngời có thểtạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội, đồng thời thỏa mãn đợcnhững nhu cầu cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của bản thân
Trong đời sống xã hội luôn tồn tại nhiều nghề khác nhau Bất cứ nghềnào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị nghề nghiệp Các GTNNnằm trong khái niệm “giá trị” nên nó cũng mang đầy đủ các dấu hiệu bản chấtcủa giá trị Nghĩa là, GTNN cũng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với nhu cầu củacon ngời và chỉ đợc hình thành thông qua sự đánh giá của chủ thể Tuy nhiên,bên cạnh những dấu hiệu chung ấy, ở GTNN còn có những đặc điểm riêngbiệt sau đây:
- Giá trị nghề nghiệp là cái có khả năng giúp con ngời thỏa mãn nhữngnhu cầu liên quan đến việc thực hiện các chức năng chuyên môn trong mộtlĩnh vực hoạt động nhất định Với các nghề khác nhau thì các GTNN cũngkhác nhau Song, nhìn chung, các GTNN trong mỗi nghề đều bao gồm: cácphẩm chất nghề nghiệp, truyền thống của nghề, các tri thức lý thuyết củanghề, các kỹ năng, kỹ xảo, hiệu quả lao động Các GTNN đóng vai trò địnhhớng và điều chỉnh hoạt động chuyên môn của nghề, chi phối ngời lao độngtrong việc lựa chọn mục đích, phơng thức và phơng tiện khi tiến hành các hoạt
động chuyên môn Tổng thể các GTNN trong một nghề tạo nên văn hóa củanghề đó Việc lĩnh hội các GTNN từ nền văn hóa nghề sẽ giúp con ngời hìnhthành đợc nhân cách nghề nghiệp ở bản thân Nhờ vậy, họ có thể tham gia lao
động trong nghề và khẳng định đợc giá trị của mình trong hoạt động nghềnghiệp cũng nh trong cộng đồng xã hội Vì thế, GTNN chính là giá trị nhâncách nghề nghiệp của ngời lao động, là giá trị của con ngời
- Nguồn gốc của GTNN nằm trong thực tiễn của nghề, nó vốn là đặctính của những đối tợng nhất định Đặc tính này trở thành GTNN khi nó đợc
Trang 23ngời lao động nhận thức, đánh giá là có ý nghĩa tích cực cho hoạt động nghềnghiệp của bản thân và mong ớc chiếm lĩnh lấy nó Nh vậy, GTNN chỉ đợchình thành trong thực tiễn nghề và thông qua sự đánh giá của chủ thể hoạt
động trong nghề (cá nhân, nhóm ngời hoặc cộng đồng ngời lao động)
- Các GTNN luôn gắn kết chặt chẽ với công việc chuyên môn trong mộtlĩnh vực hoạt động nhất định Chúng chỉ hình thành và tồn tại trong mối quan
hệ với những nhu cầu có liên quan đến công việc chuyên môn của ngời lao
động Mỗi nghề là một lĩnh vực chuyên môn đặc thù với những chức năng,mục đích, nội dung, phơng thức, phơng tiện và điều kiện thực hiện riêng biệt.Tính đặc thù về chuyên môn của nghề đã tạo ra tính đặc thù trong nhu cầu vềchuyên môn của ngời lao động, và do đó, tạo ra tính đặc thù của các GTNNnằm trong nghề Nói khác đi, GTNN bao giờ cũng là giá trị đặc trng cho mộtnghề cụ thể
Từ những đặc điểm trên, tác giả luận án sử dụng khái niệm “giá trị nghề
nghiệp” với hàm nghĩa là giá trị (phẩm chất, tri thức, kỹ năng…) đặc trng của
ngời lao động trong một nghề, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu liên quan đến công việc chuyên môn của ngời lao động, chi phối họ trong việc lựa chọn mục đích, phơng thức và phơng tiện để tiến hành các hoạt động chuyên môn
Nh vậy, khái niệm “giá trị nghề nghiệp” hoàn toàn khác với khái niệm
“giá trị của nghề nghiệp” Khái niệm “Giá trị của nghề nghiệp” đợc dùng đểchỉ về những ích lợi mà nghề đó mang lại cho cá nhân và xã hội Còn kháiniệm “giá trị nghề nghiệp” lại đợc dùng để chỉ về những phẩm chất, đức tính,các tri thức lý thuyết, các kỹ năng, kỹ xảo,… mang tính đặc trng của mộtnghề Các GTNN là các giá trị con ngời, giúp con ngời thực hiện tốt chứcnăng nghề nghiệp của mình GTNN có quan hệ mật thiết với giá trị của nghềnghiệp Nhờ GTNN mà ngời lao động đã làm cho nghề nghiệp của mình trởnên có giá trị đối với cộng đồng, xã hội Nói cách khác, GTNN tạo nên giá trịcủa nghề nghiệp
Khi bàn đến khái niệm GTNN cũng cần phân biệt nó với khái niệmchuẩn nghề nghiệp Trên thực tế, hai khái niệm này thờng đi liền với nhau,nhiều khi ý nghĩa của chúng trùng khít với nhau, rất khó tách bạch Tuy nhiên,nếu xem xét đầy đủ thì GTNN và chuẩn nghề nghiệp có nhiều điểm khác biệt.GTNN là biểu tợng tinh thần có tác dụng thúc đẩy ngời lao động tích cực thựchiện các chức năng của nghề, còn chuẩn nghề nghiệp là quy ớc chung về
Trang 24những điều mà ngời lao động trong nghề nên làm, phải làm và những điềukhông nên làm, không đợc làm, nó nhắc nhở mỗi ngời cần phải ứng xử nh thếnào trong từng tình huống cụ thể GTNN là cái quy định mục đích hoạt độngcủa ngời lao động, còn chuẩn nghề nghiệp là sự vận dụng cụ thể GTNN vàoviệc định hớng các khuôn mẫu ứng xử và quy tắc hành động để đạt đến mục
đích ấy Giá trị và chuẩn nghề nghiệp có quan hệ mật thiết với nhau GTNN lànền tảng tạo nên chuẩn nghề nghiệp, còn chuẩn nghề nghiệp lại là sự hiệnthực hóa của các GTNN Vì thế, trên cơ sở khái quát các chuẩn nghề nghiệp
+ Phân loại các GTNN theo chức năng của nó trong hoạt động nghề, ta
có giá trị mục đích và giá trị công cụ
Sự phân loại GTNN chính là sự sắp xếp các giá trị theo những quan hệnhất định Căn cứ vào sự phân loại GTNN cũng nh căn cứ vào chức năng, mức
độ phổ biến hoặc mức độ tác dụng của giá trị, có thể xác định đợc các hệthống GTNN và thang GTNN
Hệ giá trị nghề nghiệp là một tổ hợp các GTNN khác nhau đợc sắp xếp,
hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định tạo thành một chỉnh thể thống nhất
để thực hiện các chức năng chuyên môn trong hoạt động nghề nghiệp
Một hệ GTNN bao giờ cũng có một cấu trúc cụ thể Trong đó, các giátrị đợc sắp xếp thành từng nhóm Các nhóm này có vị trí độc lập tơng đối và
có sự tơng tác qua lại với nhau Hệ GTNN có cấu trúc nh thế nào là tùy thuộcvào cách sắp xếp các giá trị tồn tại bên trong nó Chẳng hạn, nếu sắp xếp giátrị theo các mặt hoạt động thì cấu trúc của hệ GTNN gồm có các nhóm giá trị:
đạo đức nghề nghiệp, tri thức nghề nghiệp, kỹ thuật lao động Còn khi sắp xếpgiá trị theo các mặt trong nhân cách nghề nghiệp thì cấu trúc của hệ GTNN lạibao gồm các nhóm giá trị: đạo đức nghề, trình độ tay nghề, phong cách nghề
Trang 25Nghề nghiệp là một lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội Trong lĩnh vựcnghề nghiệp luôn tồn tại nhiều nghề, nhiều chuyên môn khác nhau Mỗi nghề,mỗi chuyên môn đều có những hệ GTNN riêng, mang tính đặc thù Việc hệthống hóa các giá trị trong một hệ GTNN theo tầng bậc cộng đồng sẽ xác định
đợc các cấp độ giá trị trong hệ GTNN đó Ví dụ, trong hệ thống GTNN củanghề dạy học có các cấp độ giá trị từ toàn cầu, quốc gia,… đến từng trờng,từng bộ môn, từng cá nhân Một GTNN đợc xác định nằm ở cấp độ giá trị nàotức là nó có ý nghĩa với mọi ngời trong cộng đồng đó Các cấp độ giá trị trongmột hệ GTNN có quan hệ bao hàm nhau, nằm trong nhau Bởi vậy, giữa cáccấp độ giá trị trong một hệ GTNN có nhiều nét đồng nhất với nhau thể hiện ởnhững giá trị chung cho nhiều cấp độ, nhng cũng có những điểm khác biệt thểhiện ở các giá trị đơn lẻ và đặc biệt là ở sự xếp đặt thứ tự các giá trị trong tổngthể bảng GTNN
Bất cứ hệ GTNN nào cũng mang tính lịch sử - cụ thể, chịu sự chế ớc bởinhững điều kiện phát triển xã hội - lịch sử Trong sự biến đổi của xã hội từthời kỳ này sang thời kỳ khác, hệ GTNN cũng biến đổi theo Có những giá trịmới đợc nảy sinh, có những giá trị cũ bị mất đi, đồng thời là sự chuyển hoácho nhau giữa các GTNN và các nhóm GTNN Bởi vậy, trong một hệ GTNNluôn bao gồm cả những giá trị có tính truyền thống và tính thời đại, cả nhữnggiá trị mang tính nhân loại, tính dân tộc và tính cộng đồng,
Thang giá trị nghề nghiệp là một hệ thống GTNN đợc sắp xếp theo một
trật tự u tiên nhất định Trong thực tế, tuỳ theo đặc điểm phát triển của nghề ởtừng thời điểm lịch sử nhất định, mà giá trị này đợc u tiên hơn giá trị khác, giátrị này đợc cần đến hơn giá trị kia Bởi vậy, thang GTNN cũng thay đổi cùngvới sự thay đổi của xã hội cả về thời gian và không gian Khi thang GTNN đợcmột chủ thể nào đó (ngời lao động hoặc ngời quản lý lao động trong nghề,…)vận dụng vào quá trình thực hiện hay đánh giá các hoạt động trong mối quan
hệ với công việc, với đồng nghiệp, với tập thể, với xã hội và với chính bảnthân mình, hoặc để sáng tạo, nhận thức đánh giá, lựa chọn và chấp nhận các
giá trị cần cho nghề nghiệp của mình thì đợc gọi là thớc đo giá trị nghề
nghiệp Vấn đề thang GTNN và thớc đo GTNN là vấn đề có ý nghĩa quan
trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nghề, nó định hớng và thúc đẩy sựphát triển nhân cách của ngời lao động, giúp họ hình thành đợc các phẩm chất
và năng lực nghề nghiệp cần thiết Do đó, việc chuyển hoá thang GTNN, thớc
Trang 26đo GTNN thành thang giá trị, thớc đo giá trị của từng ngời lao động sẽ tạo nềntảng vững chắc để họ gắn bó với nghề, hoàn thành tốt các chức năng nghềnghiệp của mình.
Trong một hệ GTNN nói chung, một thang GTNN nói riêng bao giờ
cũng có các giá trị chuẩn (hay chuẩn GTNN) Đó là những giá trị cốt lõi, giữ
vị trí then chốt và có thứ tự u tiên cao trong hệ thống GTNN Các chuẩnGTNN đợc hình thành, xác định trong quá trình cá nhân hoặc cộng đồngnhững ngời lao động tham gia vào các hoạt động và các mối quan hệ nghềnghiệp với t cách là chủ thể của các hoạt động và các mối quan hệ đó Vì vậy,các chuẩn GTNN luôn đóng vai trò là cơ sở định hớng cho đạo đức, lối sốngnghề nghiệp của mỗi cá nhân và cộng đồng ngời lao động
1.2.2 Định hớng giá trị nghề nghiệp
1.2.2.1 Định hớng giá trị
Khái niệm “định hớng giá trị” đợc sử dụng phổ biến trong các ngànhkhoa học xã hội và nhân văn Đây là một khái niệm phức tạp và có nhiều định
nghĩa khác nhau Theo “Từ điển tâm lý học tóm tắt” của Liên xô thì: “Định
h-ớng giá trị là phơng thức chủ thể sử dụng để phân biệt các sự vật theo ý nghĩa của chúng đối với chính mình, từ đó hình thành nội dung cơ bản của xu hớng,
động cơ hoạt động.” [125, tr 67] Trong cuốn “Những cơ sở nghiên cứu xã hội
học”, các tác giả đã quan niệm: “Định hớng giá trị là khuynh hớng chung đã
đợc quy định về mặt xã hội đợc ghi lại trong tâm lý cá nhân, nhằm vào mục
đích và phơng tiện hoạt động trong lĩnh vực nào đó” [131, tr 57]
ở nớc ta, khi thực hiện hai chơng trình khoa học công nghệ cấp nhà nớcKX-07 và KHXH-04, các nhà khoa học đã tiến hành thao tác với khái niệmnày và đã đa ra những định nghĩa khá cụ thể Trong đề tài KX-07-10, các tác
giả đã cho rằng: “Định hớng giá trị là thái độ, là sự lựa chọn các giá trị vật
chất và tinh thần, là một hệ thống tâm thế, niềm tin, sở thích của con ngời đối với một giá trị nào đó”[120, tr.3] Cũng vậy, các tác giả đề tài KHXH-04-03
đã quan niệm: “Định hớng giá trị là sự lựa chọn các giá trị vật chất và tinh
thần trên cơ sở hệ thống thái độ, niềm tin, sở thích và tâm thế, nhằm phân biệt các sự vật theo ý nghĩa của chúng đối với chính mình, từ đó hình thành nội
dung cơ bản của động cơ và xu hớng hoạt động và ứng xử”[131, tr.59] Còn
Phạm Minh Hạc thì định nghĩa một cách ngắn gọn: “Sự sắp xếp, lựa chọn giá
trị gọi là định hớng giá trị”[33, tr.125].
Nh vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về định hớng giá trị Qua các
định nghĩa có thể nêu lên những điểm chung sau đây:
Trang 27- Thứ nhất, định hớng giá trị là thái độ lựa chọn giá trị của con ngời, là
một dạng hoạt động tinh thần giúp con ngời phân biệt đợc cái có ý nghĩa, cógiá trị với những cái vô nghĩa, vô giá trị đối với họ Nội dung cơ bản của
định hớng giá trị là niềm tin mang tính chất thế giới quan, niềm tin đạo đứccủa con ngời, là những khát vọng sâu xa và liên tục, những nguyên tắc chân,thiện, mỹ của hoạt động xã hội và hành vi ứng xử Nghĩa là định h ớng giá trị
có liên hệ mật thiết với các quá trình nhận thức, ý chí và cảm xúc của conngời
- Thứ hai, định hớng giá trị diễn ra trên cái nền của tâm thế, thái độ,
niềm tin và sở thích của con ngời Bởi vậy, định hớng giá trị có quan hệ hữucơ với các yếu tố này Trong định hớng giá trị có sự thể hiện thái độ, đó là thái
độ đánh giá, thái độ cảm xúc, thái độ lựa chọn giá trị mà chủ thể chấp nhận.Cũng vậy, tâm thế, niềm tin và sở thích là một bộ phận tổ thành của định hớnggiá trị Nhờ các thành tố này mà chủ thể thực hiện sự lựa chọn giá trị một cách
có chủ đích và luôn sẵn sàng hành động, ứng xử phù hợp với các giá trị đã lựachọn
- Thứ ba, định hớng giá trị là thành tố cốt lõi trong cấu trúc nhân cách.
Tập hợp những định hớng giá trị ổn định và không mâu thuẫn tạo nên nhữngnét đặc trng của ý thức, đảm bảo tính mục đích, tính tích cực và kiên địnhcủa nhân cách khi hoạt động theo phơng hớng nhất định Chúng cũng biểuthị nhu cầu, hứng thú cá nhân là những yếu tố quyết định và điều chỉnh hệ
động cơ của nhân cách Định hớng giá trị gắn liền với việc giải quyết nhữngmâu thuẫn, những xung đột trong hệ động cơ, trong cuộc đấu tranh giữahành vi đạo đức và những kích thích thực dụng Sự phát triển các định h ớnggiá trị là dấu hiệu trởng thành của nhân cách, là chỉ tiêu đo đạc tính xã hộicủa nhân cách
Tóm lại, định hớng giá trị là một dạng hoạt động tinh thần, thực hiện
việc lựa chọn và sắp xếp các giá trị trên cơ sở hệ thống thái độ, niềm tin, sở thích và tâm thế của con ngời, nhằm phân biệt ý nghĩa của các đối tợng đối với bản thân cũng nh cộng đồng, từ đó hình thành nên nội dung cơ bản của xu hớng và động cơ hoạt động
Trong lĩnh vực giáo dục học, bên cạnh hàm nghĩa là một dạng hoạt độngtinh thần diễn ra trong ý thức của chủ thể, khái niệm “định hớng giá trị” còn đ-
ợc dùng khá phổ biến với ý nghĩa là hoạt động giáo dục giá trị Sự tồn tại hainghĩa này trong nội hàm của khái niệm định hớng giá trị đã đợc nhiều tác giả
Trang 28đề cập đến với những cách nhìn khác nhau Chẳng hạn, Thái Duy Tuyên cho
rằng: “Khái niệm định hớng giá trị thờng đợc hiểu theo hai nghĩa:
- Mỗi cá nhân hay cộng đồng nào đó định hớng giá trị cho mình có
nghĩa là lựa chọn cho mình một giá trị hoặc hệ thống giá trị nào đấy.
- Mỗi cá nhân hay cộng đồng định hớng giá trị cho một ngời hay một tập thể nào đấy có nghĩa là giáo dục giá trị ” [121, tr.124].
Không tách bạch thành hai nghĩa độc lập nh cách hiểu trên mà xemchúng là hai mặt không thể thiếu của một quá trình định hớng giá trị, các tác
giả của giáo trình “Đạo đức học quân sự” đã quan niệm: “Định hớng giá trị
bao hàm sự hớng dẫn từ bên ngoài và sự định hớng của chủ thể” [115, tr.178].
Cũng có tác giả lại nhấn mạnh đến nghĩa hoạt động giáo dục giá trị trong nộihàm của khái niệm định hớng giá trị, còn hàm nghĩa hoạt động định hớng giátrị (hoạt động tinh thần) của chủ thể chỉ đợc đề cập đến nh là kết quả của hoạt
động giáo dục giá trị [48]
Hoạt động giáo dục giá trị là hoạt động có tính định hớng Đó là sự địnhhớng của nhà giáo dục đối với quá trình nhận thức, lựa chọn giá trị của ngời đ-
ợc giáo dục, giúp họ hình thành nên ở bản thân một hệ thống giá trị phù hợpvới sự mong đợi của xã hội Vì thế, việc đa giáo dục giá trị vào trong nội hàmcủa định hớng giá trị là phản ánh đúng bản chất của giáo dục giá trị và mốiquan hệ gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời giữa giáo dục giá trị với sự địnhhớng giá trị của cá nhân Tuy nhiên, trong nghiên cứu, cần có sự phân biệt rõràng giữa giáo dục giá trị với hoạt động định hớng giá trị của nhân cách.Riêng trong đề tài này, khái niệm định hớng giá trị đợc dùng với hàm nghĩa làmột thành tố cốt lõi trong cấu trúc nhân cách để phân biệt với hàm nghĩa làmột quá trình xã hội hình thành định hớng giá trị cho cá nhân (nghĩa là giáodục giá trị)
Định hớng giá trị là một thành phần cấu tạo nên nhân cách, là hoạt
động tâm lý diễn ra trong ý thức của chủ thể theo các quá trình với những giai
đoạn khác nhau Việc phân chia các giai đoạn này đợc dựa trên cơ sở nhữngtiêu chuẩn xác định giá trị cụ thể Theo các tác giả Paths, Harmin và Simon[125], có bảy tiêu chuẩn để xác định giá trị Do đó, một hoạt động định hớnggiá trị thờng trải qua bảy giai đoạn dựa trên cái nền của ba quá trình cơ bản là:lựa chọn, cân nhắc và hành động Trong đó, quá trình lựa chọn gồm có cácgiai đoạn: lựa chọn tự do, lựa chọn từ các khả năng khác nhau, lựa chọn saukhi cân nhắc; Quá trình cân nhắc bao gồm: giai đoạn cân nhắc và tâm niệm,
Trang 29giai đoạn khẳng định; Quá trình hành động có các giai đoạn: hành động theolựa chọn và lặp lại hành động Kết quả của hoạt động định hớng giá trị là conngời khẳng định đợc một giá trị nào đó, lấy nó làm cái để bản thân hớng tớitrong cuộc sống
1.2.2.2 Định hớng giá trị nghề nghiệp
Cho đến nay, vẫn cha có ai đa ra định nghĩa cụ thể về “định hớng giá trịnghề nghiệp” Tuy nhiên, dựa vào khái niệm “định hớng giá trị” và khái niệm
“giá trị nghề nghiệp” ở trên, tác giả luận án quan niệm định hớng GTNN là sự
lựa chọn, sắp xếp các giá trị nghề nghiệp trên cơ sở tâm thế, thái độ, niềm tin
và sở thích của ngời lao động, nhằm phân biệt ý nghĩa của chúng đối với việc thực hiện các chức năng nghề nghiệp, từ đó hình thành nên nội dung cơ bản của xu hớng và động cơ trong nhân cách nghề nghiệp của bản thân
Khái niệm “định hớng GTNN”, với quan niệm nh vậy, hoàn toàn khácvới khái niệm “định hớng giá trị của nghề” Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ,
“định hớng GTNN” là sự lựa chọn, sắp xếp các phẩm chất, tri thức, kỹ năng và
kỹ xảo theo ý nghĩa của chúng đối với việc thực hiện một hoạt động nghềnghiệp nào đó, còn “định hớng giá trị của nghề” lại là sự lựa chọn, sắp xếp củacon ngời đối với những ích lợi mà một nghề có thể mang lại cho cá nhân hoặcxã hội Những lợi ích đó có thể là nghề nhàn rỗi, nghề có thu nhập cao, nghề
đợc mọi ngời kính trọng Định hớng GTNN có tác dụng giúp con ngời làmtốt chức năng nghề nghiệp của mình, còn định hớng giá trị của nghề đóng vaitrò là cơ sở để con ngời lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân hoặc ngời khác
Định hớng GTNN đợc con ngời (cá nhân, cộng đồng ngời lao động củamột nghề) tạo ra khi họ chủ động vận hành hệ GTNN, thang GTNN trong hoạt
động và giao lu về chuyên môn Bản chất của định hớng GTNN là lấy cáchhiểu về giá trị, cách đánh giá về các đối tợng trong thực tiễn của nghề làm cơ
sở cho những gì liên quan đến việc thực hiện các chức năng nghề nghiệp: mộtmục đích cần đạt đến, một quan điểm về chuyên môn, một nguyên tắc vàchuẩn mực ứng xử trong lao động, một niềm tin vào điều mình đang làm…
Định hớng GTNN đợc thể hiện ở việc con ngời đánh giá cao và ấp ủ nhữngGTNN nào đó, lấy chúng làm kim chỉ nam cho các hoạt động nghề nghiệp củabản thân Bởi vậy, định hớng GTNN là thành phần quan trọng nhất trong cấutrúc nhân cách nghề nghiệp của ngời lao động Nó quy định động cơ, phơng h-ớng hoạt động trí tuệ và sự nỗ lực ý chí của ngời lao động khi tiến hành cáchoạt động trong nghề Sự phát triển các định hớng GTNN ở ngời lao động
Trang 30chính là chỉ tiêu để đo đạc về trình độ phát triển nhân cách nghề nghiệp củahọ.
Quá trình hình thành và phát triển hệ thống định hớng GTNN của mỗingời là một quá trình lâu dài Điều kiện cho sự hình thành và phát triển hệthống định hớng GTNN ở con ngời là họ phải đợc sống trong môi trờng vănhoá của nghề với những giá trị mang tính đặc trng đã đợc tạo ra, bảo tồn vàchuyển hoá trong suốt lịch sử phát triển của nghề Nhìn chung, quá trình hìnhthành và phát triển hệ thống định hớng GTNN ở con ngời trải qua các giai
đoạn: từ khi còn học ở trờng phổ thông, đợc đào tạo nghề ở trờng chuyênnghiệp, và thời gian lao động trong nghề Trong đó, giai đoạn đợc đào tạo ở tr-ờng chuyên nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt, bởi nó tạo nền tảng vững chắccho sự hình thành hệ thống định hớng GTNN của ngời lao động
1.2.3 Giáo dục giá trị
1.2.3.1 Bản chất của giáo dục giá trị
Nh trên đã đề cập, “giáo dục giá trị” đợc nhiều tác giả xác định là mộtnghĩa trong nội hàm của khái niệm định hớng giá trị Theo đó, giáo dục giá trị
đợc hiểu là sự hớng dẫn, khuyến khích ngời đợc giáo dục chiếm lĩnh các giátrị xã hội Có thể xem đây là cách hiểu về khái niệm giáo dục giá trị với nộihàm rộng nhất của nó Cách hiểu này cha làm rõ đợc bản chất của giáo dụcgiá trị
Bàn về khái niệm “giáo dục giá trị”, ngời Philippin cho rằng: “Giáo dục
giá trị là một phần trong kế hoạch giảng dạy của nhà trờng, nó là quá trình
mà ở đó giá trị đợc hình thành cho ngời học dới sự hớng dẫn của giáo viên nh
là tác động qua lại của ngời học trong môi trờng Song nó không phải bao gồm bất kỳ quá trình giảng dạy nào ”[125, tr.185].
Trong đề tài KX-07-04, khi xem giáo dục giá trị là một nội dung nằmtrong quy trình chung của việc giáo dục, hình thành nhân cách con ngời, các
tác giả đã xác định: “Bản chất của việc giáo dục giá trị có thể hiểu là một quá
trình tổ chức, hớng dẫn, kích thích hoạt động tích cực của con ngời đợc giáo dục để họ lĩnh hội đợc các giá trị xã hội, hình thành nên hệ thống giá trị của cá nhân, phù hợp với mong đợi của xã hội.”[125, Tr 185]
Qua các định nghĩa này, có thể xác định khái niệm “giáo dục giá trị” cónhững nét bản chất sau:
- Giáo dục giá trị là quá trình đợc tổ chức một cách có kế hoạch, nhằmgiúp ngời học có sự hiểu biết sâu sắc về các giá trị, về cách đánh giá các đối t-
Trang 31ợng trong hiện thực, biết phân tích, tổng hợp, khái quát từ những sự kiện, tìm
ra các mối quan hệ logic, tự đi đến kết luận về một giá trị hay một cách đánhgiá giá trị nào đó (tức là làm phát triển lý trí về giá trị); có sự rung động về cácgiá trị đã lựa chọn, yêu thích chúng và mong muốn chiếm lĩnh chúng, có thái
độ phản đối những hành động đi ngợc lại với các giá trị đã lựa chọn (tức làlàm phát triển tình cảm phù hợp với giá trị đã lựa chọn); biết hành động theocác chuẩn mực giá trị đã lựa chọn, biết vận dụng các giá trị vào việc ra quyết
định hành động và giải quyết các tình huống của cuộc sống (tức là làm pháttriển hành vi và hành động phù hợp với giá trị đã lựa chọn) Nói một cách kháiquát thì, quá trình giáo dục giá trị bao gồm trong nó những tác động chuyênbiệt của nhà giáo dục đến ngời học nhằm tạo ra ở họ sự phát triển lý trí (nhậnthức) về giá trị, sự phát triển tình cảm và hành động phù hợp với những giá trị
- Giáo dục giá trị, với t cách là quá trình hoạt động và giao lu chunggiữa ngời giáo dục và ngời đợc giáo dục, bao giờ cũng bao hàm hai mặt, đólà: sự tác động mang tính hớng dẫn, kích thích của nhà giáo dục đến nhậnthức, tình cảm, ý chí của ngời học; và sự hởng ứng tích cực của ngời học đốivới các tác động đó cũng nh sự chủ động, tự giác của họ trong việc tham giavào các hoạt động đa dạng để tiếp thu, chiếm lĩnh các giá trị xã hội Nóikhác đi, sự thống nhất giữa tác động s phạm của nhà giáo dục và hoạt động
tự giáo dục của ngời học là một nét bản chất của quá trình giáo dục giá trị
Trang 32Tóm lại, với những phân tích trên, tác giả luận án quan niệm giáo dục
giá trị là quá trình tổ chức, hớng dẫn, kích thích các hoạt động tích cực, tự giác của ngời đợc giáo dục nhằm giúp họ phát triển lý trí về giá trị, phát triển tình cảm và hành động phù hợp với những giá trị đã lựa chọn, từ đó hình thành đợc ở bản thân một hệ thống định hớng giá trị phù hợp với mục đích giáo dục của xã hội.
1.2.3.2 Các thành tố của quá trình giáo dục giá trị
Cũng nh bất cứ quá trình giáo dục nào khác, quá trình giáo dục giá trị
có một cấu trúc xác định với những nét đặc thù đợc thể hiện ở các thành tốmục đích, nhiệm vụ, nội dung, phơng pháp tiếp cận và con đờng giáo dục
* Mục đích của giáo dục giá trị
Giáo dục giá trị là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục toàn vẹn,thực hiện việc hình thành ở con ngời một hệ thống định hớng giá trị phù hợpvới định hớng giá trị của xã hội Hệ thống định hớng giá trị của xã hội đợcphản ánh trong mục đích chung của giáo dục với t cách là thành phần cấu trúccơ bản của mô hình nhân cách mà quá trình giáo dục toàn vẹn cần phải đạt
đến Do đó, mục đích của giáo dục giá trị là hình thành nên ở ngời học hệthống các định hớng giá trị đã đợc quy định trong mục đích chung của giáodục
* Nhiệm vụ của giáo dục giá trị
Quá trình giáo dục giá trị có nhiệm vụ làm cho ngời đợc giáo dục:
- Nhận thức đầy đủ và sâu sắc về các giá trị nêu trong mục đích giáo dục
- Có thái độ trân trọng, yêu quý, bảo vệ các giá trị đó
- Có hành vi và hành động thực tiễn phù hợp với các giá trị đó
Các nhiệm vụ trên có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau,nên cần phải thực hiện chúng một cách đồng bộ
* Nội dung giáo dục giá trị
Nội dung giáo dục giá trị chính là hệ thống các giá trị cần phải trang bịcho thế hệ trẻ để giúp họ hình thành đợc định hớng giá trị phù hợp với sựmong đợi chung của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Hệ thốngcác giá trị này đợc chọn lọc từ nền văn hóa của nhân loại, của dân tộc cũng
nh của cộng đồng xã hội, đợc lồng ghép vào các môn học, các hoạt động giáodục trong nhà trờng hoặc đợc thiết kế thành những chuyên đề độc lập
Việc lựa chọn các giá trị để giáo dục cho thế hệ trẻ đòi hỏi phải tuântheo những nguyên tắc nhất định Tất nhiên, đối với mỗi quốc gia, trong từngthời kỳ lịch sử đều có các nguyên tắc lựa chọn giá trị riêng
Trang 33* Cách tiếp cận giáo dục giá trị
Cách (phơng pháp) tiếp cận giáo dục đợc hiểu là tập hợp những quan
điểm chung có tính định hớng cho việc xác định các biện pháp, hình thức tác
động tới đối tợng giáo dục nhằm đạt đợc mục đích cần thiết Trong hoạt độnggiáo dục giá trị có các cách tiếp cận riêng, mang tính đặc thù Các cách đógồm: Phơng pháp tiếp thu sâu sắc; Phơng pháp tiếp cận sáng tỏ giá trị; Phơngpháp tiếp cận phát triển đạo đức; Phơng pháp tiếp cận học hành động [40]
* Các con đờng thực hiện giáo dục giá trị
Nói đến con đờng giáo dục là nói đến sự vận dụng tổng hợp các phơngpháp, các cách thức, cách tổ chức quá trình giáo dục nhằm giúp ng ời họchoạt động một cách chủ động, sáng tạo để lĩnh hội có kết quả các giá trị vănhoá, khoa học, kỹ thuật,… đồng thời góp phần sáng tạo ra các giá trị mới.Trong thực tiễn ở nớc ta, các con đờng giáo dục thờng đợc sử dụng là: dạyhọc, tổ chức lao động, hoạt động xã hội, hoạt động tập thể, tự giáo dục, …Tuy nhiên, với mỗi nội dung giáo dục đều có những con đ ờng thực hiện phùhợp với tính đặc thù của nó Riêng giáo dục giá trị, theo các tác giả đề tàiKX-07-04, đợc thực hiện qua các con đờng: gia đình; học tập và rèn luyện;tác động của môi trờng s phạm (bao gồm môi trờng văn hóa vật chất, môi tr-ờng tâm lý - xã hội, quan hệ thầy trò); tác động của môi tr ờng văn hóa xã hội[125]
1.3 Một số vấn đề lý luận về giáo dục GTNN cho sinh viên ngành GDTH 1.3.1 Giá trị nghề nghiệp của ngời giáo viên tiểu học
1.3.1.1 Khái niệm giá trị nghề nghiệp của ngời giáo viên tiểu học
Giáo viên, theo Từ điển Tiếng Việt, là “Ngời dạy học ở bậc phổ thông
hoặc tơng đơng” [92, tr 513] Còn trong Từ điển Giáo dục học, giáo viên đợc
định nghĩa là: “chức danh nghề nghiệp của ngời dạy học trong các trờng phổ
thông, trờng nghề và trờng mầm non, đã tốt nghiệp các trờng s phạm sơ cấp, trung cấp, đại học hoặc s phạm mẫu giáo Giáo viên là ngời truyền thụ toàn
bộ các kiến thức và kỹ năng quy định trong chơng trình bộ môn của bậc học, cấp học, ngoài ra còn có trách nhiệm phụ đạo cho học sinh kém và bồi dỡng cho học sinh giỏi, có năng khiếu Ngời giáo viên không những chỉ dạy tốt các kiến thức chuyên môn, mà còn phải chú ý “dạy ngời”, bồi dỡng t tởng, tình cảm, đạo đức để học sinh của mình phát triển nhân cách toàn diện” [48, tr.
169]
Trang 34Qua các định nghĩa trên, giáo viên đợc hiểu là ngời làm nghề dạy học
có nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh trong nhà trờng ở các bậc học,
cấp học Tiểu học là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục phổ thông Vậy,
giáo viên tiểu học là ngời làm nghề dạy học trong các trờng tiểu học
Cũng nh bất cứ nghề nghiệp nào khác, để có thể thực hiện đợc các chứcnăng s phạm của mình, ngời GVTH phải có một nhân cách nghề nghiệp (nhâncách nhà giáo dục) mà cốt lõi của nó là hệ thống các GTNN của ngời GVTH.Khái niệm “giá trị nghề nghiệp của ngời GVTH” là sự cụ thể hóa của khái niệm
“giá trị nghề nghiệp” vào trong lĩnh vực lao động s phạm ở bậc tiểu học Vì thế,
có thể hiểu giá trị nghề nghiệp của ngời GVTH là giá trị (phẩm chất, tri thức lý
thuyết, kỹ năng, kỹ xảo,…) đặc trng của ngời dạy học ở bậc tiểu học, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu liên quan đến công việc dạy học và giáo dục của ngời giáo viên tiểu học, chi phối họ trong việc lựa chọn mục đích, phơng thức
và phơng tiện để tiến hành các hoạt động s phạm.
Với cách hiểu này, GTNN của ngời GVTH chính là các giá trị nhâncách của ngời GVTH, nó nói lên tính ý nghĩa, tính ích lợi của các phẩm chấtnghề nghiệp, các tri thức và kỹ năng s phạm… đối với công tác giáo dục họcsinh ở bậc tiểu học Nói khác đi, GTNN của ngời GVTH là sự biểu hiện mốiquan hệ lợi ích, đánh giá của chủ thể nghề dạy học ở bậc tiểu học (cá nhân,tập thể GVTH và CBQL ở bậc tiểu học) đối với các yếu tố trong thực tiễnGDTH Điều đó có nghĩa, GTNN của GVTH vừa có tính chủ quan vừa có tínhkhách quan Mặt chủ quan trong GTNN của GVTH là thái độ, quan điểm, tiêuchuẩn lựa chọn giá trị của cá nhân và cộng đồng những ngời lao động s phạm
ở bậc tiểu học Còn mặt khách quan trong GTNN của GVTH là những yếu tốtrong thực tiễn GDTH có tác dụng làm nảy sinh và thỏa mãn các nhu cầu liênquan đến lao động nghề nghiệp của ngời GVTH Chính là do mặt khách quannày cùng sự tơng tác của nó với mặt chủ quan đã tạọ nên tính đặc trng trongGTNN của ngời GVTH Nói cụ thể hơn thì, tính đặc trng trong GTNN của ng-
ời GVTH chịu sự quy định bởi các yếu tố khách quan trong thực tiễn GDTH.Các yếu tố đó gồm: những yêu cầu đối với việc giáo dục học sinh tiểu học doxã hội đặt ra trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể; chức năng của ngời GVTH;
đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học…
Trang 35Nh vậy, GTNN của GVTH đợc hình thành trong thực tiễn GDTH vàluôn gắn kết chặt chẽ với thực tiễn GDTH Các giá trị này đóng vai trò định h-ớng, điều chỉnh hoạt động dạy học và giáo dục ở trờng tiểu học, chi phối ngờiGVTH trong việc lựa chọn mục đích, phơng thức và phơng tiện khi tiến hànhcác hoạt động s phạm Tổng thế các GTNN của GVTH tạo nên văn hóa củanghề dạy học ở bậc tiểu học Việc lĩnh hội các giá trị từ nền văn hóa này sẽgiúp ngời GVTH hình thành nên nhân cách nhà giáo dục ở bản thân
Trong thực tiễn GDTH luôn hàm chứa vô số các GTNN khác nhau Tùytheo mục đích nghiên cứu mà có thể đa ra những tiêu chí khác nhau để phânloại các GTNN Chẳng hạn, dựa vào các mặt hoạt động s phạm có thể phânchia GTNN của GVTH thành các loại: giá trị t tởng, giá trị chính trị, giá trị
đạo đức, giá trị tri thức nghề, giá trị kỹ thuật s phạm,…
Sự phân loại GTNN của ngời GVTH chính là sự sắp xếp các giá trị theonhững quan hệ nhất định Khi một tổ hợp các GTNN khác nhau đợc sắp xếp,
hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định tạo thành một chỉnh thể thốngnhất để thực hiện các chức năng dạy học và giáo dục ở bậc tiểu học thì gọi là
hệ GTNN của ngời GVTH.
Hệ GTNN của GVTH có các cấp độ khác nhau từ cấp độ toàn cầu, cấp
độ quốc gia,… đến cấp độ từng trờng, từng cá nhân Giữa các cấp độ GTNNcủa GVTH có nhiều nét đồng nhất thể hiện ở những giá trị chung cho nhiềucấp độ Bên cạnh đó, giữa các cấp độ GTNN của ngời GVTH cũng có những
điểm khác biệt thể hiện ở các giá trị đơn lẻ và vị trí của nó trong bảng GTNN
Một hệ GTNN của GVTH có thể đợc cấu trúc theo các cách khác nhautùy theo mục đích nghiên cứu Trong đề tài luận án này, tác giả đã cấu trúc hệGTNN theo các mặt trong nhân cách nhà giáo Theo đó, hệ GTNN của ngờiGVTH có cấu trúc gồm các nhóm giá trị: đạo đức nhà giáo, tay nghề s phạm,phong cách nhà giáo
- Giá trị đạo đức nhà giáo là những chuẩn mực quy định thái độ, mối
quan hệ giữa ngời GVTH với học sinh, với công việc, với đồng nghiệp, với tậpthể s phạm, với phụ huynh học sinh, cộng đồng và xã hội Giá trị đạo đức nhàgiáo thể hiện ở lòng yêu nớc, yêu nghề, yêu thơng học sinh, đoàn kết với đồngnghiệp, khiêm tốn, quan hệ tốt với gia đình học sinh và cộng đồng,…
- Giá trị tay nghề s phạm hớng tới những khả năng chuyên môn, nghiệp
vụ của ngời GVTH trong dạy học và giáo dục học sinh, biểu hiện ở vốn kiến
Trang 36thức chuyên môn sâu rộng, nắm vững tri thức nghiệp vụ, thành thạo các kỹnăng, kỹ xảo s phạm,…
- Giá trị phong cách nhà giáo bao gồm các giá trị quy định cách sinh
hoạt, làm việc, hoạt động, ứng xử đặc trng của nhà giáo thể hiện trớc hết ở thái
độ trách nhiệm, nghiêm túc, mẫu mực đối với sự nghiệp giáo dục trẻ, ở sự say
sa tìm tòi sáng tạo những phơng pháp dạy học, giáo dục có hiệu quả, ở tinhthần thờng xuyên, liên tục cải tiến nâng cao tay nghề dạy học, ở quan hệ yêuthơng, tin tởng giữa thầy và trò, ở tác phong lịch sự, nhã nhặn,
Thang giá trị nghề nghiệp của GVTH là một hệ thống GTNN đợc sắp
xếp theo một trật tự u tiên nhất định Khi thang GTNN đợc cá nhân hay tậpthể GVTH, CBQL ở bậc tiểu học vận dụng vào quá trình thực hiện hay đánhgiá các hoạt động s phạm, hoặc để sáng tạo, nhận thức đánh giá, lựa chọn và
chấp nhận các giá trị cần cho nghề dạy học ở bậc tiểu học thì đợc gọi là thớc đo
giá trị nghề nghiệp của GVTH Trong thực tiễn, có nhiều thang GTNN của
GVTH khác nhau Mỗi thang GTNN của GVTH tơng ứng với một mặt hoạt
động s phạm nhất định của họ Các thang GTNN của GVTH cũng biến đổi theo
sự biến đổi của xã hội Trong mỗi giai đoạn lịch sử, thang GTNN lại có một cấutrúc riêng phù hợp với yêu cầu của xã hội ở giai đoạn ấy
Trong một hệ GTNN, một thang GTNN của GVTH bao giờ cũng có các
giá trị chuẩn Đó là những giá trị cốt lõi, giữ vị trí then chốt và có thứ tự u tiên
cao trong hệ GTNN của GVTH Các chuẩn GTNN đóng vai trò là cơ sở định ớng cho đạo đức, lối sống nhà giáo của mỗi cá nhân và cộng đồng GVTH
h-1.3.1.2 Các giá trị nghề nghiệp cốt lõi của ngời GVTH ở nớc ta hiện nay
Hệ GTNN của GVTH là một tổ hợp các giá trị khác nhau, trong đó cócác giá trị cốt lõi (giá trị chuẩn) giữ vị trí then chốt và đóng vai trò là hạt nhânchi phối, điều chỉnh các giá trị khác Sự liên kết các giá trị chuẩn với nhau sẽtạo nên cái trục giá trị quy định sự vận động và tơng tác lẫn nhau giữa các giátrị trong hệ thống Nhờ vậy mà hệ thống GTNN của GVTH có đợc tính tự pháttriển và tự chuyển hóa trong sự biến đổi không ngừng của thực tiễn GDTH.Một giá trị chuẩn trong hệ GTNN của GVTH có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, đó là các giá trị đợc cộng đồng GVTH đánh giá, chọn lọc và
tồn tại bền vững trong đời sống cộng đồng Biểu hiện của đặc điểm này là giátrị chuẩn xuất hiện trong tất cả các cấp độ GTNN của GVTH
Trang 37Thứ hai, đó là các giá trị đóng vị trí then chốt trong hệ thống GTNN của
GVTH, sự thay đổi giá trị chuẩn sẽ kéo theo sự thay đổi cấu trúc, thậm chí làthay đổi cả tính chất và nội dung của hệ thống giá trị
Thứ ba, đó là các giá trị đóng vai trò là chuẩn mực cơ bản cho định
h-ớng GTNN của đại đa số GVTH
Các đặc điểm trên là căn cứ chủ yếu để xác định các giá trị chuẩn trongbảng GTNN của GVTH Dựa vào các đặc điểm trên, có thể xác định các giátrị chuẩn trong hệ thống GTNN của GVTH nớc ta hiện nay gồm:
Về đạo đức nhà giáo có các giá trị: Lòng yêu nớc; tinh thần tự hào dântộc; Tôn trọng kỷ cơng; Nhân nghĩa; Nhân ái; Yêu nghề, thơng yêu học sinh;
Lý tởng đào tạo thế hệ trẻ; Trách nhiệm nghề nghiệp; Gắn bó với cộng đồng;
Về tay nghề s phạm có các giá trị: Hiểu biết rộng; Trình độ chuyênmôn, nghiệp vụ vững vàng; Hiểu học sinh; Thành thạo các kỹ năng s phạm;Quan điểm giáo dục hiện đại
Về phong cách nhà giáo có các giá trị: ý thức hoàn thiện bản thân; Uytín nhà giáo; Lơng tâm nghề nghiệp; Lời nói và việc làm mẫu mực; Lối sốnglành mạnh; Khả năng giao tiếp s phạm; Sự đoàn kết và hợp tác; Kiên trì và chủ
động; Năng động sáng tạo; Sự khéo léo s phạm; Tâm hồn tơi trẻ
Đây là các giá trị đợc xã hội đánh giá cao, đợc đội ngũ GVTH nớc talấy làm chuẩn mực để định hớng giá trị cho bản thân Chính vì thế, giáo dụcGTNN trong đào tạo cử nhân ngành GDTH, trớc hết và chủ yếu, là phải hìnhthành đợc ở ngời sinh viên các giá trị cốt lõi này
1.3.2 Giáo dục GTNN và vai trò của nó trong đào tạo cử nhân GDTH
1.3.2.1 Bản chất của giáo dục GTNN trong đào tạo GVTH
Giáo dục GTNN trong đào tạo GVTH là quá trình giáo dục giá trị đợctiến hành trong lĩnh vực đào tạo giáo viên Với t cách là một quá trình giáodục giá trị, giáo dục GTNN trong đào tạo GVTH cũng mang đầy đủ các đặctrng bản chất của quá trình giáo dục giá trị Cụ thể:
- Giáo dục GTNN trong đào tạo GVTH là quá trình đợc tổ chức mộtcách có kế hoạch, với những tác động giáo dục chuyên biệt, nhằm tạo ra ở ng-
ời giáo sinh sự phát triển lý trí (nhận thức) về các GTNN, sự phát triển tìnhcảm và hành động phù hợp với những GTNN đã lựa chọn
- Giáo dục GTNN trong đào tạo GVTH là quá trình tổ chức các hoạt
động và giao lu mang tính nghề nghiệp của giáo sinh, hớng dẫn và kích thích
họ tham gia tích cực vào các hoạt động và giao lu đó Nhờ vậy mà chuyển hóa
Trang 38đợc các GTNN từ bên ngoài vào trong ý thức, biến chúng thành các định hớngGTNN của bản thân
- Giáo dục GTNN trong đào tạo GVTH là một quá trình thống nhất biệnchứng giữa các tác động giáo dục của nhà s phạm và hoạt động tự giáo dụccủa ngời giáo sinh Trong đó, các tác động giáo dục GTNN phải dẫn đến vàthúc đẩy đợc hoạt động tự giáo dục GTNN
Vậy, có thể xác định giáo dục GTNN trong đào tạo GVTH là quá trình
nhà trờng s phạm tổ chức, hớng dẫn, kích thích các hoạt động tích cực, tự giác của ngời sinh viên nhằm giúp họ phát triển lý trí về giá trị, phát triển tình cảm
và hành động phù hợp với những giá trị đã lựa chọn, từ đó hình thành đợc ở bản thân một hệ thống định hớng GTNN phù hợp với mục tiêu đào tạo GVTH.
Quá trình giáo dục GTNN cho sinh viên ngành GDTH diễn ra trong môitrờng s phạm, thông qua các hoạt động giảng dạy, rèn luyện nghiệp vụ và cáchoạt động khác Trong quá trình giáo dục này, các GTNN đợc hình thành chosinh viên dới sự hớng dẫn của nhà s phạm nh là sự tơng tác qua lại giữa ngờisinh viên với môi trờng Đây là một nét đặc thù quan trọng của quá trình giáodục GTNN trong đào tạo GVTH Nó nói lên rằng, việc giáo dục GTNN chosinh viên phải đợc diễn ra thờng xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi với sựtham gia của cả đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và các lực lợng khác trongnhà trờng Vì thế, để đảm bảo đợc hiệu quả của việc giáo dục GTNN cho sinhviên ngành GDTH phù hợp với yêu cầu ở tiểu học thì nhà trờng s phạm cầnphải xác định đợc một cách rõ ràng hệ thống GTNN của ngời GVTH, đặc biệt
là các giá trị cốt lõi trong nhân cách nhà giáo tiểu học hiện nay để xây dựngthành nội dung giáo dục GTNN cho sinh viên, tổ chức triển khai nội dung đóvào các môn học, các hoạt động giáo dục trong chơng trình đào tạo GVTHmột cách thích hợp Đồng thời, phải tổ chức đánh giá hiệu quả của quá trìnhgiáo dục GTNN để có biện pháp điều chỉnh kịp thời Hiệu quả của quá trìnhgiáo dục GTNN trong đào tạo GVTH đợc xác định bởi mức độ phát triển về lýtrí, tình cảm và hành động của sinh viên đối với các GTNN, trớc hết là các giátrị cốt lõi
1.3.2.2 Vai trò của giáo dục GTNN trong đào tạo cử nhân GDTH
Nhà trờng s phạm có sứ mệnh cao cả là hình thành nên ở ngời sinh viênnhân cách của nhà giáo dục, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, có vốn kiếnthức sâu rộng, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có tay nghề giỏi
và thực sự là tấm gơng sáng cho học sinh cũng nh cho cả cộng đồng Điều đó
Trang 39đòi hỏi quá trình đào tạo của nhà trờng s phạm phải trang bị cho sinh viênnhững giá trị văn hoá chung của nhân loại và đặc biệt là văn hoá s phạm màcốt lõi là những GTNN của ngời giáo viên Trong đào tạo GVTH, đòi hỏi nàycòn cao hơn, bởi lẽ, giáo viên ở bậc tiểu học không chỉ là ngời đầu tiên dẫndắt học sinh đi vào thế giới khoa học, chiếm lĩnh những giá trị văn hoá củanhân loại, mà còn là ngời chịu trách nhiệm giáo dục toàn diện học sinh, tạodựng nền tảng cho nhân cách ngời công dân đợc định hình ở các em Do đó,chỉ có làm tốt nhiệm vụ giáo dục GTNN, nhà trờng s phạm mới hoàn thành đ-
ợc sứ mệnh của mình và đáp ứng đợc mục tiêu đào tạo do xã hội đặt ra
Đối với sinh viên s phạm nói chung, sinh viên ngành GDTH nói riêng,quá trình đợc đào tạo trong nhà trờng s phạm là một quá trình “học chữ, họcnghề và học làm ngời ” Nghề dạy học đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức sâu,rộng Những hiểu biết mà ngời sinh viên tích luỹ đợc trong các nhà trờng phổthông không thể đáp ứng đợc đòi hỏi đó Để có đủ kiến thức phục vụ cho việcgiảng dạy sau này, ngời sinh viên phải không ngừng học tập, chiếm lĩnh trithức, trớc hết là tri thức trong chơng trình các môn học của nhà trờng Hơnnữa, những tri thức mà sinh viên đã tiếp thu phải đợc chuyển hoá thành vốnriêng của họ, có nghĩa là họ phải làm chủ đợc tri thức đó, phải biết vận dụng
nó một cách linh hoạt sáng tạo trong mọi tình huống của cuộc sống Thực ra,tri thức là một loại giá trị và ngời ta chỉ có thể làm chủ đợc tri thức khi có đợcthái độ giá trị đúng đắn đối với tri thức Quá trình giáo dục GTNN trong nhàtrờng s phạm có vai trò to lớn trong việc giúp sinh viên hình thành thái độ giátrị này
Bên cạnh việc học chữ để làm giàu vốn tri thức, sinh viên còn phải họcnghề Việc học nghề đòi hỏi sinh viên phải hình thành đợc các phẩm chấtnhân cách nghề nghiệp, phải trang bị đợc vốn kiến thức về NVSP, rèn luyện đ-
ợc các kỹ năng giảng dạy, giáo dục học sinh, Những phẩm chất, kiến thức,
kỹ năng đó chính là các giá trị làm nên nhân cách nghề nghiệp của ngời giáoviên, là yếu tố quyết định trình độ nghề nghiệp của ngời sinh viên sau khi ratrờng Những giá trị này đợc chuyển hoá vào trong nhân cách ngời sinh viên
nh thế nào là phụ thuộc phần lớn vào quá trình giáo dục GTNN của nhà trờng
s phạm
Nghề dạy học đòi hỏi ngời dạy phải là tấm gơng sáng cho học sinh noitheo, hơn nữa, nhân cách của ngời dạy còn là công cụ lao động s phạm của họ.Bởi vậy, giáo viên phải là ngời có nhân cách công dân mẫu mực Nhân cách
Trang 40ấy đợc hình thành trong suốt cuộc đời của ngời giáo viên từ tuổi ấu thơ cho
đến mãi về sau, trong đó, giai đoạn đợc đào tạo ở nhà trờng s phạm có ý nghĩahết sức quan trọng Trong giai đoạn này, dới tác động của quá trình giáo dụcGTNN, ngời sinh viên ý thức đợc sâu sắc hơn về việc tu dỡng, rèn luyện để trởthành ngời công dân tốt của xã hội
Tóm lại, giáo dục GTNN có vai trò to lớn trong quá trình đào tạo giáoviên nói chung, đào tạo GVTH nói riêng Vì thế, có tổ chức hiệu quả quá trìnhgiáo dục GTNN thì nhà trờng s phạm mới thực hiện đợc mục tiêu đào tạo màxã hội đặt ra, góp phần nâng cao chất lợng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu
đổi mới giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc hiệnnay
1.3.3 Cấu trúc của giáo dục GTNN trong đào tạo cử nhân GDTH
1.3.3.1 Mục tiêu giáo dục GTNN cho sinh viên GDTH
Mục tiêu giáo dục GTNN cho sinh viên ngành GDTH nằm trong mục
đích giáo dục chung và mục tiêu đào tạo cử nhân giáo dục tiểu học ở nớc tahiện nay, mục tiêu đào tạo cử nhân ngành GDTH đã đợc ban hành theo Quyết
định số 39/ 2006/ QĐ-BGDĐT của Bộ trởng Bộ Giáo dục & Đào tạo [9]
Mục tiêu đào tạo cử nhân GDTH là mô hình nhân cách ngời GVTH nớc
ta trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI Hạt nhân của mô hình nhân cáchnày là các GTNN của ngời GVTH Nh vậy, mục tiêu của giáo dục GTNNtrong đào tạo cử nhân GDTH là phải hình thành đợc ở ngời sinh viên các địnhhớng GTNN phù hợp với Mục tiêu đào tạo cử nhân GDTH
1.3.3.2 Nhiệm vụ của giáo dục GTNN cho sinh viên ngành GDTH
Với mục tiêu hình thành ở ngời sinh viên các định hớng GTNN, giáodục GTNN trong đào tạo cử nhân GDTH có nhiệm vụ là làm cho ngời sinhviên:
- Phát triển lý trí về giá trị nghề nghiệp, tức là làm cho họ có hiểu biết
sâu sắc về các GTNN, về cách đánh giá các đối tợng trong thực tiễn lao động s
phạm ở bậc tiểu học Cụ thể là giúp họ nhận thức đợc rằng các phẩm chất nhân
cách nhà giáo ở bậc tiểu học nh: lòng yêu nớc, yêu nghề, thơng yêu học sinh, sựgắn kết với cộng đồng, tôn trọng học sinh, tinh thần trách nhiệm nhà giáo, cùng với vốn hiểu biết sâu rộng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, có kỹ
năng, tay nghề s phạm vững vàng, là hết sức cần thiết, có ý nghĩa thiết thực với họ trong quá trình giáo dục học sinh sau này, đồng thời cũng là những giá
trị cao quý mà cả xã hội đang đòi hỏi và mong đợi ở ngời GVTH