Xây dựng được bộ khái niệm công cụ phục vụ cho nghiên cứu luận án, bao gồm: tính tích cực, tính tích cực học tập, tính tích cực học tập của học viên đào tạo sĩ quan quân đội và cơ sở tâm lý của tính tích cực học tập ở học viên đào tạo sĩ quan quân đội. Trong đó, cơ sở tâm lý của tính tích cực học tập ở học viên đào tạo sĩ quan quân đội được hiểu: là hệ thống các thành phần tâm lý cấu thành tính tích cực học tập đóng vai trò là nền tảng và từ nền tảng đó tính tích cực học tập của học viên được hình thành, phát triển đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường quân đội. Chỉ ra 3 thành phần tâm lý cơ bản cấu thành tính tích cực học tập với vai trò là cơ sở tâm lý của tính tích cực học tập ở học viên đào tạo sĩ quan quân đội đó là: thành phần động lực học tập (nhu cầu, động cơ và sự sẵn sàng học tập); kỹ năng học tập (kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hiện các hành động học tập, kỹ năng xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập) và ý chí học tập (nỗ lực vượt qua các khó khăn trong học tập, chủ động lập kế hoạch và thực hiện tốt kế hoạch học tập, tự đánh giá, điều chỉnh hành vi học tập). Nghiên cứu làm rõ 4 nhóm yếu tố khách quan tác động đến tính tích cực học tập của học viên đào tạo sĩ quan quân đội, bao gồm: nhóm yếu tố thuộc về giảng viên; cán bộ quản lý học viên; môi trường sư phạm nhà trường, tập thể lớp học và nhóm yếu tố thuộc môi trường xã hội. Trong đó, nhóm yếu tố thuộc về giảng viên và cán bộ quản lý học viên tác động lớn nhất đến tính tích cực học tập của học viên đào tạo sĩ quan quân đội. 2. Đóng góp về thực tiễn Đề xuất 4 biện pháp tâm lý sư phạm cơ bản nâng cao tính tích cực học tập của học viên đào tạo sĩ quan quân đội góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở các học viện, nhà trường trong quân đội hiện nay đó là: tăng cường giáo dục, xây dựng động cơ, mục đích học tập đúng đắn cho học viên; bồi dưỡng cho học viên nắm vững cách thức tiến hành các hành động học tập; phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý học viên trong giáo dục, rèn luyện học viên; xây dựng môi trường sư phạm nhà trường và tập thể lớp học trong sạch, lành mạnh. Luận án có thể là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giáo dục đào tạo và quản lý ở các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp xây dựng quân đội nhân dân “cách mạng, chính qui, tinh nhuệ,từng bước hiện đại”, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở [22, tr.110], đặt ra yêucầu khách quan phải nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ sĩ quan trong các họcviện, nhà trường quân đội Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào nhiều nhân tố: nộidung, chương trình, phương pháp dạy học, chất lượng đội ngũ giảng viên, họcviên, cán bộ quản lý, cơ sở vật chất đảm bảo cho quá trình dạy học - giáodục…Trong đó, nhân tố đóng vai trò quan trọng thuộc về học viên Đặc biệt,khi học viên phát huy được vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trìnhđào tạo thành quá trình tự đào tạo Vì vậy, Nghị quyết số 86/NQ - ĐUQSTƯ vềcông tác giáo dục - đào tạo trong tình hình mới cũng chỉ rõ là “Phải phát huytính tích cực, chủ động, sáng tạo và bồi dưỡng năng lực tư duy, rèn luyện nănglực hoạt động thực tiễn cho người học” [23, tr.21]
Trong các nhà trường nói chung, các trường đào tạo SQQĐ nói riêngTTCHT là điều kiện giúp học viên vượt mọi khó khăn, thách thức trong quátrình đào tạo; vươn lên làm chủ tri thức, hình thành, củng cố kỹ năng, kỹ xảochuyên môn nghiệp vụ quân sự; biến các yêu cầu đòi hỏi của quân đội, của xãhội thành nhu cầu, động cơ tích cực phấn đấu vươn lên chiếm lĩnh mục tiêu,yêu cầu đào tạo Đồng thời, đó còn là điều kiện để học viên đáp ứng yêu cầuđòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,của nền kinh tế tri thức và sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng, chính qui,tinh nhuệ và từng bước hiện đại Do vậy, nâng cao TTCHT vừa là mục đíchvừa là phương tiện, điều kiện để đạt mục đích dạy học
Do vị trí, tầm quan trọng của nó, TTCHT đã được nhiều nhà khoa họcquan tâm nghiên cứu, trên nhiều phương diện khác nhau: Triết học, Xã hội học,Giáo dục học, Sinh lý học… Dưới góc độ Tâm lý học, TTCHT đã được nhiều
Trang 2tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu trên nhiều hướng khác nhau và đã pháthiện nhiều vấn đề liên quan đến TTC nhận thức, TTCHT của học sinh, sinh viên,TTC giảng dạy của giảng viên ngoài quân đội Tuy nhiên, các nghiên cứu vềTTCHT của học viên đào tạo SQQĐ chưa nhiều Đặc biệt, chưa có công trìnhnào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về các yếu tố tâm lý đóng vaitrò là cơ sở tâm lý của TTCHT ở học viên đào tạo SQQĐ.
Mặt khác, thực tế cho thấy, hiện nay phần lớn học viên đào tạo sĩ quantrong các nhà trường quân đội đã nêu cao TTCHT, rèn luyện nhằm đáp ứngmục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường Tuy nhiên, cũng còn không ít họcviên xác định động cơ, trách nhiệm trong học tập, rèn luyện chưa tốt, còn ngại khóngại khổ, học tập thụ động, cầm chừng, thiếu tích cực, chủ động, sáng tạo; tư tưởng
“trung bình chủ nghĩa”, “thực dụng” trong học tập, kết quả đạt được chưa cao Cá
biệt có học viên chưa an tâm tư tưởng học tập, phục vụ lâu dài trong quân đội…
Để khắc phục tình trạng trên, việc nghiên cứu cơ sở tâm lý của TTCHT là cầnthiết, quan trọng để tìm ra hệ thống các biện pháp tâm lý - sư phạm nâng caoTTCHT của học viên đào tạo SQQĐ, góp phần đảm bảo chất lượng, hiệu quảquá trình giáo dục - đào tạo trong các nhà trường quân đội hiện nay
Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Cơ sở tâm lý của tính tích cực học tập ở học viên đào tạo sĩ quan quân đội” để nghiên cứu.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở tâm lý của TTCHT ở học viên đào tạo SQQĐ, trên cơ sở
đó đề xuất các biện pháp tâm lý - sư phạm cơ bản nâng cao TTCHT của họcviên đào tạo sĩ quan ở các học viện, nhà trường trong quân đội
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về TTCHT và chỉ ra các yếutâm lý đóng vai trò là cơ sở tâm lý của TTCHT ở học viên đào tạo SQQĐ
- Chỉ ra đặc điểm HĐHT và các yếu tố khách quan tác động đếnTTCHT của học viên đào tạo SQQĐ
Trang 3- Khảo sát, đánh giá thực trạng các yếu tố tâm lý đóng vai trò là cơ sởtâm lý của TTCHT; các yếu tố khách quan tác động đến TTCHT của học viênđào tạo SQQĐ và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng.
- Tổ chức TN tác động tâm lý sư phạm và đề xuất các biện pháp tâm lý - sưphạm cơ bản nâng cao TTCHT của học viên đào tạo SQQĐ hiện nay
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cơ sở tâm lý của TTCHT
Khảo sát 750 học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội, 180 giảng viên, cán
bộ quản lý học viên ở ba khối đào tạo: sĩ quan chỉ huy, SQCT và sĩ quan chỉhuy tham mưu hậu cần, kỹ thuật Cụ thể là: Trường SQLQ2, Trường SQCT vàTrường SQPB, thời gian từ 2005 đến năm 2009
5 Giả thuyết khoa học
Cơ sở tâm lý của TTCHT ở học viên đào tạo SQQĐ là một cấu trúc tâm
lý phức tạp, với các thành phần tâm lý cơ bản cấu thành, gồm: động lực họctập, kỹ năng học tập và ý chí học tập Nếu chỉ ra được nội dung tâm lý của cácthành phần cấu thành, các đặc điểm HĐHT và những yếu tố khách quan tácđộng đến TTCHT thì có thể đề ra các biện pháp tâm lý – sư phạm nâng caođược TTCHT của học viên đào tạo SQQĐ
6 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Luận án được xây dựng trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủnghĩa Mác - Lênin về vấn đề con người và động lực thúc đẩy hoạt động của con
Trang 4người; Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng cộng sản ViệtNam, của Đảng uỷ quân sự Trung ương về giáo dục - đào tạo SQQĐ, về TTC củacon người nói chung và TTCHT của học sinh, sinh viên nói riêng Đồng thời, luận
án còn dựa vào các nguyên tắc phương pháp luận của Tâm lý học mácxít
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, luận án sử dụng tổng hợpcác phương pháp nghiên cứu của Tâm lý học và Tâm lý học quân sự, bao gồm:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
+ Phương pháp trò chuyện
+ Phương pháp phỏng vấn sâu
+ Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt động
+ Phương pháp chuyên gia
+ Phương pháp thực nghiệm
+ Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
7 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
7.1 Đóng góp về lý luận
- Xây dựng được bộ khái niệm công cụ phục vụ cho nghiên cứu luận án,bao gồm: TTC, TTCHT, TTCHT của học viên đào tạo SQQĐ và cơ sở tâm lý củaTTCHT ở học viên đào tạo SQQĐ Trong đó, cơ sở tâm lý của TTCHT ở học
viên đào tạo SQQĐ được hiểu: là hệ thống các thành phần tâm lý cấu thành TTCHT đóng vai trò là nền tảng và từ nền tảng đó TTCHT của học viên được hình thành, phát triển đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường quân đội.
- Chỉ ra 3 thành phần tâm lý cơ bản cấu thành TTCHT với vai trò là cơ sởtâm lý của TTCHT ở học viên đào tạo SQQĐ, đó là: thành phần động lực họctập (nhu cầu, động cơ và sự sẵn sàng học tập); kỹ năng học tập (kỹ năng nhận
Trang 5thức, kỹ năng thực hiện các hành động học tập, kỹ năng xây dựng kế hoạch vàthực hiện kế hoạch học tập) và ý chí học tập (nỗ lực vượt qua các khó khăn tronghọc tập, chủ động lập kế hoạch và thực hiện tốt kế hoạch học tập, tự đánh giá,điều chỉnh hành vi học tập)
7.2 Đóng góp về thực tiễn
Đề xuất 4 biện pháp tâm lý - sư phạm cơ bản nâng cao TTCHT của họcviên đào tạo SQQĐ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo ở cáchọc viện, nhà trường trong quân đội hiện nay đó là: tăng cường giáo dục, xâydựng động cơ, mục đích học tập đúng đắn cho học viên; bồi dưỡng cho họcviên nắm vững cách thức tiến hành các hành động học tập; phát huy vai trò,trách nhiệm của đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý học viên trong giáo dục,rèn luyện học viên; xây dựng môi trường sư phạm nhà trường và tập thể lớphọc trong sạch, lành mạnh
Luận án có thể là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giáo dục - đàotạo và quản lý ở các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội
8 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: phần mở đầu, 4 chương, kết luận, kiến nghị và danh mụctài liệu tham khảo
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài về tính tích cực học tập, cơ sở tâm lý của tính tích cực học tập
Tính tích cực nói chung và TTCHT nói riêng là một phẩm chất tâm lýquan trọng của con người Vì vậy, nó được nhiều ngành, nhiều nhà khoa họcquan tâm nghiên cứu, trên nhiều góc độ khác nhau: Triết học, Xã hội học, Sinh
lý học, Giáo dục học… trong đó có các nghiên cứu của các nhà Tâm lý học
Với mục đích góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, ngay từthời cổ đại, các triết gia như Khổng Tử, Socrate… đã quan tâm nghiên cứu vềTTCHT và xem việc phát huy TTCHT của người học là yếu tố quan trọngnâng cao chất lượng, hiệu quả dạy, học
Khổng Tử (Trung Quốc, 551 – 479, TCN) đã chú ý kích thích TTC suynghĩ của học trò trong dạy học Ông nói: “Không giận vì muốn biết thì khônggợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày vẽ cho Vật có bốn góc, bảocho biết một góc mà không suy ra được ba góc kia thì không dạy nữa” [dẫntheo 88, tr.478] Như vậy, Khổng Tử rất quan tâm đến nâng cao TTCHT củangười học Cách dạy của ông là gợi mở để trò tìm ra chân lý, thầy chỉ giúp trònắm cái mấu chốt nhất, còn các vấn đề khác trò phải tự tìm ra Trong cuộc đờidạy, học, Khổng Tử đã đúc kết, khái quát và đề xuất nhiều cách dạy, học hướngvào kích thích TTC suy nghĩ của học sinh Đây chính là ý tưởng tiến bộ cho
một cách dạy học mới: không bao giờ làm thay “bày sẵn” cho người học mà
phải bằng sự khéo léo, hướng dẫn, khêu gợi, mở mang, tạo nên ở người học sựhứng thú, tích cực, độc lập nhận thức trong quá trình dạy học [11, tr.8]
Socrate (469-390 TCN), nhà Triết học, nhà giáo dục người Hy Lạp,trong sự nghiệp dạy, học của mình ông luôn đánh giá cao vai trò TTCHT và
Trang 7mối quan hệ của nó với kết quả học tập Để nâng cao TTCHT của người họcông đã đề ra phương pháp dạy học bằng cách thầy đặt câu hỏi cho trò trả lời,thông qua đó dẫn dắt, gợi mở để học sinh tự tìm ra chân lý Bằng phươngpháp này thầy khơi dậy ở người học niềm say mê, hứng thú, tích cực, chủđộng học tập, hình thành tính tự lực và phát huy trí lực của người học, cònthầy là người tổ chức, hướng dẫn Thầy không làm thay trò và trò chỉ có thểnắm bắt được tri thức khi phát huy cao độ TTCHT Nhờ đó thầy đặt người họcvào vị trí trung tâm của quá trình dạy học Đến nay phương pháp này vẫnđược sử dụng rộng rãi trong dạy học với tên gọi phương pháp đàm thoại gợi
mở (thuật đỡ đẻ)
Như vậy, ngay từ thời cổ đại vấn đề kích thích TTC, chủ động học tập
của học sinh trong dạy học đã được các triết gia quan tâm nghiên cứu Điều
đó khẳng định TTCHT của người học có vai trò đặc biệt quan trọng để nângcao kết quả học tập Những tư tưởng đó đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị
cả về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, do hạn chế lịch sử, nghiên cứu của cáctriết gia thời cổ đại mới chủ yếu đi sâu tìm cách tác động nhằm nâng cao TTCcủa người học, còn các vấn đề khác chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ,nhất là tìm ra các yếu tố tâm lý thuộc về chủ thể người học
Đầu thế kỷ XVII, J.A.Comenxki (1592 – 1670), nhà sư phạm lỗi lạcvới tác phẩm “Lý luận dạy học vĩ đại” đã chỉ ra nguyên tắc dạy học cơ bản
đó là: phát huy tính tự giác, TTC của người học Việc phát hiện và khẳngđịnh nguyên tắc phát huy tính tự giác, tích cực của người học trong dạy học
là một cống hiến lớn lao của J.A.Comenxki cho sự nghiệp giáo dục - đàotạo Đồng thời khẳng định yêu cầu cần thiết phải đi sâu nghiên cứu pháthiện cơ sở tâm lý, con đường, biện pháp phát huy cao nhất TTCHT của họcsinh trong quá trình dạy, học
Đầu thế kỷ XIX, trong hệ thống lý luận dạy, học của K.D.Usinxki (1824 - 1871)nhà sư phạm Nga, tư tưởng về TTC và tính độc lập được coi là yếu tố giữ vai
Trang 8trò quan trọng, là cơ sở vững chắc để học tập có hiệu quả Theo ông, trongnhà trường không nên dồn tất cả TTCHT vào người giáo viên, còn học sinhlại thụ động, mà nên gắng sao cho học sinh tích cực ở mức cao nhất Như vậy,K.D.Usinxki đánh giá rất cao vai trò TTC của người học trong quá trình dạyhọc và nâng cao hiệu quả quá trình này Quan điểm đó hoàn toàn phù hợp với xuhướng dạy học lấy người học làm trung tâm hiện nay Đó là quan điểm dựa trên
cơ sở giáo viên giữ vai trò là người hướng dẫn, định hướng, điều khiển ngườihọc, còn người học là chủ thể tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập
Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, nghiên cứu về TTCHT và cơ sở tâm lý của nóngày càng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, trên nhiều hướng khác nhau:
Hướng thứ nhất, nghiên cứu về bản chất, nguồn gốc TTCHT
Tính tích cực học tập là khái niệm được sự quan tâm của nhiều nhàkhoa học, trong Tâm lý học Xô Viết, H.F.Dobrưnhin là người đầu tiên đưa rakhái niệm “tính tích cực của người học” Theo ông, với ý nghĩa là TTCHT,TTC của người học có quan hệ qua lại trực tiếp với các biểu hiện của TTC ýchí, trí tuệ và TTC nhận thức [110, tr.5 - 82]
Tác giả L.M.Ziubin [111], trong luận án của mình đã đưa ra khái niệm
“Tính tích cực trí tuệ trong hoạt động học tập” Theo tác giả, TTCHT là sựtích hợp đặc biệt của TTC trí tuệ và TTC nhân cách trong HĐHT
Đi sâu nghiên cứu bản chất tâm lý của TTC nhận thức, tác giảA.I.Serbalov đã chỉ ra các yếu tố cấu thành hoạt động nhận thức của học sinh,bao gồm: nhận thức, tình cảm, ý chí Các yếu tố này kết hợp với nhau tạothành các mô hình tâm lý muôn màu muôn vẻ TTC nhận thức đặc trưng choquá trình thay đổi liên tục bên trong của mô hình tâm lý của hoạt động nhậnthức cá nhân, biểu hiện của nó là: khả năng định hướng đối với nhiệm vụnhận thức và định hướng khi nghiên cứu tài liệu; hứng thú sâu sắc đối vớiviệc học tập, đối tượng nghiên cứu; sự tập trung chú ý cao, sự căng thẳng trí
Trang 9tuệ; sự say sưa nhiệt tình đối với nhiệm vụ nhận thức; có ý chí kiên trì, khắcphục khó khăn, huy động suy nghĩ để hoàn thành [dẫn theo 4, tr.175-177]
N.L.Luskanov [112], trong nghiên cứu của mình đã đồng nhất TTCHTcủa học sinh với động lực học tập, thái độ cảm xúc đối với HĐHT
Như vậy, các tác giả trên đã có quan điểm chung ở chỗ cho rằng, TTCHT
có mối quan hệ chặt chẽ với trí tuệ, cảm xúc và ý chí của người học, gắn với nó
là các kiểu loại tích cực, như tích cực trí tuệ, tích cực cảm xúc và tích cực ý chí.Điều này, cho thấy trong học tập để lĩnh hội được tri thức, hình thành kỹ năng,
kỹ xảo đòi hỏi người học phải TTCHT trên cơ cở sở huy động cao các chứcnăng nhận thức, tình cảm và ý chí, đồng thời về phía giáo viên cũng phải biếtkhởi dậy ở người học tình cảm đối với các môn học, tác động vào ý chí Đặc biệt
là tác động vào nhận thức của người học thông qua các nhiệm vụ học tập
Nghiên cứu về nguồn gốc TTCHT, Rob Barnes nhà Tâm lý học Sưphạm Anh, cho rằng TTCHT có nguồn gốc từ nhân cách, là phẩm chất quantrọng của nhân cách, thuộc về cái tôi - thẳng tiến (self – improvers), cái tôi -
tự đánh giá (self – esteem) [104]
A.N.Leonchiev đã chỉ ra rằng, cái thúc đẩy trẻ tham gia HĐHT là nhucầu - động cơ học tập, bởi vì theo ông “đối tượng hoạt động là động cơ thực
sự của hoạt động” [51, tr.117], TTC thể hiện trong trạng thái hoạt động vàđược biểu hiện trong những hành động, hành vi cụ thể của trẻ; TTC chỉ tínhsẵn sàng hoạt động của chủ thể, là nhu cầu về hoạt động với tính chủ động,tâm thế được thể hiện thông qua HĐHT TTCHT là sự tìm kiếm hướng vàothoả mãn nhu cầu học tập, tích cực hoá HĐHT, tạo điều kiện mở rộng, pháttriển nhu cầu, hứng thú học tập TTC để chỉ tính chủ động, hành động mộtcách có ý thức theo chủ ý của chủ thể và nó đối lập với sự bị động, thụ động
X.L Rubinstein thì cho rằng: con người bắt đầu suy nghĩ khi anh ta thấyxuất hiện nhu cầu hiểu biết một cái gì đó
Trang 10Như vậy, nhu cầu học tập với mong muốn mở mang vốn hiểu biết đã thúcđẩy con người học tập, làm nảy sinh, phát triển TTCHT Nhu cầu học tập qui địnhchiều hướng, tính chất của HĐHT, nó là nguồn gốc của TTCHT, nếu không cónhu cầu thì không có TTCHT TTCHT là sự thể hiện của nhu cầu học tập, nhu cầuhọc tập được biểu hiện thoả mãn và không ngừng phát triển thông qua TTCHT
Hướng thứ hai, nghiên cứu về cấu trúc của TTCHT
Nghiên cứu theo hướng này có các tác giả tiêu biểu như: M.G.Iarosepxki,A.V.Petơropxki, A.M.Machiuxkin, A.A.Volochkov, L.N.Pavlopva , Katrina Basker,Brenda Dolsa, Mary Mooney
Trong tác phẩm “Cơ sở Tâm lý học lý thuyết” [39], dưới góc độ Tâm
lý học đại cương, các tác giả M.G.Iarosepxki, A.V.Petơropxki đã chỉ ra cấutrúc TTC, gồm hai thành phần: bên trong và bên ngoài Tác giả
A.M.Machiuxkin chỉ ra cấu trúc chung của hai dạng TTC (tích cực thích ứng
và tích cực sáng tạo) với 2 thành phần, bao gồm:
Một là; các nhu cầu, động cơ là nguyên nhân bên trong trực tiếp thúcđẩy, qui định một dạng (kiểu) tích cực cụ thể
Hai là; các yếu tố tâm lý, điều khiển TTC [58, tr.3 - 6]
Các tác giả Katrina Basker, Brenda Dolsa, Mary Mooney ở trường đạihọc tổng hợp Tây Sitnây (Úc) nghiên cứu cấu trúc TTCHT, đã chỉ ra tínhphức hợp của cấu trúc TTCHT, bao gồm các thành phần bên trong là các độnglực học và các thành phần bên ngoài là các hành vi học tập đúng (positiveBehavior for learning) [103]
Tác giả A.A.Volochkov [109] đã có công trình nghiên cứu về TTCHTtrong cấu trúc nhân cách và chỉ ra: TTCHT như một tiểu hệ thống trong cấutrúc nhân cách, có mối quan hệ chặt chẽ với nhân cách; nó thuộc về nhâncách, không tồn tại ngoài nhân cách Tuy nhiên, nó có tính độc lập tương đối,
có cấu trúc phức tạp và những tính qui luật, vận động phát triển riêng, phản
Trang 11ánh bản chất tự vận động của HĐHT Xét về chức năng, TTC trong cấu trúcnhân cách cũng được xem như một phương thức tồn tại của nó, phương thứctác động qua lại của nhân cách với hiện thực xã hội, trong môi trường học tậpcủa người học Phương thức đó không chỉ đảm bảo cho nhân cách thích ứngvới môi trường học tập, mà còn giúp nhân cách tự hoàn thiện và phát triểnnhư là chủ thể của mối quan hệ đó
Nghiên cứu về cấu trúc TTCHT của sinh viên, L.N Pavlopva đã đưa ra
cấu trúc TTC của sinh viên với 6 thành phần, như là một tổ hợp của 6 kiểuTTCHT bao gồm: tích cực học; tích cực, chủ động về kế hoạch học tập; tíchcực, chủ động xây dựng mục đích học tập; tính tích cực sáng tạo; tính tích cực
Các nhà Tâm lý học trường đại học Ô đét xa, khi nghiên cứu TTCHTcủa học sinh phổ thông cuối cấp [108, tr.50-57] đã chỉ ra được các yếu tố ýchí, trí tuệ và cảm xúc trong cấu trúc TTCHT của người học Kết quả cáccông trình nghiên cứu của các tác giả trên cũng chỉ ra rằng, TTCHT đượchình thành từ các yếu tố tâm, sinh lý của người học Trong đó nổi bật là cácyếu tố ý chí, trí tuệ, cảm xúc tình cảm gắn liền với sự huy động sức mạnh tinhthần, thể chất của người học, hướng vào chiếm lĩnh đối tượng học tập
Trang 12Hướng thứ ba, nghiên cứu nội dung, biểu hiện và các kiểu loại TTCHT
Nghiên cứu những kích thích bên trong của TTCHT, I.F.Khalarmov[42, tr.18 - 33] chỉ ra rằng, tâm trạng tích cực bên trong, nhu cầu đối với kiếnthức, hứng thú học tập, động cơ học tập, tâm thế học tập là những nhân tố bêntrong kích thích TTCHT Ngoài ra, nhân tố đạo đức, bao gồm sự thông suốtnghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm trong học tập, những phẩm chất ý chí nhấtđịnh của người học cũng là nhân tố quan trọng kích thích TTCHT
Nghiên cứu về mô hình và phân loại TTCHT, tác giả V.G.Tretiak [117,tr.25], đã chỉ ra rằng: TTCHT là một hiện tượng tâm lý xã hội phức tạp, bịqui định bởi tính hiệu quả của quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội trongmôi trường giáo dục, huấn luyện có tổ chức V.G.Tretiak xem TTCHT là mộtcấu tạo nhân cách tích hợp, có cấu trúc hệ thống, phản ánh các xu thế động
cơ khác nhau của việc học Ông đã chỉ ra bốn kiểu tích cực học tập (kiểu tậpthể hài hoà, kiểu bó hẹp cá nhân, kiểu mâu thuẫn nội tại và kiểu động lựchọc yếu) Trong đó hai kiểu tập thể hài hoà và bó hẹp cá nhân thường có kếtquả học tập tốt hơn hai kiểu còn lại
Ở hai kiểu tích cực học tập tốt như kể trên, sinh viên hình thành cơ chế
tự điều chỉnh tốt hơn trong các mối quan hệ với môi trường xã hội và môitrường học tập so với các sinh viên thuộc hai kiểu tích cực học tập còn lại
Bàn về các kiểu loại TTCHT các nhà Tâm lý học trường đại học Ô đét
xa cũng đã chỉ ra 4 kiểu TTCHT, bao gồm: kiểu trí tuệ, kiểu tích cực ý chí,tích cực cảm xúc và tích cực tiềm tàng Trong đó, kiểu trí tuệ (ở các học sinhnày những yếu tố bên trong: động cơ, tâm thế, năng lực học…của TTCHTbộc lộ rõ hơn so với các kiểu còn lại)
Tác giả G.I.Sukina (1979) đã có những nghiên cứu sâu sắc về TTC hoạtđộng trí tuệ của học sinh và các biểu hiện của nó Tác giả đã phân biệt nhữngbiểu hiện TTCHT về mặt ý chí như: tập trung chú ý vào vấn đề đang học, kiên
Trang 13trì làm xong các bài tập, không nản bước trước những khó khăn Tác giả chiaTTCHT thành ba loại đó là tích cực tái hiện, bắt chước; tích cực tìm tòi vàtích cực sáng tạo [dẫn theo 15, tr.34].
Hướng thứ tư, nghiên cứu con đường hình thành tính tích cực học tập
Đi từ tiếp cận hoạt động L.X.Vưgotxki, X.L.Rubinstein, A.N.Leonchiev,P.Ia.Ganlperin và J.Piaget cho rằng, bất kỳ hoạt động nào của con người cũngxuất phát từ chỗ nó như một cá nhân, một chủ thể của hoạt động, không có hoạtđộng thì cá nhân không tồn tại trong môi trường tự nhiên và xung quanh mình,chỉ có trong hoạt động và bằng hoạt động thì TTC cũng như tâm lý, ý thức củacon người mới bộc lộ, nẩy sinh, hình thành phát triển Học là một hoạt động,chủ động của người học nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ xảo, kỹ năng nghềnghiệp, làm chủ bản thân, làm chủ xã hội Do đó, người thầy tổ chức cho ngườihọc tích cực tham gia vào HĐHT là yếu tố quan trọng trong dạy học.L.X.Vưgotxki (1896-1934) cho rằng HĐHT chịu sự tác động mạnh mẽ của môitrường xã hội, đặc biệt là hoạt động dạy của thầy giáo Theo ông, dạy học giữvai trò chủ đạo trong hình thành tâm lý [dẫn theo 72, tr.15] Điều đó cho thấynhân tố trực tiếp quyết định sự phát triển các phẩm chất tâm lý của người họcphụ thuộc vào TTCHT của họ Có phát huy cao độ TTCHT người học mới tiếpthu được sự định hướng của người dạy, biến tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được tiếpthu thành kinh nghiệm, phẩm chất nhân cách của bản thân Tuy nhiên, giáo viênphải biết tổ chức phát huy TTCHT của người học, thì lúc đó người học mới
“chuyển” tri thức nhân loại thành tri thức của bản thân họ
X.L.Rubinstein cho rằng bất kỳ một tác động bên ngoài nào cũng thôngqua sự tiếp nhận bên trong của người học và gây nên một phản ánh tâm lýnhất định Khi tích cực tiếp nhận những tác động bên ngoài (sự giảng dạy)người học sẽ bộc lộ TTC nhận thức và cố gắng lĩnh hội bài đã học Nếu phảnứng bên trong của người học đối với tác động bên ngoài (sự giảng dạy) là tiêu
Trang 14cực thì TTC của họ sẽ mang tính chất tiêu cực Điều đó có nghĩa là trong quátrình học tập mỗi người học đều có biểu lộ tâm trạng chủ quan nhất định cóảnh hưởng đến TTC nhận thức, cho nên chỉ có tâm trạng tích cực bên trongngười học mới tích cực, còn không có tâm trạng đó thường người học hay cóthái độ bàng quang và thụ động về trí tuệ Vấn đề đặt ra là giáo viên phải hìnhthành ở người học tâm trạng tích cực đối với học tập và khêu gợi những kíchthích bên trong của TTC nhận thức [42].
Theo Jean Mare Denommé và Madelene Roy để người học học tập tíchcực, người dạy phải có khả năng khơi dậy sự hứng thú của người học và duytrì hứng thú đó trong suốt quá trình học tập bằng cách đưa người học vàonhững tình huống có ý nghĩa đối với người học [59]; J.Dewey (1869 - 1956)chủ trương dạy học phải dựa vào kinh nghiệm thực tế của trẻ, kích thích đượcTTC, hứng thú, tính độc lập tìm tòi tri thức của trẻ; V.Ocon [65] và I.Ia Lecne[49] chỉ ra những cơ sở của dạy học nêu vấn đề và coi dạy học nêu vấn đề làmột phương hướng cơ bản nhằm phát huy TTCHT của học sinh
Hướng thứ năm, nghiên cứu mối liên hệ giữa TTCHT với các yếu tố
tâm lý khác
Nghiên cứu của B.A.Iakunhin về mối liên hệ qua lại giữa TTCHT vớitrí tuệ, xu hướng nghề nghiệp, động cơ và kết quả học tập của sinh viên từnăm thứ nhất đến năm thứ tư [115, tr.72- 94; 116], đã chỉ ra: TTCHT là hình thứcbiểu hiện ra bên ngoài (hành vi) của quá trình động cơ Nó có thể được đo đạcbằng phương pháp bảng hỏi, theo đó mức độ TTCHT được biểu diễn theo cáccấp độ Ở bậc trên là học sinh có trí tuệ cao và ở bậc dưới là học sinh có trí tuệthấp [116] Nghiên cứu mối liên hệ qua lại giữa mức độ TTCHT và hệ thốngđộng cơ học tập của sinh viên, tác giả đã đi đến kết luận: những sinh viên có hệthống động cơ học tập càng cao, càng thống nhất bao nhiêu thì TTCHT càng caobấy nhiêu; kết quả học tập của những sinh viên có TTCHT cao, chủ yếu do yếu
Trang 15tố động cơ và năng lực quyết định Ngoài ra, những sinh viên này còn thể hiệntính độc lập, tính tổ chức, nỗ lực học tập cao hơn so với sinh viên kết quả học tậpthấp [115, tr.72- 94]
Kết quả nghiên cứu trên cũng khẳng định: động cơ học tập là yếu tố tâm
lý quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với thái độ và kết quả học tập của sinhviên; động cơ học tập là nguồn lực bên trong thúc đẩy TTCHT của người học;nếu không có hệ động cơ học tập đúng đắn người học sẽ thiếu tích cực, cố gắngtrong học tập Bởi lẽ, động cơ học tập đúng đắn sẽ giúp người học hình thành,củng cố xu hướng nghề nghiệp ổn định, định hướng, thúc đẩy người học tíchcực, hăng say học tập Nghiên cứu còn chỉ rõ, khi người học có xu hướng nghềnghiệp rõ ràng, ổn định thì họ sẽ có thái độ học tập đúng đắn, luôn tích cực lĩnhhội tri thức khoa học, nỗ lực ý chí và quyết tâm phấn đấu học tập vì nghề nghiệptương lai của mình, từ đó giúp họ vượt qua mọi khó khăn, phấn đấu vươn lêntrong học tập đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường Ngược lại, khingười học có xu hướng nghề nghiệp không rõ ràng hoặc không có xu hướngnghề nghiệp thì việc học tập không thể trở thành nhu cầu bên trong, không cóđộng cơ phấn đấu và do đó, thiếu cố gắng học tập là điều tất yếu xảy ra Nhữngsinh viên đó khó có thể đạt kết quả cao trong quá trình học tập
Cùng với động cơ học tập, nghiên cứu của B.A.Iakunhin còn chỉ ra:năng lực học tập thể hiện ở khả năng tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; tínhđộc lập, sáng tạo, chủ động; khả năng tổ chức quá trình học tập cũng đóng vaitrò quyết định TTCHT Bởi lẽ, TTCHT được tạo ra ngay trong quá trình họctập và bị chi phối mạnh mẽ bởi kết quả học tập của người học Người học chỉ
có thể duy trì, phát triển TTCHT khi họ có nhu cầu, động cơ học tập đúng đắn
và có đủ năng lực chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nghề nghiệptheo mục tiêu, yêu cầu đào tạo Nếu người học có nhu cầu, động cơ học tậpđúng đắn, ổn định nhưng không có đủ năng lực học tập tương ứng sẽ khôngthể duy trì được TTCHT một cách thường xuyên, liên tục
Trang 16Tác giả V.B.Kominxkaia và các đồng nghiệp nghiên cứu mối quan hệgiữa TTC nhận thức với dạy học và đi đến kết luận: TTCHT của trẻ phụ thuộcvào mức độ kiến thức, càng hiểu biết về thế giới xung quanh và càng nắmvững các kỹ năng, kỹ xảo bao nhiêu thì trẻ càng tích cực và chủ động sáng tạobấy nhiêu [dẫn theo 15, tr.9] Do vậy, nhà sư phạm cần kích thích sự ham hiểubiết, bồi dưỡng cách thức học tập để phát huy TTC sáng tạo của trẻ Điều nàycũng dễ hiểu khi chúng ta thấy, học sinh, sinh viên nào trong học tập mà kiếnthức rộng, kỹ năng, kỹ xảo học tập tốt thì càng tích cực học tập và đạt kết quảhọc tập cao và ngược lại, học sinh, sinh viên nào kiến thức, kỹ năng, kỹ xảotrong học tập hạn chế thì sẽ gặp khó khăn trong học tập dẫn đến thiếu cốgắng, tích cực trong học tập Cho nên, có thể khẳng định kỹ năng học tập làmột trong những thành phần tâm lý cơ bản cấu thành TTCHT.
Các nhà Tâm lý học người Đức như: H.Hipsơ, M.Forvec, S.Franz đi sâulàm rõ thái độ, thái độ học tập và các biểu hiện của nó Trong công trình nghiên cứucủa mình S.Franz đã chỉ ra những biểu hiện thái độ học tập tích cực như: trên lớpchú ý nghe giảng, học bài và làm bài đầy đủ, cố gắng vươn lên học đượcnhiều, không vội vàng phản ánh tiêu cực nếu có chỗ nào chưa hiểu hoặckhông nhất trí với bài giảng, đảm bảo kỷ luật để học tốt, cố gắng đạt thànhtích học tập tốt và nâng cao thành tích học tập của mình một cách trung thực,thích độc lập thực hiện nhiệm vụ học tập, hăng hái nhiệt tình trong giờ thảoluận và chữa bài tập, hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nghiêm túc vàgiữ gìn tài liệu học tập cẩn thận [dẫn theo 38, tr.65-66, 15]
Kết quả nghiên cứu của S.Franz là một trong những cơ sở để đánh giáTTCHT của người học Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét thái độ học tập tích cựcdưới góc độ hành vi bên ngoài của người học thì chưa đủ Mà còn phải xem
nó trên cả góc độ các yếu tố bên trong như các biểu hiện về động cơ học tập,nhu cầu học tập, xúc cảm, tình cảm và ý chí …của người học đó như thế nào?
Trang 17Tóm lại, ở nước ngoài đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về TTC,TTCHT Các nghiên cứu đã chỉ ra một bức tranh chung về TTCHT đặt cơ sởvững chắc cho việc lập luận và đề xuất phương hướng, giải pháp nâng caoTTCHT của học sinh, sinh viên Tuy nhiên, các nghiên cứu còn mang tínhriêng rẽ, mới đi vào từng mặt, hoặc chú ý vào một khía cạnh của TTCHT nhưmặt động cơ, mặt tổ chức HĐHT hoặc đặc điểm tâm lý cá nhân…Một sốnghiên cứu lại đi vào TTC nhận thức, các mối quan hệ giữa TTC và nhân cách,TTC và HĐHT chưa được làm sáng tỏ; các nghiên cứu mới chủ yếu tập trunglàm rõ nguồn gốc động lực (nhu cầu, động cơ) của TTCHT, chưa nghiên cứuyếu tố điều khiển, điều chỉnh, yếu tố kết quả hoạt động của chủ thể và chưa chỉ
ra được một cách hệ thống các yếu tố tâm lý với vai trò là cơ sở tâm lý củaTTCHT Đây là cơ sở để tác giả đi sâu nghiên cứu trong luận án
1.2 Các nghiên cứu ở trong nước về tính tích cực học tập, cơ sở tâm lý của tính tích cực học tập
Dựa trên lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quanđiểm, đường lối giáo dục của Đảng cộng sản Việt Nam về TTC của con ngườinói chung và TTCHT của học sinh, sinh viên nói riêng Kế thừa kết quảnghiên cứu của các nhà Tâm lý học Liên Xô, ở Việt Nam đã có nhiều tác giảquan tâm nghiên cứu TTCHT cũng như cơ sở tâm lý của TTCHT ở ngườihọc Các hướng nghiên cứu cơ bản đều theo các hướng nghiên cứu ở nướcngoài, bao gồm:
Hướng thứ nhất, nghiên cứu về nguồn gốc TTCHT
Nghiên cứu về nguồn gốc TTCHT, các nhà Tâm lý học Việt Nam đềuthống nhất quan điểm cho rằng: nhu cầu chính là nguồn gốc bên trong tạo nênTTC của con người Nhu cầu thúc đẩy con người tích cực hoạt động để thoảmãn đòi hỏi của mình Nhu cầu về kiến thức có ý nghĩa quan trọng đối vớiHĐHT của học sinh, nó là điểm khởi đầu để kích thích TTCHT Nếu không có
Trang 18nhu cầu nhận thức, nhu cầu nâng cao tầm hiểu biết của bản thân thì không thể
có TTCHT Do vậy, muốn nâng cao TTCHT phải biết khơi dậy ở người họcnhu cầu, hứng thú học tập
Các tác giả Phạm Minh Hạc, Phạm Thành Nghị cho rằng: có ba nguồn gốctác động mạnh mẽ đến quá trình học tập, đến mục đích và kết quả học tập đó là:
- Nguồn gốc bên trong được xác định bởi nhu cầu của con người trongHĐHT, có thể là nhu cầu thông tin, nhu cầu nhận thức, nhu cầu xã hội (muốn
có ích cho xã hội, muốn đạt mục đích xã hội)
- Nguồn gốc bên ngoài là những điều kiện xã hội của hoạt động sống,yêu cầu, hy vọng, khả năng có quan hệ với con người
- Nguồn gốc cá nhân xác định bởi hứng thú, mong muốn, tâm thế, niềmtin, thế giới quan, biểu tượng về bản thân
Như vậy, nguồn gốc thúc đẩy TTCHT chính là nhu cầu học tập Cùngvới nhu cầu, hứng thú, niềm tin, lý tưởng, tâm thế sẵn sàng học tập… lànhững yếu tố rất quan trọng qui định TTCHT của người học
Hướng thứ hai, nghiên cứu về bản chất, biểu hiện và các thành tố tâm
lý của tính tích cực học tập
Các tác giả Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Trần Trọng Thuỷ,Nguyễn Quang Uẩn, trên cơ sở tiếp cận hoạt động - nhân cách cho rằng, nhâncách là chủ thể có ý thức của hoạt động cải tạo hiện thực, TTC là một thuộctính của nhân cách TTC của nhân cách được cấu thành bởi các thành tố tâm lýnhư: nhu cầu, động cơ, hứng thú, niềm tin, lý tưởng Các thành tố tâm lý nàyluôn tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau cùng tạo nên TTCHT của học sinh,sinh viên Đồng thời, với quan niệm dạy học là một dạng hoạt động đặc biệtcủa hoạt động con người, các tác giả trên đã chỉ ra: khi phân tích dạy và họcnhư một hoạt động thì phải thấy trong đó mục đích, động cơ, nội dung, cácphương thức hoạt động diễn ra trong sự căng thẳng nhất định của ý chí cũng
Trang 19như sức mạnh thể lực và trí tuệ, các phương thức điều chỉnh hoạt động và kiểmsoát hiệu quả của chúng [29] Như vậy, cùng với các yếu tố kích thích thúc đẩyngười học tích cực học tập thì yếu tố thực hiện và yếu tố điều khiển, điều chỉnhHĐHT là những yếu tố quan trọng cấu thành TTCHT của người học.
Tác giả Nguyễn Ngọc Phú khi nghiên cứu về “Hoạt động học và vấn đềtích cực hoá hoạt động học tập của học viên” [68], đã chỉ ra đặc trưng tâm lýhoạt động học của học viên nhà trường quân sự, cấu trúc tâm lý của hoạt độnghọc và vấn đề tích cực hoá HĐHT của học viên Theo tác giả, muốn tích cựchoá HĐHT của học viên phải hình thành cho người học động cơ, mục đíchhọc tập đúng đắn; gắn liền với việc rèn luyện các hành động học tập cụ thểcho học viên và hình thành, củng cố xu hướng nghề nghiệp quân sự ổn định.Tích cực hoá HĐHT của học viên còn phải thông qua các tác động tích cựccủa tập thể lớp học, thông qua các chính sách xã hội cụ thể
Tác giả Hoàng Thị Tuyết nghiên cứu về “Đặc điểm tâm lý của hoạtđộng học tập tích cực” [89] đã chỉ ra, TTC là tính sẵn sàng HĐHT; là nhu cầuđối với HĐHT; là sự chủ động và tự giác của hành động nhận thức Tác giảcũng chỉ ra ba đặc trưng cơ bản của TTCHT đó là:
- Tính chủ động của chủ thể đối với tác động sư phạm bên ngoài
- Sự chuyển động, sự biến đổi trạng thái đang hoạt động nội tại
- Sự thích nghi cao độ, sự thích ứng, sự cải tạo và sự sáng tạo trong học tập.Trong đó tác giả còn chỉ ra rằng TTC của HĐHT biểu hiện khá phứctạp trong tâm lý cá nhân người học và biểu hiện ra trên ba phương diện: tíchcực về nhận thức; tích cực về thái độ; tích cực về tình cảm, cảm xúc: quantâm, hứng thú, nhu cầu, mong muốn, tự trọng
Tác giả Trần Trung [81], quan niệm TTCHT là hình thức TTC nhậnthức, được biểu hiện ở: nhu cầu, hứng thú trong học tập, khao khát hiểu biết,
có xúc cảm học tập thể hiện ở niềm vui, sự sốt sắng thực hiện nhiệm vụ học
Trang 20tập, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập một cách tự giác theo yêu cầu củagiáo viên, có sự nỗ lực về ý chí, thể hiện ở sự kiên trì nhẫn nại vượt khó khigiải quyết nhiệm vụ nhận thức, có khả năng vận dụng kiến thức khi gặp tìnhhuống mới, có sáng tạo trong giải quyết các vấn đề tìm ra cái mới.
Tác giả Lê Thị Xuân Liên với quan niệm TTCHT thực chất là TTCnhận thức đã chỉ ra các hình thức biểu hiện của TTCHT như là: xúc cảm họctập, chú ý, hành vi và kết quả lĩnh hội Đồng thời tác giả cũng chỉ ra TTCHT
có mối liên hệ nhân quả với phẩm chất nhân cách của người học, bao gồm:tính tự giác; tính độc lập tư duy; tính chủ động và tính sáng tạo [53]
Luận án tiến sĩ Tâm lý học của Đỗ Thị Coỏng với đề tài “Nghiên cứutính tích cực học tập môn Tâm lý học của sinh viên Đại học sư phạm HảiPhòng”, đã chỉ ra cơ sở lý luận về TTCHT môn Tâm lý học, đặc biệt là đưa rađược các biểu hiện TTCHT nói chung và TTCHT môn Tâm lý học nói riêngtrên bốn mặt đó là: về nhận thức, thái độ, hành động và hiệu quả [15, tr.35-36]
Như vậy, các nhà Tâm lý học Việt Nam trong các công trình nghiên cứucủa mình đều có những quan điểm chung về các yếu tố qui định đến TTCHTcủa học sinh, sinh viên như là nhu cầu, động cơ, mục đích, hứng thú, niềm tin,
lý tưởng, ý chí, năng lực học tập …đồng thời các tác giả cũng đã đưa ra cácbiểu hiện TTCHT của học sinh, sinh viên dựa trên các chỉ số về tính giá trị,tính sáng tạo, tính phát triển, và tính hiệu quả của nó Đây là cơ sở quan trọng
để nghiên cứu chỉ ra cơ sở tâm lý của TTCHT cũng như các biểu hiện TTCHTcủa học viên đào tạo SQQĐ
Hướng thứ ba, nghiên cứu về sự hình thành và các yếu tố ảnh hưởng
đến TTCHT
Về sự hình thành TTCHT, các tác giả Phan Trọng Ngọ, Phạm Thành Nghị,Nguyễn Văn Thàng, Lê Ngọc Lan chỉ ra rằng: HĐHT của học sinh, sinh viên làmột quá trình nhận thức tích cực, là hoạt động đặc thù chỉ có ở con người nhằm
Trang 21lĩnh hội tri thức nhân loại chuyển thành tâm lý, ý thức của bản thân Muốn đạtđược mục đích dạy học, phải tạo ra được TTC trong HĐHT của học sinh, sinhviên Các tác giả cũng thống nhất cho rằng, việc hình thành TTCHT của họcsinh, sinh viên gắn liền với quá trình hình thành hoạt động học ở họ Tác giảPhan Trọng Ngọ trong tác phẩm “Tâm lý học hoạt động và khả năng ứngdụng vào lĩnh vực dạy học” [60], đã chỉ ra: muốn hình thành TTCHT cần phảihình thành cho người học các đơn vị chức năng của HĐHT như động cơ, mụcđích học tập, để qua đó hình thành thao tác, hành động và hoạt động học
Tác giả Trương Thành Trung trong tác phẩm “Hình thành động cơ đúngđắn trong hoạt động học tập của sinh viên đại học quân sự hiện nay” cho rằng:
để cho sinh viên đại học quân sự chăm hơn, các nhà quản lý, các nhà giáokhông chỉ kêu gọi họ cố gắng, mà điều quan trọng là biết dùng các biện pháptác động nhằm hình thành, phát triển nhu cầu, động cơ học tập đúng đắn ở họ.Việc quan tâm giáo dục xây dựng niềm tin, phát triển nhu cầu lĩnh hội tri thứcnghề nghiệp, rèn luyện thói quen hành vi kỷ luật và hình thành nhu cầu, nănglực tự giáo dục sẽ nâng cao được vai trò chủ thể của sinh viên trong dạy học
và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của các nhà trường quân đội [84,tr.19] Tác giả cũng cho rằng, đánh giá khách quan chính xác kết quả học tậpcủa sinh viên là cách tác động có hiệu quả tới động cơ học tập, rèn luyện củasinh viên đại học quân sự [84, tr.17]
Hai tác giả Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị trong tác phẩm “Tâm lýhọc sư phạm đại học” [72] đã trình bày những cơ sở tâm lý của hoạt động dạyhọc Trong đó chỉ ra vấn đề tích cực hoá hoạt động nhận thức của sinh viên,trên cơ sở đó xác định các phương pháp, cách thức dạy học nhằm tăng cườnghoạt động nhận thức cho sinh viên đại học
Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy, TTCHT của học sinh, sinhviên được hình thành trong quá trình hình thành hoạt động học Nó gắn liền
Trang 22với quá trình hình thành nhu cầu, động cơ, mục đích học tập; rèn luyện hànhđộng học tập và quá trình hình thành, củng cố, phát triển xu hướng nghềnghiệp của người học Để tích cực hoá HĐHT của người học phải trên cơ sởnâng cao TTC, tinh thần trách nhiệm của người dạy, vai trò tác động của tậpthể lớp học và đảm bảo tốt về điều kiện, cơ sở vật chất, phương tiện, tài liệuhọc tập cho người học
Về các yếu tố ảnh hưởng đến TTCHT, tác giả Hoàng Thị Thu Hà trongtác phẩm “Các yếu tố kích thích hoạt động học tập của sinh viên Đại học Sưphạm” [26] đã chỉ ra các yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến HĐHTcủa sinh viên đại học sư phạm, bao gồm: sức hấp dẫn của bài giảng, nội dung,chương trình sinh động thiết thực, phương pháp giảng dạy phù hợp, không khíthi đua học tập trong lớp, điều kiện phương tiện học tập tốt, tài liệu học tậpphong phú, người học có ý thức tự khẳng định mình, họ muốn làm chủ trithức và bản thân có nhu cầu học tập
Như vậy, ở Việt Nam nghiên cứu về TTCHT đã thu hút nhiều tác giảtrong và ngoài quân đội Các nghiên cứu được đề cập dưới nhiều góc độ khácnhau: tích cực hoá hoạt động nhận thức, cấu trúc tâm lý của hoạt động học,các yếu tố kích thích HĐHT, hình thành TTC nhận thức, phương pháp pháthuy TTC nhận thức, TTCHT các môn học…Kết quả nghiên cứu đã góp phầnnâng cao TTCHT của học sinh, sinh viên và chất lượng giáo dục - đào tạo ởnước ta Tuy nhiên, các nghiên cứu về TTC và nhất là các yếu tố cấu thànhTTCHT của học sinh, sinh viên nói chung và học viên trong các nhà trườngquân đội nói riêng còn ít được quan tâm nghiên cứu Hiện tại chưa có côngtrình nào có tính hệ thống và trực tiếp nghiên cứu về cơ sở tâm lý của TTCHT
và đặc biệt chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu dưới góc độ cơ sở tâm lýcủa TTCHT ở học viên đào tạo SQQĐ
Trang 233 Hiện nay, chưa có tác giả nào chính thức nghiên cứu một cách cơ bản
và hệ thống về cơ sở tâm lý của TTCHT ở học viên đào tạo SQQĐ Vì vậy,chúng tôi lựa chọn vấn đề này để nghiên cứu
Trang 24Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ SỞ TÂM LÝ CỦA TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP Ở HỌC VIÊN ĐÀO TẠO
SĨ QUAN QUÂN ĐỘI 2.1 Những khái niệm cơ bản
2.1.1 Tính tích cực học tập
Tính tích cực học tập là một dạng của TTC, gắn với HĐHT và biểu hiện
ra trong quá trình học tập Vì vậy, để làm rõ khái niệm này cần phải đi từ quanniệm chung về TTC với tư cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học
Trong Tâm lý học và các khoa học có liên quan, TTC được dùng để chỉ
3 loại hiện tượng như sau:
- Chỉ một hoạt động cụ thể nào đó của cá nhân nhằm nhận thức và cảitạo môi trường xung quanh
- Chỉ trạng thái đối lập với tính thụ động, không chỉ ở trạng thái chủ thểđang hoạt động mà còn ở dạng tiềm ẩn bên trong, ở trạng thái sẵn sàng hoạtđộng, trạng thái tỉnh táo…
Trang 25- Chỉ tính sáng kiến, tính sáng tạo, sự khôn khéo trong hoạt động.Nghĩa là chủ thể hành động có sáng kiến, có chủ ý, được chỉ dẫn bởi động cơbên trong chứ không vô tâm, không máy móc; đối lập với tính phản ứng, hànhđộng bất cập, vội vàng của chủ thể.
Tính tích cực là một phẩm chất quan trọng của con người Nhờ có TTC
mà con người tiếp thu có chọn lọc các tác động của tự nhiên, xã hội Đồngthời, tìm ra con đường, biện pháp cải tạo tự nhiên, xã hội nhằm thoả mãn nhucầu của bản thân và xã hội TTC là vấn đề trung tâm được sự quan tâm củanhiều nhà Tâm lý học
Xem xét từ góc độ chức năng, vai trò của chủ thể với thế giới bên ngoàicác tác giả S.Đ.Smiznov, V.P.Diatrencô, V.Ia.Romanov cho rằng, TTC thể hiệntính chủ định của ý thức, tính chủ động của chủ thể với thế giới bên ngoài Nóiđến TTC là nói đến tính chủ động, là thông số đo sự chuyển động, sự biến đổihoạt động tâm lý của chủ thể gắn liền với tiêu hao năng lượng tâm lý và sinh lý.TTC không chỉ thực hiện chức năng thích nghi mà cao hơn là sự thích ứng, sựcải tạo, sáng tạo của chủ thể với thế giới bên ngoài [dẫn theo 74, tr.65]
Các tác giả M.I.Lixina, A.N.Leonchiev, V.S.Iukevich cho rằng TTC làtrạng thái hoạt động và được thể hiện trong những hành động, hành vi cụ thểcủa trẻ em TTC chỉ tính sẵn sàng hoạt động, là nhu cầu đối với hoạt động.Yếu tố nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với TTC, nó là một thành tố tâm lýtạo nên nguồn gốc, động lực của TTC, nếu không có nhu cầu thì không cóTTC TTC để chỉ tính chủ động, hành động một cách có ý thức, theo chủ ýcủa mình đối lập với sự bị động, thụ động [dẫn theo 74, tr.66]
Tác giả Vũ Dũng chỉ ra các đặc trưng của TTC, bao gồm:
- Sự chi phối mạnh mẽ của các hoạt động đang diễn ra
- Tính đặc thù của những trạng thái bên trong của chủ thể ở thời điểmhành động
- Tính quy định của mục đích hành động trong hiện tại
Trang 26- Tính siêu hoàn cảnh (tức sự vượt quá các giới hạn của mục đích ban đầu).
- Tính bền vững tương đối của hành động trong sự tương quan với mụcđích đã thông qua [20, tr.354-355]
Như vậy, nghiên cứu về TTC được tiếp cận dưới nhiều góc độ, mỗi góc
độ đưa ra các quan điểm khác nhau, dưới góc độ hoạt động – nhân cách chúngtôi cho rằng:
- Tính tích cực là phẩm chất nhân cách của con người, mang bản chất
xã hội TTC của con người không chỉ bị qui định bởi ý thức, những đặc điểmtâm lý của nó mà còn bị qui định bởi các tác động của quan hệ xã hội, môitrường xã hội do chính con người sản sinh ra và sử dụng TTC là phẩm chất xãhội của con người, là năng lực tác động qua lại với môi trường và bắt nguồn từnhu cầu và lợi ích của con người, nó tồn tại như một khát vọng bên trong củanhân cách hướng tới những hành động phù hợp [2, tr 217-219] TTC chịu sựqui định của nhiều yếu tố như: nhu cầu, động cơ, hứng thú Nó cũng quan hệmật thiết với tính tự lực, với xúc cảm, ý chí
- Tính tích cực liên quan chặt chẽ với hoạt động, vì hoạt động chính lànăng lực của con người sản xuất ra các sản phẩm mang ý nghĩa không chỉ cho
cá nhân mà cho xã hội Do vậy, TTC vừa là đặc trưng nói lên sự phát triển nhâncách, vừa là đặc trưng nói lên sự nỗ lực cố gắng, sự chủ động, sáng tạo của chủthể làm cho hoạt động đó tốt hơn, hiệu quả hơn Sự nỗ lực của TTC diễn ra trênnhiều mặt: về sinh lý (đòi hỏi chi phí nhiều năng lượng cơ bắp), về tâm lý (tăngcường các hoạt động nhận thức, cảm xúc – tình cảm, ý chí…), về xã hội (đòihỏi tăng cường mối liên hệ với môi trường bên ngoài…)[88, tr 463 - 464] Nộidung TTC bao hàm những ý nghĩa có tính giá trị của nhân cách Vì vậy, nó chỉ
có thể nghiên cứu thông qua hoạt động TTC và hoạt động đều nhằm tới cáchành động cải tạo hiện thực, làm ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu của chủ thể.Tuy nhiên, TTC khác hoạt động ở chỗ nếu hoạt động nhằm cải tạo đối tượngbên ngoài thì TTC lại nhằm cải tạo chính bản thân hoạt động, sao cho nó diễn
ra tốt hơn, đúng hơn với yêu cầu đòi hỏi khách quan
Trang 27Tóm lại, TTC là một phẩm chất nhân cách, phản ánh toàn bộ nhu cầu, ýhướng, tâm thế, khả năng thích ứng của cá nhân trong đời sống TTC luôn gắnvới hoạt động, bị qui định bởi hoạt động đồng thời là yếu tố nâng cao hiệuquả hoạt động Nội dung và cấu trúc của TTC liên quan chặt chẽ với nộidung, cấu trúc của hoạt động và chủ thể tiến hành.
* Tính tích cực học tập
Tính tích cực học tập là một dạng của TTC, được nhiều tác giả trong vàngoài nước quan tâm nghiên cứu, dưới nhiều góc độ khác nhau Tác giả TrầnTrung cho rằng TTCHT và TTC nhận thức là hai khái niệm không phải đồngnhất nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau TTCHT là một hình thức của TTCnhận thức [81, tr.42], Tác giả Trần Bá Hoành xem TTCHT thực chất là TTCnhận thức [33, tr.26]
Thực ra giữa TTCHT và TTC nhận thức có liên quan chặt chẽ với nhaunhưng không đồng nhất, có một số trường hợp có thể TTCHT thể hiện ở sự tíchcực bên ngoài mà không phải là tích cực trong tư duy [87, tr.270] TTCHThướng vào giải quyết các nhiệm vụ học tập, thường rộng hơn, với nhiều mốiquan hệ hơn là TTC nhận thức, TTC nhận thức chủ yếu nhằm khám phá tính quiluật của sự vật, hiện tượng Nếu coi học tập là một quá trình nhận thức đặc biệt,thì TTCHT và TTC nhận thức đều phải tiến hành các thao tác trí tuệ cũng như sựtham gia của toàn bộ nhân cách người học trong quá trình chiếm lĩnh tri thứcnhân loại để chuyển thành kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng và nhân cách của bản thân
Do đó, xem xét TTCHT phải thấy mối quan hệ của nó với TTC nhận thức
Tác giả I.F.Kharlamov và Trần Bội Lan xem TTCHT với nghĩa là cáctrạng thái tâm lý, trạng thái hoạt động [42, 48] Tác giả R.A Nhizamov xemTTCHT như là một hành động ý chí, tác giả L.Aristova [5, tr.31-39] vàNguyễn Ngọc Bảo [8] xem TTCHT ở góc độ thái độ…
Nghiên cứu TTCHT dưới góc độ hoạt động – nhân cách là hướng đượcnhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và đó cũng là hướng mà luận án đề cập
Trang 28Khi tiếp cận TTCHT dưới góc độ nhân cách tác giả A.F.Lazuxki đã chorằng: TTCHT là sản phẩm của mối quan hệ nhân cách với môi trường học tập.Trong đó, TTCHT là công cụ tâm lý để nhân cách thích ứng với môi trườnghọc tập Trong môi trường học tập đó người học thể hiện TTC không chỉ làhoạt động thao tác trên đối tượng là các vật thể, nội dung bài giảng mà cả hệthống quan hệ xã hội, giá trị xã hội, các phẩm chất, các qui tắc, qui định củamôi trường học tập Môi trường học tập thay đổi nên TTCHT phải sáng tạo.Bởi vì, TTCHT phụ thuộc vào yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan.
Tác giả A.N.Leonchiev, X.L.Rubinstein khi nghiên cứu TTCHT đãphân tích mối quan hệ giữa TTC và HĐHT, các ông cho rằng TTCHT vừa lớnhơn, vừa nhỏ hơn khái niệm HĐHT Lớn hơn trong trường hợp TTCHT làmột phẩm chất nhân cách Phẩm chất đó được tạo nên bởi tổng hợp một hệthống cơ động của các nhân tố, bao gồm: nhu cầu, động cơ, mục đích họctập… Đồng thời, còn được thể hiện thông qua cảm xúc, thái độ của người họctrước tác động của môi trường xã hội, học tập Nghiên cứu TTCHT phải chú ý
cả đến các yếu tố nội lực động cơ có sẵn, có trước, vô thức chưa chủ ý củangười học Còn TTCHT nhỏ hơn HĐHT vì thực chất nó là thành phần tâm lýđiều khiển, điều chỉnh để nâng cao, phát triển kết quả hoạt động này
Về cấu trúc TTCHT tác giả X.L.Rubinstein cho rằng nó có cấu trúctương ứng với HĐHT, đều có thành phần động cơ thúc đẩy, mục đích và thaotác Tuy nhiên, các thành phần này có nội dung riêng, phản ánh bản thânHĐHT nhằm làm nó tốt hơn, hiệu quả hơn L.N.Pavlopva cho rằng thànhphần thúc đẩy của TTC là khác với động cơ học tập bởi vì nội dung của nó lànhằm nâng cấp, phát triển theo chiều sâu HĐHT
Tiếp cận dưới góc độ hoạt động - nhân cách tác giả Hoàng Thị Tuyết[89] cho rằng, TTCHT là tính sẵn sàng HĐHT, là nhu cầu đối với HĐHT, là
sự chủ động và tự giác của hành động nhận thức; tự giác và hứng thú là haiyếu tố tạo nên TTCHT [34, tr.12]; TTCHT có ba đặc trưng đó là: tính chủ
Trang 29động của chủ thể đối với tác động sư phạm bên ngoài; sự chuyển động, sựbiến đổi trạng thái đang hoạt động nội tại và sự thích nghi cao độ, sự thíchứng, sự cải tạo và sự sáng tạo trong học tập [89, tr.15]
Như vậy, TTCHT của người học là một khái niệm đã được nhiều nhà Tâm
lý học nghiên cứu, các nghiên cứu đã làm sáng tỏ nội dung của nó trong mối quan
hệ chặt chẽ với hai khái niệm nhân cách người học và HĐHT Từ các phân tích ởtrên tiếp cận dưới góc độ hoạt động – nhân cách, chúng tôi cho rằng:
Tính tích cực học tập là một phẩm chất nhân cách của người học, có cấu trúc phức tạp, với các thành phần tâm lý cơ bản, gồm: hệ thống động lực thúc đẩy học tập đúng, mạnh; kỹ năng học tập phù hợp với dạy học ở nhà trường và
nỗ lực ý chí học tập cao; được biểu hiện ra ở hành vi, hành động, kết quả học tập đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường.
* Tính tích cực học tập là một phẩm chất nhân cách của người học, bởi vì:
Nói đến TTCHT là trong đó chứa đựng yếu tố nhu cầu, động cơ, thái
độ học tập tích cực của người học Tích cực học tập là nhằm trả lời câu hỏi:tại sao học? học là vì ai? cho cái gì? học thế nào cho tốt? khi nào học? họcbằng cách nào? học cái gì? học những môn gì?…
Tính tích cực học tập phản ánh tính tự sinh, tự phát triển, lúc đầu ít cóthái độ tích cực càng về sau theo sự phát triển của nhân cách, TTCHT pháttriển càng cao, theo tính giai đoạn và mang tính chu kỳ, khép kín, bắt đầu từtiềm năng bên trong và kết thúc ở kết quả đạt được
Tính tích cực học tập gắn với xu hướng nghề nghiệp của người học,trong HĐHT nghề nghiệp thì những động lực thôi thúc có một nghề, nắmchắc nghề, những nguyện vọng khát khao sử dụng nghề, hiểu sâu sắc ý nghĩacủa nghề nghiệp đối với bản thân và xã hội luôn được đặt ra
Tính tích cực học tập thể hiện sự tự khẳng định, tự ý thức, là biểu hiệnphẩm chất đạo đức của người học, thể hiện ở các mối quan hệ trong học tậpnhư: quan hệ với thầy cô, với bạn bè, lớp học, nhà trường…
Trang 30Tính tích cực học tập phản ánh kỳ vọng của nhân cách, trình độ pháttriển của nhân cách (phẩm chất và năng lực) thực hiện và hoàn thành tốtnhiệm vụ học tập.
* Tính tích cực học tập có quan hệ chặt chẽ với hoạt động học tập, bởi vì:
Bản chất TTCHT là quá trình chủ thể tích cực, chủ động chiếm lĩnhhành động học tập nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lựcbản thân thoả mãn nhu cầu bản thân và xã hội Do đó, có thể nói TTC hoạtđộng học tập khác với TTC hoạt động đối tượng ở chỗ TTC của hoạt động đốitượng nhằm cải tạo đối tượng còn TTCHT hướng vào cải tạo, nâng cấp chínhbản thân HĐHT
Tính tích cực học tập gắn liền và biểu hiện ra trong HĐHT Đó là mộthoạt động đặc biệt mà chủ thể phải sử dụng mọi năng lực tâm lý của mình đểchiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp; chiếm lĩnh cách thức,phương pháp học tập, rèn luyện để phát triển phẩm chất và năng lực bản thântheo mục tiêu, yêu cầu đào tạo Điều đó cho thấy, muốn nghiên cứu làm rõTTCHT và cơ sở tâm lý của TTCHT phải đi từ tiếp cận hoạt động, phải gắnvới HĐHT của người học
* Tính tích cực học tập bao gồm TTC bên trong và bên ngoài, TTC bên
trong phản ánh những nội dung căn bản bên trong như nhu cầu, động cơ, thái
độ học tập, ý chí học tập…, có nguồn gốc từ bên ngoài và bị chi phối bởi cáibên ngoài Mặt biểu hiện bên ngoài của TTCHT được thể hiện qua hành vi,hành động và kết quả học tập của người học
2.1.2 Tính tích cực học tập của học viên đào tạo sĩ quan quân đội
Hoạt động học tập của học viên đào tạo SQQĐ là hoạt động chủ đạonhằm lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp quân sự; hình thành vàphát triển những phẩm chất và năng lực cần thiết đáp ứng chức trách, nhiệm vụcông tác sau này ở đơn vị Học tập của học viên đào tạo SQQĐ là quá trình họcviên tham gia vào hoạt động giáo dục, đào tạo theo mục tiêu, yêu cầu đã xác
Trang 31định, được bắt đầu từ các hoạt động học trên lớp, nghiên cứu, xêmina, thựchành, thực tập đến các hoạt động ôn thi, kiểm tra, đánh giá kết quả…thi tốtnghiệp ra trường Đặc trưng cơ bản HĐHT của học viên đào tạo SQQĐ là luôndiễn ra dưới sự chỉ đạo của người dạy và chịu sự tác động của môi trường giáodục - đào tạo, của nội dung chương trình, phương pháp, phương tiện giảng dạycùng với những tác động sư phạm từ phía giảng viên, cán bộ quản lý, các lựclượng giáo dục và tập thể học viên trong nhà trường Phương thức học tập củahọc viên mang tính đặc thù là không chỉ học trên sách vở, thư viện, phòng thínghiệm mà còn gắn với vũ khí, trang bị kỹ thuật chiến đấu của bộ đội và diễn
ra trong không gian rộng, trên thao trường, bãi tập, địa hình dã ngoại khác nhaugắn với các tình huống chiến đấu có thể xảy ra Đồng thời, HĐHT của học viênđào tạo SQQĐ được tổ chức chặt chẽ, với cường độ cao, căng thẳng về trí lực,thể lực, diễn ra trong môi trường kỷ luật quân đội hết sức nghiêm ngặt
Trong điều kiện đó muốn HĐHT đạt kết quả cao học viên phải huy động
nỗ lực cao về trí tuệ, cảm xúc - tình cảm và ý chí; tích cực, tự giác phấn đấu vươnlên trong học tập, rèn luyện Mức độ huy động nỗ lực cao đến đâu sẽ qui định kếtquả học tập của học viên đạt đến mức độ đó Tuy nhiên, sự huy động nỗ lực caotrong học tập của học viên luôn phụ thuộc vào một loạt các nhân tố cả bên trong
và bên ngoài, các nhân tố bên trong qui định TTCHT của học viên, bao gồm tất
cả các dạng, các yếu tố của sự kích thích thúc đẩy, đó là nhu cầu, động cơ, hứngthú, say mê khát vọng, niềm tin, lý tưởng, nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, tâm thếtrong học tập…Các nhân tố bên ngoài tác động đến TTCHT của học viên baogồm: yếu tố thuộc về giảng viên, cán bộ quản lý học viên, môi trường sư phạmcủa nhà trường, tập thể lớp học và sự tác động của môi trường xã hội Trong mốiquan hệ giữa các nhân tố bên trong và bên ngoài, các nhân tố bên trong đóng vaitrò trực tiếp quyết định, các nhân tố bên ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng Tuynhiên, các điều kiện và nhân tố đó phải đạt tới ở chỗ học viên nhận thức được vàbiến các yêu cầu đòi hỏi vốn là khách quan thành nhân tố chủ quan, tiến tới sự say
mê, tìm tòi, tích cực sáng tạo trong HĐHT
Trang 32Dựa trên quan niệm về TTCHT đã được xác định ở 2.1.1, chúng tôi cho rằng:
Tính tích cực học tập của học viên đào tạo SQQĐ là một phẩm chất nhân cách, có cấu trúc phức tạp, với các thành phần tâm lý cơ bản, gồm: hệ thống động lực thúc đẩy học tập đúng, mạnh; kỹ năng học tập phù hợp với dạy học ở nhà trường và nỗ lực ý chí học tập cao; được biểu hiện ra ở hành vi, hành động, kết quả học tập đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường quân đội.
Nguồn gốc TTCHT của học viên bắt nguồn từ nhu cầu học tập, đó làhọc tập để nắm vững tri thức khoa học, hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghềnghiệp quân sự, học tập để trở thành người SQQĐ có đủ phẩm chất năng lựcđáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Động cơ học tập của học viên được hình thành trên cơ sở nhu cầu học tập,được cụ thể hoá ở mục đích học tập, là lực thúc đẩy các hành động học tập
Tính tích cực học tập của học viên còn là sự sẵn sàng của họ vớiHĐHT, là sự nỗ lực cố gắng để thực hiện mục đích học tập Sự nỗ lực ấy diễn
ra trên nhiều mặt: cả về tâm lý, sinh vật và xã hội Đó là sự huy động cả thầnkinh, cơ bắp, các hoạt động về cảm giác, tri giác, tưởng tưởng, tư duy đếntăng cường các mối quan hệ xã hội, giao tiếp trong HĐHT TTCHT của họcviên biểu hiện tập trung ở sự nỗ lực về trí tuệ, ở mức độ tích cực vượt khótrong học tập, mức độ cảm xúc - tình cảm, ý chí đối với HĐHT, ở các thaotác, cách thức học tập phù hợp và quan hệ học tập, cách ứng xử đúng mực
Tính tích cực học tập của học viên gắn liền với HĐHT, bị qui địnhbởi những yếu tố bên trong như nhu cầu, động cơ, mục đích, hứng thú,niềm tin, lý tưởng, thế giới quan, tâm thế, tinh thần trách nhiệm, kỹ nănghọc tập, nỗ lực về ý chí… nó quan hệ mật thiết với tính tự lực, với cảmxúc - tình cảm biểu hiện ở thái độ của họ đối với môi trường học tậpthông qua các hành vi, hành động học tập và kết quả học tập cụ thể màchúng ta có thể quan sát, đo đạc và đánh giá
Trang 33Tính tích cực học tập của học viên không chỉ tồn tại như một trạng thái,một điều kiện mà nó còn là kết quả của HĐHT, là mục đích của quá trình dạyhọc, trong đó biểu hiện nhân cách của chính người học đối với nội dung tínhchất HĐHT ở nhà trường quân đội.
Tóm lại, TTCHT của học viên đào tạo SQQĐ có vai trò quan trọng, làđiều kiện để giúp người học nắm vững hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảonghề nghiệp hoạt động quân sự; là điều kiện để biến những nhu cầu của xãhội, của quân đội thành nhu cầu, động cơ tích cực phấn đấu vươn lên nhằmđáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước, của nền kinh tế tri thức và sự nghiệp xây dựng quân độicách mạng, chính qui, tinh nhuệ và từng bước hiện đại
2.1.3 Cơ sở tâm lý của tính tích cực học tập ở học viên đào tạo sĩ quan quân đội
Cơ sở theo từ điển tiếng Việt là “cái làm nền tảng cho những cái được
xây dựng trên đó hoặc dựa trên đó mà tồn tại, phát triển” [92, tr.279] Do đó,khi nói đến cơ sở tâm lý của TTCHT ở học viên đào tạo SQQĐ là phải tínhđến những yếu tố tâm lý tạo thành nền tảng và từ nền tảng đó TTCHT của họcviên được hình thành, phát triển đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo đội ngũ sĩquan trong các nhà trường quân đội
Nghiên cứu về nguồn gốc thúc đẩy TTC hoạt động của con người, Tâm
lý học mácxít đã chỉ ra rằng: nguồn gốc tạo nên TTC của nhân cách là nhu cầu,chính nhu cầu đã thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu hướng dẫn hoạt độngcủa chủ thể, nhưng nhu cầu chỉ hoàn thành chức năng ấy với điều kiện là nhucầu mang tính đối tượng Vì vậy, nghiên cứu cơ sở tâm lý của TTC hoạt độngnói chung, HĐHT của học viên nói riêng không thể dừng lại ở việc nghiên cứunhu cầu mà phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa nhu cầu, đốitượng và phương thức thoả mãn nhu cầu Tức là phải nghiên cứu những yếu tốtâm lý làm cơ sở quy định, thúc đẩy TTCHT của học viên đào tạo SQQĐ
Trang 34Nghiên cứu mối quan hệ giữa tâm lý - ý thức và hoạt độngA.N.Leonchiev đã chỉ ra rằng: Hoạt động có đối tượng chính là nơi sản sinh
ra tâm lý con người, “hoạt động là bản thể của tâm lý” và cũng là nơi tâm lýthực hiện chức năng định hướng, điều khiển, điều chỉnh hoạt động, tức là tâm
lý trở thành thành phần của hoạt động, cũng có thể nói tâm lý là điều kiện vậnhành của hoạt động [51, tr.4]
Từ các vấn đề trên có thể khẳng định rằng, muốn nghiên cứu cơ sở tâm
lý của TTC hoạt động của con người nói chung, TTCHT của học viên đào tạoSQQĐ nói riêng phải xem xét nó trong quan hệ với hoạt động Phải thấy đượcnhững yếu tố tâm lý bên trong chủ thể có chức năng định hướng, điều khiển,điều chỉnh hoạt động, tạo cơ sở cho sự diễn ra và kết thúc hoạt động, đồngthời quy định kết quả hoạt động của chủ thể
Đi từ tiếp cận hoạt động, Tâm lý học mácxít cho rằng, học tập nóichung, học tập của học viên đào tạo SQQĐ nói riêng là loại hoạt động đặc thùgiúp người học lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử, biến nó thành kinhnghiệm của bản thân, để phát triển phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu của
xã hội Hoạt động đó có đầy đủ các thành phần cấu trúc của hoạt động gồm:hoạt động động cơ, hành động mục đích, thao tác phương tiện Cácthành phần có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động quan lại lẫn nhautạo thành một chỉnh thể thống nhất quy định TTCHT và hiệu quả học tập
Như vậy, nghiên cứu cơ sở tâm lý của TTCHT ở học viên đào tạo SQQĐkhông thể tách rời việc tìm kiếm các yếu tố tâm lý tương ứng với yêu cầu HĐHT
Trong quá trình nghiên cứu các yếu tố tâm lý qui định HĐHTF.E.Weinert và A.Hemke (1995) đã chỉ ra rằng: việc học tập chỉ diễn ra khingười học có động cơ và TTC tối thiểu và tính hiệu quả (của học tập) hầunhư phụ thuộc vào người học và sự khác biệt của cá nhân họ [95, tr.132]
Từ phân tích trên cho thấy, muốn có TTCHT người học phải có hệ thốngđộng cơ, mục đích, phương thức học tập đúng đắn Đồng thời, nó còn phụ thuộc
Trang 35vào những điều kiện khác như: vốn sống, kinh nghiệm; kỹ năng học tập và rènluyện; biến kết quả học tập thành động cơ kích thích bản thân trên cơ sở đó làmxuất hiện và phát huy tính chủ động, tự giác, tích cực trong học tập, rèn luyện
Ở Việt Nam, các tác giả: Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Trần TrọngThủy và Nguyễn Quang Uẩn cho rằng:
Dưới ánh sáng của lý luận hoạt động, khi phân tích dạy và học như làmột hoạt động thì phải nhìn thấy trong đó mục đích, động cơ, nội dungcác phương thức hoạt động diễn ra trong sự căng thẳng nhất định của ýchí cũng như sức mạnh thể lực và trí tuệ, các phương thức điều chỉnhhoạt động và kiểm soát hiệu quả của chúng [29, tr.189]
Tác giả Nguyễn Ngọc Phú khi phân tích hoạt động học của học viên trongcác nhà trường quân sự cho rằng: để học tập tốt học viên các nhà trường quân độivới tư cách là chủ thể HĐHT họ phải có các điều kiện: nhu cầu, động cơ, mụcđích, điều kiện, phương tiện học tập tức là người học phải bằng chính hoạt độngtích cực, chủ động của mình “vật lộn” với nội dung cần lĩnh hội [67, tr.312]
Từ những phân tích trên, tiếp cận dưới góc độ hoạt động, nhân cách
chúng tôi cho rằng: cơ sở tâm lý của TTCHT ở học viên đào tạo SQQĐ chính
là hệ thống các thành phần tâm lý cấu thành TTCHT đóng vai trò là nền tảng
và từ nền tảng đó TTCHT của học viên được hình thành, phát triển đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường quân đội.
2.2 Các thành phần tâm lý cơ bản cấu thành tính tích cực học tập của học viên đào tạo sĩ quan quân đội
Nghiên cứu các thành phần tâm lý cơ bản cấu thành TTCHT của họcviên đào tạo SQQĐ là vấn đề phức tạp đòi hỏi phải được nghiên cứu một cáchkhoa học, dựa trên những cơ sở vững chắc cả về lý luận và thực tiễn
* Cơ sở lý luận:
Trong tác phẩm “Cơ sở tâm lý học lý thuyết” [39], các tác giảM.G.Iarosepxki và A.V.Petơropxki đã chỉ ra cấu trúc TTC, bao gồm hai nhóm
Trang 36thành phần bên trong và bên ngoài Nhóm thành phần bên trong gồm, các yếu
tố đóng vai trò là động lực thúc đẩy TTC trả lời câu hỏi là vì cái gì? lợi ích gì?
mà người ta tích cực? tích cực theo hướng nào? thể hiện TTC thông qua các
cơ chế tâm lý nào? Các mục đích của hành vi tích cực và các yếu tố công cụ(kỹ năng, kỹ xảo) để thực hiện TTC ra sao Các thành phần này được các ôngnghiên cứu gắn với khái niệm chủ thể TTC TTC chỉ trạng thái hoạt động củanhân cách luôn diễn ra như một hệ thống trọn vẹn với những quá trình tâm lýgắn bó chặt chẽ và thống nhất với nhau, biểu hiện ở bên trong là các động cơ,mục đích, các kế hoạch hành động và biểu hiện ở bên ngoài như là hoạt động,hành động, thao tác Hệ thống TTC này luôn vận động và phát triển như là hệthống tự vận động, tự phát triển
Tác giả A.M.Machiuxkin đã khẳng định rằng: tất cả các dạng, các kiểu
TTC đều có thể chia thành hai loại: TTC thích ứng và TTC sáng tạo Các dạngtích cực thích ứng đảm bảo các hành vi thích ứng của nhân cách với các điềukiện môi trường sống xung quanh, còn các kiểu tích cực sáng tạo là cơ sở nảysinh, phát triển các cấu tạo tâm lý mới Ông chỉ ra cấu trúc chung của hai dạngTTC với các thành phần cấu trúc, bao gồm:
Một là; các nhu cầu, động cơ là nguyên nhân bên trong trực tiếp thúcđẩy, qui định một dạng (kiểu) tích cực cụ thể
Hai là; các yếu tố tâm lý, điều khiển TTC [58, tr.3 - 6]
Trong công trình nghiên cứu về cấu trúc TTCHT của sinh viên?, L.N.
Pavlopva dựa trên cách tiếp cận nhân cách, hoạt động, đã đưa ra cấu trúc TTC củasinh viên bao gồm 6 thành phần, như là một tổ hợp của 6 kiểu TTC bao gồm:
- Tích cực học, biểu hiện ở cường độ học tập cao, thái độ tích cực đối vớicác môn học, bài học, luôn có sáng tạo trong cách học, phương pháp học
- Tích cực, chủ động về kế hoạch học tập: luôn chủ động về xây dựng
kế hoạch học tập cho từng môn học, từng học kỳ, năm học
Trang 37- Tích cực, chủ động xây dựng mục đích học tập: thể hiện ở việc tíchcực hiểu và chuyển mục tiêu đào tạo của nhà trường vào thành mục tiêu họctập của bản thân.
- TTC sáng tạo: biểu hiện năng lực của chủ thể, tích cực hoá hoạt động
tư duy của mình đạt đến mục đích đề ra của hoạt động
- TTC tự phân tích: biểu hiện ở kỹ năng, kỹ xảo tự đánh giá, tự nhậnthức nhằm mục đích tự phát triển TTC của mình
- TTC cảm xúc, giá trị, đó là yếu tố cảm xúc tích cực của chủ thể, phảnánh việc thành công hay thất bại trong hoạt động
Tác giả A.A.Volochkov [109] đã chỉ ra cấu trúc TTCHT của sinh viên,bao gồm bốn tiểu hệ thống:
Tiểu hệ thống thứ nhất là “tiềm năng của TTCHT” Đây là xu thế bêntrong, là sự sẵn sàng HĐHT, bao gồm: động cơ học tập phản ánh thái độ chủquan của chủ thể đối với HĐHT; khả năng học biểu hiện năng lực hoạt độngnhận thức; tự đánh giá của nhân cách; mức độ kỳ vọng nhân cách của người học
Tiểu hệ thống thứ hai là “yếu tố điều chỉnh của TTCHT” Nó thể hiệntính chất mối quan hệ của cơ chế điều khiển (chủ ý, ý chí, không chủ ý, cảmxúc trong HĐHT)
Tiểu hệ thống thứ ba là “thành phần động thái của TTC” Gồm, nhữngđặc trưng cơ động, “tốc độ” của TTC (nhịp độ, cường độ sức mạnh biểu hiệnnhư là ý hướng chung của chủ thể vượt qua hoạt động trí tuệ căng thẳng liênquan đến nội dung HĐHT); động lực biểu hiện ra ở thay đổi kiểu học tập(sáng kiến, sáng tạo, tính độc lập, TTC siêu hoàn cảnh)
Tiểu hệ thống thứ tư là “kết quả trong cấu trúc TTCHT” Bao gồm: cáckết quả khách quan được đánh giá trong HĐHT; các kết quả phát triển về nhâncách đạt được trong HĐHT (tự đánh giá kết quả, sự hài lòng với kết quả đó)
Trong các tiểu hệ thống trên “tiềm năng của TTCHT” thể hiện mốiquan hệ giữa các mong muốn và khả năng đạt được; thành phần điều chỉnh
Trang 38thể hiện mối quan hệ giữa tính chất rung động, tính chất không chủ ý với tínhchất có phản xạ có chủ ý, là cơ chế điều khiển TTC; thành phần cơ động phảnánh những đặc điểm của động thái diễn ra của hoạt động và có thể quan sátđược; thành phần kết quả đó là tổng số kết quả cuối cùng của vận động và khảnăng tiếp tục hoàn thiện nó (tiếp tục tạo ra tiềm lực mới của TTCHT).
Ông cho rằng cấu trúc TTCHT không chỉ có các thành phần tạo ra một
hệ thống có cấu trúc thứ bậc mà còn là nguồn gốc bên trong của sự liên tụcđổi mới phát triển của hệ thống [109, tr.46]
Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng TTCHT hợp thành từ hai mặt khácnhau nhưng gắn bó với nhau đó là năng lực học tập: những tri thức và kỹ năng
để tiến hành phương thức hoạt động (có đủ sức) đủ khả năng thực hiện đượcviệc ấy hay không và động cơ học tập (đối tượng hoặc những đối tượng bênngoài được chủ thể hoá trong cấu trúc tình cảm, nhu cầu, ý chí, hứng thú bêntrong cá nhân) [37, tr.205-206] Quan điểm này đúng nhưng chưa phản ánhhết các yếu tố cấu thành TTCHT, chưa đề cập đến các yếu tố thuộc về điềukhiển, điều chỉnh HĐHT
Tóm lại, mặc dù xuất phát từ mục đích, cách tiếp cận nghiên cứu cấutrúc tâm lý TTCHT của người học khác nhau, song tổng hợp kết quả nghiêncứu của các tác giả, chúng tôi cho rằng khi nghiên cứu cấu trúc TTCHT cần
có cách nhìn chung, thống nhất như sau:
- Cấu trúc tâm lý của TTCHT là một cấu tạo tâm lý mới của nhân cách,mang tính trọn vẹn; là kết quả của quá trình cá nhân thích ứng tích cực vớimôi trường học tập mới
- Cấu trúc tâm lý của TTCHT phản ánh nội dung của HĐHT, baogồm một hệ thống các thành phần tâm lý bên trong chủ thể Trong đó, độnglực thúc đẩy học tập, kỹ năng học tập và ý chí vượt khó để học tập lànhững thành phần cơ bản nhất
Trang 39- Cấu trúc tâm lý của TTCHT mang tính cơ động, luôn có sự vận động,phát triển cả về nội dung, hình thức Biểu hiện ra ở các hành vi - hành độnghọc tập phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, đòi hỏi của hoàn cảnh giáo dục màngười học vừa là chủ thể vừa là khách thể.
* Cơ sở thực tiễn:
Căn cứ vào lý luận về cấu trúc tâm lý của TTCHT đã trình bày ở trên, đểxác định rõ hơn các thành phần tâm lý cơ bản cấu thành TTCHT của học viênđào tạo SQQĐ, chúng tôi sử dụng mẫu phiếu 02 tiến hành điều tra trên diệnrộng, các đối tượng điều tra đều đánh giá cao các thành phần tâm lý cấu thànhTTCHT của học viên đào tạo SQQĐ Trong đó, các yếu tố thuộc về động lựcthúc đẩy học tập cho kết quả cao nhất, có điểm trung bình chung 2,59 điểm(chiếm 86,33 %), sau đó là các yếu tố thuộc thành phần kỹ năng học tập, cóđiểm trung bình chung là 2,48 điểm (chiếm 82,67 %) và các yếu tố thuộc thànhphần ý chí học tập, có điểm trung bình chung là 2,46 điểm (chiếm 82,00 %).Kết quả cụ thể được phản ánh ở phụ lục 11
Kết hợp với điều tra bằng phiếu, chúng tôi tiến hành trao đổi, phỏng vấnmột số giảng viên dạy môn Tâm lý học và các giảng viên có thâm niên nghềnghiệp cao, một số cán bộ quản lý học viên có kinh nghiệm để kiểm chứng cácthành phần tâm lý cơ bản cấu thành TTCHT của học viên đào tạo SQQĐ Hầunhư các ý kiến mà chúng tôi thu được đều thống nhất cho rằng nhu cầu, động cơhọc tập là yếu tố quan trọng cấu thành TTCHT của học viên Các giảng viên và
cán bộ quản lý học viên đều có chung nhận xét: “Trong học tập những học viên động cơ học tập không đúng đắn, không có giác ngộ sâu sắc đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo về Tổ quốc thì thường là những học viên thiếu tích cực và khó đạt kết quả cao trong học tập”.
Khi trò chuyện với một số học viên học giỏi về những học viên có kết
quả học tập thấp thì được biết: họ có kết quả như vậy một phần do khả năng
Trang 40học có hạn, chưa có cách thức học tập phù hợp với nội dung các môn học,nhất là với các môn học mới, các môn học mang tính lý luận nhiều Trong họctập bản thân họ cũng đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn chưa đạt kết quả cao,dẫn đến thiếu tự tin, thậm chí kìm hãm TTC Theo đồng chí Phạm Thành Đ,Phan Thành L học viên c5d3 trường SQLQ2 thì nguyên nhân ở đây là do cáchọc viên đó nỗ lực về ý chí không cao, ngại học, ngại rèn, thiếu sự vươn lêntrong học tập Rõ ràng đây là những ý kiến đáng quan tâm để trả lời cho câuhỏi là tại sao học viên thiếu tính cực trong học tập? phải chăng đó chính làyếu tố thuộc về động cơ, kỹ năng, ý chí trong học tập
Trao đổi về kết quả học tập và kết quả rèn luyện của học viên phần lớncác ý kiến đều cho rằng đây chỉ là hệ quả của TTC, biểu hiện của TTC chonên không xếp vào các yếu tố cấu thành TTCHT Từ kết quả khảo sát đượcphản ánh ở phụ lục 11 và trên cơ sở tham khảo ý kiến chuyên gia và thôngqua trò chuyện, phỏng vấn như đã nêu ở trên chúng tôi tiến hành xem xét từngkhía cạnh cụ thể của từng Item và xác định nội dung các thành phần tâm lý cơbản cấu thành TTCHT của học viên đào tạo SQQĐ
Căn cứ vào những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chorằng các thành phần tâm lý cơ bản cấu thành TTCHT của học viên đào tạoSQQĐ bao gồm: