Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phươngpháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụngkiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học được ví như người hát rong suốt chiều dài cuộc sống Và thơ ca làmột phần cơ thể không thể thiếu của người hát rong ấy Thơ ca như cây đànmuôn điệu tấu lên muôn cung bậc tình cảm của con người Với giá trị đặc biệt
ấy, thơ ca đến với chúng ta theo một con đường cũng không hề đơn giản Để cóthể khám phá được sức mạnh của thơ ca chúng ta phải theo con đường riêng:nhạy cảm, tinh tế, chủ động, sáng tạo
Trong chương trình Ngữ Văn nói chung, các tác phẩm thơ ca chiếm 50%
Và như vậy đồng nghĩa với việc các tác phẩm này cũng chiếm 50% trong các đềkiểm tra, đề thi (học kì, học sinh giỏi, THPT Quốc gia) Tuy nhiên theo phươngpháp dạy học truyền thống thiên về lí thuyết, thầy cô giáo soạn bài giảng, truyềnthụ đến học sinh, học sinh tiếp thu thụ động kiến thức ấy, ghi nhớ và vận dụngvào bài kiểm tra Cứ như thế thành một chu kì khép kín Phương pháp này trongmôi trường giáo dục hiện nay đã bộc lộ hạn chế đó là học sinh dần mất đi nănglực tư duy, tự cảm thụ tác phẩm và giờ học văn vì không có sự tương tác qua lạigiữa thầy và trò trở nên buồn tẻ, nặng nề, không hứng thú
Theo hướng đổi mới của giáo dục hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học
là bước chuyển đổi từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cậnnăng lực của người học, nghĩa là tổ chức cho học sinh hoạt động thay vì thụđộng nghe giảng Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phươngpháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụngkiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất cho người học.Theo tinh thần này, dạy học văn có nhiệm vụ kép: thông qua dạy kiến thức màtrang bị cho học sinh cách đọc, phương pháp đọc để các em có thể tự mình đọc
và hiểu những văn bản khác
Xác định rõ vai trò đọc hiểu như vậy, nhưng trong các trường THPT hiệnnay có một thực tế là không phải giáo viên nào cũng hiểu rõ bản chất cúa đọc -hiểu và có những biện pháp đọc - hiểu phù hợp với từng thời kì, từng thể loạivăn học khác nhau trong đó có bộ phận Thơ mới Việt Nam Trong khi đó, thếgiới Thơ mới là thế giới của cái tôi mà cái tôi thì "muôn hình vạn trạng" Nhận
xét về thời kì này, nhà phê bình Hoài Thanh từng nhận xét: "Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu" Để giúp học sinh
đọc - hiểu được thế giới tâm trạng vô cùng phức tạp ấy là điều không hề dễdàng
Từ những lí do trên, tôi thấy rằng việc tìm hiểu phương pháp dạy đọc - hiểucác tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ văn 11cho học sinh là việc làmcần thiết, có ý nghĩa góp phần vào thay đổi phần nào thực trạng dạy và học hiệnnay
2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề đọc - hiểu, vấn
đề dạy học Thơ mới, nhằm đề xuất cách thức, biện pháp góp phần nâng cao hiệu
Trang 2quả kỹ năng đọc - hiểu Thơ mới Việt Nam cho học sinh Cụ thể là hướng dẫn
đọc - hiểu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử trong chương trình Ngữ văn
11 THPT qua việc thiết kế giáo án thể nghiệm, tiến hành dạy thể nghiệm vàđánh giá kết quả thể nghiệm
3 Đối tượng nghiên cứu
- Lý thuyết đọc - hiểu
- Phương pháp dạy học thể loại thơ
- Các tài liệu liên quan đến phương pháp đọc - hiểu Thơ mới
- Hoạt động dạy và học của giáo viên, học sinh lớp 11 trường THPT CẩmThủy1
- Các tài liệu liên quan đến con người và sự nghiệp Hàn Mặc Tử
- Các tài liệu tham khảo về bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu phương pháp đọc - hiểu các tác phẩm Thơmới trong chương trình Ngữ văn 11
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích lí luận và thực tiễn
- Phương pháp khảo sát thực tế
- Phương pháp thể nghiệm
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
Trang 3II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Cơ sở lí luận
GS.TS Trần Đình Sử trong Đột phá từ đọc hiểu văn bản từng khẳng định:
"Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể đọc
- hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mỹ Do đó hiểu bản chất môn văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy văn là dạy năng lực, phát triển năng lực là chủ thể của học sinh".
Tuy nhiên mỗi thể loại có một phương pháp đọc - hiểu riêng Trong cuốn
“Vấn đề giảng dạy TPVH theo thể loại” nhóm tác giả Trần Thanh Đạm, Huỳnh
Lý, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn, Đàm Gia Cẩn (1971), các tác giả đã xác định:
“Nhà văn sáng tác theo loại thể thì người đọc cũng cảm thụ theo loại thể và người dạy cũng dạy theo loại thể Nói cách khác phương thức cấu tạo hình tượng mà tác giả đã sử dụng khi sáng tác quy định phương thức cảm thụ hình tượng đó của người đọc và từ đó quy định phương thức giảng dạy của chúng ta”.
Gần một thế kỷ trước, phong trào Thơ mới xuất hiện đã có những đóng gópđáng kể vào sự phát triển của nền văn học trước Cách mạng tháng Tám của đấtnước Các thi sĩ của thuở ấy đã đem lại cho bạn đọc một tiếng nói mới, phản ánhkhá trung thực tâm trạng của cả một lớp thanh niên tiểu tư sản trong cuộc sống
có nhiều đau buồn, trăn trở và đôi khi bế tắc trước hiện trạng của đất nước thờibấy giờ Với sự đổi mới mạnh mẽ của hình thức nghệ thuật, Thơ mới thực sự đãthu hút được sự chú ý của khá đông bạn đọc yêu thơ và đó cũng là một đóng góp
có ý nghĩa vào sự phát triển của thể loại và chứng minh khả năng biểu đạt phongphú của tiếng Việt Hiểu được thế giới nghệ thuật vô cùng phong phú của Thơmới là một thách thức đối với cả người dạy và người học Việc hình thành chohọc sinh kỹ đọc - hiểu Thơ mới là hết sức cần thiết để đáp ứng yêu cầu dạy văn
và học văn hiện nay trong nhà trường THPT
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Đối với giáo viên dạy môn Ngữ văn
Phong trào Thơ mới là một trong những giai đoạn phát triển rực rỡ nhấtcủa thơ ca Việt Nam, đánh dấu sự trỗi dậy mạnh mẽ của "cái tôi" cá nhân Cáctác phẩm Thơ mới được tuyển chọn trong chương trình Sách giáo khoa Ngữ Văn
11 (Hầu trời - Tản Đà, Vội vàng - Xuân Diệu, Tràng giang - Huy Cận, Đây thôn
Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử) là những thi phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ của các
tác giả nên việc tổ chức dẫn dắt cho học sinh tự chiếm lĩnh được tiếng nói tưtưởng, tình cảm của nhà thơ đã gửi gắm trong các bài thơ là việc làm không mấy
dễ dàng Đây là khó khăn mà hầu hết giáo viên nói chung và giáo viên trườngTHPT Cẩm Thủy 1 đang trăn trở
Thói quen dạy của một số giáo viên và thói quen học của một số học sinhtheo phương pháp cũ: giáo viên thuyết giảng học sinh ghi chép cũng là một trở
Trang 4ngại không nhỏ đối với việc đổi mới theo hướng tích cực hóa hoạt động học tậpcủa học sinh.
2.2 Đối với học sinh
Hiện nay trong các nhà trường phổ thông thái độ đối với môn Ngữ văn củahọc sinh có sự phân lập rất rõ Những môn học thời thượng (Toán, Lý, Hoá,Ngoại ngữ.) được các em lựa chọn để đáp ứng nhu cầu thi và nhu cầu việc làmcủa mình Môn ngữ văn hiện nay mặc dù đã xuất hiện trong nhiều tổ hợp xéttuyển Đại học cao đẳng nhưng cũng chưa được các em chú trọng nhiều do cơhội việc làm của những ngành học có xét tuyển môn Ngữ văn còn hạn chế
Đa số ý kiến của học sinh khi được hỏi thích đọc - hiểu thơ hay văn xuôi thìđều chọn văn xuôi với lí do "văn xuôi còn có mô tuýp ý mà chém như phân tíchnhân vật thì có lai lịch, xuất thân, ngoại hình, phẩm chất, tính cách còn thơkhông có gì" So với văn xuôi thì thơ đối với học sinh trở thành "địa hạt của cáikhó hiểu" khiến nhiều học sinh tỏ ra ngại học, không hứng thú dẫn đến chấtlượng học văn ngày càng sa sút
3 Các giải pháp đã sử dụng để hướng dẫn học sinh đọc - hiểu các tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ văn lớp 11
3.1 Bám sát đặc trưng Thơ mới
Giáo viên cần bám sát những đặc trưng này trong quá trình hướng dẫn họcsinh đọc- hiểu, đồng thời cung cấp những kiến thức này đến học sinh để họcsinh chủ động trong quá trình khai thác khám phá tác phẩm
3.1.1 Sự khẳng định cái Tôi
Nền văn học trung đại trong khuôn khổ chế độ phong kiến chủ yếu là mộtnền văn học phi ngã Sự cựa quậy, bứt phá tìm đến bản ngã đã ít nhiều xuất hiệntrong thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ,… Đến Phong trào Thơ mới, cáiTôi ra đời đòi được giải phóng cá nhân, thoát khỏi luân lí lễ giáo phong kiếnchính là sự tiếp nối và đề cao cái bản ngã đã được khẳng định trước đó Đó làmột sự lựa chọn khuynh hướng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật mới của các nhàthơ mới
Ý thức về cái Tôi đã đem đến một sự đa dạng phong phú trong cách biểuhiện Cái Tôi với tư cách là một bản thể, một đối tượng nhận thức và phản ánhcủa thơ ca đã xuất hiện như một tất yếu văn học Đó là con người cá tính, conngười bản năng chứ không phải con người ý thức nghĩa vụ, giờ đây nó đànghoàng bước ra “trình làng” (chữ dùng của Phan Khôi)
3.1.2 Nỗi buồn cô đơn
Trong bài “Về cái buồn trong Thơ mới”, Hoài Chân cho rằng “Đúng là
Thơ mới buồn, buồn nhiều”, “Cái buồn của Thơ mới không phải là cái buồn ủy
mị, bạc nhược mà là cái buồn của những người có tâm huyết, đau buồn vì bị bếtắc chưa tìm thấy lối ra”
Cái Tôi trong Thơ mới trốn vào nhiều nẻo đường khác nhau, ở đâu cũngthấy buồn và cô đơn
3.1.3 Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu
Trang 5Ngay từ khi ra đời, “Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúcmới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ” Cảm hứng về thiên nhiên vàtình yêu đã tạo nên bộ mặt riêng cho Thơ mới Đó là vẻ đẹp tươi mới, đầy hươngsắc, âm thanh, tràn trề sự sống
3.1.4 Một số đặc sắc về nghệ thuật
Thơ mới là một bước phát triển quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nềnvăn học nước nhà những năm đầu thế kỉ XX với những cuộc cách tân nghệ thuậtsâu sắc
Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá phách một cách phóng túng nhưng dầndần trở về với các thể thơ truyền thống quen thuộc như thơ ngũ ngôn, thất ngôn,thơ lục bát
Cách hiệp vần trong Thơ mới rất phong phú, ít sử dụng một vần (độc vận)
mà dùng nhiều vần như trong thơ cổ phong trường thiên: vần ôm, vần lưng, vầnchân, vần liên tiếp, vần gián cách hoặc không theo một trật tự nhất định
Sự kết hợp giữa vần và thanh điệu tạo nên cho Thơ mới một nhạc điệuriêng
Ngoài việc sử dụng âm nhạc, Thơ mới còn vận dụng cách ngắt nhịp mộtcách linh hoạt
Ở một phương diện khác, cuộc cách tân về ngôn ngữ Thơ mới diễn ra khárầm rộ Thoát khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày đặc của “Thơcũ”, Thơ mới mang đến cho người đọc một thế giới nghệ thuật giàu giá trị tạohình và gợi cảm sâu sắc
Sự phong phú về thể loại, vần và nhạc điệu cùng với tính hình tượng, cảmxúc của ngôn ngữ đã tạo nên một phong cách diễn đạt tinh tế, bằng cảm giác,bằng màu sắc hội họa của Thơ mới
3.1.5 Sự ảnh hưởng của thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp
Thơ mới ảnh hưởng thơ Đường khá đậm nét Sự gặp gỡ giữa thơ Đường vàThơ mới chủ yếu ở thi tài, thi đề Các nhà thơ mới chỉ tiếp thu và giữ lại nhữngmặt tích cực, tiến bộ của thơ Đường trong các sáng tác của Đỗ Phủ, Lý Bạch,Bạch Cư Dị,
Nếu sự ảnh hưởng thơ Đường làm cho thơ tiếng Việt càng phong phú giàu
có thêm, tinh tế hơn thì sự ảnh hưởng thơ ca lãng mạn Pháp góp phần cho Thơmới sáng tạo về thi hứng, bút pháp và cách diễn đạt mới lạ, độc đáo
3.2 Bám sát hoàn cảnh lịch sử xã hội, tiểu sử của nhà thơ và hoàn cảnh sáng tác bài thơ (nếu có)
Giáo viên cần bám sát hoàn cảnh lịch sử xã hội, tiểu sử và hoàn cảnh sángtác bài thơ (nếu có) trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc- hiểu, đồng thờicung cấp những kiến thức này đến học sinh và hướng dẫn học sinh cách khaithác để học sinh chủ động trong quá trình đọc - hiểu tác phẩm
3.2.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội nhà thơ sống
Một trào lưu văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi nhất địnhcủa lịch sử xã hội Bởi nó là tiếng nói, là nhu cầu thẩm mỹ của một giai cấp,tầng lớp người trong xã hội Thơ mới là tiếng nói của giai cấp tư sản và tiểu tưsản Sự xuất hiện của hai giai cấp này với những tư tưởng tình cảm mới, những
Trang 6thị hiếu thẩm mỹ mới cùng với sự giao lưu văn học Đông Tây là nguyên nhânchính dẫn đến sự ra đời của Phong trào thơ mới 1932-1945
Việc tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử xã hội cũng là một chìa khóa giúp chúng takhi đọc hiểu thi phẩm
3.2.2 Tiểu sử của nhà thơ
Hoàn cảnh gia đình, quê hương, quá trình hoạt động của nhà thơ cũng làmột trong những yếu tố quan trọng tác động đến thế giới tâm hồn của thi nhân
Trong Ba đỉnh cao Thơ mới, nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn cho rằng chính
mảnh đất Bình Đinh quê mẹ nhà thơ:
"Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát Bình Định lúa xanh ôm bóng tháp chàm"
với dạt dào sóng biển kết hợp với hoàn cảnh riêng là con vợ lẽ, sống xa mẹ từnhỏ đã góp phần dệt nên hồn thơ "khát khao giao cảm với đời" của Xuân Diệu.Hay theo các nhà nghiên cứu, việc Huy Cận sinh ra trong một gia đình nhànho nghèo cũng ảnh hưởng rất nhiều đến chất Đường thi trong thơ Huy Cận
Còn nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy trong Con mắt thơ khi bàn về đặc
điểm thơ Hàn Mặc Tử là Trăng, Hồn, Máu trở thành biểu tượng trong thơ ông cóchỉ ra một phần căn nguyên từ bệnh phong mà nhà thơ mắc phải
3.2.3 Hoàn cảnh sáng tác bài thơ
Đối với những bài thơ có hoàn cảnh sáng tác, giáo viên nên hướng dẫn họcsinh tìm hiểu vấn đề này bởi đây là yếu tố tác động trực tiếp đến thế giới cảmxúc của nhà thơ khi sáng tác
Khi hướng dẫn học sinh đọc - hiểu bài thơ Tràng giang, giáo viên nên giới
thiệu kĩ về hoàn cảnh sáng tác của bài thơ mà Huy Cận từng tâm sự Đó là trướcCách mạng tháng Tám, khi học ở trường Cao đẳng Canh nông, mỗi buổi chiềumỗi khi nhớ nhà, Huy Cận thường mượn xe của bạn đạp ra sông Hồng ngắmnhìn dòng sông mênh mông sóng nước Một buổi chiều mùa thu năm 1939 khi
đứng ngắm sông Hồng, cảm hứng đến nhà thơ đã sáng tác Tràng giang Như
vậy hoàn cảnh sáng tác này hé mở cảm xúc tâm trạng của thi nhân trong bài thơ
đó là nhớ nhà, buồn, cô đơn trước sông nước bao la, rợn ngợp
3.3 Bám sát đặc điểm cái tôi trữ tình của nhà thơ
Cái tôi trữ tình là một thuật ngữ thuộc lí luận văn học chỉ tâm trạng, cảmxúc, cảm nhận, là thế giới nội tâm của riêng nhà thơ thể hiện trước cuộc đời,cuộc sống và hiện thực khách quan Qua cái tôi trữ tình ta có thể thấy đượcnhững suy nghĩ, thái độ, tư tưởng của nhà thơ trước cuộc đời và cái tôi trữ tìnhcũng hình thành phong cách nghệ thuật của riêng nhà thơ đó
Trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc - hiểu các tác phẩm Thơ mới, giáoviên có thể yêu cầu học sinh tự tìm hiểu hoặc cung cấp cho học sinh đặc điểm
cái tôi trữ tình của từng nhà thơ Chẳng hạn khi đọc - hiểu Vội vàng giáo viên có
thể nêu đặc điểm cái tôi trữ tình của Xuân Diệu là "thiết tha, rạo rực, băn khoăn"yêu cầu học sinh phân tích biểu hiện cái tôi này trong bài thơ Cái tôi trữ tìnhcủa Huy Cận là cái tôi buồn bã, cô đơn, lạc lõng giữa không gian (thiên nhiên vàcuộc đời) Cái tôi trữ tình của Hàn Mặc Tử là cái tôi đầy cô đơn, u uất, hoàiniệm, một cái tôi đau đớn, khắc khoải và tha thiết yêu cuộc sống
Trang 73.4 Bám sát phong cách nghệ thuật của nhà thơ
Phong cách văn học là những nét độc đáo, riêng biệt trong cách cảm nhận
và tái hiện đời sống của một tác giả, được thể hiện qua các yếu tố nội dung vàhình thức nghệ thuật cụa từng tác phẩm cụ thể Yếu tố cốt lõi của phong cách làcái nhìn mang tính phát hiện, in đậm dấu ấn riêng của người nghệ sĩ: "Thế giớiđược tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thìlại một lần thế giới được tạo lập" (M Pru-xtơ)
Phong cách văn học còn mang dấu ấn của dân tộc và thời đại Trong phongcách riêng của mỗi tác giả, người ta có thể nhận ra diện mạo tâm hồn, tính cáchcủa một dân tộc và "Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời" (TôHoài)
Trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc - hiểu các tác phẩm Thơ mới,trong phần giới thiệu chung, giáo viên có thể cung cấp cho học sinh đặc điểmphong cách cơ bản nhất của nhà thơ và định hướng cho học sinh vận dụng đểkhám phá tác phẩm Chẳng hạn phong cách thơ nổi bật của Xuân Diệu: Đó làmột tâm hồn đặc biệt nhạy cảm trước sự vận động của thời gian; một trái timluôn hướng tới tuổi trẻ, tình yêu nơi trần thế bằng niềm yêu đời, yêu cuồngnhiệt, sôi nổi; nhà thơ của sự nỗ lực cách tân thơ Việt và "thức nhọn giác quan".Phong cách thơ Huy Cận là hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết lí Phong cáchthơ Hàn Mặc Tử hết sức phức tạp và đầy bí ẩn, với những lối nhảy có trong tưduy và hình ảnh thơ
3 5 Phân tích, bình giá thơ
3.5.1 Phân tích văn bản
“Phân tích là hoạt động chia nhỏ đối tượng thành các yếu tố, các bộ phận
để xem xét” Đối với môn N gữ văn, thì phân tích chính là cách để giáo viên và
học sinh tiêp cận văn bản ở góc độ sâu nhất Phân tích các tác phẩm Thơ mớigiáo viên hướng dẫn học sinh cần tập trung vào các thao tác sau:
Phân tích từ ngữ Khi phân tích từ ngữ trong Thơ mới chú ý tới sự sáng tạo
trong việc lựa chọn từ ngữ của các tác giả
Phân tích các lớp nghĩa trong văn bản thơ Từ hiện thực khách quan nhà
thơ bằng nhận thức chủ quan và tư duy nghệ thuật của mình sáng tạo nên hìnhtượng văn học Khi tiếp nhận tác phẩm văn chương, người đọc lại đi theo hànhtrình ngược lai, nghĩa là thông qua hình tượng nghệ thuật để khám phá hiện thựckhách quan
3.5.2 Bình giá
Nhà phê bình Hoài Thanh từng viết “Bình thơ là từ chỗ mình cảm thấy hay,
làm thế nào cho người khác cũng cảm thấy hay”, “ Bình là một phương pháp có
tính đặc thù trong cảm thụ và truyền thụ văn thơ” Nội dung bình giá cần tập
trung vào một số vấn đề sau:
Thứ nhất là cần bình giá cái đẹp trong ngôn từ và trong tư duy nghệ thuậtcủa Thơ mới Cái hay, cái đẹp của văn chương cần bình là ở cái bề sâu, cái bề xacủa ngôn từ, của tất cả các yếu tố, bộ phận làm nên một tác phẩm văn chương.Ngôn từ trong tác phẩm văn chương không phải là ngôn từ trong lời nói tựnhiên, nhất là ngôn ngữ trong Thơ mới bởi phong trào Thơ mới thực sự là một
Trang 8"cuộc cách mạng ngôn từ thư ca" Nhưng nhìn chung phải bám sát vào nhữngđặc trưng thi pháp về ngôn từ của thơ trữ tình.
Thứ hai là tập trung bình giá cái mới, cái độc đáo, cái riêng của mỗi tácphẩm và mỗi tác giả
Trọng tâm của hoạt động bình giá là phải tìm cho ra cái mới trong nội dung
tư tưởng và những tri thức nghệ thuật có khả năng thức tỉnh cái đẹp, cái caothượng của con người
Thứ ba là bình giá về những cách tân nghệ thuật là những đóng góp vào nềnvăn học dân tộc của mỗi tác giả qua từng tác phẩm
Tóm lại bình giá văn học là hoạt động đầy trách nhiệm với văn học và cóbản lĩnh nghệ thuật của người tiếp nhận Bình giá văn học đòi hỏi phải có trithức sâu sắc, có hiểu biết phong phú về văn hóa nghệ thuật và phải có tấm lòngchính trực Cần tránh sự bình giá phiến diện chủ quan, chỉ lấy sự hiểu biết rất cógiới hạn của mình làm thước đo duy nhất
3.6 Xây dựng hệ thống câu hỏi sáng tạo
Để phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ đọc văn thì thìcần xây dựng hệ thống câu hỏi thích hợp phù hợp với trình độ học sinh Với cácmức độ khác nhau: Câu hỏi nhân biết; câu hỏi vận dụng thấp, vận dụng cao Vàtập trung chủ yếu vào một số dạng: Câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi bình luận, câuhỏi khái quát, câu hỏi so sánh liên hệ v.v Một số câu hỏi giáo viên có thể chohọc sinh trước để các em tìm hiểu, chuẩn bị
Để có thể tiếp nhận chính xác nội dung, tư tưởng của tác phẩm thì nhấtthiết phải có những biện pháp dạy học phù hợp Do vậy việc đưa ra những biệnpháp hướng dẫn đọc - hiểu Thơ mới lớp 11 cũng là một cách góp phần vào côngviệc đổi mới chung của những người giảng dạy môn Ngữ văn ở nhà trườngTHPT Với mục đích nâng cao chất lượng dạy học, kích thích hứng thú, khảnăng độc lập, tự chủ và lòng ham học của học sinh Trong quá trình giảng dạyngười giáo viên cần lựa chọn, kết hợp hài hòa các biện pháp trên để đạt hiệu quảcao nhất
GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM
Vận dụng các phương pháp đọc - hiểu Thơ mới đã đề xuất ở mục 2 vào thực
tế thiết kế bài học và thực tế dạy học văn bản ở các lớp : 11A1, 11A5, 11A12
- Hiểu được những nét cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Hàn Mặc Tử
- Cảm nhận được những nét đặc sắc của bài thơ
- Nhận biết được sự vận động của tứ thơ, của tâm trạng chủ thể trữ tình và bútpháp tài hoa, độc đáo của Hàn Mặc Tử
Trang 9- Từng bước hình thành lòng yêu mến và trân trọng tài năng thơ ca của Hàn Mặc
Tử - Một nhân cách vượt lên nỗi đau của bệnh tật để không ngừng sáng tạo
- Có ý thức vươn lên vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống qua tấm gươngtràn đầy nghị lực sống của Hàn Mặc Tử
B PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC
- Giáo viên kết hợp phương pháp đọc sáng tạo, đối thoại, nêu vấn đề,
- Thảo luận, trao đổi,
- Tích hợp với bài Khái quát Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 (phần kiến thức trào lưu văn học lãng mạn)
C CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
1 Chuẩn bị của giáo viên
- Giáo án/thiết kế bài học
- Các slides trình chiếu (nếu có)
- Các phiếu học tập, bao gồm: các sơ đồ để HS điền thông tin, các bài tập dùng
để kiểm tra, đánh giá HS trong quá trình đọc - hiểu
2 Chuẩn bị của học sinh
Chuẩn bị bài ở nhà theo các yêu cầu sau:
- Đọc trước bài “Đây thôn Vĩ Dạ” trong SGK Ngữ văn 11, Tập 2.
- Tìm hiểu về hoàn cảnh lịch sử xã hội, tiểu sử của nhà thơ Hàn Mặc Tử
- Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (do giáo viên giao từ tiếttrước)
D TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN TIẾT 1
1 HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG (5 phút)
- Mục đích: thu hút sự tập trung chú ý, tư duy, nhận thức, gợi hứng thú, chuẩn bịtâm thế, huy động kiến thức cũ, kiến thức liên quan làm hành trang để tiếp nhậnkiến thức mới
- Phương pháp: trực quan, trải nghiệm
- GV giao nhiệm vụ:
+ Trò chơi khởi động
+ Học sinh trả lời câu hỏi để tìm ra từ khóa
- HS với kiến thức được giao chuẩn bị trước ở nhà trả lời các câu hỏi
Câu 1 Tên một tỉnh gần gần Quảng Trị, có di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng?
Trang 10Phong trào Thơ mới (1936-1939)
Giáo viên hỏi: Từ khóa hôm nay là gì?
NHÀ THƠ: HÀN MẶC TỬ
Sinh ra: Quảng Bình
Mất tại: Quy Nhơn
Mắc: Bệnh phong
Là nhà “Thơ mới”
Từ đó, giáo viên giới thiệu Vào bài: Trong lịch sử văn học Việt Nam, Hàn Mặc Tử giống như một ngôi sao chổi xẹt ngang qua bầu trời nhưng ánh sáng của nó vẫn còn lại mãi Và một trong những ánh sáng chói lòa ấy phải kể đến Đây thôn Vĩ Dạ Để hiểu hơn bài thơ này, ta cùng tìm hiểu bài thơ.
HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI (25 phút)
- Mục đích: hình thành cho học sinh những kỹ năng cơ bản tiếp cận tác giả, tácphẩm
- Phương pháp: truyền đạt trực tiếp, nêu và giải quyết vấn đề Dạy học theonhóm,…
Hoạt động của GV và HS Kiến thức cơ bản
1 Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu
phần tiểu dẫn SGK.
Bước 1 :
GV: Trên cơ sở phân chia nhóm và
giao bài tập hoạt động nhóm về
GV: Yêu cầu nhóm 1 cử đại diện
trình bày sơ đồ tư duy về tác giả
- Quê quán: làng Lệ Mĩ, huyện PhongLộc, nay thuộc TP Đồng Hới (QuảngBình), xuất thân trong một gia đình cônggiáo nghèo
- Ông có một số phận đau thương và bấthạnh đến nghiệt ngã
+ Cha mất sớm, ông ở với mẹ tại QuyNhơn
+ Năm 24 tuổi, ông mắc bệnh phong Ông
về hẳn Quy Nhơn để chữa trị
+ Ông mất khi tuổi đời còn rất trẻ(28 tuổi)
=> Những nghiệt ngã của số phận đã ảnhhưởng rất lớn đến hồn thơ của ông
Trang 11- Hướng dẫn HS đọc đoạn cuối
phần tiểu dẫn SGK và trả lời câu
hỏi:
+ Trình bày xuất xứ của bài thơ?
+ Hoàn cảnh ra đời bài thơ có gì
đặc biệt?
- Hướng dẫn HS tìm hiểu về âm
điệu và đề tài của bài thơ bằng các
câu hỏi trắc nghiệm
- Phong cách thơ Hàn Mặc Tử: Thơ HànMặc tử là một thế giới nghệ thuật kì dị Ở
đó có sự đan xen, biến hóa của nhiều hìnhảnh phức tạp, bí ẩn Tuy nhiên đằng sauthế giới hình ảnh đó là một tâm hồn trànngập tình yêu đời, chan chứa khát khaosống
- Tác phẩm chính : Gái quê (1936); Thơ Điên (Đau thương) (1938); Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên (1939); Duyên kì ngộ (kịch thơ 1939); Quần tiên hội (kịch thơ 1940); Chơi giữa mùa trăng (thơ văn xuôi 1940).
2 Tác phẩm
a Hoàn cảnh sáng tác
- Bài thơ được sáng tác năm 1938, introng tập “Thơ điên”, phần “Hươngthơm”
- Ban đầu bài thơ có tên : Ở đây thôn Vĩ
Dạ, về sau đổi lại thành Đây thôn Vĩ Dạ.
- Theo một số tài liệu, bài thơ được gợicảm hứng từ tấm bưu thiếp vẽ phong cảnhHuế có hình người chèo đò trên sôngHương với lời thăm hỏi chúc thi sĩ maubình phục của Hoàng Thị Kim Cúc – một
cô gái ở thôn Vĩ Dạ gửi cho Hàn Mặc Tử,khi tác giả đang dưỡng bệnh ở Quy Hoà
=> Qua đó, ta thấy bài thơ là những dòng
kí ức, là nỗi nhớ khôn nguôi về một miềnđất xa vời
b Âm điệu bài thơ
- Nhẹ nhàng, da diết, khắc khoải