Làmột giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Văn ở nhà trường THPT, tôi luôn bănkhoăn, suy nghĩ, tìm tòi đổi mới cách dạy học của mình sao cho phù hợp nhấtvới đối tượng học sinh để các em
Trang 1I- MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài:
“Hỡi sông Hồng, tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
Chưa đâu, và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào bể bắc
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng
Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn ”
Thế giới luôn thay da đổi thịt, chuyển động từng ngày.Những gì bạn biết hôm nay, ngày mai lại trở thành đã cũ Và thêm một ngàymới lại xuất hiện điều kỳ diệu mới Những gì nhà thơ Chế Lan Viên viết trong
“Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” thật đúng với thời điểm này - thời điểmđặt ra cho chúng ta bao nhiêu cơ hội, cùng bao nhiêu thách thức; là động lực để
ta vươn dậy sánh vai cùng bạn bè bốn bể năm châu Có hay không, đó là mộtthực tế Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 ra đời như là một phần tất yếu củacuộc sống Thế nhưng có một mâu thuẫn đáng bàn là, năm 2020, chương trìnhSách giáo khoa mới lại bắt đầu phổ cập và đội ngũ giáo viên THPT lại còn phảitiếp tục chèo chống con đò đưa lớp lớp thế hệ học sinh đón đầu cuộc Cách mạngCông nghiệp lần thứ tư đang đến gần Mục tiêu giáo dục xã hội đang đặt ra bứcthiết từng ngày: Một xu thế tự động hóa – mỗi công dân đều tất bật với côngcuộc đổi mới “Đổi mới phương pháp dạy học” chính là xu thế tất yếu của thờiđại Giáo viên 4.0 phải bứt phá bản thân mình trong “bình cũ rượu mới”, đào tạothế hệ học trò 4.0 để bắt nhập với thời cuộc Hiện tại chưa có các tài liệu nghiêncứu nào bàn sâu về việc đổi mới phương pháp dạy học Văn ở nhà trường THPTnhư thế nào để đạt hiệu quả cao nhất nhìn từ thành tựu cuộc cách mạng 4.0 Làmột giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Văn ở nhà trường THPT, tôi luôn bănkhoăn, suy nghĩ, tìm tòi đổi mới cách dạy học của mình sao cho phù hợp nhấtvới đối tượng học sinh để các em phát triển được nhiều nhất năng lực tự học,chủ động đến với chân lí Chọn đề tài này là một vấn đề cấp thiết
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Chúng ta cũng biết rằng, những lĩnh vực hiện nay của ta đang hoạt động trongkhông gian của 4.0: Viễn thông, hệ thống mạng, camera tự động Nhữngdoanh nghiệp đang áp dụng công nghệ in 3D, công ty FPT chuẩn bị cho ra mắt
“xe ô tô tự vận hành” Còn trong đời sống hàng ngày, những gì chúng ta đang
sử dụng cũng là sản phẩm của cuộc Cách mạng này: Ti vi thông minh, máy giặtthông minh, điện thoại thông minh, máy ảnh thông minh, nhà hiệu bộ thôngminh Vì vậy, con người – những chủ nhân của hiện tại và tương lai khôngthể kém thông minh và hiểu biết được! Muốn vậy, con người phải tự rèn chomình nhiều kỹ năng để thích ứng với những đổi mới Và đổi mới phương pháp
Trang 2dạy học Văn chính là một biện pháp tốt nhất để rèn năng lực, phẩm chất cầnthiết cho học sinh dưới tác động của cuộc Cách mạng này
Vậy cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 là gì? Dùng thuật ngữ này có ý nghĩa gì?
Nó đóng vai trò thế nào đến sự phát triển công nghệ thế giới và Việt Nam? Lànsóng này tác động thế nào đến tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống conngười, và ảnh hưởng sâu sắc thế nào đến nền giáo dục Việt Nam nói chung vàviệc dạy học bộ môn Ngữ Văn nói riêng? Đó là những vấn đề then chốt màchúng ta cần suy nghĩ và cũng là mục đích mà đề tài muốn hướng tới
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này sẽ nghiên cứu, tổng kết việc đổi mới phương pháp dạy học môn NgữVăn cho học sinh THPT dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết:
Từ vấn đề dạy và học môn Ngữ Văn thực tế ở trường phổ thông nhìn từ thànhtựu của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, người viết nhận xét, đánh giá và rút
ra hướng đi mới cho bản thân
1.4.2 Phương pháp khảo sát thực tế:
- Bắt đầu từ tuần học thứ 2 của trường, chúng tôi đều tiến hành phương pháp dạyhọc theo yêu cầu phát triển năng lực người học; sau khi tiếp nhận công văn củaGiám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa Giáo án đổi mới, được phê duyệtcẩn thận; nội dung tinh giản, cấu trúc đề ra Cho các bài Kiểm tra tra thườngxuyên và định kỳ chỉnh chu hơn, có ma trận kèm theo cấp độ phân hóa ngườihọc: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng thấp, Vận dụng cao Chúng tôi tiến hànhchấm, chữa bài cẩn thận và đối sánh Định kỳ vào các tuần 3, 8, 13, 18, 23, 27 ,32
1.4.3 Phương pháp thống kê, so sánh đối chiếu:
- Để có thể dạy theo yêu cầu phát triển năng lực của học sinh, chúng tôi tiếnhành thống kê, so sánh với các tiết dạy của đồng nghiệp theo phương pháp cũ vàmới; giữa các tiết dạy của chính mình trong hai lớp khác nhau So sánh đốitượng HS các năm, chúng tôi tìm rõ nguyên nhân yếu kém Ví dụ: Năm học
2018 – 2019, ngay từ đầu năm, chúng tôi đã khảo sát học lực môn Văn
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
- Điểm mới của đề tài lần này là chỉ những yêu cầu bức thiết của Cuộc Cách
mạng Công nghiệp 4.0 đối với một giáo viên Ngữ Văn ở trường THPT, nhữngđổi mới hiệu quả thiết thực đối với giờ dạy Văn hiện nay trên cơ sở nâng cao,phát huy năng lực người học
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Đến với cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, thế giới của “kết nối thành con người biết trước ước mơ! Có ba thế giới luôn tồn tại xung quanh chúng ta:Thực - Ảo – Thực qua phương tiện ảo(trí tuệ nhân tạo).Đó là thế giới của tốc độ,thế giới thứ ba, con người phải phát triển được năng lực Thứ nhất là năng lựctình cảm Theo Giáo sư Trần Văn Nhung, Con Người cần có Trái Tim Nhân
Trang 3công”-Hậu! Năng lực thứ hai là kỹ năng Ngoại ngữ và Tin học Năng lực thứ ba đượcphát triển nhờ hai năng lực kể trên, đó là năng lự kết nối các loại hình văn bản;kết nối ảo và phát huy tối đa tốc độ Công cụ minh họa đưa con người đến nhiềucách hiểu khác nhau(đó là phần mềm dạy đọc Văn; kỹ năng đọc diễn cảm ).Thông thường, chúng ta cần giảng bài cho học sinh trong thời gian 45 phút thìgiờ đây, chúng ta chỉ cần dành 1/3 thời gian, còn 2/3 giáo viên giao nhiệm vụhướng dẫn học sinh tự làm, tự nghiên cứu và tìm ra chân lí Giáo viên gợi mở,đồng cảm, chia sẻ Học sinh sẽ hình thành phẩm chất, năng lực môn học ở cảbốn kỹ năng nghe-nói-đọc-viết thành thạo các loại văn bản(văn bản hành chính–công vụ, nghệ thuật hay báo chí) Viết Nghị luận xã hội, học sinh được bộc lộchính kiến của bản thân; không nhất thiết phải viết dài dòng, lê thê; cần phânbiệt được đâu là thông tin chính thống, không chính thống Vậy, “Cách mạngCông nghiệp 4.0” là gì?
2.1.1.Khái niệm Cách mạng Công nghiệp 4.0:
Đây là thuật ngữ dùng để phân biệt với những cuộc Cáchmạng trước đó: Cách mạng 0.0: Sự chuyển đổi từ “vượn” thành người(Cáchmạng) nhờ sự phát minh ra lửa Con người vận động não để tồn tại Cách mạngCông nghiệp lần thứ nhất(từ 1784) khi loài người phát minh ra động cơ hơinước, làm biến đổi đời sống Cách mạng Công nghiệp lần thứ hai(từ 1870), loàingười phát minh ra động cơ điện, đem lại cuộc sống văn minh hơn Cách mạngCông nghiệp lần thứ ba(từ 1969), con người phát minh ra bóng bán dẫn, điện tử[12] Ví dụ: Vệ tinh, máy bay, máy tính, điện thoại, Internet là kết quả của cuộcCách mạng này
Cuộc Cách mạng này được nhen nhóm từ những năm 2000
và đến nay đã có sự bùng nổ to lớn Đây là cuộc Cách mạng thứ tư nghiên cứu
về công nghệ số, Inernet với mục đích biến thế giới thực thành một thế giới số
Kỹ thuật sử dụng máy giặt Aqua(Nhật Bản) cũng “automatic”(tự động) Máyảnh M cũng chỉ cần ấn nút; mọi việc còn lại M sẽ làm nốt Đến ngay cả điệnthoại di động cũng vậy; vào khoảng năm 2000 vẫn chỉ là những chiếc máy bànthì giờ đây là những chiếc máy điện thoại di động thông minh, chỉ cần bấm,vuốt, nói – tất cả sẽ được thực hiện như ý muốn! Cách mạng Công nghiệp lầnthứ tư mở ra một kỷ nguyên mới
2.1.2 Bản chất, hệ quả của các cuộc Cách mạng Công nghiệp:
2.1.2.1 Cách mạng Công nghiệp 1.0:
Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ nhất xuất hiện ở Đứcnăm 1784 và diễn ra vào nửa cuối thế kỷ XVIII- nửa đầu hế kỷ XIX, thay đổi từsản xuất chân tay sang sản xuất cơ khí nhờ phát minh ra động cơ hơi nước Từ
“con người chỉ đủ ăn” chuyển đổi thành “một xã hội phồn vinh” là cả một quátrình Theo ThS Vũ Văn Trà- Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo HảiPhòng, “Web 1.0: (1997-2003): Thời kỳ chỉ biết đọc Web
Giáo dục 1.0: đặc trưng bởi sự chuyển kiến thức từ Thầy sang Trò (thầy đọc trò chép)[14]
Trang 42.1.2.3 Cách mạng Công nghiệp 3.0:
Cách mạng công nghiệp 3.0 (Xã hội công nghệ) là thuật ngữ dùng để chỉ Cuộccách mạng công nghiệp lần thứ ba diễn ra từ những năm 1970 với sự ra đời củasản xuất tự động dựa vào máy tính, thiết bị điện tử và internet Một xã hội vănminh ra đời Chúng ta hiện nay đang sống trong thời kỳ quá độ của 3.0 Web3.0: (2007-2011): Thời kỳ trợ giúp biết mọi thứ về bản thân và truy cập thôngtin để trả lời cho mọi vấn đề
Giáo dục 3.0: Tự học theo digital media, social media, lúc này đã xuất hiệnphương pháp học tương tác (interactive learning)[14]
2.1.2.4 Cách mạng Công nghiệp 4.0:
Cuộc Cách mạng này xóa nhòa ranh giới giữa thực và ảo Cách mạng 4.0 là
sự kết hợp của ba yếu tố: Vật lý, Kỹ thuật số và sinh học Theo Tiến sỹ Lê ThẩmDương, “đây là sự đột ngột của tư duy, của não Bởi vậy, tất cả mọi cấp, mọingành đều phải học Định hướng 15 năm nữa, ta sẽ làm gì, ta không biết trước.”[9]Trí tuệ nhân tạo (AI) được đánh giá là một trong những công nghệ “đầu tàu”của cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 khi nó hiện diện ở mọi lĩnh vựctrong đời sống, xã hội Mặc dù được đưa vào nhóm quốc gia có tiềm năng,nhưng việc nghiên cứu, ứng dụng và phát triển AI đang là thách thức lớn đối vớiViệt Nam Nếu nắm bắt được xu thế, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trungtâm nghiên cứu về AI của khu vực và thế giới[1] Còn theo tác giả Vũ Văn Trà,Web 4.0 (2012): Thời kỳ đa số tham gia Web; khách hàng sử dụng điều hànhđám mây (os); mua-bán qua Internet; Smart PC, Smartphone, bảng thông minh công nghệ lướt web Giáo dục 4.0: thay đổi hành vi của người học cùng với cácnăng lực song hành, kết nối và tưởng tượng (parallelism, connectivism vàvisualization)[14]
Thế nhưng, Cuộc Cách mạng Công nghiệp càng tiệm cận, ta càng cảmthấy lo ngại Tâm lí người Việt Nam thích bình yên, ngại sự thay đổi, dẫu biếtrằng “thay đổi” mới là “đang sống”, “đang trưởng thành”, “phát triển” CuộcCách mạng này hàm chứa sự thay đổi lớn lao, toàn diện Lúc này, các quốc giađang ở đỉnh cao, còn chúng ta mới chỉ bắt đầu(!)“Thời đại 4.0, giáo dục Việtđang đâu đó ở giai đoạn… 2.0”(Theo tác giả Lê Thu- Nguồn: Báo Dân trí) Theo tác giả, Nếu thử so sánh với tương quan của thời đại (hiện là cách mạngcông nghiệp 4.0), trình độ phát triển giáo dục nước nhà đang chậm hẳn 2 giai
đoạn Với cuộc Cách mạng này, chỉ cần “số hóa”, “rô bốt hóa” nền sản xuất, các
công ty đã có cơ hội Nhiều nước đã lên kế hoạch quan tâm và lập chiến lượccho mình Ví dụ: Trung Quốc đưa ra chiến lược “Made in Chiner 2025”, mục
Trang 5tiêu biến người Trung Quốc thành “những người khổng lồ”(Đến 2020, mỗi năm
cả nước sẽ cung cấp 100.000 rô bốt ra thị trường) Đức có chiến lược “Nhà cungcấp sản xuất hành đầu”(2011) Hàn Quốc “là một trong những quốc gia quyếttâm đi đầu trong cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 trọng tâm là khai thác vàthu hút các ý tưởng ”[2] đến nay đã có ô tô thông minh, bệnh viện thông minh,đường phố thông minh, bến xe buýt thông minh cũng có kế hoạch riêng trongnăm 2018 này! Còn Xingapo, đảm bảo phát triển vững bền Cách mạng Côngnghiệp lần thứ tư, dành 450.000.000 đô- la trong ba năm tới(“Chiến lược xâydựng Quốc gia thông minh của Xingapo”) để phát triển đời sống (Dẫn chứng từnguồn thông tin thời sự cập nhật trên chương trình VTV1, thứ 7 và chủ nhậthàng tuần)
Việt Nam đứng trước nỗi lo: Những gì là thế mạnh(ưu điểm) của mình hômqua, hôm nay không còn phù hợp nữa! Tất cả các lĩnh vực khác của ta đều đángbáo động Ta thường tự hào nước mình có lực lượng lao động dồi dào ư, trẻ ư?Tài nguyên thiên nhiên giàu có ư? Giỏi về lao động thủ công ư? Nguy cơ thấtnghiệp là không tránh khỏi Ông Nguyễn Minh Phong, Chuyên gia Kinh tế cũng
đã khẳng định: “Cách mạng Công nghiệp 4.0 làm thay đổi cả cơ cấu, phươngthức sản xuất Ngày càng giảm dần những bộ phận lao động giản đơn ”[4]
“Công nghiệp 4.0 có thể mang lại cho kinh tế Việt Nam một cơ hội hiếm để bứtphá và Việt Nam đang có sự chuẩn bị tích cực cho cơ hội này”[6] “Cách mạngcông nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) sẽ mang đến cho các nền kinh tế, trong đó
có Việt Nam, cơ hội bứt phá nhảy vọt Làm thế nào để Việt Nam nắm bắt được
cơ hội này, nhiều chuyên gia, nhà khoa học trong nhóm 100 chuyên gia tham giaChương trình kết nối Mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam 2018 đã cùng hiếnkế”[9] Và lúc ấy: “Lao động phổ thông sẽ bị triệt tiêu”[10], cần phải “Hướngnghiệp cho con trong thời đại công nghiệp 4.0”[10] bằng cách tự xác định chomình hiện tại có 5 người thầy cơ bản: Người thầy trên lớp; người thầy Thầntượng, bản thân mình, bạn bè mình, kiến thức ở sách vở và tài liệu Internet
Theo Tiến Sỹ Lê Quang Huy: Thuật ngữ CMCN 4.0, hay CMCN lần thứ 4 được
nêu ra lần đầu tại Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2016 Theo đó, cuộc cách mạngnày sẽ làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, thay đổilối sống, phong cách làm việc, cách thức giao tiếp của chúng ta và không giốngvới bất kỳ điều gì mà chúng ta đã trải qua do tốc độ lan tỏa, phạm vi ảnh hưởng
và sự tác động mang tính hệ thống của nó”[12] Vì vậy, chúng ta nên sử dụngtriển khai thành tựu cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 một cách “khôn ngoan”.[16]
Cách mạng công nghiệp 4.0 được dự đoán sẽ mang lại những lợi ích rất lớn.Tuy nhiên, với những quốc gia có nền kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên, laođộng giá rẻ như Việt Nam, tác động của cuộc cách mạng này trong giai đoạn đầu
có thể sẽ là rất tiêu cực Cụ thể, những công nghệ năng lượng hay vật liệu mới,
in 3D sẽ ảnh hưởng lớn đến việc khai thác và sử dụng tài nguyên, khi thế giới
Trang 6không còn phải phụ thuộc quá nhiều vào các hoạt động khai thác tài nguyênthiên nhiên Các con số thống kê cho thấy, 20 năm tới đây, 70-75% những côngviệc đơn giản, thủ công trong các ngành nghề này có thể sẽ bị thay thế Điều này
có thể khiến vài chục triệu lao động truyền thống bị mất việc[3] Và
“Cách mạng 4.0 sẽ triệt tiêu lao động giản đơn, nhất là người lao động trong lĩnhvực nông nghiệp và thủ công”[5]
Với tác động như vậy, trong thời đại công nghiệp này đòi hỏi cần phải đàotạo ra những con người có “năng lực tư duy, sáng tạo, đổi mới, có kỹ năng phântích và tổng hợp thông tin, có khả năng làm việc độc lập và ra quyết định” dựatrên cơ sở phân tích các chứng cứ và dữ liệu họ phải học cách điều khiển máymóc, trở thành những ông chủ thông minh trong công nghệ
Ở nước ngoài, nhất là các nước có nền kinh tế phát triển, họ nắm khá rõ xuhướng của cuộc CMCN 4.0 từ nhiều năm qua, theo đó họ đầu tư rất nhiều.( ) ĐểViệt Nam có thể thành công trong Cách mạng Công nghiệp 4.0, chúng ta rất cầncác công ty lớn đầu tư nhiều cho phát triển, cùng với đó là ứng dụng mạnh mẽcông nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất Đối với những người Việt ở nướcngoài muốn cống hiến, Chính phủ cần tạo lập môi trường tốt để họ thỏa sức sángtạo[5]
2.1.3. Cách mạng Công nghiệp 4.0 với nền giáo dục Việt Nam
Thế kỷ XXI, ngành Giáo dục và Đào tạo đứng trước những thách thứcmới Trong xu thế hội nhập mạnh mẽ với khu vực và quốc tế, để thích ứng vớiCách mạng Công nghiệp lần thứ tư, nhiều cấp ngành đều thấy lo ngại vì khó cóthể dự đoán được những kỹ năng mà thị trường lao động mới sẽ cần trong tươnglai Hiện tại, “Giáo dục của Việt nam không theo kịp với thế giới”[16]
Theo giới chuyên gia, cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 sẽ thay đổi nềnkinh tế thế giới với 10 ứng dụng công nghệ thông tin quan trọng”[14] (Xem:Hình 1- Phần Phụ lục- trang 21)
Theo đó, giáo dục 4.0 được hiểu là một môi trường mà ở đó mọi người cóthể cùng dạy học ở mọi nơi, mọi lúc với các thiết bị kết nối để tạo ra việc họctập được cá thể hóa Môi trường mới này biến đổi tổ chức giáo dục thành mộtmôi trường tạo sản phẩm sáng tạo mang tính cá thể với thành tựu lĩnh hội kiếnthức và năng lực đổi mới, sáng tạo riêng của từng cá nhân trong môi trường này
“Có thể nói sự sáng tạo, đổi mới chính là nền tảng của giáo dục 4.0 Các yếu tốtrong môi trường mới này linh động và có mối liên quan mật thiết Việc sắp xếpcác yếu tố khác nhau trong hệ sinh thái hướng tới mục tiêu giáo dục là rất quantrọng Đây còn được gọi là cuộc cách mạng số”[14]
Cũng theo ThS Vũ Văn Trà- Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng,cần thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo; nhằm đáp ứngyêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực của Quốc gia cách mạng công nghiệp
Trang 7lần thứ 4 diễn ra quá nhanh Trong cuộc cách mạng lần này, giáo dục và đào tạophải đối mặt với các yêu cầu cải cách và cạnh tranh mới Cùng với sự thay đổinhanh chóng của công nghệ, trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đòihỏi giáo dục phải đem lại cho người học những kỹ năng và kiến thức cơ bản lẫn
tư duy sáng tạo, khả năng thích nghi với các thách thức và yêu cầu công việcthay đổi liên tục để tránh nguy cơ bị tụt hậu và đào thải.[14]
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển mạnh mẽ đã đem lại việc giảngdạy các bậc học(từ Giáo dục Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở đến Trunghọc phổ thông ) ở Việt Nam những thách thức mới, đòi hỏi những nỗ lực hếtmình để theo kịp thời đại và để có thể cùng tham gia vào quá trình “kinh tế trithức” “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã công bố mục tiêu giáo dụchọc sinh phổ thông để rèn luyện tốt 5 phẩm chất và 10 năng lực Chương trìnhcác môn học và sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy khi triển khai đềuhướng tới mục tiêu này”[7]
“Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra thách thức ngành giáo dục phải thayđổi cách dạy học cho phù hợp Nếu nhà giáo chỉ cung cấp, truyền dạy thông tintri thức của các bộ môn khoa học thì ngày nay, người máy và các thiết bị thôngminh sẽ làm tốt hơn các nhà giáo”[8] (Xem Phụ lục 1: Hình 3- trang 21)
Năm học này, tôi càng ý thức rõ hơn vai trò, trách nhiệm của một giáoviên dạy THPT trong thời đại mới:
Thứ nhất, người giáo viên phải “là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở,
cố vấn, trọng tài cho các hoạt động tìm tòi, khám phá, sáng tạo của học sinh,giúp học sinh tự lực chiếm lĩnh tri thức ” [15]
Thứ hai, giáo viên phải là một công dân gương mẫu, có ý thức trách nhiệm xãhội, hăng hái tham gia vào sự phát triển của cộng đồng giáo viên là người đóngvai trò quan trọng trong việc hình thành bầu không khí dân chủ, thiết lập cácquan hệ xã hội công bằng, tốt đẹp, … trong lớp học, trong nhà trường, từ đó gópphần vào việc xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh[15]
Thứ ba, giáo viên “phải có lòng yêu mến, tôn trọng và có khả năng tương tác vớihọc sinh”.[15] Nghĩa là giáo viên phải hiểu được sự khác nhau giữa các học sinhtrong một lớp; biết phân luồng đối tượng học sinh cho phù hợp để giảng dạy Thứ tư, giáo viên phải có năng lực đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từkiểu dạy học tập trung vào vai trò của giáo viên và hoạt động dạy sang kiểu dạytập trung vào vai trò của học sinh và hoạt động học; từ cách dạy thông báo – giảithích sang cách dạy hoạt động tìm tòi, khám phá Trong năng lực đổi mớiphương pháp dạy học, giáo viên phải có khả năng cập nhật và nghiên cứu, vận
Trang 8dụng những phương pháp dạy học mới, tích cực; biết phối hợp các phương phápdạy học truyền thống, hiện đại để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học[15].Thứ năm, giáo viên “phải có năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự bồi dưỡngchuyên môn nghiệp vụ, không ngừng cập nhật tri thức khoa học và chuyênngành hiện đại”.[15](Xem ảnh minh họa – Hình 4- trang 21).
Thứ sáu, giáo viên phải có trình độ tin học và có khả năng sử dụng các phầnmềm dạy học cũng như biết cách khai thác mạng Internet phục vụ cho công việcgiảng dạy của mình[15] Trong thời đại công nghệ hiện nay, việc học của họcsinh phải gắn với sự tự tìm tòi, khám phá Học sinh có quyền băn khoăn, thắcmắc; dân chủ hơn trong việc chiếm lĩnh tri thức nhân loại
Thứ bảy, giáo viên phải có kĩ năng hợp tác[15] Một trong bốn trụ cột của giáodục thế kỉ XXI do UNESCO đề xướng là "học để cùng chung sống" Trên tầm vĩ
mô, thế giới ngày càng thu hẹp khoảng cách không gian nhờ vào công nghệthông tin Giáo viên cần truyền dạy cho học sinh của mình cách hợp tác tronghọc tập và cuộc sống
Thứ tám, giáo viên phải có năng lực giải quyết vấn đề
Các vấn đề thực tế cuộc sống được phản ánh vào nhà trường dưới một lăng kính
đủ để cho người học tiếp cận theo cách phù hợp với lứa tuổi của mình Giảiquyết các vấn đề trong các bài học ở nhà trường cũng nên xem như giải quyếtcác vấn đề của cuộc sống để các em khỏi bỡ ngỡ khi bước vào đời sống thực tế
phong phú [15].
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
- Giáo viên vẫn còn dạy chay trong mỗi giờ lên lớp Việc sử dụng tranh, ảnh,
bảng phụ, phiếu học tập vẫn chỉ là hình thức, hoặc đối phó, chưa thực sự hiệuquả
- Các tiết dùng máy chiếu rất ít, chủ yếu sử dụng trong các đợt thao giảng vàcũng chỉ ở một số giáo viên
- Phương pháp truyền thống vẫn là chủ đạo; còn nhiều giáo viên chưa thực sựtạo không khí dân chủ trong giờ học
- Kỹ năng sử dụng Tin học và các phần mềm đôi khi còn hạn chế
- Việc ra đề, chấm trả bài cho học sinh chưa thực sự phát huy hết năng lực, sáng tạo của người học Nhiều đề còn sử dụng trên mạng
- Việc ôn thi học kỳ cho học sinh chưa thực sự hiệu quả
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Các năm học 2006-2007, 2010-2011; 2011-2012 và 2016-2017, tôi đã viết
những sáng kiến kinh nghiệm đề cập đến việc Đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt 10; Ứng dụng kĩ năng sống và phương pháp dạy học tích cực vào
Trang 9việc đọc hiểu văn bản nghị luận lớp 11; Vai trò của người giáo viên Ngữ Văntrong việc hướng dẫn học sinh Đọc hiểu văn bản nghị luận 10, 11 và Một sốbiện pháp hướng dẫn học sinh trung bình yếu lớp 12 Ôn thi Tôt nghiệp THPTQuốc giamôn Ngữ Văn năm 2017.
Bắt đầu từ năm 2020, chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ hình thành vàphát triển cho học sinh 5 phẩm chất chủ yếu là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ,trung thực, trách nhiệm
Chương trình này cũng hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốtlõi gồm:
- Những năng lực chung, được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục gópphần hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợptác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Những năng lực chuyên môn, được hình thành, phát triển chủ yếu thông quamột số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, tính toán,tìm hiểu tự nhiên và xã hội, công nghệ, tin học, thẩm mỹ, thể chất.Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình GDPTcòn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của họcsinh[7].(Xem sơ đồ Hình 2 Phần Phụ lục.)
Theo Thông tư số 20, giáo viên THPT bây giờ cần hội tụ cả 5 yếu tố: Một
là, có phẩm chất nhà giáo; hai là phát triển chuyên môn nghiệp vụ; ba là xâydựng được môi trường giáo dục; bốn là phát triển được các mối quan hệ nhàtrường, gia đình, xã hội; năm là sử dụng ngoại ngữ, tiếng dân tộc, ứng dụngcông nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong giảng dạy
Dưới tác động của Cách mạng Công nghiệp 4.0, người giáo viên THPThiện nay cần biết tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực, phẩm chấtngười học Nhiệm vụ quan trọng của mỗi giáo viên đứng lớp bây giờ là tổ chức,hướng dẫn, điều chỉnh quá trình học tập của học sinh Nhằm phát huy cao nhấttính tích cực, tự giác, sáng tạo của người học, người giáo viên cần biết thắp lửađam mê trong mỗi giờ học Là một giáo viên đã công tác 18 năm, hai lần thaysách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học, tôi luôn trăn trở và không ngừngtìm tòi cách thức giảng dạy phù hợp nhất, sát đúng với đối tượng học sinh màmình được phân công đảm nhiệm Dưới đây, tôi xin được trình bày một số kinhnghiệm ít ỏi của bản thân trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ Văn ở nhàtrường THPT cho các lớp Khoa học tự nhiên và các lớp đại trà
Trang 10Thứ nhất, bộ môn Ngữ Văn có ba phân môn là Đọc Văn, Tiếng Việt và LàmVăn Trong chuyên đề Bồi dưỡng thường xuyên THPT 18 bàn về tám phươngpháp dạy học tích cực, tôi đã:
2.3.1 Giải pháp 1: Phân loại từng phương pháp phù hợp với đặc trưng phân môn, kiểu bài để vận dụng cho hợp lí
Ví dụ: Với phân môn Tiếng Việt, Làm văn(đặc biệt là các tiết Luyện tập,
Thực hành, chữa bài tập), tôi sử dụng nhiều nhất Phương pháp Thảo luận nhóm.
Tôi đã thực hiện theo quy trình sau:
- Bước 1:
Tôi mời ba em làm bài viết lên bảng(tôi đã kẻ sẵn ba cột), còn lại ở dưới lớpcác em làm bài độc lập ra nháp Sau đó ghép nhóm, cứ hai bạn làm một nhóm
- Bước 2: Tôi mời tiếp ba em khác lên bảng, dùng phấn khác màu chữa phần bài
mà em cho là chưa đúng hoặc bổ sung phần còn thiếu sót Tương tự như vậy, ởdưới lớp, hai bạn được ghép nhóm đổi bài cho nhau để giúp nhau sửa chữa, bổsung bài cho hoàn thiện
- Bước 3: Sau cùng, tôi chữa mẫu các bài trên bảng để các em đối chiếu đúngsai (Hoặc dùng máy chiếu hỗ trợ đưa kết quả để tiết kiệm thời gian)
Ví dụ: Bài Đặc điểm loại hình của tiếng Việt (Chương trình Ngữ Văn 11, Học
kì II), phần Luyện tập, Bài 1: Hãy phân tích những ngữ liệu dưới đây về mặt từngữ (chú ý những từ ngữ in đậm) để chứng minh tiếng Việt thuộc loại hình ngônngữ đơn lập
- Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống ruộng cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay
- Thuyền ơi có nhớ bến chăng,
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
- Yêu trẻ, trẻ đến nhà; kính già, già để tuổi cho.
(…) Ở bài tập này, chúng ta thấy có ba ngữ liệu Tôi cho mỗi em làm một ngữliệu Các em sẽ chỉ ra ví dụ (1) “nụ tầm xuân” thứ nhất là bổ ngữ; còn “nụ tầmxuân” thứ hai là chủ ngữ nhưng cách viết thì giống nhau Chỉ khác: Chủ ngữđứng đầu dòng nên viết hoa (Tương tự ví dụ 2,3 – chỉ khác là chủ ngữ ở đâyđứng giữa câu nên không viết hoa.)
2.3.1.1 Vận dụng phương pháp tự nghiên cứu, ứng dụng thực hành
Với các tiết dạy Văn học sử( Bài Khái quát ; Bài Tác giả văn học) tôi đã thựchiện phương pháp này là chủ yếu Cụ thể:(Mục 2.4)
Trang 112.3.2.2 Lồng ghép trò chơi trong dạy - học phân môn Tiếng Việt
Tiết học phù hợp là phân môn Tiếng Việt( hoặc Ôn tập văn học) Nhưchúng ta đã biết, trò chơi vừa là một hoạt động giải trí vừa là một phương phápgiáo dục Giáo dục bằng trò chơi là một phương pháp đã được nhiều nền giáodục tiên tiến trên thế giới vận dụng Lồng ghép trò chơi trong dạy và học mônNgữ văn, kết hợp với những phương pháp dạy học khác sẽ có ý nghĩa tích cựcđối với yêu cầu đổi mới hiện nay đồng thời tạo được hứng thú trong học tập chongười học
Giới thiệu hình thức lồng ghép trò chơi trong tổ chức lớp học ở các giờhọc Ngữ Văn THPT nhằm bổ sung và đổi mới những phương pháp dạy học Ngữvăn truyền thống Qua phân tích ý nghĩa, mối quan hệ của việc học mà chơi,chơi mà học để giới thiệu một cách có hệ thống về các hình thức lồng ghép tròchơi, minh hoạ một số trò chơi và những khả năng lồng ghép trò chơi đối với cả
ba phân môn: Đọc văn, Tiếng Việt và Làm văn Mục đích cuối cùng là cải tiếnphương pháp dạy học, tạo thêm hứng thú cho người học, giúp học sinh tích cực,chủ động tiếp nhận tri thức và hình thành kĩ năng, phát triển nhân cách [11] Một số hình thức lồng ghép trò chơi trong dạy và học Ngữ văn ở THPT: Một số hình thức lồng ghép trò chơi: Xem trò chơi là một hình thức tổchức cho một đơn vị kiến thức nhỏ trong giờ học để triển khai ở các bước khácnhau của bài giảng (phần tìm hiểu chung, tìm hiểu ngữ liệu, phần đọc - hiểu vănbản, phần luyện tập, củng cố bài…) Tổ chức tiết học thành một trò chơi lớn đốivới một số tiết ôn tập hoặc khái quát
Một số trò chơi có thể vận dụng lồng ghép trong dạy học Ngữ văn: giáoviên có thể tự sáng tạo ra những trò chơi phù hợp với tiết học (trò chơi phátđộng, trò chơi hoạt động, trò chơi luỵên trí, trò chơi chú ý và quan sát, trò chơihuy động kiến thức, trò chơi vận dụng kiến thức…), tự đặt tên trò chơi (theonguyên tắc vừa phù hợp, vừa kích thích sự tò mò của em Ví dụ: Ô chữ, nhanhtrí-nhanh tay, Bình thơ văn, Tiếp sức, Hùng biện, Nghe tiếng đoán người Cónhiều trò chơi có thể lồng ghép vào giờ học Ngữ văn nhằm tạo không khí lớphọc sôi nổi, tạo hứng thú học tập cho các em Tôi sẽ trình bày một số trò chơi dễ
áp dụng đem lại hiệu quả học tập cao:
* Trò chơi Nghe tiếng đoán người:
Năm 2011-2012, tôi bắt đầu thử nghiệm lồng ghép trò chơi trong tiết 3,Tiếng Việt: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (Chương trình Ngữ Văn 11,Ban Cơ bản) và một số tiết ôn tập khác ở chương trình Ngữ Văn 10, Ban Cơbản Kết quả ban đầu thu được thật khả quan Với tiết học này, tôi vận dụng tròchơi Nghe tiếng đoán người Tôi cho cả lớp nhắm mắt lại trong 10 giây, cho một
em học sinh bàn đầu nói một câu bất kì và yêu cầu cả lớp mở mắt; mời một embàn cuối đoán tên bạn vừa nói câu nói trên Sau khi học sinh đã có đáp án, tôiliền hướng tới hệ thống câu hỏi để giúp học sinh chỉ ra năm biểu hiện của Lời
Trang 12nói - sản phẩm của mỗi cá nhân Làm như vậy, học sinh vừa xâu chuỗi được vấn
đề, vừa dễ dàng tìm ra đáp án: Lời nói cá nhân biểu hiện ở Vẻ riêng trong Giọngnói cá nhân; Vốn từ ngữ cá nhân; Sự chuyển đổi sáng tạo sử dụng từ ngữ chungquen thuộc
* Trò chơi Giải mã ô chữ bí mật:
Ở tiết 29: Ôn tập Văn học dân gian(Chương trình chuẩn, Ngữ Văn 10, học
kì I), tôi cho các em lần lượt thực hiện các bước: Xem tranh đoán tên tácphẩm(Khởi động); Điền khuyết(Tăng tốc); Thảo luận nhóm(Vận dụng); tìm ô
chữ bí mật(Về đích) Ứng với 7 ô chữ mà dòng chữ trung tâm là nền tảng(NỀN
TẢNG), tôi cho các em một hệ thống các câu hỏi để thảo luận trả lời; làm nhưvậy, vừa tinh giản được kiến thức, tiết học ôn tập nhẹ nhàng mà học sinh lại vậndụng được lí thuyết để làm bài tập thực hành Từ đó, hình thành năng lực, phẩmchất thông qua kĩ năng mà các em thu lượm được
* Trò chơi Nhanh tay - nhanh trí
Tương tự, trong bài các Ôn tập phần Văn học (Tiết 67-68: Chương trình Ngữ Văn 11- Học kì I ), và Ôn tập Văn học (Tiêt 111-112: Chương trình Ngữ
Văn 11- Học kì II ), để hệ thống lại toàn bộ các tác phẩm, tác giả trong chươngtrình Học kì I, Học kì II, tôi tiến hành tổ chức trò chơi nho nhỏ(trong vòng 10phút)
Đầu tiên, tôi chuẩn bị phiếu học tập đã kẻ sẵn bảng biểu lần lượt các cột mục: Sốthứ tự, Tên tác giả, Tên tác phẩm, thể loại, Năm sáng tác/ xuất xứ, Nội dung,Nghệ thuật Chia lớp thành 6 nhóm Các nhóm thi viết các nội dung trên vàophiếu học tập, trong vòng 10 phút, không sử dụng bất kì sách, vở, tài liệu nào,nhóm nào viết được số lượng nhiều và đầy đủ sẽ chiến thắng Hình thức thưởng,phạt bằng tính điểm tập thể nhóm Việc lồng ghép trò chơi điền bảng, thảo luậnnhóm khi dạy các bài Khái quát, Ôn tập khá phù hợp và đạt hiệu quả cao Thay
vì cho các em lập bảng thống kê bình thường như những năm học trước Các
em đã được chia thành các nhóm khác nhau từ trước, cử đại diện trình bày, nhậnxét… Bằng cách này, tôi nhận thấy giờ học sinh động, hào hứng hơn nhiều sovới cách truyền thống Giờ học tạo được bầu không khí dân chủ, đa số học sinhđược hoạt động nhiều chứ không đơn điệu trầm lắng như trước đây
*Trò chơi Đóng vai và kĩ thuật Khăn trải bàn:
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành, “ làm thử” một
số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp nhằmgiúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sựviệc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” khôngphải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sauphần diễn ấy
Trang 13Có thể tiến hành đóng vai theo các bước sau: Giáo viên nêu chủ đề, chia nhóm
và giao tình huống, yêu cầu đóng vai cho từng nhóm Trong đó có quy định rõthời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm Các nhóm thảo luận chuẩn
bị đóng vai Các nhóm lên đóng vai Lớp thảo luận, nhận xét về cách ứng xử vàcảm xúc của các vai diễn; về ý nghĩa của các cách ứng xử Giáo viên kết luận,định hướng cho học sinh về cách ứng xử tích cực trong tình huống đã cho
Một số yêu cầu khi đóng vai: Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề bàihọc, phù hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh và điều kiện, hoàn cảnh lớp học.Tình huống không nên quá dài và phức tạp, vượt quá thời gian cho phép Tìnhhuống phải có nhiều cách giải quyết Tình huống cần để mở để học sinh tự tìmcách giải quyết, cách ứng xử phù hợp; không cho trước “ kịch bản”, lờithoại[16] Các tiết có thể sử dụng được như Viết quảng cáo; Viết bản tin; Phỏngvấn và trả lời phỏng vấn
- Với phương pháp này, tôi áp dụng cho tiết 72(Năm học 2012-2013): Luyện tậpphỏng vấn và trả lời phỏng vấn(Chương trình Ngữ Văn 11, Ban Cơ bản, Học kìI) Tôi tiến hành cho lớp khiêng bàn ghế xếp lại phòng học theo hình chữ U.Giáo viên làm trọng tài Sau đó tiến hành viết lên bảng Chủ đề cần luyện tập.Phân vai cho các em Cho các em thảo luận nhóm – kĩ thuật Khăn trải bàn Tôidùng giấy Ao chia làm các góc Ghi các câu hỏi lên bảng Mỗi em sẽ tự suy nghĩ
và viết ra góc khăn riêng của mình nhiệm vụ cần giải quyết Sau đó, mỗi em –với tư cách một vai (Ví dụ: Vai Phóng viên – đến trường phỏng vấn các em vềTrang phục tuổi học đường; hoặc Tình bạn, tình yêu tuổi học đường)sẽ đặt câuhỏi phỏng vấn hai bạn học sinh(Đã vào hai vai khác) Tiếp đó, kết thúc cuộcphỏng vấn và trả lời phỏng vấn, tôi cho một vài em nhận xét và rút ra kết luận –bài học Với cách này, học sinh đã tự tìm tòi, sáng tạo lối diễn đạt, trưởng thànhhơn về nhận thức; kĩ năng giao tiếp cũng nhờ thế được rèn luyện
* Trò chơi Tiếp sức: Trò chơi này được tiến hành như sau: Gọi một học sinh
xung phong giải thích một vấn đề Nếu trả lời đúng thì sẽ được chỉ định mời mộthọc sinh khác tiếp tục công việc này Yêu cầu là người kế tiếp không chọn lạingữ liệu mà bạn trước đó đã chọn Trò chơi Tiếp sức này phù hợp với Tiết Làmbài tập, Thực hành Ví dụ Tiết “Thực hành về thành ngữ và điển cố” (Chương
trình Ngữ Văn 11, kì I), Bài tập 6: Đặt câu với mỗi thành ngữ sau: trang 67: Mẹ tròn con vuông./ Lòng lang dạ thú./ Trứng khôn hơn vịt./ Đi guốc trong bụng.
2.3.2 Giải pháp 2: Ra đề kiểm tra thường xuyên và định kì vừa sức, sáng tạo, có phân luồng học sinh
Ngay từ năm học 2013-2014, bắt đầu đổi mới nội dung, cấu trúc đề thiTHPT Quốc gia, tôi đã luôn có ý thức tự ra đề sáng tạo, vừa sức cho các em ởnhững lớp, khối tôi thực dạy Tôi luôn tự “mã hóa” kiến thức phần Tiếng Việt,Đọc Văn, Đọc thêm, Làm văn khi ra đề; ra theo hướng tích hợp cả ba phân môn
và có phân luồng học sinh theo đối tượng lớp dạy Chấm trả bài rất cẩn thận; phêbài chi tiết, nhắc nhở là chính, không trừ lỗi nặng Trước khi kết thúc giờ kiểm
Trang 14tra 5 phút, tôi thường cho các em tự đọc lại bài và tự chấm điểm cho mình vàogóc trái tờ giấy thi Việc làm này vừa kích thích học sinh tự kiểm tra đánh giánăng lực, vừa rèn luyện kĩ năng làm văn (Xem PHỤ LỤC 2- TRANG 25)
2.3.3 Giải pháp 3: Vận dụng Ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc (tiếng Mường) vào các bài Tiếng Việt phù hợp với nội dung và phương pháp bài học
Trong chương trình Tiếng Việt lớp 10, 11, tôi nhận thấy có các bài họcsau cần vận dụng uyển chuyển, linh hoạt Ngoại ngữ(Tiếng Anh; Tiếng Trung)
và tiếng dân tộc(Tiếng Mường) vào dạy học cho các em:
Khối 10, Ban Cơ bản là tiết 64: Lịch sử phát triển của tiếng Việt Mục
I.1 Nguồn gốc và quan hệ họ hàng của tiếng Việt, ta biết Tiếng Việt có quan hệ
gần hơn với tiếng Mường và quan hệ xa hơn với tiếng Môn- Khmer Ta nên lấyngữ liệu bằng tiếng Mường để học sinh đối sánh với tiếng Việt Học sinh mộttrường miền núi như Thạch Thành 3, 5 xã có con em dân tộc, các em tiếp thu dễdàng, linh hoạt, sáng tạo khi so sánh, vận dụng
Khối 11 là bài Đặc điểm loại hình của tiếng Việt Với bài này, giáo viên cần vậndụng ít nhất hai thứ ngoại ngữ khác nhau để đối sánh, học sinh sẽ dễ hiểu bàihơn rất nhiều là những khái niệm hàn lâm nặng nề trừu tượng
Cũng ở bài tập 2, bài Đặc điểm loại hình của tiếng Việt (Chương trình Ngữ Văn 11, Học kì II), phần Luyện tập: Tìm một câu tiếng Anh(hoặc tiếng Pháp, tiếng Nga, ) đã học, đối chiếu với câu tự dịch ra tiếng Việt, so sánh, phân tích để đi đến kết luận: Tiếng Anh(hoặc tiếng Pháp, tiếng Nga, ) thuộc loại hình ngôn ngữ hòa kết, tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Ở đây, tôi cho học sinh tích hợp với môn Tiếng Anh Gọi ba em lên bảng lấy ba ví dụ.
Ba em khác nhận xét và thống nhất cho điểm Mỗi ví dụ Tiếng Anh đều đượcdịch ra bằng Tiếng Việt và các em sẽ dễ dàng nhận ra ngôn ngữ đơn lập âm tiếttính ở tiếng Việt khác với ngôn ngữ hòa kết ở tiếng Anh(Pháp, Đức, Nga )
Ví dụ 1:English: I(1) give him(1) a book, he(2) gives me(2) two notebooks (Dịch sang Tiếng Việt:
Tiếng Việt: Tôi(1) cho anh ấy(1) một quyển sách, anh ấy(2) tặng tôi(2) hai cuốn vở) Như vậy, ngôn ngữ hòa kết thê hiện ở cụm “ notebooks”
viết liền nhau, trong khi ngôn ngữ đơn lập đều viết tách rời(“hai cuốn vở”)
Ví dụ 2:English: Please don’t make so much noisy, I’m teaching! Tiếng Việt: Xin đừng làm ồn ã thế, tôi đang dạy học mà!
Ở đây, các em nhận thấy dấu hiệu ngôn ngữ hòa kết của Tiếng Anh thể
hiện ở sự viết dính liền(English:) còn ở tiếng Việt thì không(Tiếng Việt: ); một
số cụm từ trong câu tiếng Anh cũng thế(noisy; teaching) còn tiếng Việt thì không(ồn ã; dạy học).
Trang 152.3.4 Giải pháp 4: Sử dụng máy chiếu, bản đồ tư duy, phiếu học tập, tranh ảnh tư liệu minh họa phù hợp với kiểu bài, nội dung
Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, Bộ giáo dục và đào tạo đã yêu cầu: Đẩymạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học,ngành học theo hướng dẫn học CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhấtcho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn Chính vì thế mà từ năm học 2008-
2009, Bộ GD&ĐT đã chọn chủ đề năm học là “Năm ứng dụng CNTT” Từ năm2006-2007, tôi cũng dã ứng dụng dạy trên máy chiếu H Năm nay, tôi tích cựcthử nghiệm dạy trên máy chiếu Powerpoint cho các lớp 10C2, 11B2 và 11b7.Đây vừa là cơ hội nhưng cũng vừa là thách thức đối với người làm nghề giáonhư tôi - một cô giáo giảng dạy môn Ngữ văn Bởi môn Văn, với đặc thù vừamang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật- nghệ thuật sử dụng ngôn từ, chonên nhiều người quan niệm dạy - học Văn chủ yếu là dùng ngôn ngữ, nếu dạybằng thiết bị máy móc CNTT sẽ làm mất đi chất văn vốn là đặc trưng riêng biệtcủa bộ môn này Tuy nhiên tôi nhận thấy, để cảm nhận đầy đủ và sâu sắc mộttác phẩm, cần giúp các em biết rõ bối cảnh lịch sử - xã hội, đời sống văn hóatinh thần, phong tục tập quán của một dân tộc; cuộc đời và sự nghiệp của mộttác giả; cảnh vật thiên nhiên ở nơi này, nơi khác, nước này, nước khác được mô
tả trong tác phẩm mà học sinh chưa hình dung rõ nét, thì sử dụng phương tiệnnghe nhìn, soạn bài giảng điện tử đề chèn âm thanh, hình ảnh, tư liệu có liênquan đến tác phẩm một cách hợp lí, đúng lúc, đúng chỗ là rất cần thiết để làmbài học sinh động hơn, thu hút được sự hứng thú của học sinh Và tôi thấy điềunày có chuyển biến rõ rệt khi dạy lớp 10C2
Với các Tiết dạy Đọc Văn, tôi luôn cố gắng giúp các em đọc phân vai, sửdụng máy chiếu để cung cấp thêm tranh ảnh tư liệu, giúp các em có giờ học sinhđộng hơn, tiệm cận hơn với thực tế đời sống Việc học ở phòng máy chiếu cũng
đã thay đổi không gian lớp học, làm cho các em thấy phấn khởi hơn, kích thíchkhả năng sáng tạo và tư duy
Tôi cũng luôn chú ý cho các em đồng sáng tạo cùng tác giả; từ đó giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh Với hai lớp 11B2 và 11B7 năm nay, tôi chú ý giáo dụclòng yêu nước, tính nhân ái; trung thực; sự đoàn kết, ý thức dân tộc (Qua nhiềuvăn bản của Bác, Tố Hữu)
Ở các tiết Khái quát, tôi sử dụng phiếu học tập, cho học sinh vận dụng lý thuyết
và bài tập
Ví dụ: Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX(Chương trìnhNgữ Văn 10, Ban Cơ bản), tôi lần lượt theo bốn bước(Có sử dụng máy chiếu Giới thiệu cấu trúc bài học; cho học sinh xem tranh ảnh minh họa các cuộc chiếnkinh điển của dân tộc ta thời trung đại):
Thứ nhất, Xác định trọng tâm kiến tức cả bài: Có ba đơn vị kiến thức lớn
Trang 16Với mục I, tôi đặt câu hỏi cho một em học sinh khá ở lớp thuyết trình(Văn học Việt Nam chia làm mấy thành phần? Thuyết minh ngắn gọn về các thành phần ấy?) Ở phần II, tôi sử dụng câu hỏi phát vấn ngắn tước khi cho học sinh tự nghiên cứu và thảo luận(Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX chia làm mấy giai đoạn?) Sau đó, tôi phát phiếu học tập gồm các câu hỏi sau cho cả
lớp:
Câu 1: Tìm hiểu đặc điểm về hoàn cảnh lịch sử và thời đại tác động đến sự phát triển cua văn học? (Tôi có sử dụng máy chiếu Powerpoint cho học sinh xem tanh ảnh tư liệu lịch sử có liên quan:Ngô Quyền đánh thắng giặc Nam Hán trên sông Bạch Đằng) Câu 2: Tìm hiểu đặc điểm về nội dung của văn học giai đoạn này?Câu 3: Tìm hiểu đặc điểm về nghệ thuật của văn học giai đoạn này?Câu 4: Liệt kê những tác giả, tác phẩm tiêu biểu của giai đoạn văn học từ thế ki X đến hết thế kỉ XIV?
Tôi mời bốn em lên bảng làm bốn giai đoạn(Về hoàn cảnh lịch sử- xã hội;đặc điểm về nội dung; Đặc điểm về nghệ thuật; Tác giả - Tác phẩm ) Ở dướilớp, các em làm bài độc lập hết 8 phút tự nghiên cứu, tôi cho các em tao đổi cặpđôi Kế đó , tôi cho các em thêm 1 phút chốt lại toàn bộ kiến thức trong sáchgiáo khoa Sau cùng, tôi cho học sinh làm bài tập Vận dụng và Củng cố(5 phút):
Em hãy làm rõ hoàn cảnh ra đời cua Nam quốc sơn hà(Lập kì tích chống 30 vạn quân Tống thế ki XIX)? Chỉ ra nội dung yêu nước trong bài thơ “Nam quốc sơn
hà”(Đây là bản Tuyên ngôn Độc lập lần thứ nhất thể hiện niềm tin mãnh liệt vàochiến thắng)Về nghệ thuật? Đây là bài thơ Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật Câuhỏi chốt lại vấn đề: Khi cần tìm hiểu về đặc điểm một giai đoạn văn học nào đó,chúng ta cần quan tâm tới những vấn đề gì? Với cách làm như thế, học sinhkhông chỉ nắm được kiến thức lí thuyết mà còn hiểu sâu mà còn biết vận dụngthực hành
2.3.5 Giải pháp 5: Lồng ghép các câu chuyện kể có ý nghĩa giáo dục
thiết thực:
Cô giáo Phạm Thị Thái Hà, giáo viên trường THPT Ngô Quyền, tỉnhQuảng Ninh- người có nhiều sáng kiến đổi mới trong phương pháp giảng dạy,một tấm gương người tốt, việc tốt luôn đổi mới, sáng tạo trong dạy và học năm2016-2017(Báo Giáo dục và Thời đại) chia sẻ:
“Đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi giáo viên hiện nay” Và: Cần phải xem xét, rà soát nội dung chương trình, sách giáo khoa hiện hành để loại bỏ những thông tin cũ, lạc hậu, đồng thời bổ sung, cập nhật những thông tin mới, phù hợp Dạy học theo chủ đề tích hợp luôn đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng đổi mới đáp ứng yêu cầu giảng dạy,Chỉ có đổi mới phương pháp dạy học, chúng ta mới tham gia được vào sân chơi quốc tế trong việc nâng cao chất lượng giáo dục cũng như tiếp cận phương pháp giáo dục hiện đại[5].
Trang 17Trong các tiết Đọc – hiểu văn bản, tôi thường chú ý thêm việc bồi đắp tâmhồn cho các em, giáo dục tư tưởng, đạo đức, nhân cách học sinh Vì vậy, tôithường chú ý trong thời gian được nghỉ hè, tập trung thiết kế kiểu bài giảng theochủ đề tích hợp.(Xem PHỤ LỤC 3 – trang 32) Ví dụ ở chương trình lớp 12 tôitập hợp thành 5 nhóm chủ đề: Chủ đề về thiên nhiên; tình yêu quê hương đấtnước; Chủ đề về người lính bộ đội cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp vàchống Mỹ; Chủ đề tác phẩm bản lề; chủ đề tình yêu đôi lứa; chủ đề về thân phậncon người trước và sau Cách mạng tháng Tám, sau chiến tranh; Chủ nghĩa anhhùng Cách mạng thời chống Mỹ.
Cũng có khi tôi lấy từ chương trình Quà tặng cuộc sống; Nghệ thuật ứng
xử Sư phạm, Việc tử tế, Cặp lá yêu thương để lồng ghép trong các tiết Đọc văn của mình ( ) Ví dụ: Dạy bài Chiều tối(Hồ Chí Minh) và Từ ấy(Tố Hữu), tôi
chú ý vừa giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, vừa giáo dục tư tưởng đạo đứcCách mạng cho các em Đó là các đức tính thật thà, dũng cảm, nghị lực, ý chíkiên cường trước hoàn cảnh khó khăn của cuộc đời
Những lúc ấy, tôi nhận thấy việc quản lớp có hiệu quả hơn hẳn(Lớp 11B2 và
11B7 trong học kì I và học kì II của năm học này)
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
* Hiệu quả của phương pháp Thảo luận nhóm
Với các cách làm như trên, linh hoạt khi tổ chức hoạt động nhóm, tôi nhận thấytrong hoạt động nhóm, em nào cũng được làm việc Giờ học vẫn sôi nổi, khôngnhàm chán mà lại đạt được hiệu quả giáo dục
* Hiệu quả của việc ra đề kiểm tra vừa sức, sáng tạo, có phân luồng học sinh
Học sinh có hứng thú trước mỗi đề kiểm tra, dần dần làm quen qua 8 bàithi 2 tiết và 6 bài kiểm tra 15 phút Học sinh đã có kĩ năng đọc hiểu văn bản vàviết đoạn văn nghị luận Minh chứng là bảng điểm kiểm tra của lớp 10C2 (như
là tiền đề để các em thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia sau này đạt kết quả tốt
* Hiệu quả của việc sử dụng máy chiếu, bản đồ tư duy, phiếu học tập, tranh ảnh
tư liệu minh họa cho bài dạy:
Tôi nhận thấy bài này vừa vận dụng phương pháp mới nhất theo đúng Công vănchỉ đạo của Giám đốc Sở giáo dục Thanh Hóa(cho học sinh tự nghiên cứu); vừatiết kiệm thời gian, tinh giản kiến thức, lại vừa kết hợp vận dụng bằng kĩ năng
Trang 18thực hành Học sinh tất cả lớp đều phải làm việc Giờ học này cũng phân luồng
rõ các đối tượng học sinh
* Hiệu quả của việc Lồng ghép trò chơi trong dạy - học phân môn Tiếng Việt,Văn học sử(Ôn tập văn học) Giáo viên cho học sinh làm bài tập bằng cách chơitrò chơi: Tiếp sức Nhờ vậy, các em làm bài tập thực hành bớt nhàm chán và hàohứng tham gia tích cực, sôi nổi, đem lại hiệu quả cho bài học
III KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn theo địnhhướng phát triển năng lực, nhìn từ thành tựu của cuộc Cách mạng Công nghiệp4.0, việc áp dụng một số biện pháp dạy – học hiệu quả trong giờ học Ngữ văn, ra
đề đổi mới, sáng tạo; ứng dụng công nghệ thông tin là rất cần thiết Việc làmnày sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả dạy của giáo viên và học của học sinh Nó
sẽ góp phần nâng cao hứng thú của học sinh trong mỗi giờ học Ngữ văn, gópphần nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn giáo viên giảng dạy Ngữ văn ngoàiviệc phải không ngừng tự học để nâng cao chuyên môn, bồi dưỡng kiến thức lí luận, kiến thức từ thực tế đời sống, còn cần phải thường xuyên học hỏi kinhnghiệm của đồng nghiệp, nghiên cứu thêm về nghệ thuật sư phạm, tìm tòi cácbiện pháp tự bồi dưỡng những phương pháp dạy học tích cực Với một tiết dạyhọc cụ thể đòi hỏi giáo viên phải có sự sáng tạo, lòng yêu nghề Vận dụng linhhoạt trong từng tiết dạy để gây hứng thú học tập, tạo một không khí học tậpvui vẻ, thoải mái giúp học sinh ngày càng yêu thích bộ môn Ngữ Văn, giúp việcdạy và việc học đạt kết quả cao [11] Đây không chỉ là suy nghĩ, tâm niệm của
cá nhân tôi mà còn là của chung của những giáo viên Ngữ văn THPT chăng? 3.2 Kiến nghị
Vì những lẽ trên, trong thời đại nền Cách mạng Công nghiệp 4.0 này, tôi xin đềxuất như sau:
- Nhà trường bổ sung tài liệu tham khảo, đặc biệt là mảng lí luận văn học đểgiáo viên và học sinh tìm được thêm thông tin về bài học
- Các thầy cô giáo bộ môn văn nên khích lệ, tạo điều kiện cho học sinh tìmtòi, sưu tầm nhiều tư liệu có liên quan để làm phong phú bài học
- Giáo viên đứng lớp phải nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu, cập nhật thông tin trêncác phương tiện thông tin đại chúng để làm phong phú kiến thức bài dạy
Tùy từng điều kiện, có thể ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học; kết hợp phương pháp giảng dạy truyền thống với các phương pháp giảng dạy hiện đại; đổi mới mạnh mẽ nội dung chương trình(đi đôi với việc tinh giản
chương trình trong sách giáo khoa) và phương pháp dạy học theo hướng hộinhập quốc tế Nội dung, chương trình dạy học, cách ra đề cần được triển khaitheo hướng mở
Hiện tại, giáo viên chúng tôi đang tự làm mới mình trong mỗi giờ lên lớp.Chúng tôi thiết kế bài dạy theo hướng mới: Giao nhiệm vụ học tập cho học sinh
Trang 19theo từng bài, từng phân môn Cho các em tự nghiên cứu khoảng 5-8 phút; rồi cho học sinh tự trao đổi với nhau, thảo luận nhóm Sau đó, chúng tôi yêu cầu mỗi tổ một em lên bảng trình bày một đơn vị kiến thức Lại cho những em khác nhận xét và chốt lại vấn đề Với mỗi đơn vị kiến thức, chúng tôi luôn chú ý tạo điều kiện cho các em được vận dụng, thực hành Đề thi luôn được đổi mới theo hướng mở, có phân hóa đối tượng; quy định thời gian, luôn tiệm cận với dạng đề thi mới nhất hàng năm của Bộ
Thách thức thời đại công nghiệp 4.0 đặt ra những nhiệm vụ quá lớn lao đòi hỏi chúng ta, dù làm trong bất cứ lĩnh vực nào cũng phải cố gắng hết mình Dù sao, mỗi ngày được sống, được học tập, làm việc đúng với khả năng của mình, hiểu mình có ý nghĩa đã là niềm hạnh phúc vô bờ
Thạch Thành, ngày 10/4/2019
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ
Phó hiệu trưởng
Đỗ Duy Thành
Thanh Hóa, ngày 16 tháng 05 năm
2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của
người khác
Người viết:
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 20
Tài liệu tham khảo:
[1] Bắt kịp Cách mạng Công nghiệp 4.0 bằng trí tuệ nhân tạo.
mang-cong-nghiep-4-0-bang-tri-tue-nhan-tao.html
http://www.nhandan.org.vn/kinhte/thoi_su/item/37477002-bat-kip-cach-[2] Cách mạng công nghiệp 4 0 tại Hàn Quốc và cơ hội với Việt Nam https://www.youtube.com/watch?v=BzwIhyMGjkU
[3] Cách mạng công nghiệp 4.0: Cơ hội hiếm có cho Việt Nam
https://vtv.vn/kinh-te/cach-mang-cong-nghiep-40-co-hoi-hiem-co- viet-nam-20170502203655673.htm
[4] Cách mạng công nghiệp 4.0: Nghề nào dễ “thất sủng”? | ANTV
[7] Chương trình giáo dục phổ thông mới: 5 phẩm chất và 10 năng lực của học sinh?(Chuyên mục: Hỏi nhanh- Biết nhanh), Ngày 19-01-2018 [8] Đổi mới phương pháp giảng dạy trước tác động của Cách mạng Công nghiệp 4.0
phuong-phap-giang-day-truoc-tac-dong-cua-cach-mang-cong-nghiep-40- 3403
http://hvcsnd.edu.vn/home/nghien-cuu-trao-doi/dai-hoc-40/doi-moi-[9] Hiến kế để Việt Nam thành công trong cuộc Cách mạng 4.0
40-77957.html
http://baodauthau.vn/thoi-su/hien-ke-de-viet-nam-thanh-cong-trong-cmcn-[10] Hướng Nghiệp Thời Cách Mạng 4.0 - TS Lê Thẩm Dương
https://www.youtube.com/watch?v=TdzHk-6WcFI
[11] Một số biện pháp dạy – học môn Ngữ văn ở trường THPT hiệu quả
(Tác giả: Đinh Thị Hồng Duyên/Trường THPT Đồng Đậu
Báo Gíao dục Vĩnh Phúc, Số ra ngày 01/8/2017)
[12] Nên sử dụng triển khai thành tựu cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 một cách “khôn ngoan”
https://ìnfonet.vn/ nen- sư- dung- trien- khai – thanh- tưu- cuoc- cach- Cong- nghiep- 4.0- mot - cach - “khon - ngoan”
[13] TS Lê Thẩm Dương - Khởi nghiệp thời cách mạng 4.0
https://www.youtube.com/watch?v=TeoK5bJfO1Q
[14] Thách thức của ngành Giáo dục và Đào tạo trước Cách mạng Công nghiệp 4.0 (Ths: Vũ Văn Trà)
Trang 21[15] Vai trò của nhà giáo trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0 http://www.nhandan.com.vn/giaoduc/item/35970302-vai-tro-cua-nha-giao-trong-thoi-ky- cach-mang-cong-nghiep-4-0.html
[16] Việt Nam 4.0 Số 19: Dạy gì, học gì để không thất nghiệp trong thời đại 4.0?