Trong hệ thống thể loại văn học, các tác phẩm sử thi dân gian cả sử thi Việt Nam và sử thi nước ngoài trong chương trình sách Ngữ văn 10/tập 1 đang gây ra những khó khăn nhất định cho họ
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Môn Ngữ văn trong trường THPT không chỉ có vai trò cung cấp những tri thức văn học phong phú, đa dạng mà còn có ý nghĩa to lớn trong quá trình hình thành thái độ sống và nhân cách làm người cho học sinh Mỗi tác phẩm văn học
là một lát cắt của cuộc sống, ở đó mỗi học sinh đều nhận thấy bóng dáng của hiện thực đời sống hằng ngày, đều nhận ra những chân lí giản đơn mà vô cùng
sâu sắc ở hiền gặp lành, ác giả ác báo,…Từ đó các em biết hướng tới cái chân-
thiện - mĩ trước mỗi hành động của mình trong cuộc sống
Trên thực tế, môn Ngữ văn đang dần trở nên nhàm chán đối với học sinh Một phần do thái độ học tập của các em Nhưng một phần khác là do phương pháp truyền tải vấn đề của các thầy cô giáo trong nhà trường Từ đó, mỗi tiết học Ngữ văn gây tâm lí nặng nề cho các em trong từng tiết học Hiện nay, ngành giáo dục nước ta đang đạt ra những yêu cầu quan trọng đối với học sinh: phải sáng tạo, năng động và độc lập trong suy nghĩ và hành động Vì vậy, trong thời đại 4.0, cần hơn bao giờ hết việc mỗi giáo viên đổi mới sáng tạo trong cách truyền đạt kiến thức cho các em, trong đó có môn Ngữ văn
Trong hệ thống thể loại văn học, các tác phẩm sử thi dân gian (cả sử thi Việt Nam và sử thi nước ngoài) trong chương trình sách Ngữ văn 10/tập 1 đang gây ra những khó khăn nhất định cho học sinh Nguyên nhân: dung lượng của toàn bộ sử thi rất lớn, trong khi đó học sinh chỉ học một đoạn trích nhỏ nên việc nắm được cốt truyện và nội dung của toàn bộ tác phẩm rất quan trọng Phần tiểu dẫn sách giáo khoa có trình bày tóm tắt cốt truyện dưới dạng một đoạn văn, nên học sinh rất khó nhớ và khó thuộc Từ đó dẫn đến một thực trạng là các em khó khăn trong việc gắn kết đoạn trích với tác phẩm chính; học xong đoạn trích vẫn không nắm được ý nghĩa mà tác giả dân gian gửi gắm Vì vậy, các em không hứng thú khi tiếp xúc với thể loại này Học sinh chỉ học thuộc bài học một cách máy móc theo những kiến thức mà giáo viên cho ghi trong vở, không thể tự mở rộng sự hiểu biết của mình trong toàn bộ sử thi
Từ thực tế giảng dạy môn Ngữ văn tại trường THPT Như Xuân, tôi đã thay đổi phương pháp dạy phần tóm tắm tác phẩm sử thi (thuộc phần tiểu dẫn) như sau: từ chỗ để học sinh đọc tóm tắt tác phẩm trong sách giáo khoa sau đó giáo viên kể lại đến chỗ hình thành sơ đồ tóm tắt, đưa ra hình ảnh then chốt của đoạn trích cho học sinh dễ nắm bắt, dễ nhớ, dễ thuộc và dễ gắn kết với đoạn trích
Có nhiều đề tài đã đưa hình thức sơ đồ tư duy, tranh ảnh vào dạy học các tác phẩm văn chương, nhưng chưa có một đề tài cụ thể, chuyên sâu về thể loại
sử thi dân gian
Đó cũng là lí do tôi chọn đề tài: Sử dụng tranh ảnh, sơ đồ tư duy vào giảng dạy đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” trích sử thi Đăm săn Ngữ văn 10 THPT
Qua đề tài này tôi muốn gửi đến một phương pháp đổi mới hình thức dạy học truyền thống đó là sử dụng sơ đồ hóa kiến thức, hình ảnh trực quan sinh
Trang 2động thay cho cách truyền đạt kiến thức bằng ngôn ngữ, giúp các em có hứng thú và tích cực tư duy hơn khi học môn Ngữ văn
1.2 Mục đích nghiên cứu
Vấn đề sử dụng tranh ảnh, sơ đồ tư duy kiến thức tác phẩm sử thi Từ đó giúp học sinh dễ nhớ, dễ nắm bắt bài học, liên hệ tốt với đoạn trích cần học Tạo cho các em hứng thú hơn với bộ môn Ngữ văn, đặc biệt là tác phẩm sử thi dân gian
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Sử dụng tranh ảnh, sơ đồ tư duy vào giảng dạy đoạn trích chiến thắng Mtao Mxây, trích sử thi Đăm săn Ngữ văn 10 THPT
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: là phương pháp thu thập thông tin thông qua đọc sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm và tư tưởng cơ bản là cơ sở cho lý luận của đề tài
+ Phương pháp thực nghiệm: Dạy học theo giáo án đã biên soạn, kiểm tra, đánh giá kết quả sau dạy học theo đề tài
+ Phương pháp thống kê và xử lí số liệu là phương pháp thống kê, tính toán số lượng học sinh đạt hiệu quả khi áp dụng đề tài nghiên cứu và số lượng học sinh không áp dụng đề tài nghiên cứu
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Sử thi là gì? Đặc điểm của thể loại sử thi?
*Khái niệm sử thi : "là tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng
ngôn ngữ có vần, có nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại " (Trang 17 SGK Ngữ Văn 10 - tập 1 - NXB Giáo dục)
* Sử thi có 2 loại : Sử thi thần thoại và Sử thi anh hùng
* Đặc điểm của thể loại sử thi:
- Không gian Sử thi : Thường là khung cảnh đại ngàn hùng vĩ, núi rừng bao la , bản làng phồn thịnh, với những cảnh sinh hoạt cộng đồng gắn liền với những tập tục của bộtộc
- Nhân vật Sử thi : Thường là người anh hùng với vẻ đẹp ngoại hình và sức mạnh phi thường, những chiến công kỳ vĩ, những việc làm có ý nghĩa và ảnh hưởng tới toàn cộng đồng, được tập thể tôn sùng, ngưỡng mộ
- Ngôn ngữ Sử thi : giàu hình ảnh, nhịp điệu, trang trọng ; sử dụng nhiều thủ pháp so sánh và phóng đại , trùng điệp, kết cấu tầng lớp và mang tính hiệu triệu cao (kêu gọi)
2.1.2 Vai trò của sử thi trong chương trình Ngữ Văn THPT
- Giúp học sinh yêu thích văn học dân gian
- Trân trọng nét văn hóa của dân tộc
Trang 3- Kích thích sự hướng thú nhận thức của học sinh
- Giúp học sinh có trí tưởng tưởng tốt trong nhận thức tư duy
2.1.3 Vai trò của tranh, ảnh, sơ đồ tư duy trong giảng dạy
Tranh ảnh, sơ đồ tư duy chính là nguồn cung cấp thông tin hữu hiệu nhất cho não bộ: Bên cạnh việc đọc sách, các nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng việc sử dụng tranh ảnh cũng như sơ đồ tư duy kết hợp với giảng dạy trong nhà trường sẽ làm gia tăng khả năng ghi nhớ, tìm hiểu cũng như sáng tạo của học sinh Hơn 90% thông tin mà học sinh nhận được là không cần thiết, bởi vì các
em không thể nhớ hết, chỉ cần nhớ những từ khoá chính là đủ Chúng ta hãy thử tưởng tượng 10 trang sách thông tin được tóm gọn trong 1 sơ đồ tư duy thì học sinh ghi nhớ, và học cái nào sẽ nhanh hơn Bởi vậy thay vì gò ép học sinh vào những kiến thức dài dòng, khô khan cũng như khó hiểu thì những giáo viên nên vận dụng sơ đồ tư duy vào trong bài học, giúp học sinh hứng thú hơn với môn học cũng như bài học
Đối với giáo viên và học sinh: tranh ảnh và sơ đồ tư duy giúp giáo viên và học sinh cảm thấy năng nổ và hứng thú hơn trong dạy và học
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
*Những khó khăn từ chương trình
- Hiện nay, thời lượng cho 1 bài sử thi ở chương trình sách giáo khoa ngữ văn 10 là từ 1-2 tiết, mà các bài sử thi lại có dung lượng lớn, đa số học sinh chưa đọc kĩ tác phẩm khi ở nhà, gây không ít khó khăn cho việc truyền đạt kiến thức
từ giáo viên đến học sinh Ví dụ như ở bài “Chiến thắng Mtao Mxây” trích sử thi Đăm Săn, dung lượng bài dài đến 7 trang giấy, chỉ riêng việc phân vai cho học sinh và đọc xong văn bản cũng đã chiếm đến 30 phút của một tiết học Bởi vậy, việc dạy tác phẩm này theo phương pháp cũ là chưa thực sự khả thi
- Bên cạnh đó, thể loại sử thi được coi là một thể loại mới với các em học sinh, trước đó các em chưa từng được tìm hiểu cặn kẽ, sâu sắc về thể loại này (không có bài khái quát) có tiếp xúc thì cũng chỉ qua lời kể, lời hát, chưa thực sự nắm bắt được đầy đủ các đặc điểm và cách tiếp cận sử thi hiệu quả
* Phía học sinh
- Hiện nay, học sinh đang dần "xa lánh" môn Ngữ văn bởi các em không
tìm thấy hứng thú và sự đam mê trong từng tiết học
- Đa số học sinh lười học văn vì cho rằng học văn khó và không thực tế Bên cạnh đó cũng có một số học sinh nghĩ chẳng cần phải học văn nhiều vì khi làm bài bịa vài ba dòng là có thể tránh được điểm liệt
- Học sinh đang còn học theo kiểu đối phó và máy móc Nhiều khi các em trình bày kiến thức theo những gì đã được ghi trong vở mà không hiểu rõ ý nghĩa và tư tưởng của tác phẩm
- Trong các bài kiểm tra, học sinh còn yếu về khâu diễn đạt, sử dụng câu văn lủng củng, tối nghĩa, ngô nghê
- Khả năng tư duy logic của học sinh còn nhiều yếu
- Trường THPT Như Xuân là một trường của huyện miền núi, rất nhiều học sinh thuộc hộ nghèo và cận nghèo Phụ huynh phải đi làm ăn xa, không có điều
Trang 4kiện quan tâm, kèm cặp các em học tập Đặc biệt, học sinh đi học theo tư tưởng
"phổ cập giáo dục", điểm đầu vào của trường chỉ trừ điểm liệt Nên năng lực của học sinh đa phần là yếu, kém Khả năng nắm bắt vấn đề của các em còn chậm
Để nắm vững cốt truyện của một tác phẩm sử thi với dung lượng lớn theo hình thức đoạn văn rất khó khăn với các em Thậm chí, nhiều học sinh còn không hề chú ý đến phần tóm tắt tác phẩm vì nó quá phức tạp
Tôi chọn 2 lớp 10 C1 và 10 C3 của khối 10 trường THPT Như Xuân để tiến hành dạy học thực nghiệm theo đề tài trong năm học 2018 – 2019
Ban đầu tôi dạy thực nghiệm bằng phương pháp truyền thống kết quả thu được như sau:
Bảng 1 Kết quả của học sinh ở lớp nhóm 1
Bảng 2 Kết quả của học sinh ở lớp nhóm 2
* Phía giáo viên
- Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháp trực quan vào tiết học hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu bài của các em học sinh
- Một số giáo viên tâm huyết với nghề, nhưng chưa phát huy được hứng thú
và tính tích cực trong học tập của các em học sinh
* Phía thể loại văn học
- Sử thi dân gian là một thể loại văn học có dung lượng tác phẩm lớn, nhiều
sự kiện xảy ra thời cổ đại - thời đại mà học sinh chưa thể hình dung yếu tố lịch
sử, đặc trưng vùng miền Vấn đề trong sử thi lại mang tính cộng đồng, ý nghĩa
tư tưởng lớn Nhiều học sinh "ngại" tiếp xúc với thể loại văn học này, đặc biệt là học sinh miền núi
- Trong chương trình Ngữ văn 10- ban cơ bản, ngoài tác phẩm sử thi dân
gian Việt Nam (đoạn trích "Chiến thắng MtaoMxây" - sử thi "Đăm Săn"), còn có hai tác phẩm sử thi dân gian nước ngoài: sử thi Hy Lạp (đoạn trích "Uy-lit-xơ trở về"- sử thi Ô-đi-xê) và sử thi Ấn Độ (đoạn trích "Ma buộc tội"-sử thi Ra-ma-ya-na) Ba tác phẩm sử thi với dung lượng rất lớn, nhiều sự kiện xoay
quanh nhân vật, tạo ra những khó khăn cho việc tiếp nhận kiến thức của học sinh
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Sử dụng tranh ảnh, sơ đồ tư duy vào giảng dạy đoạn trích
“chiến thắng Mtao Mxây” trích “ Sử thi Đăm Săn
Trang 5*Mục đích: Cần phải có sự đổi mới phương pháp và cách thức giảng dạy:
sử dụng sơ đồ tóm tắt tác phẩm,các tranh ảnh minh họa để khơi gợi hứng thú học tập của học sinh, giúp các em tiếp cận với tác phẩm sử thi dân gian một cách
trực quan,ngắn gọn,mạch lạc và logic hơn
*Cách sử dụng
- Trước hết, giáo viên cho học sinh tìm hiểu lần lượt từng vấn đề trong phần tiểu dẫn: nêu khái niệm sử thi, thể loại sử thi Đến phần tác phẩm cụ thể, giáo viên cung cấp cho học sinh tranh ảnh liên quan đến bài học, phần tóm tắt tác phẩm giáo viên sử dụng sơ đồ tóm tắt đã chuẩn bị từ trước Sơ đồ kiến thức
đó sẽ tác động đầu tiên vào "kênh hình" của học sinh (bước đầu thu hút sự chú ý của học sinh) Tranh ảnh sẽ tạo điểm nhấn về mặt kiến thức then chốt cho học sinh trong quá trình tiếp nhận Giáo viên gọi một học sinh dựa vào phần tóm tắt trong sách giáo khoa và sơ đồ trên tự tóm tắt lại tác phẩm cho cả lớp cùng nghe Giáo viên có nhiệm vụ nhận xét, bổ sung và hoàn chỉnh cho học sinh
- Với sơ đồ tóm tắt tác phẩm, học sinh có dịp nhìn nhận toàn bộ sử thi một cách tổng quát nhất và nhận ra vị trí đoạn trích sẽ học trong dòng chảy của từng
sự kiện xảy ra Sau khi nắm được cốt truyện, học sinh sẽ tự rút ra nội dung chính của tác phẩm sử thi và chủ đề tư tưởng mà tác giả dân gian gửi gắm qua nhân vật chính
- Với một số tranh ảnh liên quan đến sử thi, sẽ dễ dàng tạo sự chú ý và hứng thú cho học sinh Đặc biệt, giáo viên đã bước đầu tái hiện lại không khí vùng miền trong từng sử thi
2.3.2 Thiết kế, vận dụng sơ đồ tư duy vào giảng dạy đoạn trích
“Chiến thắng Mtao Mxây” trích Sử thi Đăm Săn
I Tìm hiểu tiểu dẫn
1 Thể loại: sử thi
- Khái niệm: Sử thi là những tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hay nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại
- Đặc điểm:
Sơ đồ đặc trưng của sử thi
Trang 6Phân loại:
Sơ đồ phân loại sử thi
b Tác phẩm sử thi Đăm Săn
- Xuất xứ: Sử thi Ê Đê ( dân tộc Tây Nguyên)
- Tên đầy đủ: Bài ca chàng Đăm Săn
- Thể loại: sử thi anh hùng
- Sơ đồ tư duy tác phẩm:
Lấy Hơ Nhị và
Hơ Bhi làm vợ
Sứ mệnh tù
trưởng
Đăm Săn
Tù trưởng giàu có, hùng mạnh
Tù trưởng Kên Kên
Tù trưởng Sắt (Mtao Mxây) Chặt cây thần vợ chếtlên trời tìm thuốc
Cầu hôn nữ thần mặt thời
Chết Sinh ra Đăm Săn cháu
Trang 7II Đọc- hiểu văn bản
1.Vị trí đoạn trích
Tác phẩm gồm 7 khúc ca trong đó đoạn trích thuộc khúc ca thứ 6
2.Hình tượng nhân vật Đăm Săn:
* Ngoại hình[1]
Chân chàng to bằng cây xà ngang
Đôi mắt long lanh như mắt chim gếch
Mình khoác một tấm áo chiến
=> Đăm Săn là một tù trưởng mới giàu lên đang tràn đầy sức trẻ
Hình ảnh về vẻ đẹp của Đăm săn[1]
* Cuộc chiến giữa hai tù trưởng:
Trang 8- Đăm Săn khiêu chiến và Mtao Mxây đáp lại; nhưng tỏ ra run sợ (sợ bị đâm lén, dáng tần ngần do dự, đắn đo )
- Vào cuộc chiến:
=>Qua cuộc chiến, ta thấy được sự vượt trội của Đăm Săn về tài năng, bản lĩnh, xứng đáng đại diện cho cả cộng đồng
Hình ảnh trận đấu của Đăm săn và Mtao Mxây[1]
- Chi tiết miếng trầu và ông trời: Biểu tượng cho sức mạnh của thị tộc tiếp sức mạnh cho người anh hùng Nó chứng tỏ rằng ở thời đại sử thi, con người không thể sống tách rời thị tộc
*Nhận xét:
- Cuộc quyết đấu không gây cảm giác ghê rợn mà người đọc, người nghe vui say với chiến thắng oai hùng, yêu mến, cảm phục Đăm Săn
- Mục đích của cuộc quyết đấu: Đòi lại vợ
H
iệ
p
1
Mtao Mxây múa trước thể hiện rõ sự kém cỏi nhưng vẫn huênh hoang
Đăm Săn vẫn bình tĩnh
H
iệ
p
Đăm Săn múa trước
Mtao Mxây hoảng hốt bỏ chạy
H
iệ
p
Đăm Săn múa rất đẹp và dũng mãnh
Mtao Mxây bị Đăm Săn đâm trúng nhưng không thủng
H
iệ
p
Đăm Săn nhờ ông trời chỉ cách đã giết chết kẻ thù
Mtao Mxây chết
Trang 9=> Bảo vệ danh dự của tù trưởng anh hùng, của bộ tộc, trừng phạt kẻ cướp, đem lại sự yên ổn cho buôn làng Bên cạnh đó, cuộc chiến cũng là cái cớ làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các bộ tộc dẫn tới chiến tranh mở rộng bờ cõi, làm nổi uy danh của cộng đồng
Vẻ đẹp của người Ê Đê trong chiến đấu và lao động[1]
- Sau cuộc chiến đấu, tác giả dân giann không đề cập đến chết chóc, không có cảnh tàn sát, đốt phá,… mà phần tiếp lại là cảnh nô lệ của Mtao Mxây
nô nức theo Đăm Săn về và họ cùng mở tiệc mừng chiến thắng
3 Vẻ đẹp nhân vật trong cảnh ăn mừng chiến thắng:
- Không gian: đậm bản sắc văn hóa Ê-Đê Tây Nguyên:
Nhà rông- nơi người dân thường ăn mừng chiến thắng[1]
Trang 10- Hình tuợng Đăm Săn trong cuộc đối thoại, thuyết phục tôi tớ của Mtao Mxây:
+ Cuộc hỏi đáp diễn ra với 3 nhịp hỏi- đáp: Đăm Săn kêu gọi mọi người theo mình cùng xây dựng thành một thị tộc hùng mạnh
+ Đăm Săn để dân làng tự quyết định số phận của mình từ đó thể hiện lòng khoan dung và đức nhân hậu của chàng
+Đăm Săn có uy tín lớn với cộng đồng Bởi vậy lời kêu gọi của chàng nhanh chóng được đáp ứng
=> Những điều đó đã khiến tôi tớ của Mtao Mxây hoàn toàn bị thuyết phục và tự nguyện đi theo chàng
- Ý nghĩa của cảnh mọi người nô nức theo Đăm Săn về:
+ Thể hiện lòng yêu mến, sự tuân phục của tập thể cộng đồng đối với cá nhân người anh hùng
+Thể hiện sự thống nhất cao độ giữa quyền lợi, khát vọng của cá nhân người anh hùng và của cộng đồng
- Hình tượng Đăm Săn trong tiệc mừng chiến thắng:
+Đăm Săn tự bộc lộ niềm vui chiến thắng, sự tự hào và niềm tin vào sức mạnh và sự giàu có của thị tộc mình với tôi tớ
+Sức mạnh và vẻ đẹp dũng mãnh của Đăm Săn: Tóc: dài, hứng tóc là một cái nong hoa.Uống: không biết say; Ăn: không biết no; Chuyện trò: không biết chán Đầu đội khăn nhiễu, vai mang nải hoa,… Bắp đùi: to bằng cây xà ngang,
to bằng ống bễ Nằm sấp thì gãy rầm sàn, nằm ngửa thì gãy xà dọc
=> Vẻ đẹp hình thể: có phần cổ sơ, hoang dã, mộc mạc nhưng hài hoà với thiên nhiên Tây Nguyên Thể hiện sức khoẻ: phi phàm, dũng mãnh, oai hùng,
“vốn đã ngang tàng từ trong bụng mẹ” Từ đó cho thấy cái nhìn thẩm mĩ của dẫn tộc Ê Đê Tây Nguyên
=> Bút pháp lí tưởng hoá và biện pháp tu từ so sánh – phóng đại đã khắc hoạ bức chân dung đẹp, oai hùng, kì vĩ của Đăm Săn Thể hiện cách nhìn của tác giả sử thi: đầy ngưỡng mộ, sùng kính, tự hào
- Cách miêu tả:
+ Sử dụng nhiều hình ảnh so sánh trùng điệp
+ Biện pháp phóng đại
+ Giọng văn trang trọng, hào hùng, tràn đầy cảm hứng ngợi ca, lí tưởng hoá
III Tổng kết
1 Nội dung
Đoạn trích đã làm sống lại quá khứ anh hùng của người Ê Đê Tây Nguyên thời cổ đại:
+ Người Tây Nguyên tự hào về tổ tiên mình, vì có Đăm Săn, Xinh Nhã cũng như người Kinh tự hào vì có Thánh gióng, An Dương Vương
+ Đoạn trích thể hiện vai trò của người anh hùng với cộng đồng: trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, phồn vinh của thị tộc