Tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra SKLS là khâu quan trọng và cần thiết của quá trình nhận thức LS. Bởi vì LS là những sự việc cụ thể đã diễn ra trong bối cảnh và điều kiện nhất định trong quá khứ. Mặt khác, LS là sự tồn tại khách quan, không còn nữa và cũng không được “Phán đoán” hoặc “suy luận” nếu không căn cứ và sự kiện có thật. Cho nên, không thể tái hiện LS nếu không có tài liệu sự kiện làm cơ sở để tạo biểu tượng. Để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử, GV phải tuân thủ những yêu cầu mang tính nguyên tắc. + Xác định mức độ kiến thức về địa điểm xảy ra sự kiện cần tạo biểu tượng (nội dung, số lượng, mức độ kiến thức) ở từng mục, từng bài phù hợp với khả năng nhận thức của HS thuộc các cấp học, vùng miền khác nhau. Đây có thể nói là nguyên tắc đầu tiên chi phối các nguyên tắc và biện pháp khác. + Việc tạo biểu tượng phải xuất phát từ những sự kiện hiện tượng lịch sử cụ thể. Sự kiện lịch sử càng được trình bày cụ thể bao nhiều thì bài học càng sinh động, hấp dẫn bấy nhiêu. + Tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện có hiệu quả phải phát huy tính tích cực học tập của HS. Tạo điều kiện để HS phát huy năng lực độc lập sáng tạo trong học tập LS. Cụ thể, luận án đã đề xuất và thực nghiệm một loạt các biện pháp để tạo biểu tượng như sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập nhận thức, câu hỏi gợi mở; sử dụng lược đồ, tranh ảnh, phim tư liệu kết hợp với tường thuật, miêu tả; sử dụng tài liệu; nêu đặc điểm, kết hợp với miêu tả; sử dụng chuyện kể lịch sử; ứng dụng CNTT… Việc lựa chọn các biện pháp phù hợp để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong quá trình DHLS có ý nghĩa lớn, quyết định đến thành công của bài học. Hướng nghiên cứu của đề tài đi vào vấn đề bức thiết của giáo dục LS hiện nay đặt ra. Bổ sung lý luận và những biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử có thể vận dụng vào việc tạo biểu tượng lịch sử ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, không chỉ trong lịch sử dân tộc mà cả lịch sử địa phương, lịch sử khu vực, lịch sử thế giới, có thể vận dụng để dạy học cho các cấp học ở các địa phương khác trên toàn quốc. Kết quả nghiên cứu là tài liệu học tập cho sinh viên ngành sư phạm lịch sử ở trường Đại học, Cao đẳng Sư phạm, tài liệu tham khảo cho giáo viên lịch sử ở trường phổ thông.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong sự vận động của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, Nềngiáo dục nước ta đang thực hiện một sự đổi mới mạnh mẽ, toàn diện nhằm thực hiện
“bốn cột trụ một nền giáo dục” ở thế kỷ XXI mà UNESCO nêu ra, đó là: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” [74, tr.70] Như
những môn học khác, bộ môn Lịch sử (LS) với những đặc trưng riêng của mình cũnggóp phần hoàn thành các mục tiêu giáo dục, đào tạo Mặt khác, bản thân LS xã hộiloài người và bộ môn LS có nhiều ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ Qua học tập
LS, tầm nhìn của học sinh (HS) đối với cuộc sống quá khứ, hiện tại và tương laiđược mở rộng HS có thể tìm thấy trong quá khứ nhiều câu trả lời xác đáng, thú vịcho những vấn đề hiện tại và tương lai Tuy nhiên, trong những năm gần đây chấtlượng bộ môn LS chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục, yêu cầu của xã hội Biểuhiện của tình trạng này là học sinh không biết hoặc nhớ nhầm, lẫn lộn các sự kiệnlịch sử (SKLS), nhân vật LS trong nước với nước ngoài (kể cả những sự kiện đơngiản, phổ thông nhất) Nghiêm trọng hơn, các em không hiểu LS Hậu quả của tìnhtrạng này là các em không ham thích học tập, tìm hiểu LS dân tộc Nhận thấy rõ thựctrạng này, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam lần thứ hai (Khóa VIII), tháng 12 năm 1996, nhấn mạnh:“Cần phải tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng đạo đức, giáo dục lòng yêu nước Coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội và nhân văn, nhất là lịch sử dân tộc ” [124; tr 40].
Điều 5, Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong Chương trình giáo dụcphổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGĐT ngày 5/5/2006 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) đã ghi “Nội dung giáo dục phải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có tính hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân;”… “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [10; tr.4].
Trang 2Để nâng cao chất lượng môn học, khắc phục tình trạng nêu trên, việc cải tiến,đổi mới nội dung, phương pháp dạy học bộ môn mang tính cấp bách đang được tiếnhành, và phải tiến hành thường xuyên, đồng bộ, trong quá trình thực hiện đổi mới đóphải chủ trọng đến việc hình thành tri thức LS cho HS.
Quá trình nhận thức LS (học tập) của HS đều phải tuân thủ theo quy luật
chung của sự nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn”, từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính, từ sự kiện
đến khái quát lý luận Mục tiêu của dạy học LS không chỉ dừng ở việc hướng dẫn HSnắm các SKLS, mà trên cơ sở SKLS cơ bản, tạo biểu tượng, hình thành khái niệm,rút ra quy luật, bài học LS, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn học tập và cuộcsống Tuy nhiên, do đặc điểm của nhận thức LS, việc học tập LS của HS không thểtrực tiếp quan sát “trực quan sinh động” các sự kiện xảy ra trong quá khứ Vì vậy,quá trình dạy học LS phải tiến hành trên cơ sở tài liệu SKLS được phản ánh trongcác tài liệu khoa học, các nguồn sử liệu đa dạng, phong phú để tạo biểu tượng cụ thể,
có hình ảnh, từ đó hình thành khái niệm, nêu quy luật, rút ra bài học LS Cho nên,việc tạo biểu tượng là một khâu không thể thiếu được trong quá trình nhận thức nóichung và nhận thức LS nói riêng
Trong các loại biểu tượng, biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện có vị trí, ýnghĩa quan trọng trong nhận thức LS Không xác định được địa điểm, không giancủa sự kiện, thì sự kiện đó sẽ trở nên trừu tượng, thiếu nội dung thực tế, không phảnánh được hiện thực khách quan trong nhận thức của HS Bởi vì, bất cứ một sự kiện,hiện tượng LS nào đó bao giờ cũng diễn ra tại một địa điểm nhất định, không giannhất định Địa điểm đó có thể là một khu vực rộng lớn như chiến trường Điện BiênPhủ (1954), hoặc diễn ra ở phạm vi hẹp như lễ thoái vị của vua Bảo Đại trước NgọMôn Đại nội Huế (1945)
Việc tạo biểu tượng về địa điểm, nơi xảy ra SKLS trong DHLS ở các trườngphổ thông hiện nay mặc dù đã được giáo viên (GV) chú ý, nhưng vẫn còn nhiều hạnchế Qua khảo sát sơ bộ, GV khai thác chưa có hiệu quả nguồn kiến thức phong phú,
đa dạng vào phục vụ DHLS Nhiều GV dạy SKLS nhưng không xác định được
Trang 3không gian, địa điểm của SKLS đó ở đâu; Hoặc xác định không gian, địa điểm, địa
danh trên bản đồ đôi khi còn mơ hồ Do vậy, nội dung biểu tượng các em thu được
còn nghèo nàn, đơn điệu, còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của chươngtrình cấp học Đây là một trong những nguyên nhân làm cho học sinh ít ham thích
học bộ môn LS, chưa nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn LS ở trường phổ thông
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1946-1954 có rất nhiều sự kiện quan trọng gắnliền với những địa điểm lịch sử, địa danh lịch sử nổi tiếng trong cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp và sự can thiệp của đế quốc Mỹ, giành độc lập dân tộc, thốngnhất đất nước của nhân dân ta Mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dânPháp (19-12-1946), quân và dân ta chủ động tấn công Pháp ở thủ đô Hà Nội và các
đô thị khác ở phía Bắc vĩ tuyến 16 (từ Đà Nẵng trở ra Bắc), nhằm tiêu hao, giamchân địch, phá âm mưu “đánh úp” của chúng, chuyển đất nước sang thời chiến,chuẩn bị cho cuộc chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện và kết thúc với cuộc tiến côngchiến lược Đông – Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ (13-3đến 7-5-1954), đã giành thắng lợi hoàn toàn Đây là giai đoạn quan trọng trong lịch
sử hiện đại của dân tộc Việt Nam cần phải được giáo dục cho học sinh nhận thức
đúng, đầy đủ, về những sự kiện đã diễn ra ở những địa danh lịch sử nổi tiếng, Hà Nội những ngày đầu kháng chiến, Việt Bắc thu đông 1947, Chiến thắng Biên giới 1950,… Điện Biên Phủ năm 1954, góp phần làm rõ thêm những trang lịch sử hào
hùng của dân tộc
Với tất cả những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề “Tạo biểu tượng về địa
điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông” (Vận
dụng qua dạy học lịch sử Việt Nam từ 1946 đến1954, Chương trình chuẩn) làm đề
tài Luận án tiến sĩ Giáo dục học, chuyên ngành Lý luận và Phương pháp DHLS
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến đề tài của luận án, có nhiều nhà nghiên cứu Tâm lý học, giáodục học, phương pháp dạy học lịch sử trong và ngoài nước đề cập đến và đã giảiquyết được một số nội dung nhất định Chúng tôi tìm hiểu vấn đề này theo các loạisau đây:
Trang 42.1 Tài liệu nước ngoài
2.1.1 Trong lĩnh vực giáo dục học
Đặt nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu quá trình nhận thức, theo quanđiểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biệnchứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năngđộng, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn Hoạt động nhận thức của con người đi từ trựcquan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Conđường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từthấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên
trong Theo quan điểm của PGS.TS Đặng Văn Hồ, “Biểu tượng là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối hoàn chỉnh sự vật do sự hình dung lại, nhớ lại sự vật khi sự vật không còn tác động trực tiếp vào các giác quan Trong biểu tượng vừa chứa đựng yếu tố trực tiếp vừa chứa đựng yếu tố gián tiếp Bởi vì, nó được hình thành nhờ có sự phối hợp, bổ sung lẫn nhau của các giác quan và đã có sự tham gia của yếu tố phân tích, tổng hợp Cho nên biểu tượng phản ánh được những thuộc tính đặc trưng nổi trội của các sự vật”[46; tr.25].
M.N.Sácđacốp trong tác phẩm“Tư duy học sinh”, Tập I, Nhà xuất bản Giáo
dục, Hà Nội 1970 do Phan Ngọc Liên, Phạm Hồng Việt, Dương Đức Niệm dịch, đã
dành nhiều nội dung bàn về mối quan hệ giữa biểu tượng và tư duy, mối quan hệ giữa hình tượng và khái niệm trong tư duy học sinh Ông khẳng định: “Không có khái niệm nào dù là trừu tượng đến mấy mà không chứa đựng trong nó nội dung cảm tính nào đó, và không có hình tượng nào dù là cụ thể đến mấy mà không hướng vào từ - tức chữ viết… Nhờ có từ mà học sinh tự gợi ý ra những biểu tượng cần thiết đối với các em Ngoài ra, nhờ có từ mà học sinh có thể liên hợp những biểu tượng đã
có của mình thành những hình ảnh khác nhau, tạo ra những hình tượng bóng bẩy,
Trang 5thế giới xung quanh được giữ lại trong óc người và hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác xảy ra trước đó”
K.D Usinxki, trong quyển Những tác phẩm chọn lọc (1986) cho rằng:“Để hình thành thuật ngữ, khái niệm cụ thể cho HS phổ thông cần phải có những biểu tượng cụ thể” Như vậy, tạo biểu tượng là một khâu trong quá trình hình thành tri
thức cho HS Tác giả còn chỉ rõ: tranh, ảnh trong SGK, bản đồ, niên biểu là nhữngphương tiện trực quan để tạo biểu tượng sinh động, cơ sở để hình thành khái niệm
trong dạy học lịch sử [123;tr.73-78].
A.M Đanilôp, M.N Xcatkin trong “Lý luận dạy học ở trường phổ thông” đã
khẳng định vai trò của tri giác các sự kiện, hiện tượng là cơ sở để tạo biểu
tượng:“Quá trình tri giác sự vật và các hiện tượng mới ở bất cứ giai đoạn học tập nào, cũng là sự phản ánh trong nhận thức của các em các đối tượng nghiên cứu và
là sự hình thành các biểu tượng và khái niệm đúng đắn về sự vật ” [36;tr.102]
Các tác giả I.Ia.léc ne (1977) trong cuốn Dạy học nêu vấn đề; I.F Kharlamốp, 1978), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào, đã đưa ra các phương pháp dạy học nhằm phát huy tích tích cực của HS N.V Savin(1983)Giáo dục học (tập I), Nxb Giáo dục, Hà Nội, đã đề cấp đến các phương pháp tiếp cận
SGK, các tài liệu gắn liền với các hình thức tổ chức dạy học của GV Geoff Petty
(2004) “Dạy học ngày nay” đề xuất một quy trình dạy HS cách nhớ kiến thức thông
qua các từ khóa, sơ đồ tư duy, sơ đồ khái niệm nghĩa là trình bày thông tin dướidạng hình ảnh để dễ dàng cho việc ghi nhớ của HS [58], [60], [99], [130]
Trong bộ sách Đổi mới phương pháp dạy học được Nhà xuất bản Giáo dục
tuyển chọn, thương thảo bản quyền với Hiệp hội Giám sát và xây dựng chương trình(ASCD) của Hoa Kỳ, tổ chức dịch sang tiếng Việt và cho phép Nhà xuất bản Giáodục Việt Nam xuất bản vào tháng 4 năm 2011, gồm các cuốn Nghệ thuật và khoa học dạy học của tác giả Robert J Marzano; Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả của tác giả James H Stronge; Tám đổi mới để trở thành giáo viên giỏi của tác giả Giselle O Martin-Kniep; Quản lý lớp học hiệu quả của các tác giả Robert J Marzano, Jana S.Marzano và Debra J.Pickering; Đa trí tuệ trong lớp học của
Trang 6Thomas Armstrong; đặc biệt là cuốn Các phương pháp dạy học hiệu quả của nhóm
tác giả Robert J Marzano, Debra J.Pickering và Jane E Pollock Trên cơ sở nhữngcông trình nghiên cứu thực tế giảng dạy và tổng hợp lý thuyết, các tác giả đã có sựnhìn nhận, đánh giá mới, đồng thời cũng giới thiệu các phương pháp dạy học hiệuquả với mục đích phát huy cao độ khả năng học tập của HS, nâng cao chất lượnggiảng dạy của GV, mỗi phương pháp giảng dạy đã chỉ ra cho GV cách làm cụ thể đểthực hiện công tác giảng dạy có hiệu quả nhất [95], [96], [97], [112], [43] Nhữngquan điểm và phương pháp trên giúp cho tác giả kế thừa và vận dụng vào quá trìnhnghiên cứu, thực hiện các biện pháp sư phạm của luận án đề ra
Như vậy, qua tiếp cận một số tài liệu, chúng tôi nhận thấy, các nhà giáo dụchọc có những cách tiếp cận khác nhau Về phương pháp dạy học nói chung, các tácgiả đã đề cập đến những phương pháp và hình thức để nâng cao hiệu quả giảng dạyđáp ứng yêu cầu giáo dục trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay, trong đó chú
ý đến phát huy vai trò chủ thể nhận thức của HS Đối với việc hình thành tri thức cho
HS, các tác giả đều thống nhất và khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của việc tạo biểu tượng trong quá trình nhận thức, không có quá trình tạo biểu tượng thì không thể có những bước nhận thức tiếp theo.
2.1.2.Trong lĩnh vực giáo dục lịch sử
Các tác giả người Nga, N.I Raporôze - F.P Karôpkin trong
quyển“Phương pháp dạy học lịch sử thế giới cổ đại và trung đại lớp 5, lớp 6”, (tiếng Nga) (1970) đã đề ra các biện pháp tạo biểu tượng làm cơ sở cho việc hình
thành khái niệm lịch sử [139]
Trong quyển“Phương pháp dạy học lịch sử ở trường PTTH”, tập I, (1978),
do F.P Karôpkin chủ biên, phần ba của sách viết về “Hình thành tri thức lịch sử trong dạy học lịch sử” (tiếng Nga) trong đó nhấn mạnh đến việc tạo biểu tượng là
giai đoạn đầu của quá trình hình thành tri thức lịch sử cho HS - cơ sở để hình thànhkhái niệm, rút ra quy luật và bài học LS
Các tác giả C A.Ekova, I.M Lêbêdeva, A.V.Đrugiơcôva trong cuốn "Phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông" (tiếng Nga), đã dành chương VI nói về
Trang 7quá trình hình thành tri thức lịch sử cho học sinh Các tác giả khẳng định, tạo biểutượng là một giai đoạn hết sức quan trọng của quá trình hình thành tri thức LS chohọc sinh Nó là cơ sở để hình thành khái niệm lịch sử Từ đó, các tác giả nêu lên cáchthức, phương tiện tạo biểu tượng trong DHLS ở trường phổ thông [136].
M.V.Nheckina trong tác phẩm“Chức năng của hình ảnh nghệ thuật trong quá trình lịch sử”(tiếng Nga), đã dẫn ra các ví dụ sinh động của các tác giả kinh điển
(Mác, Ănghen, Lênin) trong việc sử dụng hình ảnh khi trình bày các tác phẩm củamình, từ đó khẳng định vai trò quan trọng của hình ảnh nghệ thuật trong quá trìnhnhận thức lịch sử [138]
Lâybengrup trong cuốn“Những yêu cầu đối với một bài học lịch sử về mặt lý
luận dạy học” (Bản dịch tiếng Nga), (1982), dành một chương nói về biện pháp tạo
biểu tượng, hình thành khái niệm cho HS, được coi là phần trọng tâm trong quá trìnhhình thành tri thức lịch sử cho HS [59]
Nhà Nghiên cứu Doran - W Jabn trong cuốn“Hình thành biểu tượng và khái
niệm trong dạy học địa lý”, (1976) Nguyễn Trần Kiều, Nguyễn Trần Cầu dịch, NXBGiáo dục, đã đi sâu nghiên cứu quá trình hình thành các biểu tượng và khái niệm
trong dạy học địa lý“biểu tượng là những tri giác được tích lũy lại, là sản phẩm tổng hợp của các sự vật, hiện tượng” [127; tr.22].
Đặc biệt, N.G Đai ri trong các cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào”;
“Những yêu cầu hiện đại đối với một giờ học lịch sử”;“Những vấn đề cần nắm vững của giờ học”, đã nhấn mạnh "tính cụ thể, tính hình ảnh của sự kiện có một giá trị lớn lao, bởi vì chúng cho phép hình dung lại quá khứ” Trong DHLS, “Thiếu hình ảnh thì không hình dung được quá khứ” [29;tr.19].
Vu Hữu Tây (chủ biên) trong cuốn giáo trình “Phương pháp giảng dạy lịch
sử ở trung học” (tiếng Trung) Nhà xuất bản Giáo dục Bắc Kinh 1998 đã dành một
chương bàn về việc giảng dạy những kiến thức lịch sử ở trường phổ thông Các tác
giả cho rằng “Nhân vật, thời gian, địa điểm là ba nhân tố quan trọng cấu thành nên
sự kiện, hiện tượng lịch sử” “Lịch sử là người và chuyện đã qua Biểu tượng lịch sử được hình thành nhờ quan sát những vụn vặt, tĩnh và không hệ thống Do vậy, khi
Trang 8học lịch sử đòi hỏi học sinh tưởng tượng phong phú Thông qua tưởng tượng học sinh hình thành những quan niệm lịch sử mới” [105; tr 48].
Trong cuốn “Các phương pháp sư phạm”, NXB Thế Giới, Hà Nội, 1999,
GuyPalmade đã nhấn mạnh việc dạy học phải bắt đầu từ trực quan nhằm tạo ra trong
óc trẻ một biểu tượng bền vững Đặc điểm của phương pháp này là cung cấp cho họcsinh, trong phạm vi có thể những dữ kiện dễ quan sát, dễ lĩnh hội [44]
Kato Kimiaki, (2000) với các tác phẩm Phương pháp tiến hành giờ học thảo luận lịch sử Nhật Bản; Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán 1,2,3, (1991;1995;2007)(tiếng Nhật) Theo tác giả: “phương pháp tiến hành giờ học thảo luận lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán là một loại giờ học mà ở đó học sinh THPT suy nghẫm về lịch sử với tư cách là chủ thể, thông qua quá trình thảo luận, trao đổi ý kiến, giao lưu, phê phán lẫn nhau mà phát triển nhận thức lịch sử khoa học” (Tính thực chức, tính logic, tính chủ thể); Theo ông mục đích của giáo dục lịch sử là “Làm trưởng thành nhận thức lịch sử của HS với tư cách là chủ thể”
Vincent Adoumié, Annette Bacrot (2000), hướng dẫn GV cách dạy HS học lịch sử theo chủ đề, đã đề cập đến nội dung khoa học của chủ đề lịch sử, sách, tài liệu
tham khảo liên quan đến chủ đề, những gợi ý, kế hoạch dạy học theo chủ đề… cũng
là cơ sở cho tác giả tiếp cận vận dụng vào luận án của mình
M.T Stuđennhikin (2007),“Công nghệ hiện đại trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông” đã đưa ra quan điểm để nâng cao hiệu quả dạy học hiện nay với
việc áp dụng những những thành tựu của khoa học công nghệ (KHCN) vào DHLS(Công nghệ hóa quá trình dạy học) cùng với công nghệ cho phép đa dạng hóa hìnhthức tổ chức dạy học [135]
Trang 9Tuy các công trình này không đề cập trực tiếp đến biểu tượng về địa điểm của
sự kiện trong DHLS, nhưng đã giúp chúng tôi nhận thức về định nghĩa, nguyên tắc,cấu trúc của biểu tượng cũng như cơ sở lý luận của quá trình tạo biểu tượng nóichung, trên cơ sở đó sẽ tìm hiểu biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS ởtrường phổ thông
2.2 Tài liệu trong nước
2.2.1 Trong lĩnh vực tâm lý, giáo dục học
Trong tác phẩm Tâm lý học do Phạm Minh Hạc (chủ biên) đã đưa ra định
nghĩa về biểu tượng nói chung, phân biệt mức độ khác nhau giữa biểu tượng và tri
giác, biểu tượng và hình ảnh trực quan Giáo trình Tâm lý học đại cương (2007), Dự
án đào tạo giáo viên Tiểu học do GS.TS Nguyễn Quang Uẩn (Chủ biên), PGS Trần
Trọng Thủy dành chương IV đề cập đến hoạt động nhận thức Tâm lý học đại cương
(2007) do GS.TS Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), TS Nguyễn Văn Lũy, TS Đinh
Văn Vang đã xác định con đường nhận thức từ mức độ thấp đến cao, cảm giác, tri giác và biểu tượng , nêu ra những đặc điểm chung của quá trình nhận thức cảm tính
là những thuộc tính, trực quan, cụ thể, bề ngoài của sự vật, những mối liện hệ về không gian, thời gian chứ chưa phải là những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật trong thế giới Đồng thời các tác giả cũng xác định vai trò của quá trình nhận thức cảm tính, “Là viên gạch xây nên toàn bộ lâu đài nhận thức” là một điều kiện quan trọng cho sự định hướng
hành vi và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh và hình ảnh của trigiác (biểu tượng) thực hiện chức năng điều chỉnh các hành động [121], [122]
Nhìn chung, các nhà tâm lý học, giáo dục học trong nước đều khẳng định tầmquan trọng của quá trình nhận thức cảm tính, trong đó đề cập đến việc tạo biểutượng, xác định vai trò của quá trình nhận thức cảm tính quyết định đến quá trìnhhình thành khái niệm - bước cao hơn của nhận thức (nhận thức lý tính - tư duy trừutượng) Các quan điểm của các nhà tâm lý học, giáo dục học trong nước đã định hìnhcho chúng tôi tiếp cận một hướng nghiên cứu
Trang 102.2.2 Trong lĩnh vực giáo dục lịch sử
Trong các công trình nghiên cứu về Phương pháp dạy học lịch sử, phải kể đến
những công trình của nhiều nhà nghiên cứu về giáo dục lịch sử Việt Nam, như các
quyển “Sơ thảo phương pháp dạy học lịch sử ở phổ thông cấp II – III” của Lê Khắc Nhãn - Hoàng Triều - Hoàng Trọng Hanh, hay quyển “Phương pháp dạy học lịch sử” (Nxb Giáo dục HN.1992) do Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị chủ biên; “Hình thành tri thức sử cho học sinh phổ thông” (Trung tâm đào tạo từ xa- Đại học Huế.
2001) do GS.TS Phan Ngọc Liên (chủ biên), PGS.TS Trịnh Đình Tùng, PGS.TS
Nguyễn Thị Côi, TS Trần Vĩnh Tường, TS Đặng Văn Hồ; “Phương pháp dạy học lịch sử” (Tập I, II Nxb ĐHSP HN.2002) do Phan Ngọc Liên chủ biên; “Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” (Nxb ĐHSP HN.
2008), do GS.TS Phan Ngọc Liên chủ biên Những sách này dựa vào thành tựunghiên cứu về giáo dục học mácxít, quan điểm lớn về giáo dục lịch sử của ĐảngCộng sản Việt Nam, của thế giới và thực tiễn dạy học ở nước ta để xác định nhữngnội dung, đề ra những nguyên tắc, biện pháp vừa có ý nghĩa nhận thức khoa học, vừa
có tác dụng thực tiễn trong dạy học lịch sử nói chung ở trường phổ thông Vấn đềkiến thức cơ bản là những kiến thức tối ưu, không thể thiếu, là những kiến thức quyđịnh nội dung cần thiết mà HS phải nắm vững mới đạt được trình độ của chươngtrình Kiến thức cơ bản gồm nhiều yếu tố liên kết chặt chẽ với nhau thành một hệ
thống với sự kiện, thời điểm, không gian - địa điểm, nhân vật, các biểu tượng, khái niệm Các tác giả cũng đã lý giải thế nào là sự kiện, sự kiện lịch sử, phân loại sự
kiện lịch sử, mối quan hệ sự kiện lịch sử với không gian lịch sử - hoàn cảnh địa lý Vấn đề biểu tượng và biện pháp tạo biểu tượng được trình bày một phần trong
chương Hình thành tri thức lịch sử cho học sinh với các nội dung: Định nghĩa biểu
tượng, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng, mục đích của việc tạo biểu tượng trong dạyhọc lịch sử, phân loại biểu tượng (trong đó có biểu tượng về không gian lịch sử -hoàn cảnh địa lý) các biện pháp sư phạm tạo biểu tượng lịch sử, mối quan hệ giữabiểu tượng và khái niệm Các tác giả đã chỉ rõ, tạo biểu tượng là yêu cầu đầu tiêncủa việc thực hiện chức năng đặc trưng của DHLS
Trang 11Trong cuốn “Một số vấn đề địa danh học Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn
Âu đã đề cập đến một số quan niệm về địa danh, về mặt không gian địa lí tự nhiên và
xã hội Cuốn sách viết nhằm phục vụ cho nghiên cứu địa danh cho nên có thể làmnguồn tư liệu tham khảo giúp tìm hiểu về quan niệm địa danh, địa điểm xảy ra sự
kiện lịch sử một cách khoa học [3] Đặc điểm địa lý, lịch sử Việt Nam trong mối quan hệ với di tích; Địa danh huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên của Lý Việt Hương
[53]… đã đề cập đến những quan điểm về địa danh, địa điểm lịch sử, địa danh lịch
sử, mối quan hệ giữa địa danh với lịch sử, văn hóa…
Luận án Phó Tiến sĩ của Đặng Văn Hồ, Tạo biểu tượng về hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh qua dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 trường PTTH (1919- 1969) đã đề cập đến các hình thức, biện pháp sư phạm tạo biểu tượng nhân vật lịch
sử Đây cũng là tài liệu giúp cho tôi tham khảo đề thực hiện đề tài của mình [47]
Như vậy, các công trình nói trên đã gợi ý cho tác giả luận án một số định
hướng về nguyên tắc, các biện pháp sư phạm để giải quyết vấn đề của luận án “Tạo
biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ
thông” Tuy nhiên, các công trình trên chưa giải quyết triệt để vấn đề khái niệm biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử Nội dung biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1946 đến1954 trong chương trình, sách giáo khoa lịch sử phổ thông? Mối quan hệ giữa địa điểm với không gian lịch sử, địa danh lịch sử… Con đường, biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng? Mối quan hệ giữa việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện với việc nắm vững kiến thức lịch sử dân tộc như thế nào? Thực hiện đề tài, chúng tôi mong muốn sẽ đóng góp một phần
trong việc hình thành một hệ thống cơ sở lý luận phù hợp và đề xuất các biện pháp
sư phạm có tính khả thi để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn LS ở trườngphổ thông hiện nay Từ việc tìm hiểu trên, đặt ra nhiều vấn đề mà trong phạm vi đềtài, chúng tôi phải quan tâm giải quyết:
Thứ nhất, tiếp thu thành quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đi
trước và từng bước nâng cao cơ sở lý luận của việc tạo biểu tượng trong DHLS
Trang 12Thứ hai, quan niệm về địa điểm; mối quan hệ giữa SKLS với địa điểm lịch sử
- địa danh lịch sử, không gian lịch sử; vai trò của địa điểm đối với các SKLS cũng
như đối với nhận thức của HS trong môn LS ở trường phổ thông; đánh giá được thựctrạng việc lĩnh hội địa điểm LS của HS trong môn LS ở trường phổ thông
Thứ ba, phân tích kỹ chương trình, nội dung SGK để xác định đầy đủ, chính
xác các SKLS ở một địa điểm LS cụ thể, được sử dụng trong dạy học LSVN 1954) ở trường THPT
(1946-Thứ tư, xác định những yêu cầu đối với việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra
sự kiện lịch sử trong DHLS
Thứ năm, đề xuất biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng địa điểm xảy ra SKLS
Thứ sáu, tiến hành TNSP từng phần và TNSP toàn phần để kiểm chứng tính
khả thi của các biện pháp mà luận án sẽ đề xuất
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Quá trình tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự
kiện trong dạy học lịch sử ở trường THPT
3.2 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa các sự kiện lớn được đề cập trongSGK với địa điểm xảy ra sự kiện đó (không gian lịch sử), luận án một mặt nghiêncứu tài liệu địa điểm xảy ra sự kiện như một nguồn sử liệu trong nghiên cứu lịch sửdân tộc, mặt khác, ở góc độ sử liệu học là nguồn tài liệu phục vụ cho việc dạy học
Trong khuôn khổ luận án thuộc chuyên ngành Lý luận và PPDHLS, luận ántập trung nghiên cứu về địa điểm xảy ra sự kiện, xác định các biện pháp để tạo biểutượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử vào dạy học LSVN (1946-1954), bài học nộikhóa, thuộc bài học nghiên cứu kiến thức mới (BHNCKTM) cho HS ở trường THPT
4 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
4.1 Mục đích của đề tài: Từ việc khẳng định vai trò ý nghĩa của việc tạo biểu
tượng nói chung, bổ sung, làm sáng tỏ lý luận biểu tưởng về địa điểm xảy ra sự kiệntrong DHLS Đề tài xác định những địa điểm xảy ra sự kiện, nội dung biểu tượng về
Trang 13địa điểm, mức độ kiến thức cần tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện, đề xuấtbiện pháp sư phạm để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra SKLS trong LSVN (1946-1954), trên cơ sở đó góp phần nâng cao chất lượng DHLS Việt Nam ở trường THPT.
4.2 Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tìm hiểu lý luận Tâm lý học, Giáo dục học, về vấn đề tạo biểu tượng trongdạy học nói chung và DHLS nói riêng Khẳng định tầm quan trọng của việc tạo biểutượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS
- Tìm hiểu chương trình, nội dung SGK LS ở trường phổ thông, nhất làLSVN ở lớp 12 (1946-1954) để xác định những địa điểm của SKLS, nội dung biểutượng về địa điểm xảy ra sự kiện cần tạo biểu tượng trong dạy học, mức độ, nộidung, ý nghĩa các biểu tượng đó
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy
ra SKLS trong DHLS Việt Nam ở trường THPT
- Đề xuất các biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng về địa điểm của SKLSViệt Nam (1946-1954) góp phần nâng cao hiệu quả DHLS hiện nay ở trường THPT
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm từng phần và toàn phần, khẳng định hiệuquả sư phạm của các biện pháp đã đề xuất, từ đó rút ra những kết luận về tính khả thicủa các biện pháp được tiến hành Những kết luận được khái quát hoá, không chỉdừng lại ở thao tác, hướng dẫn cụ thể mà quan trọng hơn là xác định được phươnghướng, quan điểm khoa học để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra SKLS trong DHLS
ở trường phổ thông hiện nay
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận của đề tài dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
về nhận thức, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước vềgiáo dục phổ thông, đặc biệt là quan điểm về giáo dục LS, thông qua nghiên cứu vàgiảng dạy LS
- Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng các
phương pháp sau:
Trang 14+ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục
học, tâm lý học lý luận dạy học bộ môn; các tài liệu về LSĐP, LSVN, chươngtrình, SGK
+ Phương pháp điều tra xã hội học: Thông qua nhiều cách khác nhau: dự giờ,
quan sát, lập phiếu điều tra xã hội học, trao đổi với những nhà quản lý chuyên môn,
GV, HS trong các trường THPT, trưng cầu ý kiến của các đồng nghiệp trong các tổ
bộ môn Phương pháp dạy học lịch sử ở các trường Đại học, Cao đẳng xử lý số liệu,phân tích để phác thảo thực trạng việc tạo biểu tượng về địa điểm của sự kiện lịch sửtrong trong DHLS nói chung, LSVN giai đoạn 1946-1954 ở trường THPT, đây là cơ
sở để chúng tôi đề xuất các biện pháp sư phạm thích hợp
+ Phương pháp thực nghiệp sư phạm: Thiết kế kế hoạch dạy học và thực nghiệm
sư phạm từng phần, toàn phần trong các trường THPT để kiểm tra giả thuyết và hiệuquả của các biện pháp sư phạm luận án đã đề xuất
+ Phương pháp thống kế toán học: Sử dụng phương pháp thống kê toán học: Dựa
vào kết quả thu được giữa các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, tiến hành phân tíchkết quả, so sánh các giá trị thu được để rút ra những kết luận khoa học về các biệnpháp sư phạm mà luận án đã đề xuất
6 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng các biện pháp tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện theođúng yêu cầu mà luận án đề xuất sẽ giúp HS THPT nói chung, HS lớp 12 nói riêng
không chỉ có biểu tượng đúng đắn về địa điểm xảy ra SKLS, mà còn lĩnh hội vững chắc kiến thức LS, góp phần nâng cao chất lượng DHLS ở trường THPT.
7 Đóng góp của luận án
- Tiếp tục khẳng định, bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận của việc tạo biểutượng trong DHLS nói chung, biểu tượng về địa điểm xảy ra SKLS nói riêng trongDHLS ở trường phổ thông
- Đánh giá đúng thực trạng DHLS, nhất là chất lượng bộ môn LS nói chung,thực tiễn việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS hiện nay
Trang 15- Xác định các yêu cầu có tính phương pháp luận khi tạo biểu tượng về địađiểm xảy ra sự kiện trong DHLS.
- Xác định được những sự kiện cơ bản, chính xác, đầy đủ (sự kiện có trongSGK) gắn liền với những không gian lịch sử cụ thể để làm cơ sở tạo biểu tượng vềđịa điểm xảy ra sự kiện, giúp cho học sinh nhận thức một cách sáng tạo, đầy đủ vềđiều kiện tự nhiên, con người, xã hội có tác động đến sự kiện đã xảy ra
- Đề xuất các biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra SKLSmột cách hợp lý, khoa học, phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay Các kiến giảiđều dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực nghiệm để rút ra các nhận xét, kết luậnkhái quát, có thể vận dụng để dạy học cho các cấp học ở các địa phương khác trêntoàn quốc
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu học tập cho sinh viên ngành sư phạm LS củatrường Đại học, Cao đẳng Sư phạm, tài liệu tham khảo cho GV LS ở PT
8 Cấu trúc của luận án: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ
Trang 16Chương 1 VẤN ĐỀ TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ ĐỊA ĐIỂM XẢY RA SỰ KIỆN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận của việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
1.1.1 Quan niệm về địa điểm xảy sự kiện trong dạy học lịch sử
1.1.1.1 Địa điểm, địa điểm lịch sử
Khái niệm về địa điểm, địa điểm của SKLS được đề cập trong các tác phẩm LS,trong các công trình nghiên cứu địa danh học Tuy nhiên, chỉ dừng lại ở việc gọitên, chưa đi sâu tìm hiểu cụ thể địa điểm, địa điểm xảy ra sự kiện như thế nào? Vậy
địa điểm là gì? Nếu hiểu theo lối chiết tự thì địa là đất, điểm là một điểm, đích, tọa
độ… địa điểm là một điểm được xác định trên đất Địa điểm của sự vật là sự tồn tạicủa sự vật đó tồn tại một điểm trên đất
Theo từ điển trực tuyến Việt dict.com: Sự kiện là việc quan trọng xảy ra; địa
điểm là danh từ chỉ nơi chốn cụ thể xảy ra một sự việc nào đó
Địa điểm LS (appointed place): được hiểu là nơi chốn cụ thể xảy ra một sự việc
nào đó [65].
Ví như: Sự kiện ngày 02 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội.Quảng trường Ba Đình, Hà Nội chính là địa điểm xảy ra sự kiện Bác Hồ đọc TuyênNgôn Độc lập vào ngày 02-9-1945 Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chế
độ phong kiến và thực dân bị lật đổ, Bác Hồ đã ấn định ngày làm Lễ tuyên bố độclập Cũng chính Bác đã chọn Quảng trường Ba Đình để tổ chức Lễ tuyên bố Độc lậpngày 02/9/1945 Lúc đầu Ban tổ chức định chọn khu Quần ngựa hoặc Đông Dươnghọc xá (Đại học Bách Khoa bây giờ) nhưng lại thấy quá xa Trung tâm Hà Nội Nếuchọn Quảng trường Nhà hát Lớn thành phố thì lại sợ quá chật chội Sau khi cân nhắc
kỹ lưỡng, Ban tổ chức đã quyết định chọn Vườn hoa Ba Đình đủ rộng để 2/3 số dânnội và ngoại thành Hà Nội tham dự Ba Đình trở thành địa điểm diễn ra sự kiện trọngđại của dân tộc vào ngày 02 tháng 9 năm 1945 chính là sự lựa chọn của con người(Đảng, Chính Phủ, Bác Hồ) để thực hiện mục đích của mình Địa điểm Vườn hoa Ba
Trang 17Đình Hà Nội hội tụ đầy đủ nhiều yếu tố góp phần tạo ra sự kiện 02/9/1945: Quảngtrường có không gian rộng lớn, nằm giữa lòng Hà Nội - một trung tâm kinh tế, vănhóa lớn nhất của cả nước, tập trung được đông đảo quần chúng, hội tụ tất cả mọi tầnglớp giai cấp trong xã hội… đại diện cho cả nước.
Từ cách lý giải trên cho thấy, địa điểm xảy ra SKLS chính là nơi cụ thể trênđất được xác định SKLS đó diễn ra
Theo chúng tôi, “địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử là nơi chốn cụ thể diễn ra các sự kiện hiện tượng lịch sử, mà ở đó có những điều kiện tự nhiên, xã hội nhất định con người đã lựa chọn (nhận thức) để thực hiện mục đích của mình”.
1.1.1.2 Không gian lịch sử
Khái niệm không gian và thời gian trong LS xã hội loài người là nguyên tắc
cơ bản để nhận thức hay đánh giá sự vật hiện tượng nào đó Vì không có một sự nhậnthức LS nào lại không liên hệ đến thời gian và không gian nhất định Nếu tách thờigian và không gian ra khỏi SKLS thì không thể nhận thức được lịch sử, không thểhiểu đúng các sự kiện, hiện tượng lịch sử
Cho nên, khi nghiên cứu hay tìm hiểu một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào,điều kiện cơ bản cần phải xác định địa điểm và thời gian phát sinh ra nó Mức độ xácđịnh thời gian và không gian càng rõ bao nhiêu thì đối tượng nghiên cứu càng rõràng và đúng bấy nhiêu Vì bất cứ sự kiện nào cũng xuất hiện trong một bối cảnh cụthể, chúng có mối quan hệ và tương tác lẫn nhau Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi
chỉ đề cập đến địa điểm xảy ra sự kiện - không gian của sự kiện
- Không gian trong tiếng Anh là: “Space” tức khoảng không vũ trụ.
- Không gian được xem là khoảng cách nơi này với nơi khác Nói đến sự khác biệt về không gian xảy ra các sự kiện khác nhau ở những nơi khác nhau Không gian
là khoảng không bao trùm mọi vật xung quanh con người [28] Không gian là khoảng không bao trùm mọi vật xung quanh được xác định trên bề mặt trái đất.
Trang 18- Không gian xảy ra SKLS là: khoảng không gian gồm có mọi vật, con người…
mà có liên quan ít nhiều đến sự kiện lịch sử đã xảy ra được xác định (ở một nơi chốn nhất định - địa điểm)
Trong nghiên cứu LS quan niệm về không gian và địa điểm LS về cơ bản làmột, sự khác nhau chỉ ở tên gọi và mức độ phản ánh nơi xảy ra sự kiện mà thôi Khi
dùng khái niệm địa điểm xảy ra sự kiện người ta muốn nhấn mạnh đến vị trí địa lý
của sự kiện đó Ví dụ: Chiến dịch Điện Biên Phủ xảy ra ở Điên Biên, vùng lòng chảo
Tây - Bắc Tổ quốc Khi dùng khái niệm không gian lịch sử người ta lại nhấn mạnh
đến nhiều yếu tố liên quan đến nơi xảy ra sự kiện như: điều kiện tự nhiên, phạm vi
của sự kiện Trong nghiên cứu và DHLS, hầu hết sử dụng khái niệm địa điểm xảy ra
sự kiện LS
1.1.1.3 Địa danh lịch sử
- Khái niệm địa danh, tuỳ theo mục đích, qui ước nhất định trong từng hoàncảnh, không gian cụ thể mà con người khi đã nhận thức, nhận diện về bất kì một thựcthể nào trong thế giới thực tại cũng đều gọi tên và đặt tên Do đó, có thể nói nhu cầuđặt tên, gọi tên là một nhu cầu thường trực, tất yếu và quan trọng của con người.Hiện nay có rất nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào cách lập luận và hướng tiếp cận củamình để đưa ra cách định nghĩa khác nhau về địa danh
Địa danh, trước hết, là một hiện tượng ngôn ngữ Nó là những “khối ngôn ngữ
ký sinh” được dùng để định danh các đối tượng địa lý Nhưng địa danh được sinh racùng văn hóa, phát triển cùng văn hóa do vậy, nó cũng là một hiện tượng văn hóa.Địa danh không chỉ thực hiện chức năng cơ bản là định danh sự vật, cá thể hóa đốitượng mà còn thực hiện chức năng phản ánh Mỗi địa danh đều ra đời trong một hoàncảnh LS cụ thể nên nó phản ánh nhiều mặt xã hội xung quanh Đây cũng có thể quanniệm là chức năng xã hội của địa danh Ngoài ra, địa danh còn biểu hiện đặc điểmvăn hóa ngôn ngữ của cộng đồng Mỗi địa danh hay một lớp địa danh đều gắn vớivăn hóa của cộng đồng hay từng khu vực cụ thể Nói như A.V Superanskaja, nhà địadanh học người Nga, địa danh chính là “những tấm bia bằng ngôn ngữ độc đáo về
Trang 19thời đại của mình” Theo đó, địa danh phản ánh nhiều khía cạnh địa lý, lịch sử, vănhóa, dân tộc, kinh tế… nơi mà nó chào đời[110; tr.78].
Thuật ngữ địa danh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, có cấu tạo gồm hai bộphận topos (địa điểm, vị trí) và omoma/onyma (tên gọi) [32; tr.11] Ý nghĩa chungnhất của thuật ngữ này là "tên gọi điểm địa lí" Hay tên gọi địa điểm
Khái niệm địa danh cần được hiểu theo đúng phạm vi xuất hiện của nó Hiểu
theo lối chiết tự thì địa là đất, danh là tên, vậy địa danh tức là tên đất Tuy nhiên,
khái niệm này cần phải được hiểu ở mức độ rộng hơn, khái quát hơn Cụ thể, địadanh không chỉ là tên gọi của các đối tượng địa lí gắn với từng vùng đất cụ thể mà làtên gọi của tất cả các đối tượng địa lí tồn tại trên trái đất Nó có thể là tên gọi của cácđối tượng địa hình thiên nhiên, đối tượng địa lí cư trú hay là công trình do con ngườixây dựng, tạo lập nên, do đó, địa danh là đối tượng quan tâm của nhiều lĩnh vực khoahọc như LS, địa lý, dân tộc học, văn hóa học, ngôn ngữ học
Địa danh là nguồn tư liệu của khoa học LS Bởi vì một địa danh bao giờ cũng
ra đời trong một thời điểm lịch sử nhất định Địa danh đã trở thành “vật hóa thạch”,một “đài kỷ niệm” và là “tấm bia” bằng ngôn ngữ học độc đáo về thời đại mà nó rađời Chẳng hạn, tên gọi “Chợ Lớn” ra đời vào đầu thế kỷ XIX gắn liền với sự pháttriển về thương mại của một khu phố, thị trấn sầm uất nhất vùng Nam Bộ lúc bấygiờ Tên gọi “Lũy Thầy” ở Đồng Hới (Quảng Bình) ra đời trong thời điểm lịch sửdiễn ra cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn, “huynh đệ tương tàn” thế kỷ XVII, XVIII
và gắn liền với tên tuổi của vị quan của Chúa Nguyễn là Đào Duy Từ, người đã thiết
kế nên thành lũy này [107; tr.55]
Địa danh chứa những thông tin về tinh thần, văn hoá, xã hội, lịch sử, ngônngữ và chính trị… Qua những thông tin đó, có thể nhận ra được những đặc trưng vềthiên nhiên, xã hội, trong quá khứ và hiện tại của những vùng có người cư trú và cảnhững hoang mạc, biển khơi không có người, ở trên hành tinh chúng ta được conngười nhận thức
Với cách tiếp cận địa danh theo góc độ ngôn ngữ, Lê Trung Hoa đưa ra cách
hiểu "Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa
Trang 20hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ (không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều" [48;tr 21] Nguyễn Kiên Trường quan niệm "Địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn xác định trên bề mặt trái đất" [115; tr.16] Phan Xuân Đạm xem "Địa danh
là lớp từ đặc biệt được sinh ra để đánh dấu vị trí, xác lập các tên gọi đối tượng địa lí
và nhân văn " [32; tr.16] Từ Thu Mai lại cho rằng "Địa danh là những từ ngữ chỉ tên
riêng của các đối tượng địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất" [80; tr.22]. Từ
góc độ địa lí - văn hoá, Nguyễn Văn Âu quan niệm "Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc, hay là tên các địa phương, các dân tộc" [2; t r.5] Tác giả Đào Duy Anh cho rằng "Địa danh là tên gọi các miền đất" [1; tr.220] Theo chúng tôi, sự
khác biệt trong các quan niệm trên chủ yếu là xuất phát từ phương diện, góc nhìn
không giống nhau Theo tôi, cách hiểu chung nhất về địa danh như sau: Địa danh là những từ, cụm từ dùng để gọi tên các đối tượng, không gian địa lí, các đặc trưng địa hình, địa vật; có tác dụng khu biệt, định vị những đối tượng, không gian địa lí, các đặc trưng địa hình, địa vật này với các đối tượng, không gian địa lí, các đặc trưng địa hình, địa vật khác
Vậy, địa danh lịch sử là tên gọi một địa điểm hay các vùng miền, địa phương
xảy ra một sự kiện hiện tượng lịch sử nào đó được lưu lại (người đời nhớ tới), mà ở
đó có điều kiện tự nhiên, xã hội… nhất định con người nhận thức được để thực hiện
ý định mục đích của mình.
Xét ở các góc độ khác nhau có cách nhìn khác nhau Địa điểm xảy ra sự kiện
có thể là một điểm phạm vi hẹp như ở một căn nhà, góc phố (được xác định trên bảnđồ), nhưng cũng có thể địa điểm xảy ra sự kiện ở một vùng đất nào đó (không gianrộng) Ví như nói đến sự kiện Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra ở Điện Biên Phủnhưng không phải một điểm mà là toàn bộ thung lũng Điện Biên (lòng chảo ĐiệnBiên với một diện tích rộng hơn 60.000 km2) Những di tích LS còn sót lại ở ĐiệnBiên Phủ, được trùng tu, xây dựng… Điện Biên Phủ như vậy vừa là địa điểm, vừa làđịa danh lịch sử
Từ việc nghiên cứu trên, chúng tôi thấy rằng, địa điểm lịch sử có tính cố định,
Trang 21khách quan, đề cập về một vùng đất nơi xảy ra SKLS nào đó; không gian lịch sử đề cập đến khoảng không gian vũ trụ-nơi xảy ra SKLS; địa danh lịch sử chỉ thuần túy là
tên gọi nơi xảy ra SKLS, có tính lịch sử (có thể thay đổi theo thời gian) và mang tínhchủ quan (do con người đặt tên)
Như vậy, Địa điểm lịch sử, Không gian lịch sử và Địa danh lịch sử đều là nơi
xảy ra sự kiện lịch sử Nhưng Địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử bao hàm cả Không gian lịch sử và Địa danh lịch sử Theo chúng tôi, trong dạy học lịch sử thống nhất sử
dụng khái niệm Địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử là hợp lý hơn cả.
1.1.2 Cách phân loại địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử.
Các địa điểm xảy ra SKLS thường đặt một tên gọi nhất định Có tên gọi căn
cứ vào vị trí địa lý như Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ, Trung Đông, NamÁ ; Có địa điểm xảy ra sự kiện căn cứ vào tên gọi truyền thống của địa phương làlàng, bản như Khởi nghĩa Ba Đình, Hương Khê; có địa điểm xảy ra sự kiện dựavào tên các anh hùng dân tộc, nhân vật LS như Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, chiếndịch Hồ Chí Minh lịch sử có những địa điểm LS được gọi theo ký hiệu (quy ước) Theo chúng tôi có các tiêu chí và cách phân loại sau:
1.1.2.1 Cách phân loại địa điểm xảy ra sự kiện theo không gian địa lý
Nội dung kiến thức LS được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông gồm 3 nộidung: kiến thức LS thế giới, kiến thức LS dân tộc, kiến thức LS địa phương Dựatrên cơ sở đó, có thể phân loại địa điểm theo không gian địa lý
- Địa điểm của sự kiện lịch sử diễn ra trên thế giới
Những SKLS xảy ra trên thế giới được xác định trong phần LS Thế giới,không diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra ở châu Âu
và châu Á Thái Bình Dương; Ví như, sự kiện khủng bố 11/9/2001 ở nước Mỹ
- Địa điểm của sự kiện lịch sử dân tộc
Những SKLS xảy ra ở Việt Nam được xác định trong phần LSVN Nhưngtrước khi sự kiện đó trở thành SKLS Việt Nam thì bản thân nó phải là một sự kiệncủa địa phương nhất định nào đó Ví như, sự kiện 1858 Pháp tấn công vào cảng Đà
Trang 22Nẵng, hay sự kiện năm 1883 Pháp tấn công vào cửa Thuận An, uy hiếp Kinh thànhHuế Đây là những sự kiện cơ bản trong LSVN.
- Địa điểm của sự kiện lịch sử địa phương
Địa điểm xảy ra sự kiện ở địa phương cũng là những SKLS Việt Nam, diễn ra
ở những địa phương cụ thể, ví như hai sự kiện nêu trên là ở Đà Nẵng và Huế Việcxác định địa điểm xảy ra tại địa phương chính là địa bàn thuộc một tỉnh, huyện, xã cụthể, nơi bản thân HS - con em chúng ta học
Tuy nhiên sự phân loại trên cùng chỉ ở mức độ tương đối, bởi có những sựkiện diễn ra ở một địa phương cụ thể, là sự kiện của LS địa phương đó, nhưng đồngthời nó cũng là sự kiện của LS dân tộc (Việt Nam), sự kiện đó có ý nghĩa quốc tế tolớn, vượt ra tầm một quốc gia, dân tộc trở thành sự kiện của LS thế giới Ví như: Sựkiện ngày 02 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình Hà Nội, Bác Hồ đọcTuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Như vậy, địađiểm xảy ra sự kiện này trước hết là thuộc địa phương Hà Nội, nhưng nó mang ýnghĩa lớn đối với quốc gia, diễn ra ở Việt Nam, đồng thời đây là sự kiện tiêu biểu ởĐông Nam Á vào năm 1945, nên nó còn mang tính khu vực và quốc tế
Việc phân loại kiến thức về địa điểm xảy ra sự kiện theo vị trí địa lý có ýnghĩa trong việc vận dụng các hình thức, phương pháp và phương tiện trong dạy họcnhằm nâng cao hiệu quả bài học LS ở trường phổ thông
1.1.2.2 Cách phân loại địa điểm xảy ra sự kiện theo địa danh
Trong tác phẩm Địa danh học là gì, A.V Superanxkaja đã định nghĩa: "Địa danh là một chuyên ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu các tên gọi địa lý, giải thích sự cấu tạo, lịch sử xuất hiện của chúng và phân tích ý nghĩa ban đầu của các
từ cấu tạo nên địa danh” [102; tr.10] Theo quan điểm của các nhà địa lý khi phânloại địa danh, họ phân ra các loại địa danh tự nhiên; địa danh kinh tế xã hội Ở mỗiloại có những nhóm địa danh khác nhau căn cứ vào kích thước, màu sắc, đặc sản,phương hướng, vị trí, tên người Ở đây các nhà địa danh học, địa lý nghiên cứu địadanh mang tính độc lập, không gắn với những sự kiện diễn ra nơi chính địa danh
Trang 23Căn cứ đối tượng với tiêu chí tự nhiên, không tự nhiên, nhà nghiên cứuđịa danh Lê Trung Hoa trong “Các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh”
đã chia địa danh làm 4 loại:
- Địa danh chỉ địa hình tự nhiên
- Địa danh chỉ các công trình xây dựng
- Địa danh hành chính
- Địa danh vùng
Theo quan điểm sử học, nhìn trong mối quan hệ giữa địa danh với những sựviệc (sự kiện) xảy ra trên địa danh đó để gọi tên địa điểm của sự kiện Chúng tôi thấycách phân loại địa danh của Lê Trung Hoa là hợp lý hơn cả
- Căn cứ vào địa điểm sự kiện gắn liền với địa danh sông núi
Ví như, Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 Trong chiến dịch cónhiều trận đánh như trận đánh ở Đoan Hùng, chúng ta đã giành thắng lợi trên sông
Lô Đoan Hùng là một huyện đồi núi trung du, nằm tại ngã ba ranh giới giữa tỉnh Phú Thọ với hai tỉnh Yên Bái và Tuyên Quang…Trên phần phía Đông Bắc huyện có đoạn cuối của sông Chảy (phần hạ du thủy điện Thác Bà), đổ nước vào sông Lô Men theo phần lớn ranh giới với huyện Sơn Dương - Tuyên Quang, là dòng sông Lô, một con sông lớn của hệ thống sông Hồng, nhưng ngã ba sông Chảy - sông Lô lại nằm sâu trong lòng huyện [141] Trên đoạn sông Lô chảy qua huyện, ngày 24 tháng
10 năm 1947, đã diễn ra trận Đoan Hùng, một trong một chuỗi chiến thắng sông Lôcủa Quân đội Nhân dân Việt Nam trước quân đội Viễn chinh Pháp, trong Chiến tranhViệt Nam Trận đánh giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam với quân đội Viễn chinhPháp, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở trên sông Lô thuộc huyện Đoan
Hùng với thắng lợi thuộc về Quân đội Nhân dân Việt Nam Sự kiện đó gọi là chiến
thắng sông Lô, đây chính là cách gọi theo địa danh sông núi.
- Căn cứ vào địa điểm sự kiện gắn liền với địa danh hành chính của một địa phương nào đó nhất định
Địa danh hành chính là cách gọi tên đơn vị hành chính cụ thể nào đó như
Trang 24Phường Xuân Phú, Thôn Thượng Thọ, Làng Mậu Khê Một sự kiện diễn ra ở mộtđịa phương nào đó cụ thể, địa điểm xảy ra sự kiện đó gọi là địa danh hành chính.
Vạn Phúc - "Phủ Chủ tịch dã chiến" mùa đông năm 1946 - Nơi Bác Hồ viếtLời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Làng Vạn Phúc chính là cách gọi theo địa danhhành chính Tại đây, Người đã chủ trì cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng mởrộng, quyết nghị thông qua chủ trương Toàn quốc kháng chiến và Lời kêu gọi Toànquốc kháng chiến [140]
- Căn cứ vào địa điểm sự kiện gắn liền với địa danh vùng miền
Việc phân định vùng miền căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, văn hóa tộc
người để phân ra vùng, miền này, khác với các vùng miền khác Theo quan điểm củaGS.TS Trần Ngọc Thêm, nước ta phân thành 6 vùng: Việt Bắc, Tây Bắc, Bắc Bộ,Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ Vậy mỗi vùng miền đó có những đặc điểm, điềukiện tự nhiên, văn hóa, xã hội khác nhau Con người nhận thức điều kiện, hoàn cảnhcủa từng vùng miền để phục vụ cho mục đích của mình Ví dụ, sự kiện thành lập Căn
cứ địa Việt Bắc: Hạ tuần tháng 5/1945, Bác Hồ về Tân Trào Bác cho mời ngay đồngchí Trường Chinh, Tổng bí thư của Đảng lên Tân Trào bàn định chủ trương mới Saukhi nghe Ban Thường vụ Trung ương báo cáo về tình hình chung cả nước và Hộinghị quân sự Bắc Kỳ, Bác chỉ thị: Vùng giải phóng miền núi Bắc Bộ đã bao gồm hầuhết các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên
và một số vùng bên ngoài gồm một bộ phận các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái,Vĩnh Yên, địa thế nối liền nhau, cho nên cần thành lập ngay một khu căn cứ cáchmạng rộng lớn lấy tên là Khu giải phóng (sau này trong một lá thư gửi đồng bào ViệtBắc nhân ngày kỷ niệm Quốc khánh 02/9/1947, Bác gọi là "căn cứ địa Việt Bắc")
- Căn cứ vào địa điểm sự kiện gắn liền với địa danh công trình xây dựng, cơ quan nhà nước, cơ sở sản xuất
Các SKLS xảy ra ở những nơi (địa điểm) là những công trình xây dựng - kiếntrúc nghệ thuật, các cơ sở sản xuất mà những nơi đó gắn liền với tên gọi (địa danh)của những công trình đó như Bắc Bộ phủ, Chợ Đồng Xuân, Nhà máy điện Yên Phụ
đó là địa danh chỉ các công trình xây dựng
Trang 25Bắc Bộ phủ là ngôi nhà hai tầng ở số 12 phố Ngô Quyền, Hà Nội Bắc Bộ phủtrước hết là công trình kiến trúc nghệ thuật, trụ sở chính quyền Bắc kỳ Thời thuộcPháp, tòa nhà này là Phủ Thống sứ Bắc Kỳ Nhưng chính là nơi xảy ra nhiều SKLStrọng đại của Hà Nội nói riêng và của dân tộc nói chung Trong Cách mạng thángTám, ngày Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội (19 tháng 8 năm 1945), lực lượng Việt Minhcùng nhân dân Hà Nội đã tiến công và chiếm giữ tòa nhà này Sau Cách mạng thángTám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộnghòa về làm việc tại đây cho đến ngày toàn quốc kháng chiến Trong thời gian này,tòa nhà được đổi tên thành Bắc Bộ phủ Mở đầu Toàn quốc kháng chiến, ngày 20-12-
1946 tại đây đã nổ ra một trận đánh giữa một đại đội Vệ quốc đoàn bảo vệ Bắc bộphủ và quân Pháp có xe tăng hỗ trợ Đây là trận đánh ác liệt nhất và kéo dài nhấttrong những ngày đầu của Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
- Sự kiện phá Nhà máy điện Yên Phụ làm hiệu lệnh cho quân dân Hà Nội vàcác tỉnh, thành miền Bắc nổ súng chống thực dân Pháp xâm lược Đúng 20 giờ 03phút ngày 19 tháng 12 năm 1946, Mìn nổ! Điện tắt! đèn điện toàn thành phố phụt tắt,thành phố chìm trong bóng tối Tiếng đại bác từ pháo đài Láng, Xuân Tảo rền vangrót vào thành Tiếng súng các cỡ và lựu đạn nổ ầm ầm Hà Nội hiên ngang bước vàocuộc chiến đấu chống quân thù, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bắt đầu Tới
20 giờ 3 phút, Chính phủ Việt Nam đã phát đi lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
Vậy, Bắc Bộ phủ, nhà máy điện Yên Phụ…là địa danh chỉ công trình xâydựng, cơ sở sản xuất
Việc phân loại địa điểm xảy ra sự kiện gắn liền với địa danh công trình xây
dựng, cơ quan nhà nước, cơ sở sản xuất đặt ra cho GV trong quá trình DHLS cầnphải khai thác những yếu tố nơi địa điểm xảy ra sự kiện, tác động đến đến sự kiện,thúc đẩy sự kiện diễn ra và phát triển theo những chiều hướng khác nhau
Căn cứ vào địa điểm sự kiện mang ký hiệu (quy ước)
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, để tiện ích cho công việc, dễnhớ con người đã đặt quy ước riêng để thỏa thuận với nhau về nhiều lĩnh vực của
Trang 26đời sống xã hội Trong nghiên cứu lịch sử cần phải xem xét những địa điểm xảy ra sựkiện lịch sử mang ký hiệu (quy ước).
Ở lĩnh vực giao thông, người ta đặt tên đường Quốc lộ, hay Tỉnh lộ từ số 1đến số n nào đó Trên những con đường đó gắn liền với những SKLS cụ thể, ví như:Trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, ta bao vây chia cắt địch trênĐường số 4, thắng lợi trên Đường số 4
Địa điểm xảy ra SKLS mang tính ký hiệu (quy ước) được thế hiện trongnhững chiến lược, các chiến dịch, các trận đánh như trong chiến dịch Điện Biên Phủ,
ta tấn công địch ở đồi A1, C1, D1
Việc phân loại địa điểm xảy ra sự kiện mang ký hiệu (quy ước) đặt ra cho GV
và HS trong DHLS phải xác định được các ký hiệu gắn liền với các địa danh, địađiểm, không gian LS cụ thể Nếu tách rời địa điểm cụ thể của địa điểm được ký hiệuthì sự kiện đó trở nên mơ hồ, không thấy được mối quan hệ giữa địa điểm xảy ra sựkiện với sự kiện, không thể nhận thức được bản chất của sự kiện
1.1.2.3 Cách phân loại địa điểm xảy ra sự kiện dựa theo cách đặt tên các nhân vật lịch sử
Để tưởng nhớ đến những người có công với quốc gia dân tộc, hay nhân loại,người đời thường đặt tên cho những vùng, miền, những công trình, kế hoạch, chiếnlược gắn liền với tên tuổi của các nhân vật LS, anh hùng dân tộc, hay nhân loại nhưnúi Các Mác, suối Lênin, công viên Lênin , chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịchHoàng Hoa Thám Vậy, để xác định địa điểm xảy ra sự kiện đó không chỉ dừng lạiđịa danh mang tên các nhân vật LS, danh nhân mà phải xem xét sự kiện, chiếndịch, kế hoạch đó diễn ra cụ thể ở đâu, trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể như thếnào thì mới nhận thức hết giá trị của sự kiện Ví như, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch
sử, nhưng địa điểm xảy ra sự kiện không phải địa danh mang tên các nhân vật LS,
mà địa điểm với không gian có thể diễn ra ở nhiều địa điểm khác nhau, diễn ra trongthời gian dài
Trang 271.1.2.4 Cách phân loại về địa điểm xảy ra sự kiện dựa vào mức độ yêu cầu và khả năng nhận thức của học sinh
Trong DHLS, GV cần phải xác định kiến thức cơ bản, mục đích yêu cầu củabài Bản thân kiến thức về địa điểm xảy ra sự kiện cũng cần phải xác định đâu làkiến thức cơ bản, dạy kiến thức cơ bản về địa điểm xảy ra sự kiện đó nhằm mục đích
gì, từ đó mới có những hình thức, biện pháp, các thao tác sư phạm để đạt được mụcđích đề ra Kiến thức về địa điểm xảy ra sự kiện với mục đích yêu cầu và khả năngnhận thức của học sinh được phân ra làm ba mức độ:
- Địa điểm cần được biết tên địa danh: Nghĩa là chỉ cần biết sự kiện xảy ra
ở đâu - kiến thức cơ bản cần cung cấp cho HS HS nghiên cứu không phải ở địa điểmxảy ra sự kiện mà là nội dung sự kiện Ví dụ: Hiệp định Pari năm 1972 về việc lập lạihòa bình ở Việt Nam Địa điểm diễn ra ở Pari thủ đô của nước Pháp, HS chỉ cần biết.Nhưng nội dung cần hiểu và nắm vững chính là bối cảnh Hội nghị, nội dung của Hộinghị (những điều khoản của Hiệp định) có ảnh hưởng, tác động như thế nào đối với
sự phát triển của LSVN nói riêng và 3 nước Đông Dương nói chung
- Địa điểm cần được hiểu: Như đã trình bày ở khái niệm, địa điểm LS là nơi
chốn cụ thể xảy ra một sự việc nào đó Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy LS,nếu không xác định được địa điểm của sự kiện, thì sự kiện đó quá mơ hồ Tách sựkiện ra khỏi địa điểm - bối cảnh nơi xảy ra sự kiện thì không thể nắm được bản chất,
ý nghĩa của sự kiện Ví dụ: Pháp thất bại trên chiến trường Việt Nam khác hẳn với sựthất bại của Pháp ở chiến trường châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ II Tuynhiên, tùy thuộc vào mục tiêu của từng bài, từng sự kiện và khả năng nhận thức của
HS để xác định kiến thức về địa điểm sự kiện đó cần biết, hay nhớ, nhớ nhiều
- Địa điểm cần được hiểu để vận dụng vào nhận thức lịch sử
Ví dụ: Địa điểm lòng chảo Điện Biên Phủ: Vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, môitrường tâm lý - xã hội - con người, điều kiện kinh tế xã hội Bởi nếu không nhớ,hiểu, thì không thể vận dụng vào hiểu được vì sao cả ta và Pháp đều chọn Điện BiênPhủ làm điểm quyết chiến chiến lược Không thể hiểu được tài nghệ lãnh đạo củaChủ tịch Hồ Chí Minh, và tài thao lược, cầm quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp,
Trang 28cũng không thấy hết được nguyên nhân thắng lợi (ta), hay thất bại (Pháp và Mỹ),cũng như ý nghĩa LS của chiến thắng Điện Biên Phủ đối với nhân dân ta và thế giới.Nhớ nhiều ở đây còn phải hiểu là cùng một lúc phải nhớ nhiều địa điểm quan trọng.Bởi chiến trường Điện Biên Phủ thuộc lòng chảo Điện Biên có nhiều địa điểm quantrọng gắn với SKLS - những mốc LS quan trọng, đánh dấu sự thắng lợi của quân vàdân ta trên mặt trận Điện Biên.
Ở cấp Tiểu học, học sinh được học LS qua bộ môn Tìm hiểu tự nhiên và xã hội Khi đề cập đến thắng lợi của nhân dân ta ở Điện Biên Phủ, các em chỉ cần biết
cái tên Điện Biên Phủ và ở đâu
Đối với HS THCS, không dừng lại biết tên Điện Biên Phủ, mà còn xác địnhđược trên bản đồ, chỉ ra được những cứ điểm của Pháp ở lòng chảo Mường Thanh, vínhư: Phân khu Bắc: đồi Độc lập, Bản kéo, Him Lam; Phân khu trung tâm: đồi A1,C1, D1 ; Phân Khu Nam: Hồng Cúm Như vậy, ở đây HS phải biết và nhớ các địađiểm trên mới trình bày được diễn biến, nhận thức được quy mô, mức độ của Chiếndịch Điện Biên Phủ, cơ sở để rút ra được ý nghĩa LS
Đối với HS THPT không dừng lại ở biết, nhớ mà phải hiểu vì sao đế quốcPháp được Mỹ giúp sức đã chọn Điện Biên Phủ xây dựng căn cứ - “Pháo đài bất khảxâm phạm”? Vì sao ta cũng chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lượcvới Pháp? Muốn trả lời được những câu hỏi trên học sinh phải hiểu Điện Biên Phủ có
vị trí chiến lược như thế nào? Vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, môi trường tâm lý - xãhội - con người, điều kiện kinh tế xã hội phục vụ được gì cho mục đích của Pháp
và Việt Nam trong chiến tranh
Như vậy, phải căn cứ mức độ yêu cầu về nhận thức của các cấp học khác nhau
để xác định mục đích yêu cầu cần đạt được khi dạy kiến thức về địa điểm xảy ra sựkiện trong DHLS Nói cách khác, xác định được mức độ kiến thức về địa điểm xảy ra
sự kiện trong DHLS có ý nghĩa rất lớn, giúp cho người giáo viên chọn lựa kiến thức
và các hình thức biện pháp sư phạm phù hợp để tiến hành bài giảng đạt được mụcđích yêu cầu đề ra
Trang 291.1.3 Đặc điểm của địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử
- Địa điểm xảy sự kiện một phần của thế giới vật chất-điều kiện tự nhiên Địa điểm xảy sự kiện là một phần của thế giới vật chất - điều kiện tự nhiên
(ĐKTN) nó có tính phức tạp và có sự vận động thay đổi theo quy luật tự nhiên, đồngthời cũng có sự thay đổi bởi con người (con người tác động vào điều kiện tự nhiên)
Về mặt nhận thức mà nói, địa điểm nơi xảy ra sự kiện luôn luôn tồn tại, không
hề mất đi, bởi đã được xác định vị trí địa lý Tuy nhiên, trong thực tế, địa điểm còntồn tại, nhưng những dấu tích của địa điểm đó đôi khi không còn gì do quá trình pháttriển kinh tế, xã hội đã làm biến dạng, thay đổi mà không thể nhận ra được địa điểm
đó ở đâu
Chẳng hạn, sau 1975, ở các thành phố, thị xã thuộc các tỉnh phía Nam, nhiềutên đường phố, tên các địa danh hành chính được thay đổi, như tên đường 30-4,đường Giải phóng, đường Lê Duẩn Do vậy, người nghiên cứu địa danh phải amhiểu LS của địa bàn nghiên cứu, bất cứ sự giải thích theo định kiến nào, không căn
cứ vào các sự kiện thường rơi vào sai lầm
Ngược lại các nhà nghiên cứu LS phải xuất phát từ sự kiện, tìm hiểu nguồngốc sự kiện - nơi nó diễn ra ở đâu… Nguồn gốc đó tác động đến SKLS đã diễn ranhư thế nào, cơ sở để lý giải những vấn đề LS, tìm về bản chất của LS
- Địa điểm xảy ra sự kiện gắn liền với sự lựa chọn của con người
Con người sinh sống và hoạt động có ý thức trong môi trường không gian vàthời gian với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Mối quan hệ giữa con người
- không gian - thời gian là mối quan hệ biện chứng trong việc tạo nên lịch sử xã hộiqua các thời đại kế tiếp, phát triển theo một tiến trình hợp quy luật Mọi sự kiện hiệntượng LS của xã hội diễn ra ở đâu đó đều có sự tham gia trực tiếp, hay gián tiếp củacon người Nếu không có con người tham gia vào những sự kiện đó, thì sự kiện đókhông thể gọi là sự kiện LS của xã hội loài người mà là sự kiện của thế giới tự nhiên.Chúng ta tự hỏi sự kiện LS đã diễn ra, vì sao nó xảy ra ở nơi này mà lại không phải
Trang 30nơi khác? (Địa điểm xảy ra sự kiện) Con người phải nhận thức được môi trường, bốicảnh, chọn lựa địa điểm để thực hiện mục đích của mình cho có hiệu qủa.
Trong thế giới cổ đại, vì sao con người tụ cư ở hạ lưu của các con sông? Bởicon người nhận thức được ở gần sông thuận lợi cho họ về điều kiện sống, sinhhoạt… như gần nguồn nước, đất đai mầu mỡ dễ canh tác, có nguồn thủy hải sảnphong phú… nhưng phải đối mặt với lũ lụt, họ phải đắp đê ngăn lũ, làm nhà nềncao… Như vậy con người đã nhận thức được ĐKTN - nơi mình sinh sống có nhữngthuận lợi và khó khăn, nghĩ ra cách ứng xử cho phù hợp
- Địa điểm xảy ra sự kiện vẫn còn tồn tại
So với các yếu tố khác của sự kiện (thời gian, nhân vật, diễn biến, kết quả, ýnghĩa ) thì địa điểm xảy ra sự kiện gần như là yếu tố duy nhất còn lại (vật chấtkhông mất đi) Địa điểm còn tồn tại ở đây chính là còn xác định được cả vị trí vànhững dấu vết còn sót lại Ví như: Bắc Bộ phủ, chợ Đồng Xuân, phố Hàng Bún,Điện Biên Phủ, thung lũng Mường Thanh Đây chính là nguồn kiến thức - tư liệugốc có giá trị cần khai thác phục vụ cho dạy học
- Địa điểm của sự kiện có thể được mô hình hóa theo quy ước
So với các yếu tố khác của sự kiện, địa điểm của sự kiện có thể được mô hìnhhóa theo quy ước Ví như, bản đồ, sa bàn Bản đồ địa hình, sa bàn Chiến dịch ĐiệnBiên Phủ, sa bàn Chiến dịch Hồ Chí Minh Địa điểm đó có thể được lưu lại bởi cácnhà quay phim, chụp ảnh Địa điểm đó có thể được dựng lại bởi các nhà đạo diễnlàm phim sự kiện Điểm hẹn lịch sử, Việt Nam mười ngàn ngày Những bản đồ, sabàn phim, ảnh là cơ sở, nguồn tư liệu, phương tiện cho GV sử dụng để tạo biểutượng về địa điểm nơi SKLS đã diễn ra
Ngoài ra phải xem xét địa điểm xảy ra sự kiện có thể quan sát được Về nhậnthức, địa điểm nơi xảy ra sự kiện đều có thể đến được Ví dụ: Giơnevơ, Thụy Sĩ - nơidiễn ra Hội nghị Giơnevơ và ký Hiệp định Giơnevơ 1954, vẫn có thể đến được Ởđây, chúng ta đang vận dụng vào dạy học lịch sử Vậy, thầy và trò ở phổ thông có thểđến được hay không? Để giải quyết vấn đề trên chúng ta cần phải xem xét địa điểm
Trang 31đó xảy ra ở địa phương nào? Khoảng cách từ nhà trường tới địa điểm LS đó bao xa,
để xác định được tính khả thi của việc đưa học sinh đến học tập tại địa điểm xảy ra
sự kiện LS Ví như, với địa điểm chợ Đồng Xuân, Bắc Bộ phủ, Cầu Giấy học sinh
ở Nội Thành Hà Nội có điều kiện đến tận nơi đó để học tập
Địa điểm còn tồn tại, đã đến được thì cũng có thể quan sát được Ở đây, chúng
ta đang đề cập đến vấn đề quan sát trực tiếp Ví dụ: chiến trường Điện Biên Phủ, thầy
và trò đến đó có thể quan sát được địa hình, đồi núi (đồi A1, C1, D1 ), thung lũng,
hệ thống giao thông hào, hầm chỉ huy của Tướng Đờ Caxtơri
Còn nhiều địa điểm không còn nữa, hoặc ở quá xa, không có điều kiện quansát trực tiếp, các em có thể quan sát được thông qua một hệ thống những tranh, ảnh,bản đồ, phim video về địa điểm nơi xảy ra những SKLS, đó là quan sát gián tiếp
Việc xác định những đặc điểm của địa điểm giúp cho GV lựa chọn hình thức
và các phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp để tạo biểu tượng về địa điểm xảy
ra SKLS góp phần nâng cao hiệu quả bài học LS ở trường phổ thông
1.1.4 Mối quan hệ giữa địa điểm với các yếu tố khác của sự kiện lịch sử
SKLS là cơ sở để khôi phục lại hình ảnh của quá khứ, để tiến hành khái quát lýluận Có thể nói SKLS là chất liệu để hình thành tri thức khoa học Giáo viên chỉ táihiện được những nét cơ bản nhất của lịch sử đã diễn ra trên cơ sở SKLS Bất cứ mộtkết luận, một quan điểm khoa học nào, sẽ không có giá trị nếu như nó không đượccủng cố, chứng minh bằng các tư liệu SKLS cụ thể SKLS mang tính phức tạp, nó làmột thực thể khách quan, tồn tại ngoài ý chí của con người Song, không có khái quátthì không thể dựng lại sự kiện một cách chính xác Vả lại, sự kiện không có khái quát
là sự kiện câm Ở một mức độ nào đó, bất cứ sự diễn đạt nào về sự kiện là sự kháiquát sự kiện
Khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức trên cơ sở hiểu bản chất các SKLS, làcông cụ của việc nhận thức LS Sự hình thành kiến thức LS là một quá trình vậnđộng của nhận thức, từ không biết đến biết, biết không đầy đủ, hời hợt đến biết đầy
Trang 32đủ sâu sắc, có suy nghĩ Vậy, các yếu tố nào cấu tạo nên sự kiện, mối quan hệ giữacác yếu tố đó?
- Địa điểm xảy ra sự kiện với con người
Mọi sự kiện hiện tượng LS của xã hội diễn ra ở đâu đó đều có sự tham giatrực tiếp, hay gián tiếp của con người Nếu không có con người tham gia vào những
sự kiện đó, thì sự kiện đó không thể gọi là SKLS của xã hội loài người mà là sự kiệncủa thế giới tự nhiên
Chúng ta tự hỏi SKLS đã diễn ra, vì sao nó xảy ra ở nơi này mà lại không phảinơi khác? (Địa điểm xảy ra sự kiện) Con người phải nhận thức được môi trường, bốicảnh, chọn lựa địa điểm để thực hiện mục đích của mình cho có hiệu qủa
Theo thuyết Quyết định luận địa lý của Wisler sự dẫn dắt của tự nhiên đối với
con người thụ động, con người phụ thuộc vào ĐKTN Càng về quá khứ xa xưa củanhân loại, con người càng bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Hay nói cách khác,con người bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên Thực chất con người nhận thức được
thế giới tự nhiên Sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên có nhận thức chính là quá trình
từng bước nhận thức quy luật của tự nhiên và vận hành theo quy luật để phục vụ tối
ưu cho xã hội loài người [110; tr.40]
Con người vừa là khách thể, vừa là chủ thể của sự kiện Bởi nói đến SKLS làSKLS của con người, do con người, tác động đến con người Ví dụ: sự kiện “ĐiệnBiên Phủ trên không” năm 1972, quân Mỹ ném bom bắn phá miền Bắc trong suốt 12ngày đêm nhưng cuối cùng bị lực lượng phòng không, không quân của ta đánhbại Như vậy, sự kiện “Điện Biên Phủ trên không” có sự tham gia của cả quân đội
Mỹ và quân đội Việt Nam, cả hai bên đều nhận thức những thuận lợi và khó khăncủa nhau trên tất cả các lĩnh vực để đưa ra những đòn chiến lược đúng đắn, làm thấtbại đối phương Cho nên, yếu tố tạo nên SKLS đầu tiên phải là con người, chứ khôngphải những sự kiện tự nhiên vốn tồn tại độc lập với con người, như núi lửa phun trào
ở Nhật Bản, “Cơn đại Hồng thủy năm 1999 ở miền Trung” Việt Nam
Trang 33Những yếu tố tạo nên SKLS là con người, điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất kỹthuật được con người nhận thức, sử dụng trong quá trình hoạt động tương tác vớimôi trường tự nhiên, môi trường xã hội nhằm đạt được mục đích của mình Trong đóphải nói đến địa điểm - nơi xảy ra SKLS đó.
Rõ ràng, khi xem xét về địa điểm xảy ra sự kiện chúng ta không dừng lại chỉbiết địa danh mà phải nghiên cứu cả ĐKTN, địa hình là những yếu tố tác động trựctiếp hoặc gián tiếp đến SKLS, cấu thành nên sự kiện LS
Trong nghiên cứu LS, để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện, chúng ta thường đặt ranhững vấn đề cần nghiên cứu, vì sao lại như thế này mà không thế khác? Vì sao sự kiệnvua Bảo Đại thoái vị lại diễn ra ở Ngọ Môn, trước Đại Nội Huế mà không phải ở BaĐình Hà Nội? Địa điểm xảy ra sự kiện đó phải có mối quan hệ với sự kiện Về mặt nhậnthức, địa điểm đó không đơn thuần chỉ là nơi diễn ra sự kiện mà những yếu tố của điềukiện tự nhiên, xã hội, con người nơi đó (nơi xảy ra sự kiện) có tác động đến quá trìnhdiễn ra sự kiện đó, cũng như ảnh hưởng của sự kiện đó đến các yếu tố xung quanh
- Địa điểm xảy ra sự kiện với diễn biến lịch sử
Diễn biến LS luôn luôn diễn ra ở những nơi cụ thể (nhất định) Sự kiện đódiễn ra như thế nào chính là diễn biến của sự kiện Địa điểm xảy ra SKLS có tácđộng đến diễn biến của nó theo hai hướng thuận lợi và khó khăn Thuận lợi cho sựkiện hiện tượng diễn ra (diễn biến) nhanh chóng ; Khó khăn có tác động cản trở,kìm hãm sự kiện xảy ra Trong chiến tranh, nhìn từ hai phía, có thể thuận lợi ở mặtnày, nhưng lại khó khăn ở mặt khác Hoạt động của con người có đạt được mục đíchhay không chính là sự nhận thức của con người đúng hay sai về điều kiện tự nhiên,
xã hội, con người, liên quan đến địa điểm nơi sẽ xảy ra sự kiện đó
- Địa điểm xảy ra sự kiện với kết quả, ý nghĩa lịch sử
Một sự kiện hiện tượng LS luôn có quá trình hình thành (khởi đầu) diễn biến
và đi đến kết thúc Sự kết thúc của một SKLS như thế nào chính là kết quả của sựkiện Địa điểm của sự kiện đó có tác động đến kết quả của sự kiện (qua nhận thứccủa con người về địa điểm, tận dụng nó phục vụ cho hoạt động có mục đích của con
Trang 34người) VD: Giải phóng được một vùng đất rộng lớn => Ý nghĩa.
Ý nghĩa của sự kiện Ý nghĩa của sự kiện được rút ra từ sự kiện đó, nó còn có
ý nghĩa đối với cả nơi nó diễn ra Ví dụ: Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, ta giànhđược thắng lợi, Điện Biên Phủ được cái gì?
Xét ở từng khía cạnh, trước hết Điện Biên Phủ được giải phóng là niềm vinh
dự lớn lao của nhân dân Điện Biên nói riêng và cả nước nói chung Với chiến thắng
đó, bồi đắp thêm truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc trong công cuộc đấutranh giải phóng đất nước – là sức mạnh của cả dân tộc trong xây dựng và phát triển.Thứ hai, Điện Biên Phủ giải phóng, tạo điều kiện cho nhân dân bước vào ổn định xâydựng đời sống mới, cùng với nhân dân miền Bắc đi lên xây dựng CNXH, trở thànhhậu phương lớn cho miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giảiphóng dân tộc, tiến tới thống nhất đất nước
1.1.5 Biểu tượng và tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Do đặc trưng riêng của tri thức LS, nên quá trình nhận thức LS của HS khôngtrực tiếp với quá khứ mà bắt đầu từ tri giác tài liệu về các sự kiện để tạo biểu tượngchân thực sinh động về quá khứ Trên cơ sở của các thao tác tư duy, HS đi sâu vàobản chất của sự vật hiện tượng để hình thành khái niệm, rút ra quy luật và bài học
LS Như vậy, nhận thức của HS vừa tuân theo quy luật chung của quá trình nhận
thức vừa mang đặc thù riêng, trên cơ sở tư liệu sự kiện để tạo biểu tượng chân thực,
sinh động về quá khứ Đây là giai đoạn nhận thực đầu tiên không thể thiếu được
trong quá trình nhận thức và là cầu nối giữa hiện thực lịch sử và nhận thức LS Vậy,
biểu tượng, biểu tượng lịch sử là gì chúng ta lần lượt nghiên cứu
1.1.5.1 Biểu tượng, biểu tượng lịch sử, biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử
- Biểu tượng
Trên thực tế, khái niệm biểu tượng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngànhkhoa học xã hội khác nhau Trong khuôn khổ của đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập tới
Trang 35khái niệm biểu tượng trên bình diện của ngành TLH
Theo từ điển TLH (Vũ Dũng- NXB KHXH - 2000), "Biểu tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại, thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai" [26]
Theo từ điển Tiếng Việt (GS Hoàng Phê chủ biên):"Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt"[92].
Như vậy, biểu tượng là những hình ảnh của những sự vật, hiện tượng của thế
giới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước
đó, được giữ lại trong ý thức hay là những hình ảnh mới được hình thành trên cơ sởnhững hình ảnh đã có từ trước Theo TLH mácxít, xét về phương thức phản ánh thìnhận thức phản ánh hiện thực khách quan dưới hình thức những hình ảnh (cảm giác,tri giác) những biểu tượng (trí nhớ, tưởng tượng) và những khái niệm (tư duy)
Trong quá trình tri giác thế giới bên ngoài, con người phản ánh sự vật và hiệntượng xung quanh mình dưới dạng hình ảnh của các vật thể Các hình ảnh này phảnánh vào trong ý thức những đặc điểm bên ngoài của sự vật và lưu giữ một thời gian
đáng kể trong ý thức con người Hình ảnh lưu giữ đó là biểu tượng Biểu tượng là
“hình ảnh của sự vật hiện tượng của thế giới xung quanh được giữ lại trong ý thức
và hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác xảy ra trước đó ” [98; tr 180]
Trong khi tri giác phản ánh một cách tổng hợp, trực tiếp những yếu tố kíchthích vào giác quan thì biểu tượng là hình ảnh đã hoặc đang được tái tạo lại và bảo
tồn trong trí nhớ của học sinh Theo nghĩa đó “biểu tượng là những tri giác được tích lũy” [127; tr 63].
Cũng như hình ảnh của tri giác, các hình ảnh của vật thể được giữ lại trongbiểu tượng luôn luôn mang tính trực quan, cụ thể, chúng phản ánh mặt bên ngoài của
sự vật, hiện tượng Nhưng trong những trường hợp riêng lẻ, biểu tượng có thể phản
ánh cả những mặt bên trong của sự vật, hiện tượng, những mặt mà các cơ quan thụ
Trang 36cảm không tri giác trực tiếp, chỉ đạt được nhờ tư duy Sác-đa-cốp, trong tác phẩm
“Tư duy học sinh” cho rằng: “biểu tượng là hình ảnh về sự vật hiện tượng của hiện thực được tri giác, được phản ánh từ trước vào ý thức, luôn luôn được giữ lại trong trí nhớ và xuất hiện qua những dấu hiệu chủ yếu của nó Đồng thời những bộ phận của biểu tượng mà không phải là bản chất đối với việc xác định đặc điểm của sự vật hiện tượng được nêu ra thì bị chia nhỏ và bị biến đổi đi” [100; tr 46].
Theo chúng tôi, biểu tượng là hình ảnh trực quan nảy sinh trong óc người về những sự vật và hiện tượng đã được tri giác trước đó Ngoài ra, do Biểu tượng mang
tính chất biến đổi rộng rãi, rõ nét - cho phép xây dựng hình ảnh mới, nên chúng đóngvai trò quan trọng và cần thiết trong hoạt động sáng tạo của con người
- Biểu tượng lịch sử
Do đặc điểm của bộ môn, khi học tập LS, học sinh không thể trực tiếp tri giáccác SKLS đã xảy ra trong quá khứ, không thể tái hiện LS trong phòng thí nghiệm.Cho nên, không có biểu tượng nảy sinh từ những trực giác đối với sự kiện, hiện
tượng có thật mà chỉ trên cơ sở những “mảnh quá khứ” còn lưu lại để làm chỗ dựa cho việc tái tạo lại quá khứ LS Vì vậy, đôi khi biểu tượng của LS là “biểu tượng của trí tượng tượng” Do đó, biểu tượng lịch sử là hình ảnh về sự kiện, nhân vật và bối
cảnh tự nhiên xã hội (liên quan trực tiếp đến sự kiện, nhân vật) được phản ánh trong
óc con người với những nét chung nhất, điển hình nhất Biểu tượng lịch sử là mộtdạng đặc biệt của nhận thức thế giới khách quan Tính đặc biệt của biểu tượng lịch sửđược qui định bởi đặc trưng của LS: Sự kiện là hiện thực khách quan, chỉ diễn ra mộtlần và để lại dấu vết một cách riêng rẽ Để có được biểu tượng lịch sử, con ngườikhông thể trực tiếp tri giác sự kiện có sẵn, mà phải trên cơ sở phương pháp khoa học(sưu tầm tư liệu, xử lý phán đoán, mô phỏng sự kiện) để tái tạo lại SKLS, phản ánh
LS gần giống với hiện thực khách quan Như vậy, biểu tượng lịch sử chính là hình ảnh của tri giác gián tiếp từ các hình ảnh riêng rẽ về một sự kiện, nhân vật cụ thể Ví
như, khi dạy về sự kiện Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945, chúng ta cóthể dựa vào ảnh tư liệu, phim tư liệu, văn kiện lịch sử, tác phẩm văn học, tác phẩmhội họa, tác phẩm âm nhạc, lời kể nhân chứng lịch sử kết hợp với các di vật LS… để
Trang 37tái tạo thời gian, địa điểm, quá trình diễn ra buổi lễ, không khí buổi lễ, hình ảnh Bác
Hồ trong buổi lễ, tình cảm của nhân dân đối với Bác Hồ và Chính phủ lâm thời
Thông qua hoạt động học tập (có sự tổ chức của người thầy, có sự hỗ trợ của
bè bạn) HS sẽ có được biểu tượng cụ thể về các sự vật, hiện tượng có trong bài học
Như vậy, việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh cũng có những điểm riêng: Biểu tượng chỉ có được nhờ có sự tổ chức của thầy, sự nổ lực của bản thân, sự hỗ trợ của
bè bạn và các phương tiện dạy học [78;tr.16].
Từ những quan niệm chung về biểu tượng, tính đến đặc trưng của việc nhận
thức lịch sử, chúng ta thống nhất hiểu: “Biểu tượng lịch sử là hình ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lý được phản ánh trong óc học sinh những nét chung nhất, điển hình nhất ” [68; tr 54]
- Biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện
Như chúng ta đã biết, bất cứ một sự kiện, hiện tượng LS nào đều diễn ra ởmột địa điểm, không gian xác định Biểu tượng về địa điểm của SKLS chính là biểutượng LS được cụ thể hóa ở địa điểm xảy ra SKLS với những hình ảnh điển hình
nhất về nơi xảy ra SKLS đó Cho nên, biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử
là hình ảnh về địa điểm - không gian lịch sử nơi xảy ra sự kiện có mối liên hệ với nhân vật lịch sử, điều kiện địa lý, những yếu tố kinh tế - xã hội được phản ánh trong óc học sinh những nét chung nhất, khái quát nhất.
1.1.5.2 Vai trò và ý nghĩa của việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
-Vai trò của việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sử kiện trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Biểu tượng là một trong những hình thức quan trọng của sự phản ánh chủquan về thế giới khách quan Không có biểu tượng thì không thể có nhận thức Dogắn với các yếu tố tổng hợp, nên biểu tượng là bậc thang chuyển hoá từ hình ảnh cụthể đến khái niệm trừu tượng, từ cảm giác và tri giác đến tư duy…
Trang 38Về mặt nhận thức lịch sử, nhiều nhà nghiên cứu đã nêu rõ vai trò của biểutượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong quá trình học tập lịch sử của HS trên các mặt
tư duy, cảm xúc, khát vọng, ý chí, hành động Không tạo biểu tượng thì hình ảnh lịch
sử mà HS thu nhận sẽ nghèo nàn, hiểu biết lịch sử không sâu sắc, không phát triển tưduy, không có cơ sở hình thành khái niệm - giai đoạn nhận thức lí tính của việc họctập lịch sử
Sự thống nhất giữa tạo biểu tượng và hình thành khái niệm trong học tập LS
là một trong những đặc điểm chung của phát triển tư duy Trong học tập LS, hai quátrình này vừa tiến hành một cách độc lập vừa gắn liền nhau trong một thể thống nhấtcủa quá trình giáo dục Nói về vai trò của biểu tượng trong học tập nói chung nhà
giáo dục nổi tiếng Nga, K Đ Usinxki đã khẳng định:“Việc học tập không phải xây dựng trên lời nói, những quan niệm rời rạc, mà phải trên cơ sở hình ảnh cụ thể mà trẻ con trực tiếp thu nhận” [123; tr.78].
Sác-đa-cốp trong cuốn“Tư duy học sinh” khẳng định:“Không có khái niệm nào dù là trừu tượng đến mấy mà không chứa đựng trong nó nội dung cảm tính nào
đó, và không có hình tượng nào dù là cụ thể đến mấy mà không hướng vào từ - tức chữ viết… Nhờ có từ mà học sinh tự gợi ý ra những biểu tượng cần thiết đối với các
em Ngoài ra, nhờ có từ mà học sinh có thể liên hợp những biểu tượng đã có của mình thành những hình ảnh khác nhau, tạo ra những hình tượng bóng bẩy, ẩn dụ…”
về địa điểm xảy ra sự kiện là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức LS (nhận thứccảm tính), không có giai đoạn nhận cảm tính thì không thế có bước nhận thức tiếp
Trang 39theo Việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra SKLS quyết định cho quá trình nhậnthức trong DHLS, cơ sở hình thành khái niệm (mức độ cao của nhận thức: nhận thức
lý tính), trên cơ sở đó, rút ra quy luật và bài học LS Quá trình nhận thức đó cũng
chính là thực hiện mục tiêu yêu cầu trong DHLS, không chỉ dừng lại biết SKLS diễn
ra ở đâu, mà phải hiểu vì sao SKLS lại diễn ra ở nơi này, không phải nơi khác, từ sự hiểu biết đó vận dụng vào học tập và thực tiễn cuộc sống.
- Ý nghĩa của việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Về mặt nhận thức LS, nhiều nhà nghiên cứu đã nêu rõ ý nghĩa của biểu tượng
LS trong quá trình học tập LS của HS trên các mặt tư duy, cảm xúc, khát vọng, ý chí,hành động Không tạo biểu tượng thì hình ảnh LS mà HS thu nhận sẽ nghèo nàn,hiểu biết LS không sâu sắc, không phát triển tư duy, không có cơ sở hình thành kháiniệm - giai đoạn nhận thức lí tính của việc học tập LS Vì vậy, việc tạo ra biểu tượng
là cần thiết đối với việc học tập LS
Về kiến thức:
- Trên cơ sở cung cấp sự kiện, tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện cụthể, rõ ràng sẽ giúp học sinh khắc phục được tình trạng “hiện đại hóa” LS, khôngnhầm lẫn giữa địa điểm LS này với địa danh LS khác
- Tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện giúp HS hiểu sâu, nhớ lâu kiếnthức, thấy rõ được mối quan hệ giữa các yếu tố địa điểm, thời gian, nhân vật… cấuthành nên SKLS
Ví dụ: Sự kiện Cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16
+ Thời gian: ngày 19 tháng 12 năm 1946
+ Địa điểm: Diễn ra ở các đô thị phía Bắc vị tuyến 16
+ Lãnh đạo cuộc kháng chiến do Đảng Cộng sản Việt Nam mà đứng đầu làChủ tịch Hồ Chí Minh…
Vì sao diễn ra không phải ở phía Nam ? Diễn ra ở Hà Nội (Bắc Bộ phủ, chợĐồng Xuân, Nhà Bưu điện…) tiêu biểu hơn cả?
Trang 40Hà Nội là trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội của cả nước, cũng là địa bàn đóng
đô của các cơ quan đầu não của cả ta và Pháp, đặc biệt ở Bắc Bộ phủ Dựa vàonhững phương tiện trực quan và các nguồn kiến thức khác, sử dụng các biện pháp sưphạm có hiệu quả, giáo viên tạo cho HS các biểu tượng cụ thể về địa điểm, thời gian,nhân vật… trên cơ sở đó nhận thức được bản chất của sự kiện, rút ra được quy luật,bài học kinh nghiệm cho hiện tại và tương lai
Vậy, việc tạo biểu tượng cụ thể về địa điểm xảy ra sự kiện ngày 19-12-1946 ởBắc Bộ phủ, chợ Đồng Xuân, Nhà Bưu điện… Hà Nội cụ thể, chính xác để phânbiệt, so sánh với các sự kiện xảy ra ở những nơi khác, tránh được sự nhầm lẫn giữa
sự kiện này với sự kiện khác, có tác dụng cụ thể hóa một sự kiện lịch sử, làm sáng tỏnhững vấn đề cơ bản của lịch sử dân tộc Đồng thời tạo được biểu tượng đúng về địađiểm xảy ra sự kiện sẽ giúp học sinh tránh được sai lầm của bệnh “hiện đại hóa lịchsử”, những nhận thức chủ quan phiến diện và những đánh giá, nhận định tình hìnhthiếu cơ sở khoa học
- Về kĩ năng: Biểu tượng về địa điểm xảy ra SKLS là một trong nhữngphương tiện quan trọng làm cho “hoạt động trí tuệ” của học sinh không ngừng phát
triển Bởi vì, trong khi “lĩnh hội những kiến thức khoa học, hoàn thành nhiệm vụ nhận thức thì đồng thời học sinh cũng phát triển năng lực nhận thức của mình” [8;
tr 22-23;43] Cũng như tri giác, biểu tượng được hoàn thiện và phát triển dần trong
quá trình giáo dục ở nhà trường và trong cuộc sống Từ các biểu tượng không đầy đủ,chưa có sự phân biệt, không đúng, không rõ ràng và ít liên quan, tiến đến xây dựngnhững biểu tượng rành mạch, rõ ràng, có sự phân biệt, liên quan với nhau Trong tiếntrình lịch sử, không có một SKLS nào lại không diễn ra ở một địa điểm cụ thể Địađiểm đó có thể diễn ra cùng một lúc nhiều sự kiện, cũng có thể diễn ra các sự kiệntrước, sau nối tiếp nhau về mặt thời gian … Như vậy, ở những thời điểm khác nhauđịa điểm xảy ra sự kiện có vài trò với sự kiện xảy ra khác nhau do sự nhận thức vàchọn lựa của con người mỗi lúc một khác Cho nên khi học tập, học sinh có biểutượng đầy đủ về địa điểm nơi xảy ra sự kiện, mối liên hệ với các yếu tố của sự kiệnthông qua tư duy, khả năng tưởng tượng Vì vậy, biểu tượng về địa điểm xảy raSKLS góp phần vào việc hình thành các kỹ năng so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng