SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG THPT BÁ THƯỚC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP CHO HỌC SINH YẾU KÉM MÔN HÓA HỌC LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT BÁ THƯỚC Người
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT BÁ THƯỚC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP
CHO HỌC SINH YẾU KÉM MÔN HÓA HỌC LỚP 10
Ở TRƯỜNG THPT BÁ THƯỚC
Người thực hiện: Hà Quốc Linh Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Bá Thước SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Hóa Học
THANH HOÁ NĂM 2018
1
Trang 2PHẦN MỤC LỤC TRANG
1
MỞ ĐẦU
3 1.1 Lí do chọn đề tài
1.2 Mục đích nghiên cứu 1.3 Đối tượng nghiên cứu 1.4 Các phương pháp nghiên cứu
2
NỘI DUNG
4
2.1 Cơ sở lý luận 2.2 Nghiên cứu thực trạng 2.2.1 Thuận lợi
2.2.2 Khó khăn 2.2.3 Xác định đối tượng học sinh yếu kém
5 2.2.4 Nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu kém
2.3 Một số giải pháp nâng cao kết quả học tập
2.3.1 Giải pháp chung
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 14
3
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
16 3.1 Kết luận
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Trang 31.1 Lí do chọn đề tài
Đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người năng động sáng tạo, độc lập tiếp thu tri thức là một vấn đề mà nhiều nhà giáo dục đã và đang quan tâm trong giai đoạn lịch sử hiện nay Đổi mới phương pháp dạy học được hiểu
là tổ chức các hoạt động tích cực cho người học Từ đó khơi dậy và thúc đẩy lòng ham muốn, phát triển nhu cầu tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh trong
tự thân của người học từ đó phát triển, phát huy khả năng tự học của họ Trước vấn đề đó người giáo viên cần phải không ngừng tìm tòi khám phá, khai thác, xây dựng hoạt động, vận dụng, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học trong các giờ học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh, xây dựng cho học sinh một hướng tư duy chủ động, sáng tạo
Bên cạnh đó, vấn đề học sinh yếu kém hiện nay cũng được xã hội quan tâm và tìm giải pháp để khắc phục tình trạng này, để đưa nền giáo dục đất nước ngày một phát triển toàn diện thì người giáo viên không chỉ phải biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém
Việc phụ đạo học sinh yếu kém bộ môn là một trong những vấn đề rất quan trọng, cấp bách, cần thiết và không thể thiếu trong mỗi môn học ở các cấp học nói chung và ở cấp trung học phổ thông nói riêng
Đối với bộ môn Hóa học rất cần phụ đạo cho một số học sinh bị hổng kiến thức từ cấp dưới, để các em tự mình chiếm lĩnh lấy tri thức, vận dụng được kiến thức vào giải các bài tập có liên quan
Sau đây tôi xin phân tích một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém môn Hóa học, để từ những nguyên nhân đó có thể tìm ra hướng khắc phục khó khăn giúp học sinh vươn lên trong học tập thông qua
đề tài sau đây: “Một số giải pháp nâng cao kết quả học tập cho học sinh yếu kém môn Hóa học lớp10 ở trường THPT Bá Thước”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu những nguyên nhân học sinh yếu kém môn Hóa học 10
Từ đó tìm ra giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém
- Nâng cao chất lượng giáo dục môn Hóa học lớp 10 tại trường
THPT Bá Thước
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp nâng cao kết quả học tập cho học sinh yếu kém bộ môn Hóa học 10 tại trường THPT Bá Thước
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận: nghiên cứu các tài liệu, các trang web, bài viết,
…có liên quan
- Nghiên cứu thực nghiệm: Tìm hiểu nguyên nhân học sinh yếu kém môn Hóa lớp 10 và đưa ra giải pháp phụ đạo
PHẦN 2: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
3
Trang 42.1 Cơ sở lý luận
Phụ đạo kiến thức cho học sinh yếu kém là giáo viên phải bổ sung được
những “lỗ hổng” kiến thức cho học sinh (chủ yếu là những kiến thức có trong
sách giáo khoa hóa học) để giải quyết, để giành lại kiến thức mà các em chưa
lĩnh hội hết trong tiết dạy chính trên lớp Từ đó học sinh có thể hòa nhập theo
kịp với các bạn trong tiết học đang diễn ra trên lớp
Theo tôi học sinh muốn làm tốt hoạt động này thì bản thân giáo viên cần
phải nắm bắt chính xác và đánh giá được mức độ kiến thức đọng lại ở mỗi học
sinh trong mỗi tiết dạy để chuẩn bị lên kế hoạch phụ đạo, thiết kế nội dung tiết
phụ đạo sao cho có hiệu quả nhất, muốn vậy thì cần phải biết rõ căn cứ, hiểu và kết hợp giải quyết được các vấn đề sau:
- Tìm hiểu tại sao học sinh sợ, chán, học yếu kém môn hóa học và tìm
cách giải tỏa tâm lý này ở một số em
- Hướng dẫn học sinh tự đánh giá hiểu biết của bản thân về môn học và tự rèn luyện ý thức học tập
- Giáo viên xác định được khối lượng kiến thức đối với từng bài học cụ
thể cho đối tượng học sinh yếu kém, để đề ra nội dung , hình thức và phương
pháp dạy thích hợp nhất
Như vậy cần học sinh phải tự giác cao trong suy nghĩ và hành động, tích
cực phối hợp với giáo viên, có suy nghĩ, cân nhắc kỹ lưỡng những thông tin
nhận được để “ vá lại lỗ hổng kiến thức” và phản hồi lại kiến thức một cách
chính xác, khoa học nhất Muốn vậy, giáo viên là người rất quan trọng cần phải
có các hướng dẫn cụ thể để hướng dẫn học sinh
2.2 Nghiên cứu thực trạng
2 2.1 Thuận lợi
Đối với học sinh lớp 10, các em cũng đã trưởng thành nên ý thức, động cơ học tập tương đối cao
HS nhận được sự giúp đỡ từ nhiều phía: gia đình, nhà trường và xã hội
Đội ngũ giáo viên đạt chuẩn, nhiệt tình, thân thiện, luôn quan tâm giúp đỡ học sinh đặc biệt là học sinh yếu kém
Được sự quan tâm, phối hợp của Ban giám hiệu cùng các đoàn thể
Có thể vận dụng môn học giải thích các vấn đề trong thực tế
2.2.2 Khó khăn
Đối tượng học sinh yếu có những khác biệt về cách nhận thức, hoàn cảnh gia đình, kinh tế, lười học hoặc thiếu sự quan tâm của cha mẹ, Những điều này
đã ảnh hưởng nhiều đến vấn đề học tập của học sinh, từ đó dẫn đến các em chán nản việc học và hổng kiến thức
Đặc điểm của trường là ở miền núi, điều kiện đi học của học sinh khó khăn, nhà xa trường, đường đất khó lưu thông, nhiều học sinh phải nghỉ học vào mùa mưa lũ
Chất lượng đầu vào lớp 10 của học sinh thấp
Mặt khác, học sinh còn bị ảnh hưởng bởi cách truyền thụ trước đây, nên ỷ lại, lười suy nghĩ, không chuẩn bị bài ở nhà, trong giờ học thì lơ là không tập trung, làm giảm khả năng tư duy của học sinh
Trang 52.2.3 Xác định đối tượng học sinh yếu kém
- Căn cứ 1: Điểm bộ môn Hóa của năm học trước, tham khảo thêm điểm một số môn học có liên quan ví dụ như Toán, Lý
- Căn cứ 2: Không thể dựa hoàn toàn vào điểm bộ môn của năm học qua mà phải kết hợp với những biểu hiện và quá trình học tập trên lớp
2.2.4 Nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu kém
* Về phía học sinh
Học sinh là người học, là người lĩnh hội những tri thức thì nguyên nhân học sinh yếu kém có thể kể đến là do :
- Học sinh lười học: Qua quá trình giảng dạy, bản thân nhận thấy rằng các em học sinh yếu kém là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý chuyên tâm vào việc học, về nhà thì không xem bài, không làm bài tập Còn một
bộ phận nhỏ thì các em không xác định được mục đích của việc học Chưa có phương pháp và động cơ học tập đúng đắn
- Học sinh không có thời gian cho việc tự học: Đa số học sinh của trường đều ở vùng sâu vùng xa, gia đình chủ yếu là sống bằng nghề nông, các em ở nhà phải phụ giúp gia đình việc đồng áng, chăn nuôi; thậm chí có học sinh phải đi làm thêm trái buổi để kiếm tiền ăn học
- Học sinh bị hổng kiến thức từ lớp nhỏ: Đây là một thực tế không thể phủ nhận ở Huyện Bá Thước (Thanh Hóa) hiện nay Nguyên nhân này có thể nói đến một phần lỗi của giáo viên là chưa đánh giá đúng trình độ của học sinh, dẫn đến hiện tượng “ngồi nhầm lớp” từ cấp học dưới
* Về phía giáo viên
Nguyên nhân học sinh học yếu không phải hoàn toàn là ở học sinh mà một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên:
- Còn một số giáo viên chưa thực sự chú ý đến đối tượng học sinh yếu, kém Chưa theo dõi sát sao và xử lý kịp thời các biểu hiện sa sút của học sinh
- Tốc độ giảng dạy kiến thức mới và luyện tập còn nhanh khiến cho học sinh yếu kém không theo kịp
- Một số giáo viên còn thiếu nghệ thuật cảm hoá học sinh yếu kém, không gây hứng thú cho học sinh thích học môn mình
* Về phía phụ huynh: Còn một số phụ huynh HS:
- Thiếu quan tâm đến việc học tập ở nhà của con em Phó mặc mọi việc cho nhà trường và thầy cô
- Gia đình học sinh gặp nhiều khó khăn về kinh tế hoặc đời sống tình cảm khiến các em không chú tâm vào học tập
- Một số cha mẹ quá nuông chiều con cái, dẫn đến học sinh lười học xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi, giả vờ ốm ) cha mẹ cũng đồng ý cho phép nghỉ học, vô tình là đồng phạm góp phần làm học sinh lười học, mất dần căn bản và rồi yếu kém!
Trên đây là một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém
mà bản thân tôi nhận thấy trong quá trình công tác Qua việc phân tích những nguyên nhân đó, bản thân tôi đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả học tập cho học sinh yếu kém như sau:
2.3 Một số giải pháp nâng cao kết quả học tập học cho học sinh yếu kém
5
Trang 62.3.1 Giải pháp chung
- Xây dựng môi trường học tập thân thiện
Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu quả cao Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần gũi, cảm giác an toàn nơi học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống của bản thân mình
Giáo viên luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, không mắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học sinh cảm thấy sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình
Bên cạnh đó, giáo viên phải là người đem lại cho các em những phản hồi tích cực Ví dụ như giáo viên nên thay chê bai bằng khen ngợi, giáo viên tìm những việc làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em
- Phân loại đối tượng học sinh
Giáo viên cần xem xét, phân loại những học sinh yếu đúng với những đặc điểm vốn có của các em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và riêng của từng em Một số khả năng thường hay gặp ở các em là: sức khoẻ kém, khả năng tiếp thu bài thấp, lười học, thiếu tự tin, nhút nhát…
Trong quá trình thiết kế bài học, giáo viên cần cân nhắc các mục tiêu đề ra nhằm tạo điều kiện cho các em học sinh yếu được củng cố và luyện tập phù hợp
Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động, dành cho đối tượng này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều kiện cho các em được tham gia trình bày trước lớp, từng bước giúp các em tìm được
vị trí đích thực của mình trong tập thể
Ngoài ra, giáo viên có thể tổ chức phụ đạo cho những học sinh yếu khi các biện pháp giúp đỡ trên lớp chưa mang lại hiệu quả cao Tuy nhiên, việc tổ chức phụ đạo phải kết hợp với hình thức vui chơi nhằm lôi cuốn các em đến lớp đều đặn và tránh sự quá tải, nặng nề
- Giáo dục ý thức học tập cho học sinh
Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn Từ đây, các em sẽ ham thích và say mê khám phá tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức
Bên cạnh đó, giáo viên phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn cảnh gia đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, làm cho học sinh thấy tầm quan trọng của việc học Đồng thời, giáo viên phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập của học sinh
- Kèm cặp học sinh yếu kém
Tổ chức cho học sinh khá, giỏi thường xuyên giúp đỡ các bạn yếu, kém
về cách học tập, về phương pháp vận dụng kiến thức
Tổ chức kèm cặp, phụ đạo cho các em Trong các buổi này, tôi chủ yếu kiểm tra việc lĩnh hội các kiến thức giảng dạy trên lớp, nếu thấy các em chưa chắc, tôi tiến hành ôn tập củng cố kiến thức để các em nắm vững chắc hơn, Hướng dẫn phương pháp học tập: học bài, làm bài, việc tự học ở nhà
2.3.2 Giải pháp cụ thể
Trang 7- Lập danh sách học sinh yếu kém thông qua bài kiểm tra chất lượng đầu năm và quá trình học tập trên lớp
- Điểm danh học sinh mỗi buổi học, ghi nhận và báo với GVCN những trường hợp học sinh bỏ học phụ đạo để có biện pháp khắc phục
- Xác định kiến thức cơ bản, trọng tâm và cách ghi nhớ
+ Xác định rõ kiến thức trọng tâm, kiến thức nền trong tiết dạy cần cung cấp, truyền đạt cho học sinh
+ Đối với học sinh yếu kém không nên mở rộng, chỉ dạy phần trọng tâm, cơ bản, làm bài tập nhiều lần và nâng dần mức độ của bài tập sau khi các
em đã nhuần nhuyễn dạng bài tập đó
+ Nhắc lại kiến thức kiến thức cơ bản, công thức cần nhớ ở cấp THCS
mà các em đã hổng, cho bài tập lý thuyết khắc sâu để học sinh nhớ lâu
Sau đây là một số kiến thức trọng tâm học sinh cần nhớ:
* Hóa trị của các nguyên tố
Rất nhiều học sinh, ngay cả học sinh lớp12 không thuộc hóa trị của các nguyên tố Trong khi đó, vấn đề xác định hóa trị của một nguyên tố rất quan trọng để: viết phương trình phản ứng hóa học, giải các bài tập liên quan đến phương trình, hóa trị liên hệ mật thiết với việc xác định số oxi hóa, điện hóa trị, cân bằng phản ứng, viết công thức hóa học,
Nhìn chung thì hóa trị của các nguyên tố kim loại thường ổn định, ít biến đổi hơn các nguyên tố phi kim Tuy nhiên, trong hóa học có đến hơn 80 nguyên
tố là kim loại thì việc nhớ hóa trị của từng nguyên tố kim loại là điều rất khó khăn đối với học sinh yếu kém Do đó, mức độ yêu cầu ở đây là chỉ cần các em nhớ hóa trị của những nguyên tố cơ bản, thường gặp để áp dụng vào viết công thức hóa học, viết phương trình và làm bài tập
Sau đây là kinh nghiệm dạy phần hóa trị cho học sinh đầu cấp của bản thân đã thực hiện và có hiệu quả giúp học sinh nhớ một cách ngắn gọn nhất hóa trị của một số nguyên tố kim loại cơ bản, thường gặp:
Đối với kim loại: thường gặp nhất là hóa trị I, II, III
I Kim loại nhóm IA (Li, Na, K), Ag, Cu (nhưng ít gặp)
II Cu, Fe, (và hầu hết các nguyên tố còn lại)
III Al, Fe
Đối với phi kim: thường những nguyên tố phi kim có nhiều hóa trị nên không thể áp dụng cách nhớ được thì ta xác định hóa trị của nguyên tố phi kim một cách gián tiếp thông qua hóa trị của những nguyên tố đã biết và áp dụng công thức hóa trị: A x a B y b → a.x = b.y
- Hóa trị của hidro là I
- Hóa trị của oxi là II
7
Trang 8Ví dụ: Xác định hóa trị của lưu huỳnh (S) trong các hợp chất sau:
a) Na2S:
Ta có: hóa trị của Na là I → I.2 = x.1 → x = II (Vậy hóa trị của S là II)
b) SO3:
Hóa trị của O là II → x.1 = II.3 → x = VI (Vậy hóa trị của S là VI)
Đối với hợp chất:
Hóa trị của một số gốc axit thường gặp
Gốc axit Tên Hóa trị Gốc axit Tên Hóa trị
2
4
SO sunfat II HCO3 hidrocacbonat I
2
3
3
3
4
Cách xác định hóa trị trong hợp chất 3 nguyên tố có oxi:
c z
b y
a
xB O
A → a.x + b.y = c.z
Ví dụ: a) Xác định hóa trị của Cl trong KClO3
Ta có: K thuộc nhóm IA nên có hóa trị I , oxi có hóa trị II
→ I.1 + b.1 = II.3 → b = V (hóa trị của Clo là V) b) Xác định hóa trị của lưu huỳnh trong hợp chất H2SO4
Ta có: H có hóa trị I, O có hóa trị II
→ I.2 + b.1 = II.4 → b = VI (hóa trị của Lưu huỳnh là VI)
* Dãy hoạt động hóa học của các nguyên tố
Dãy hoạt động hóa học (tên gọi ở cấp THCS) cũng là một phần quan trọng trong chương trình phổ thông Giúp học sinh giải quyết được nhiều vấn đề: Phản ứng của kim loại với axit, với muối có xảy ra hay không?, thứ tự phản ứng, đặc biệt quan trọng ở chương trình lớp 12 Tuy vậy, rất nhiều học sinh không nhớ được dãy hoạt động này, các em không xác định được kim loại nào đứng trước kim loại nào Từ đó dẫn đến việc không giải được các bài tập liên quan
Dãy hoạt động hóa học của các kim loại :
K Ba Ca Na Mg Al Zn Fe Ni Sn Pb H Cu Hg Ag Pt Au
Khi Bà Con Nào May Áo Záp Sắt Nên Sang Phố Hỏi Cửa Hàng Á Phi Âu
Phạm vi áp dụng của dãy hoạt động:
- Những kim loại đứng trước H tác dụng với axit giải phóng khí hidro
Ví dụ: Zn + 2HCl → ZnCl2 + H2 ↑
Cu + HCl → (do Cu đứng sau H nên không phản ứng)
- Từ sau Mg, những kim loại đứng trước đẩy kim loại đứng sau ra khỏi dung dịch muối
Ví dụ: Fe + CuSO4 → FeSO4 + Cu
Fe + AlCl3 → (do Fe đứng sau Al nên không đẩy được)
- Giải các bài tập hỗn hợp kim loại
Trang 9Ví dụ: Cho 26 gam hỗn hợp Zn và Cu vào dung dịch HCl dư thu được 6,72 lít khí ở đktc Tính khối lượng mỗi chất có trong hỗn hợp đầu
Trước tiên, hướng dẫn học sinh tóm tắt đề và định hướng cách giải:
- Hỗn hợp Zn và Cu tác dụng với axit HCl: chỉ có Zn phản ứng (do Zn đứng trước H) còn Cu không phản ứng (do Cu đứng sau H)
- Khí sinh ra là khí hidro, ở phương trình Zn + HCl
- Viết phương trình hóa học, tính số mol khí, áp dụng quy tắc tam suất tính số mol Zn, sau đó tính khối lượng Zn và cuối cùng suy ra khối lượng Cu
Bài giải:
mol
V
4 , 22
72 , 6 4 , 22
Zn + 2HCl → ZnCl2 + H2
0,3 mol 0,3 mol
Cu + HCl → Khối lượng Zn: m Zn n.M 0 , 3 65 19 , 5gam
Khối lượng Cu: mCu = mhh - mZn = 26 - 19,5 =6,5 gam
* Các công thức hóa học liên quan đến bài tập tính toán
Đối với một bài toán, tùy theo dữ kiện đề bài cho mà ta áp dụng công thức cho hợp lí Giáo viên hướng dẫn học sinh biết cách xác định các dữ kiện đề cho, vận dụng công thức và định hướng cách giải
CÁC CÔNG THỨC THƯỜNG GẶP [3]
I Công thức tính số mol :
1
M
m
n
2 n V22(đktc,4 )
3 n C M V dd
II Công thức tính nồng độ %:
4
dd
ct
m
m
C% 100%
III Công thức tính nồng độ
mol:
5
dd
ct M
V
n
C
IV Công thức tính khối lượng:
6 mnM
7
% 100
% dd
ct
m C
V Công thức tính khối lượng
dung dịch:
8 mdd mct mdm ;
9 m dd V dd ml D ;
Chú thích :
ct
m Khối lượng chất tan gam
dd
m Khối lượng dung dịch gam
dm
m Khối lượng dung môi gam
hh
m Khối lượng hỗn hợp gam
A
m Khối lượng chất A gam
B
m Khối lượng chất B gam
A
M Khối lượng mol chất A g/mol
B
M Khối lượng mol chất B g/mol
dd
V Thể tích dung dịch lít
V đ(dktc) Thể tích ở điều kiện tiêu
chuẩn
lít
%
M
D Khối lượng riêng g/ml
A
% Thành phần % của A %
B
% Thành phần % của B %
hh
M Khối lượng mol trung
bình của hỗn hợp khí
g/mol
9
Trang 1010
%
% 100
C
m
dd
VI Công thức tính thể tích
dung dịch:
11
M dd
C
n
V ;
12
D
m ml
dd
VII Công thức tính % khối lượng trong hỗn hợp:
13 % 100 %
hh
A
m
m
A ; 14 % 100 %
hh
B
m
m
B hoặc %B 100 % %A
15 m hh m A m B
VIII Tỷ khối của chất khí: 16
B
A B
A
M
M d m
m d
Ví dụ 1: Bao nhiêu gam clo đủ tác dụng với kim loại nhôm tạo thành 26,7 gam
AlCl3 ?
Hướng dẫn cách giải:
- Xác định các dữ kiện và yêu cầu của bài toán:
+ Dữ kiện: cho khối lượng AlCl3 → tính được số mol của AlCl3, áp dụng công thức
M
m
n (vì M đề bài luôn cho)
+ Yêu cầu: tính khối lượng clo phản ứng: áp dụng quy tắc tam suất tính số mol của clo → khối lượng của clo
Bài giải:
mol M
m
5 , 133
7 , 26
2Al + 3Cl2 → 2AlCl3
0,3 mol 0,2 mol Khối lượng của Al: m Cl2 = n.M = 0,3 71 = 21,3 gam
Ví dụ 2: Hòa tan 11 gam hỗn hợp 2 kim loại Al và Fe vào V lít dd HCl 0,5M thì thu được 8,96 lít khí H2 (đktc)
a Tính % khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp đầu ?
b Tính thể tích (V) của dung dịch HCl đã dùng ?
Tóm tắt đề và định hướng cách giải:
- Dựa vào dãy hoạt động xét xem hai kim loại này có phản ứng với dd HCl → cả 2 kim loại đều đứng trước H nên đều phản ứng
- Cho thể tích khí H2 ở điều kiện tiêu chuẩn → tính được số mol dựa vào công thức : V(đktc) = n.22,4 → n = V(đktc)/ 22,4
- Đối với bài toán cả hai kim loại (chất) đều phản ứng và cho bản chất của sản phẩm phản ứng tương tự nhau thì ta giải bằng cách lập hệ phương trình
- Lập hệ phương trình và dùng các dữ kiện đó để giải