Đối tượng nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề tự do hóa di chuyển lao động có chuyênmôn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN, nghiên cứu việc thực hiện cam kết tự do hoá di chuyển la
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ MINH HẠNH
TỰ DO HÓA DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ
CHUYÊN MÔN TRONG CỘNG ĐỒNG KINH
2 PGS TS Nguyễn Duy Lợi
Hà Nội, năm 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác
Tôi xin cam đoan luận án được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc vàkết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước đã được tiếp thu một cách chânthực, cẩn trọng, có trích nguồn dẫn cụ thể trong luận án
Hà Nội, ngày… tháng … năm
2019
Tác giả luận án
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG, BIỂU vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TỰ DO HÓA DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ CHUYÊN MÔN TRONG 8
CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 8
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 8
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về lao động, thị trường lao động 8
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về di chuyển lao động 13
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về ASEAN, AEC 18
1.1.4 Các công trình nghiên cứu về tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 20
1.2 Một số nhận xét, đánh giá và khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu 24
1.2.1 Một số nhận xét, đánh giá 24
1.2.2 Những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu 26
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 27
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu 27
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 28
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ DO HÓA 30
DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ CHUYÊN MÔN TRONG MỘT CỘNG ĐỒNG KINH TẾ KHU VỰC 30
2.1 Lý luận về tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn 30
2.1.1 Một số khái niệm liên quan 30
2.1.2 Các yếu tố tác động đến tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn 38
Trang 42.1.3 Khung phân tích của luận án 43
2.2 Tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trên thế giới 44
2.2.1 Nhu cầu về lao động có chuyên môn trên thị trường lao động quốc tế 44
2.2.2 Chính sách đối với lao động có chuyên môn ở một số quốc gia 46 2.2.3 Xu hướng di chuyển lao động có chuyên môn trên thế giới 51
2.2.4 Các quy định, cam kết quốc tế về di chuyển lao động 55
Chương 3: THỰC TRẠNG TỰ DO HÓA DI CHUYỂN LAO ĐỘNG 62
CÓ CHUYÊN MÔN TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 62
3.1 Khái quát Cộng đồng kinh tế ASEAN 62
3.1.1 Quá trình hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN 62
3.1.2 Mục tiêu phát triển của Cộng đồng kinh tế ASEAN 63
3.1.3 Các trụ cột chính trong Cộng đồng kinh tế ASEAN và tiến độ thực hiện các trụ cột chính trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 65
3.2 Tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 67
3.2.1 Nhu cầu tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 67
3.2.2 Cơ sở pháp lý cho tự do di chuyển lao động trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 68
3.2.3 Thực trạng thực hiện chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 72
3.3 Đánh giá chung về thực hiện tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 87
3.3.1 Những kết quả đạt được 87
3.3.2 Những tồn tại 92
3.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại 95
Chương 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM THỰC HIỆN TỐT TỰ DO HÓA DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ CHUYÊN MÔN TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 104
Trang 54.1 Những vấn đề đặt ra cho các quốc gia thực hiện tự do hoá di
chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 104
4.1.1 Những vấn đề đặt ra về kinh tế 104
4.1.2 Những vấn đề đặt về văn hóa, chính trị, xã hội 108
4.2 Cơ hội và thách thức cho Việt Nam trong quá trình thực hiện cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 112
4.2.1 Những cơ hội cho iệt a trong thực hiện các ca ết tự o hoá i chuyển lao động có chuy n n trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 112
4.2.2 Những thách thức đối với iệt a trong thực hiện các ca ết tự o hoá i chuyển lao động có chuy n n trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 118
4.3 Hàm ý chính sách đối với Việt Nam nhằm thực hiện tốt các cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 126
4.3.1 Định hướng để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 126 4.3.2 Một số giải pháp để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết về tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 128
KẾT LUẬN 138
DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 141
PHỤ LỤC 158
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Bình dương
Ủy ban Điều phối kỹ sư chuyên nghiệpACPECC
ASEAN
Trang 8nhân
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Trang
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ lao động nhập cư vào một số quốc gia ASEAN phân theo
trình độ năm 2015
Biểu đồ 3.2: Nhu cầu di cư của lao động phân theo trình độ tại các quốc gia ASEAN (tỷ lệ %)
Biểu đồ 3.3: Di chuyển lao động nội khối và ngoại khối của ASEAN năm 2013 76
Biểu đồ 3.4: Dòng di chuyển của lao động có chuyên môn trong ASEAN năm 2013
Biểu đồ 3.5: Di cư lao động nội khối ASAEN năm 2015 (tỷ lệ %)
Biểu đồ 3.6: Mức độ giảm các rào cản cho tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong ASEAN so với việc không giảm rào cản
Biểu đồ 3.7: Cơ cấu ngành nghề lao động phân theo trình độ kỹ năng tại các quốc gia ASEAN (tỷ lệ %)
Bảng 3.1: Các cột mốc chính trong việc xây dựng AEC
Bảng 3.2: Các trụ cột chính của AEC
Bảng 3.3: Bảng điểm ưu tiên và mở rộng của AEC tính đến 31/10/2015
Bảng 3.4: Điều kiện thị trường lao động của các quốc gia ASEAN
Bảng 3.5: Tổng số kỹ sư và kiến trúc sư đăng ký tại Ủy ban Điều phối kỹ sư chuyên nghiệp ASEAN (ACPECC) và Hội đồng Kiến trúc sư ASEAN (AAC) đến tháng 4 năm 2018 (đơn vị người)
Bảng 3.6: Điều kiện đối với việc thuê lao động trình độ cao người nước ngoài của các quốc gia thành viên ASEAN
Bảng 3.7: Yêu cầu với lao động có chuyên môn nhập cư của các quốc gia ASEAN
Trang 10Bảng 4.1: Tác động tích cực và tiêu cực đến lao động di cư sau khi đi xuất khẩu lao động (tỷ lệ %) 105
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Di chuyển lao động là “một xu hướng đã và đang diễn ra giữa các nền kinh tếcác quốc gia trên thế giới Việc này đem lại những lợi ích to lớn cho cả nước xuấtkhẩu và nước nhập khẩu lao động” [2, tr.2] Tại ASEAN, dòng di chuyển lao độngnội khối đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốcgia thành viên Ngày 31/12/2015, Cộng đồng ASEAN chính thức thành lập, cácquốc gia thành viên thực hiện chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn(skilled labour) thông qua các thỏa thuận về công nhận tay nghề tương đương và dichuyển thể nhân; tạo cơ hội cho người lao động có chuyên môn ở quốc gia này dịchchuyển sang quốc gia khác trong ASEAN, đáp ứng sự thiếu hụt nhân lực, cải thiệnthu nhập và tích lũy kinh nghiệm cho bản thân Lao động di cư của các nướcASEAN (ước tính khoảng 13-15 triệu người) chiếm 9% tổng số lao động di cư toàncầu; trong đó di chuyển lao động nội khối chiếm 40% (khoảng 5,9 triệu người) [30,tr.15-16], với những luồng lao động khác nhau về tri thức, trình độ và nghề nghiệp.Thực tế này mở ra cơ hội cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc giaASEAN, nhưng cũng đặt các quốc gia này trước những thách thức về phát triểnvăn hóa, giữ gìn an ninh trật tự và đặc biệt là những tác động đến thị trường laođộng; chưa kể đến sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia ASEAN, trình độlực lượng lao động có khoảng cách lớn, chênh lệch về năng suất và cơ cấu lao động,
sự biến động dân số, sự phát triển khoa học công nghệ và tự do hoá thương mại,v.v bên cạnh đó, di chuyển lao động có kỹ năng chiếm tỷ lệ rất thấp so với các loạihình di chuyển lao động nội khối ASEAN [30, tr.16], điều này đặt ra những tháchthức lớn cho các quốc gia ASEAN trong thực hiện tốt các cam kết tự do hoá dichuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
Việt Nam là quốc gia có hơn 6 triệu dân (01/4/2019) với số người trong tuổilao động khá cao Năm 2017, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 54,8 triệungười; trong đó lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tếđạt 53,7 triệu người (đạt gần gần 98%) [56, tr.75], đây là quốc gia có nhiều tiềm
1
Trang 12năng về lao động để có thể đáp ứng nhu cầu thiếu hụt lao động của một số quốc giaASEAN như: Singapore, Malaysia và Thái Lan, đặc biệt khi các quốc gia này thựchiện đầy đủ các cam kết tự do di chuyển lao động có chuyên môn.
Tuy nhiên, tận dụng cơ hội từ việc thực hiện chính sách tự do di chuyển laođộng có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN không hề dễ dàng vì cácquốc gia sẽ có phản ứng khác nhau để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình Điềunày tạo ra rào cản trong thực hiện đầy đủ các cam kết tự do hoá di chuyển lao động
có chuyên môn trong nội khối, Việt Nam không thể tránh khỏi các tác động này.Trong khi đó, dù lực lượng lao động ở Việt Nam tương đối dồi dào nhưng lao động
có kỹ năng tay nghề rất hạn chế Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, năm 2017 chỉ
có 21,4% lao động từ 15 tuổi trở lên được đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ; lao động
đã qua đào tạo khu vực thành thị đạt 37,9%, khu vực nông thôn đạt 13,7% [56,tr.75]; chất lượng lao động còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập,
ít lao động Việt Nam đủ khả năng làm chủ công nghệ mới Tính theo sức mua tươngđương năm 2011, năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 USD, chỉbằng 7% Singapore; 17,6% Malaysia; 36,5% Thái Lan; 42,3% Indonesia; 56,7%Philippines và 87,4% năng suất lao động của Lào [129] Các chuyên gia của ILO vàADB cũng cho rằng, lao động Việt Nam thiếu chuyên môn, kỹ năng được trang bịkhông phù hợp với đòi hỏi của thị trường và nhiều lao động phải đào tạo lại, v.v [54] Bên cạnh đó, hiểu biết của lao động Việt Nam về văn hóa doanh nghiệp vàpháp luật của nước bạn còn hạn chế, tinh thần làm việc theo nhóm và tác phongcông nghiệp chưa tốt, người lao động thiếu cả kỹ năng kỹ thuật và kỹ năng mềm.Việc không biết sử dụng tiếng Anh và thiếu kỹ năng sử dụng máy
vi tính cũng khiến cho doanh nghiệp khó tìm được người lao động phù hợp với yêu cầu công việc [94, tr.7-8]
iệc thực hiện đầy đủ các cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyênmôn tạo cơ hội cho doanh nghiệp tuyển dụng lao động từ các nước trong khốiASEAN, điều này tác động không nhỏ đến thị trường lao động của iệt Nam Đưachuyên gia, người lao động nước ngoài vào làm việc tại iệt Nam một mặt giúp
2
Trang 13chuyển giao công nghệ, tạo cơ hội giao lưu học hỏi kinh nghiệm làm việc, đặc biệt
là kinh nghiệm quản lý; nhưng cũng khiến người lao động Việt Nam phải cạnh tranhgay gắt trong tìm kiếm cơ hội việc làm ngay tại đất nước mình R ràng việc thựchiện chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng
kinh tế ASEAN đem lại cả cơ hội và thách thức cho thị trường lao động iệt Nam Vì vậy, để biết r những cơ hội và thách thức nhằm phát huy tốt nhất lợi thế của lực lượng lao động iệt Nam, cần có những nghiên cứu sâu hơn uất phát từ
lý do đó, việc nghiên cứu đề tài “Tự o hoá i chuyển lao động có chuy n n trong
Cộng đồng inh tế ASEAN và những vấn đề đặt ra cho Việt a ” là cần thiết cả về
mặt lý luận và thực tiễn đối với nước ta hiện nay Công trình nghiên cứu sẽ giúpNhà nước Việt Nam tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thực hiện tốt cáccam kết về tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tếASEAN
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là đánh giá thực trạng tự do hoá di chuyểnlao động có chuyên môn trong khu vực ASEAN, từ đó đề xuất các giải pháp, kiếnnghị để Việt Nam thực hiện tốt tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trongCộng đồng kinh tế ASEAN
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung giải quyết các nội dung sau:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài luận án,
từ đó chỉ ra những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu và làm rõ trong luận án
- Khái quát, làm r cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động có chuyên môn; tự
do di chuyển lao động có chuyên môn; khái quát quá trình hình thành và phát triểnCộng đồng kinh tế ASEAN cũng như các cam kết về di chuyển lao động có chuyênmôn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
- Đánh giá thực trạng tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng
đồng kinh tế ASEAN
Trang 14- Khái quát các cam kết về tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn màiệt Nam tham gia; cũng như đánh giá cơ hội và thách thức cho việc thực hiện cáccam kết này.
- Đề tài đề xuất các giải pháp để Việt Nam thực hiện tốt cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề tự do hóa di chuyển lao động có chuyênmôn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN, nghiên cứu việc thực hiện cam kết tự do hoá
di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC của các quốc gia ASEAN
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu về việc thực hiện chính sách tự
do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN và những cơ hội, thách thức đối với Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết này
- Về không gian: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu việc thực hiện chính sách
tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN của các quốc gia ASEAN
- Về thời gian: Tập trung vào quá trình thực hiện các cam kết về tự do di
chuyển lao động, đặc biệt từ năm 2006 (từ khi các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN họplần thứ 38 và ban hành Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC - AEC Blueprint - với cácmục tiêu và lộ trình cụ thể cho việc thực hiện AEC) đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Luận án được tiến hành dựa trên cơ sở vận dụng nguyên lý của phép duy vậtbiện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Tác giả xem xét vấn đề nghiên cứu trong bốicảnh lịch sử cụ thể với các đặc trưng về kinh tế - văn hóa - chính trị Trên cơ sởphương pháp luận chung này, luận án được thực hiện với các cách tiếp cận sau:
- Cách tiếp cận tổng thể, toàn diện cho phép tác giả nghiên cứu và giải quyếtcác vấn đề một cách tổng thể và toàn diện từ góc độ lý luận đến góc độ thực tiễn của
4
Trang 15hội nhập kinh tế nói chung và thực hiện cam kết tự do di chuyển lao động có chuyênmôn nói riêng, làm cơ sở, căn cứ cho việc đề xuất các giải pháp để thực hiện tốt camkết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN ởViệt Nam.
- Cách tiếp cận thực tiễn: cách tiếp cận này bảo đảm cho tác giả tiếp cận vàgiải quyết các vấn đề liên quan đến việc thực hiện các cam kết về tự do hóa dichuyển lao động có chuyên môn trong AEC của Việt Nam trong thời gian qua, từ đó
đề xuất những kiến nghị và giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Namtrong thời gian tới
- Cách tiếp cận hệ thống: việc nghiên cứu vấn đề tự do hoá di chuyển lao động
có chuyên môn trong AEC phải được đặt trong tổng thể xây dựng và phát triểnCộng đồng ASEAN, cũng như vấn đề thực hiện tự do hoá di chuyển chuyển laođộng có chuyên môn trong AEC của Việt Nam cũng phải được đặt trong tổng thể hội nhập khu vực và quốc tế
- Cách tiếp cận động, liên ngành và dựa trên những nguyên lý cơ bản của quảntrị nguồn nhân lực, các giải pháp thực hiện tốt những cam kết này không chỉ đượcnghiên cứu và xây dựng trên cơ sở lý thuyết mà còn tính đến cả cơ chế bảo đảmthực hiện trên thực tế
4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau, như:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: các phương pháp này được sử dụng
trong đề tài nhằm đi sâu vào phân tích lý luận về lao động có chuyên môn và tự dohoá di chuyển lao động có chuyên môn, cũng như phân tích thực trạng thực hiệncam kết tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC của Việt Nam, từ
đó đánh giá những thời cơ, thách thức cần vượt qua, những rào cản cần giải quyếttrong thời gian tới
- Phương pháp khái quát hoá và cụ thể hoá: phương pháp này giúp tác giả
đề
xuất phương hướng, giải pháp nhằm thực hiện tốt tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC của Việt Nam thời gian tới
Trang 16- Phương pháp thống kê - so sánh: phương pháp này dùng để so sánh tình
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
So với các công trình nghiên cứu trước đây, luận án có đóng góp mới sau:
Thứ nhất, luận án nêu và phân tích về các quy định, các cam kết về tự do hóa
di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN, cũng như thựctrạng các dòng di chuyển lao động tự do có chuyên môn trong nội khối ASEAN
Thứ hai, luận án phân tích, đánh giá việc thực hiện các cam kết về tự do hoá di
chuyển lao động có chuyên môn của Việt Nam, từ đó chỉ ra các tác động tiềm ẩn vàhiện hữu của việc thực hiện cam kết này đối với sự phát triển kinh tế - xã hội củaViệt Nam, mà trọng tâm là tác động đến thị trường lao động Việt Nam
Thứ ba, luận án đề xuất các giải pháp cho Việt Nam để có thể thực hiện tốt hơn
các cam kết đã ký, đồng thời tận dụng tối đa cơ hội từ việc thực hiện cam kết nàycho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Những kết quả đạt được của luận án sẽ góp phần vào việc làm sâu sắc hơn lýluận về thị trường lao động có chuyên môn; về tự do hoá di chuyển lao động cóchuyên môn, về Cộng đồng kinh tế ASEAN và thực hiện các cam kết trong Cộngđồng kinh tế ASEAN
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả đạt được của luận án sẽ đóng góp vào tổng kết, đánh giá thựctiễn thực hiện các cam kết về tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong
6
Trang 17AEC; đồng thời, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực,phát triển thị trường lao động có chuyên môn ở Việt Nam phục vụ cho yêu cầu pháttriển đất nước nhanh, bền vững, hội nhập khu vực và thực hiện tốt các cam kết Cộngđồng kinh tế ASEAN.
Ngoài ra, đề tài còn là tài liệu cần thiết cho nghiên cứu và giảng dạy nhữngvấn đề liên quan đến lao động, thị trường lao động có chuyên môn, Cộng đồng kinh
tế ASEAN, vấn đề di chuyển lao động trong hội nhập khu vực và quốc tế
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm bốn chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về tự do hóa di chuyển lao động cóchuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tự do hóa di chuyển lao động cóchuyên môn trong một cộng đồng kinh tế khu vực
Chương 3: Thực trạng tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trongCộng đồng kinh tế ASEAN
Chương 4: Những vấn đề đặt ra và hàm ý chính sách cho Việt Nam thực hiệntốt tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
7
Trang 18Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TỰ DO HÓA DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ CHUYÊN MÔN TRONG CỘNG ĐỒNG KINH
TẾ ASEAN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về lao động, thị trường lao động
Lao động là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của mọi quá trìnhsản xuất kinh doanh Chính vì vậy, việc nghiên cứu về lao động, thị trường laođộng, di chuyển lao động đã và đang là chủ đề quan tâm của nhiều nhà khoa học vànhà hoạch định chính sách, tiêu biểu có những công trình sau:
Cuốn sách “Thị trường lao động ở châu Á: Các vấn đề và triển vọng” của
Ngân hàng phát triển châu Á, xuất bản năm 2006 Các tác giả đã tập trung nghiêncứu: những vấn đề thị trường lao động thông qua kết quả thị trường lao động ở châuÁ; nghiên cứu thị trường lao động trong một thế giới toàn cầu hoá; nghiên cứucường độ lao động của tăng trưởng; xu hướng và yếu tố quyết định kinh tế vĩ mô.Nghiên cứu nội dung phát triển thị trường lao động một số quốc gia châu Á như: cácvấn đề đặt ra và triển vọng phát triển của thị trường lao động ở Ấn Độ; những tháchthức chính và các vấn đề chính sách thất nghiệp của thị trường lao động ởIndonesia; luật Lao động và các chính sách kinh tế ở Philippines; sự phát triển vàthách thức trong chính sách chuyển đổi kinh tế đối với thị trường lao động ở Cộnghoà Nhân dân Trung Hoa; đánh giá thị trường lao động Việt Nam và nghiên cứu hệthống chính sách toàn dụng lao động đối với các nước châu Á
Cuốn sách “Thị trường lao động và phát triển kinh tế”, của Ravi Kanbur&Jan
Svejnar (chỉnh sửa) ấn hành năm 200 Quyển sách phản ánh trong sự phát triểnkinh tế nói chung đặc biệt đối với các nền kinh tế chuyển đổi nói riêng, việc pháttriển thị trường lao động là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu Với
sự cạnh tranh ngày càng gia tăng do tác động của toàn cầu hoá, thị trường sức laođộng ngày càng linh hoạt hơn và tạo ra nhiều việc làm tốt hơn Đồng thời, vấn đề anninh, chính trị do phân hoá thu nhập từ lao động cũng diễn ra phức tạp, đòi hỏi phải
8
Trang 19có sự nhận thức mới hơn về thị trường lao động, nhất là về vấn đề xây dựng hệthống vận hành, điều tiết thị trường lao động ở tầm vĩ mô Tổng quát hơn, đó lànhận diện mới về thị trường lao động, về cấu trúc chức năng, hoạt động của thịtrường lao động để đề xuất, xây dựng các chính sách thay thế phù hợp trong bốicảnh toàn cầu hoá.
Tổ chức lao động thế giới năm 2013 đã xuất bản cuốn sách với nhan đề:
“Research and Analysis of Vacancies and Skills Needs in the European Union,in the Republic of Moldova and Ukrainean” (Những nghiên cứu về nhu cầu tuyển dụng
lao động có chuyên môn ở Liên minh châu Âu, tại Cộng hòa Moldova và Ukraina)cuốn sách chỉ ra: xu hướng dịch chuyển của lao động đang diễn ra mạnh mẽ tại cácquốc gia Châu Âu Việc làm trong ngành nông nghiệp ngày càng giảm trong mọinền kinh tế và ngành dịch vụ đang ngày càng phát triển mạnh
Ví dụ tại Cộng hòa Séc, trong khoảng từ năm 2010 đến 2020 các ngành nghềmới như vận tải, dịch vụ kinh doanh, dịch vụ ngoài thị trường sẽ tăng khoảng 14%,trong đó các ngành nghề có kỹ năng thấp trong các nhà máy, xây dựng sẽ giảm, việclàm sẽ tăng lên với người có trình độ, tay nghề cao u hướng này cũng diễn ra tương
tự tại nhiều quốc gia Châu Âu như Pháp, Italy, Ukraine… Tại Pháp nhu cầu laođộng trong giáo dục, trong phát triển kinh tế sẽ tăng cao và giảm lao động trongnông nghiệp, công nghiệp nhẹ như: dệt may, da giày, gỗ; công nghiệp máy móc, kimloại Các ngành sẽ cần nhiều lao động như truyền thông, giải trí, nghiên cứu… [93,tr.13-14] Sự phân tích này cho chúng ta thấy sự thay đổi công nghệ luôn khiến cáccông ty phải đối mặt với một chu kì kinh tế bị rút ngắn và gia tăng sự cạnh tranhtoàn cầu Chỉ có rất ít ngành công nghiệp không chịu nhiều tác động vì sự phát triểncông nghệ còn lại hầu hết đều phải chịu sự tác động này Vì vậy, công nghệ, tự độnghóa và trí tuệ nhân tạo đã tác động không nhỏ đến nguồn và cơ cấu việc làm củachính con người
Để bổ sung cho hướng nghiên cứu về sự thay đổi nhu cầu kỹ năng lao độngtrên thế giới, năm 2014 Phil Martin và Manolo Abella cho ra đời cuốn sách:
“Labour Markets and the Recruitment Industry: Trends, Challenges and
9
Trang 20Opportunities” (Thị trường lao động và ngành tuyển dụng: u hướng, cơ hội và thách thức), cũng trong năm này Tổ chức Lao động quốc tế xuất bản báo cáo “Thị trường lao động thế giới - World of Work Report” Hai tác phẩm chỉ ra: các quốc gia trên
thế giới đều hướng đến phát triển nền kinh tế dựa trên tri thức, tăng năng suất laođộng Do vậy, “nguồn nhân lực trở thành nhân tố then chốt nâng cao năng suất laođộng, cải thiện chất lượng việc làm và thúc đẩy tăng trưởng” [102, tr.57] Trong khi
đó, hiện chỉ có 8% dân số thế giới từ 15 đến 64 tuổi có bằng tốt nghiệp cao đẳng; vìvậy trên quy mô toàn cầu đang tồn tại sự thiếu hụt rất lớn về lao động đã qua đàotạo Theo dự án nghiên cứu của Tổ chức lao động quốc tế thì đến năm 2030, cácnước công nghiệp sẽ thiếu hụt khoảng 40 triệu lao động tốt nghiệp cao đẳng và 45triệu lao động có chuyên môn ở mức trung bình, và sẽ dư khoảng 10% trong số 950triệu người chưa tốt nghiệp trung học tương đương với 95 triệu lao động [102,tr.13]
Như vậy các công trình nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của thị trường laođộng tốt, đó sẽ là một trong những nhân tố quan trọng phát triển kinh tế bền vững.Đặc biệt trong bối cảnh của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xu hướng biến đổi nhânkhẩu đang diễn ra theo nhiều hướng khác nhau tác động lớn đến sự thay đổi cung vàcầu lao động trên quy mô toàn cầu Các nghiên cứu về nhu cầu thị trường lao độngtrên thế giới và trình độ lao động hiện tại của các quốc gia đã chỉ ra: hiện nay đangtồn tại nhu cầu toàn cầu về lao động chuyên môn cao và nhu cầu đối với lực lượnglao động này sẽ ngày một gia tăng Để tận dụng lợi thế cạnh tranh các quốc gia, cáccông ty đang chạy đua thu hút nhân tài bằng nhiều biện pháp như nâng lương, quantâm đến đời sống xã hội người lao động; các quốc gia đã thay đổi thiết chế bằngcách nới lỏng các điều luật về di trú, cấp visa, thị thực…
Để đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường, năm
2010 Di Gropello, Emanuela xuất bản cuốn “Kỹ năng cho thị trường lao động ở Philippines” Quyển sách trình bày những kỹ năng mà người lao động cần trang bị
để tăng năng suất và chất lượng công việc, tăng khả năng cạnh tranh để có được
10
Trang 21việc làm tốt hơn; phân tích vai trò của hệ thống giáo dục đào tạo đối với việc trang
bị kỹ năng cho người lao động
Ở Việt Nam trong những năm qua cũng có nhiều công trình nghiên cứu về thị
trường lao động và dịch chuyển lao động, như: Cuốn sách “Thị trường lao động thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Quang Hiển do nhà xuất bản Thống kê
ấn hành năm 1 5 Quyển sách trình bày những vấn đề cơ bản về thị trường sức laođộng: sức lao động trở thành hàng hóa trong cơ chế thị trường, hàng hóa sức laođộng tuân thủ theo quy luật cung - cầu, vấn đề thất nghiệp, sự vận động của thịtrường lao động trên thế giới Quyển sách mô tả thực trạng thị trường sức lao động
ở Việt Nam trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,từ đó đưa ra phươnghướng và giải pháp phát triển thị trường lao động ở Việt Nam bao gồm: phát triểnthị trường lao động nông thôn, phát triển thị trường lao động ở các đô thị và khucông nghiệp tập trung, phát triển thị trường lao động khu vực không kết cấu, pháttriển thị trường lao động ở vùng ven biển, phát triển thị trường lao động thông quaxuất khẩu lao động và giải pháp hoàn thiện thể chế, môi trường để thúc đẩy pháttriển thị trường lao động
Cuốn sách “Thị trường lao động: cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” của
Phạm Đức Chính do nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành 2006 có nội dung tậptrung phân tích cơ sở lý luận của thị trường sức lao động như những lý thuyết về thịtrường sức lao động, việc làm, thất nghiệp, một số vấn đề có tính lý luận về nguồnlao động, vấn đề thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp, những yếu tố cấu thành vàđiều tiết thị trường sức lao động, mối quan hệ giữa cung - cầu sức lao động và tiềnlương, v.v
Luận án tiến sĩ “Competitiveness of Vietnamese labor export in North - East Asia market: a comparison across ASEAN countries” (Khả năng cạnh tranh trong
xuất khẩu lao động Việt Nam ở thị trường Đông Bắc Á: nghiên cứu so sánh với cácquốc gia ASAEN) tác giả Hoang Van Hung (2013) Luận án đã đề xuất một hệthống chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh lao động xuất khẩu Căn cứ vào cácchỉ số này, luận án đánh giá theo hai cách tiếp cận: đánh giá trực tiếp từ người sử
11
Trang 22dụng lao động và đánh giá gián tiếp bằng cách so sánh năng lực của lao động xuấtkhẩu với yêu cầu của người sử dụng lao động Ngoài ra, luận án so sánh năng lựccạnh tranh về xuất khẩu lao động giữa các nước ASEAN tại các thị trường khácnhau Căn cứ vào kết quả phân tích, luận án đề xuất giải pháp cần thiết để nâng caonăng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế Theo cách tiếpcận đó, luận án đã chỉ ra khoảng cách năng lực cạnh tranh giữa lao động Việt Nam
và các nước ASEAN Lao động Việt Nam hiện có rất nhiều vấn đề bất cập như:trình độ học vấn thấp, thiếu trình độ kỹ năng kỹ thuật, khả năng giải quyết vấn đềtrong công việc yếu kém, khả năng giao tiếp kém, khó khăn khi giao tiếp với đồngnghiệp, kinh nghiệm làm việc còn nhiều hạn chế, khó khăn khi làm việc nhóm vàkhả năng thích ứng thấp Đặc biệt, ý thức tuân theo quy định về lao động là mộtđiểm yếu rất lớn của lao động Việt Nam, ảnh hưởng đến quyết định của nhà tuyểndụng quốc tế, vì thế chúng ta cần phải quan tâm hơn về vấn đề này
Luận án tiến sĩ “Thị trường sức lao động trình độ cao” tác giả Nguyễn ăn
Phúc (2007) Luận án xuất phát từ lý luận giá trị - lao động của C.Mác để làm rõhơn tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá: lao động cụ thể và lao độngtrừu tượng Trên cơ sở đó, luận án đưa ra khái niệm lao động có trình độ cao, và thịtrường sức lao động trình độ cao Luận án cũng xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá,cấu trúc và cơ chế vận hành của thị trường sức lao động trình độ cao với những đặcđiểm riêng, từ đó phân tích và đánh giá thực trạng lao động có trình độ cao ở ViệtNam, tìm ra nguyên nhân hạn chế yếu kém của thị trường này Trên cơ sở đó, đềxuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển thị trường sức lao động trình độ cao
ở Việt Nam như: giải pháp phát triển cầu sức lao động trình độ cao, nâng cao chấtlượng cung sức lao động trình độ cao, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhànước đối với thị trường sức lao động trình độ cao, v.v
Đề tài khoa học cấp bộ “Thị trường hàng hoá sức lao động chất lượng cao”
do Nguyễn Minh Quang chủ nhiệm năm 2008 Hướng nghiên cứu chính của đề tài
là làm rõ những vấn đề mang tính lý luận về hàng hoá - sức lao động, về thị trườngsức lao động của C.Mác, từ đó đưa ra một số khái niệm về hàng hoá sức lao động
12
Trang 23chất lượng cao; về sự cần thiết để phát triển loại hàng hoá chất lượng cao cũng nhưphát triển thị trường sức lao động chất lượng Trên cơ sở đó, công trình đề xuất một
số giải pháp phát triển thị trường sức lao động chất lượng cao cho Việt Nam gồm:giải pháp phát triển cung hàng hóa sức lao động chất lượng cao, giải pháp phát triểncầu về thị trường sức lao động chất lượng cao, v.v
Bài viết “Định hướng phát triển thị trường lao động Việt Nam giai đoạn 2020” do Nguyễn Bá Ngọc thực hiện năm 2011 đăng trên Bản tin số 26 Viện Khoa
2011-học Lao động xã hội đã đánh giá tổng quan và xu hướng phát triển thị trường sứclao động Việt Nam, chỉ ra những yếu kém của thị trường sức lao động Việt Namđang trong quá trình chuyển đổi và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới Từ
đó, tác giả cho rằng để phát triển thị trường sức lao động Việt Nam giai đoạn
2011-2020, cần phải thiết kế đồng bộ luật pháp, cơ chế chính sách nâng cao chất lượngnguồn nhân lực cũng như năng lực, trình độ của các chủ thể tham gia thị trường laođộng, đặc biệt là vai trò của nhà nước
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về di chuyển lao động
Di chuyển lao động quốc tế không phải là vấn đề của riêng của nào, để thựchiện tốt vấn đề này cần sự hợp tác giữa các quốc gia ở các cấp từ song phương, đaphương, khu vực và quốc tế Để đối thoại với nhau, các quốc gia cần có một cơ sởnền tảng với quy ước, tiêu chuẩn luật quốc tế cho cả chính sách di trú quốc gia vàhợp tác quốc tế trong lĩnh vực di chuyển lao động quốc tế, do đó các thể chế quốc tếcho việc di chuyển lao động ra đời Có nhiều công trình nghiên cứu phân tích, chỉ ranhững điểm tương đồng và khác biệt, cũng như những hạn chế trong quy định thựchiện thể chế giữa các quốc gia về di chuyển lao động Một số công trình tiêu biểu
cho hướng nghiên cứu này như: Báo cáo nghiên cứu “Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới thị trường chung và việc làm tốt hơn” ADB - Tổ chức lao động quốc tế ấn hành năm 2014; Bài báo “Free flow, Managed Movement Labour mobility policies in ASEAN and the EU” (Di chuyển tự do trong chính sách
di chuyển lao động ở ASEAN và EU) của Jennee Grace U Rubrico ấn hành năm
2015; v.v Trong đó, tác phẩm “Di chuyển con người để cung cấp dịch vụ” Aaditya
13
Trang 24Mattoo và Antonia Carzzaniga đã phân tích một cách khá hệ thống những quy định
về việc di chuyển tạm thời của các cá nhân cung cấp dịch vụ được đàm phán trongKhuôn khổ Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ GATS của WTO Cuốn sáchchỉ ra những hạn chế trong việc hiểu và thực hiện tự do di chuyển lao động theophương thức 4 của GATS, như: GATS không chỉ ra xem bao lâu thì được coi là dichuyển tạm thời, cũng không đưa ra ranh giới r ràng để loại trừ vấn đề di cư vĩnhviễn, điều này khiến cho các quốc gia rất dè dặt với thỏa thuận di chuyển tự nhiêntrong Hiệp định khung về thương mại dịch vụ theo phương thức 4 Ngoài ra, tácphẩm nêu lên sự băn khoăn của các nhà nghiên cứu, các nhà đàm phán thương mại
về việc “phải làm thế nào để đạt được sự tự do hóa tốt nhất theo cách có lợi cho cảnước xuất khẩu và nước nhập khẩu lao động” [2, tr.3]
Bên cạnh đó, Jennee Grace U Rubrico (2015) tác giả của cuốn “Free flow, Managed Movement Labour mobility policies in ASEAN and the EU”, đã phân tích
quy định di chuyển tạm thời của những người cung cấp dịch vụ, trong quy định vềthương mại dịch vụ theo phương thức 4 của GATS và phân tích một số quy định dichuyển lao động trong các hiệp định của khu vực kinh tế Châu Âu Châu Âu đã thựchiện chính sách di chuyển lao động từ khi Cộng đồng kinh tế Châu Âu được thànhlập, tuy nhiên mãi đến năm 2007 việc di chuyển lao động tự do trong nội khối mớiđược thực hiện như một quyền cơ bản thực sự; theo quy định hiện hành người nhập
cư làm việc tại quốc gia sở tại trong 5 năm, họ sẽ trở thành công dân của quốc gia
đó Thị trường chung Đông và Nam Phi cũng đưa ra hiệp ước COMESA, quy địnhlao động được tự do di chuyển giữa các quốc gia trong khu vực, nhưng trong quátrình thực hiện những quy định này gặp phải nhiều rào cản ở các tầng lớp khác
nhau Những rào cản này được chia làm ba loại chính: Loại thứ nhất, liên quan đến các vấn đề nhập cư, đặc biệt là các rào cản có liên quan đến thị thực; Loại thứ hai,
liên quan đến những đối xử mang tính phân biệt với các cá nhân cung cấp dịch vụ
nước ngoài; Loại thứ ba, liên quan đến việc không công nhận một cách thỏa đáng
về trình độ đào tạo và kinh nghiệm
14
Trang 25Trong cuốn sách “Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới thị trường chung và việc làm tốt hơn” đã chỉ r , vấn đề lao động là nội dung xuyên suốt
trong tất cả các trụ cột của Cộng đồng ASEAN Các thành tố về lao động của Cộngđồng ăn hóa ã hội ASEAN (ASCC) xen lẫn và bổ sung cho các hướng hành động vềlao động của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) Các thành tố này gồm: ủng hộnguyên tắc việc làm tốt, đảm bảo an toàn cho người lao động di cư, thúc đẩy đầu tưnâng cấp nguồn nhân lực và kỹ năng, đặc biệt là cho các nhóm dễ bị tổn thương.Cuối cùng, để giải quyết vấn đề lao động trong Cộng đồng Chính trị - An ninhASEAN (APSC) cần phải tăng cường xử lý hình sự chống buôn bán người và tiếnhành những biện pháp bảo vệ tốt hơn cho nạn nhân của buôn bán người Tuy nhiên,chính sách quản lý các dòng di cư trong khuôn khổ ACE hiện nay mới đang giới hạncho lao động tay nghề cao thông qua việc thực thi các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau(MRA)
Trong khi đó, việc thực thi các MRA vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn vì một
số lý do như: Thứ nhất, các nước có sự khác nhau đáng kể trong giáo dục và kiểm
tra sát hạch để được cấp chứng chỉ nghề nghiệp, và các hiệp hội nghề nghiệp thườnglưỡng lự trước việc thay đổi tiêu chuẩn hiện có của họ hay việc cho phép các đối thủcạnh tranh tiềm năng từ nước ngoài Hơn nữa, những ngành nghề cụ thể được cấp
phép ở một số nước nhưng lại không được cấp phép ở một số nước khác Thứ hai, một số nước yêu cầu những vị trí như giáo viên, luật sư, công chức hoặc quân nhân phải do công dân của họ đảm nhận và rõ ràng loại trừ nhân lực nhập cư Thứ ba, khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa và sự chấp nhận của xã hội có thể tạo nên những rào
cản thực tế đối với dịch chuyển lao động, vượt qua bất kỳ điều khoản nào mà luật
định có thể đặt ra Cuối cùng, các đàm phán MRA cho đến nay nhìn chung vẫn được
tiến thành song phương và hầu hết còn tồn tại những kẽ hở đối với việc thực hiện[54, tr.101]
Việc tạo điều kiện cho di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồngkinh tế ASEAN hiện nay được các tác giả đánh giá là một cách tiếp cận vẫn còn tráingược với thực tế khi di cư lao động trong ASEAN chủ yếu vẫn là lao động tay
15
Trang 26nghề thấp và trung bình, trong các ngành chế tạo máy, xây dựng, đánh cá, giúp việcgia đình, và tình hình vẫn tiếp tục như vậy trong trung hạn Do đó, các tác giả đềnghị các quốc gia thành viên trong ASEAN nên cân nhắc việc công nhận thêm cácngành nghề khác trong các khuôn khổ đa phương để tạo ra những kênh hiệu quảhơn cho di chuyển lao động.
Cuốn sách “Di chuyển lao động quốc tế” của tác giả Nguyễn Bình Giang (Chủ
biên) do nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 2011 Công trình nghiên cứunày đã đánh giá một số nét nổi bật trong di chuyển lao động quốc tế như xu hướng
cơ bản của di chuyển lao động quốc tế, các chính sách quốc gia điều tiết di chuyểnlao động quốc tế, tác động tích cực và tiêu cực của di chuyển lao động quốc tế tớinước nhập khẩu lao động và nước xuất khẩu lao động trong 10 năm đầu thế kỷ XXI,đồng thời dự báo những xu hướng di chuyển lao động quốc tế sẽ diễn ra trong 10năm tới Ngoài việc phân tích vai trò của các thể chế quốc tế trong di chuyển laođộng như vai trò của tổ chức Lao động quốc tế và Tổ chức Di cư quốc tế (IOM)trong hỗ trợ các quốc gia và khu vực soạn thảo, ban hành và thực thi quy định, camkết quốc tế trong di chuyển lao động, tác giả cũng phân tích những điều khoản vềdịch chuyển lao động trong các Hiệp định thương mại khu vực, như điều khoản dichuyển lao động của Liên minh Châu Âu EU, Hiệp hội thương mại tự do Châu Âu(EFTA); Thị trường chung Đông và Nam Phi (COMESA); Hiệp định Quan hệ Kinh
tế gần gũi hơn giữa Úc và New Zealand (ANZCERTA); Nghị định thư thứ hai vềthiết lập cơ sở, dịch vụ và vốn trong khuôn khổ Cộng đồng Caribe (CARICOM) vàthỏa thuận song phương giữa các quốc gia về di cư lao động
Cuốn sách “Quản lý nhà nước về lao động nước ngoài chất lượng cao ở Việt Nam” của tác giả PGS TS Phan Huy Đường (Chủ biên) do nhà xuất bản Chính trị
quốc gia ấn hành 2012 Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những vấn đề chung vàkinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài chất lượngcao, công trình nghiên cứu đã khẳng định: Dòng lao động nước ngoài chất lượngcao vào Việt Nam làm việc có tác động tích cực đến tăng trường của nền kinh tế,ứng dụng các công nghệ, kinh nghiệm quản lý, gia tăng kim ngạch thương mại giữa
16
Trang 27Việt Nam và các nước, v.v đồng thời cũng mang lại những hiệu ứng ngoài mongmuốn như: gia tăng áp lực việc làm trong nước, xung đột giữa lao động Việt Namvới lao động nhập cư, trật tự xã hội khó quản lý, an ninh, quốc phòng có thể bị xâmphạm, bí mật quốc gia có thể bị lộ, v.v [16, tr.7].
Nhằm đánh giá tổng quan những cơ hội và thách thức trong việc quản lý nhànước về lực lượng lao động này, công trình nghiên cứu đã đánh giá thực trạng quản
lý nhà nước đối với lao động nước ngoài chất lượng cao tại Việt Nam từ năm 2000
-2010, để từ đó cho thấy số lượng lao động nước ngoài chất lượng cao đến Việt Namhàng năm đều tăng; hệ thống thể chế và thiết chế quản lý đối với đối tượng nàyngày một hoàn thiện; tuy nhiên “nhiều quy định về quản lý lao động nước ngoàichất lượng cao chưa sát với thực tế, việc thực hiện các quy định pháp luật về quản
lý lao động nước ngoài chưa nghiêm” [16, tr.96-122]; v.v Trên cơ sở thực tiễn đó,công trình nghiên cứu đã đề ra những định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện vàtăng cường quản lý nhà nước đối với lao động chất lượng cao ở Việt Nam trong thờigian tới
Luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc
ở nước ngoài” của tác giả Lê Hồng Huyên (2010) Luận án đã khái quát và
hệ
thống hoá những lý luận về di chuyển lao động quốc tế; phân biệt rõ xuất khẩu laođộng và hiện diện thể nhân để cung cấp dịch vụ trong khuôn khổ GATS; làm rõ nộidung quản lý nhà nước về di chuyển lao động ra nước ngoài làm việc; đúc kết kinhnghiệm về quản lý nhà nước với di chuyển lao động ra nước ngoài làm việc ở một
số nước Đồng thời luận án đánh giá thực tiễn quản lý nhà nước về di chuyển laođộng Việt Nam ra nước ngoài làm việc giai đoạn 1991-2008, qua đó đề xuất giảipháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam
ra nước ngoài làm việc theo hình thức: xuất khẩu lao động và hiện diện thể nhân đểcung cấp dịch vụ theo khuôn khổ GATS
Trang 2817
Trang 291.1.3 Các công trình nghiên cứu về ASEAN, AEC
Để chuẩn bị cho sự ra đời cũng như đánh giá quá trình hình thành và phát triểncủa Cộng đồng kinh tế ASEAN, những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu
đề cập đến sự phát triển của cộng đồng này, tiêu biểu như:
Cuốn sách“The ASEAN Miracle: A Catalyst for Peace” (Sự thần kỳ của
ASEAN: Chất xúc tác cho nền hoà bình) của tác giả Kishore Mahbubani, JefferySng do nhà xuất bản Đại học quốc gia Singapore ấn hành năm 2017 Cuốn sách đãphân tích và làm rõ tầm quan trọng của ASEAN trong việc gìn giữ hoàn bình vàhướng tới sự thịnh vượng chung cho toàn khối Điều này không phải là sự ngẫunhiên, theo sự phân tích của các tác giả đó là sự nỗ lực không ngừng nghỉ của cácquốc gia thành viên nhằm hướng đến xây dựng Cộng đồng ASEAN đoàn kết, hoàbình và thịnh vượng Điều này từng bước được hiện thực hoá trên nền tảng pháp lý
là Hiến chương ASEAN và các trụ cột: Cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN,Cộng đồng kinh tế ASEAN và Cộng đồng văn hoá - xã hội ASEAN
Cuốn sách “Southeast Asia in Search of an ASEAN Community: Insights from the Former ASEAN Secretary - General” (Đông Nam Á đang hướng đến một Cộng
đồng ASEAN: Cái nhìn sâu sắc từ cựu Tổng thư ký ASEAN) của tác giả RodolfoC.Severino do Viện nghiên cứu Đông Nam Á Singapore, ấn hành năm 2016 Cuốnsách là cảm nhận và suy nghĩ cá nhân về sự hình thành và phát triển ASEAN, cũngnhư quá trình hình thành ý tưởng và triển khai thực hiện xây dựng Cộng đồngASEAN Tác giả cũng chỉ rõ tầm quan trọng của ASEAN trong khu vực và trên thếgiới, từ đó dự báo tương lai phát triển của ASEAN
Cuốn sách “Economic Integration and Regional Development: The ASEAN Economic Community” (Hợp tác kinh tế và phát triển khu vực: Cộng đồng kinh tế
ASEAN) của các tác giả Kiyoshi Kobayashi, Khairuddin Abdul Rashid, MasahikoFuruichi và William P Anderson do Routledge ấn hành năm 2018 Cuốn sách tậphợp các bài nghiên cứu, trong đó chỉ rõ những cơ hội và thách thức đối với các nướcASEAN trong quá trình hợp tác phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Nguyênnhân chính của những thách thức này nằm ở chỗ, trình độ phát triển không
18
Trang 30đồng đều giữa các quốc gia thành viên, cùng với đó là sự chênh lệch về trình độnguồn nhân lực và năng suất lao động ở các quốc gia này.
Cuốn sách “The future of the ASEAN Economic Integration” (Tương lai về sự
hợp tác kinh tế các nước ASEAN) của tác giả Kiki Verico do Palgrave Macmillan ấnhành năm 2017 Tác giả cuốn sách đã phân tích tầm quan trọng của hợp tác kinh tếcủa các nước ASEAN, đây có thể coi là một trong các trụ cột chính để xây dựngCộng đồng ASEAN vững mạnh và mở rộng tầm ảnh hưởng của mình đối với khuvực trên thế giới Việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN vào cuốn năm 2015
đã thúc đẩy việc hình thành và thực hiện đầy đủ các cam kết của Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định thương mại tự do song phương (BFTA), v.v…Nghiên cứu về chủ đề này, học giả Việt Nam cũng có các công trình như:
Cuốn sách “Cộng đồng ASEAN sau năm 2015 và sự tham gia của Việt Nam” của
Nguyễn ăn Hà (Chủ biên) do nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 2018;
cuốn sách “Điều chỉnh quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nước GMS là thành viên của ASEAN trong bối cảnh mới” của Nguyễn Duy Dũng (Chủ biên) do nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 2018; cuốn sách “Hiện thực hoá Cộng đồng kinh tế ASEAN và tác động đến Việt Nam” của Nguyễn ăn Hà (Chủ biên) do nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội ấn hành năm 2013; cuốn sách “Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Nội dung và lộ trình” của Nguyễn Hồng Sơn (Chủ biên) do
nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 200 Các công trình đã khái quát quátrình hình thành, phát triển và mô hình Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuốinăm 2015 Những đặc trưng cơ bản, biện pháp, lộ trình hoạt động của AEC và sựtham gia của Việt Nam vào cộng đồng kinh tế này Trong đó, các công trình nàytrình bày lộ trình, kế hoạch hành động, cơ chế vận hành của AEC, kết quả thực hiệnbước đầu, tính khả thi và những vấn đề cơ bản nhằm thực hiện hoá AEC, cùng tácđộng của AEC đến sự phát triển và hội nhập kinh tế của Việt Nam
Cuốn sách “Thể chế Cộng đồng kinh tế ASEAN và cơ chế giải quyết tranh chấp” của Nguyễn Thành Trì do nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2010 Tìm hiểu
hệ thống thể chế của Hiệp hội các nước Đông Nam Á - ASEAN nói chung và thể
19
Trang 31chế của Cộng đồng kinh tế ASEAN nói riêng, đồng thời giới thiệu và so sánh cơ chếgiải quyết tranh chấp của Cộng đồng kinh tế ASEAN với cơ chế giải quyết tranhchấp của Tổ chức Thương mại thế giới.
Cuốn sách “Vai trò và vị thế của Việt Nam trong Cộng đồng kinh tế ASEAN”
do nhà xuất bản Công thương ấn hành năm 2013 đã tổng quan về ASEAN và việchợp tác kinh tế thương mại của Việt Nam với ASEAN, ASEAN+6 Đồng thời cuốnsách cũng giới thiệu về AEC cũng như triển vọng và đưa ra một số giải pháp thúcđẩy phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - ASEAN trong bối cảnh thiết lập AECvào năm 2015
Cuốn sách “Phát triển dịch vụ hậu cần (logicstics) trong tiến trình hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN” của Phạm Thị Thanh Bình (Chủ biên) do nhà xuất bản
Khoa học xã hội ấn hành năm 200 đã phân tích thực trạng phát triển kinh tế - xã hộitrước yêu cầu hội nhập của lĩnh vực dịch vụ hậu cần và những yêu cầu của việc hìnhthành AEC đối với lĩnh vực dịch vụ hậu cần Từ đó đề xuất phương hướng ưu tiênhội nhập nhanh lĩnh vực dịch vụ hậu cần, các giải pháp thực hiện và một số kiếnnghị để phát triển dịch vụ hậu cần ở Việt Nam trong thời gian tới
1.1.4 Các công trình nghiên cứu về tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
Bài nghiên cứu “Enhancing Labor Mobility in ASEAN: Focus on Lower Skilled Workers” (Tăng cường di chuyển lao động trong ASEAN: Tập trung vào
nhóm lao động có chuyên môn thấp) của Aniceto C Orbeta, Jr ấn hành năm 2012;
bài viết “Free Flow of Skilled Labor in the AEC” (Tự do di chuyển lao động có
chuyên môn trong AEC) của Chia, S Y (2011) đăng trong báo cáo nghiên cứu của
Urata, S và M Okabe; “Toward a Competitive ASEAN Single Market: Sectoral Analysis” (Hướng tới một thị trường cạnh tranh ở ASEAN: phân tích ngành); báo cáo “ASEAN economic community 2015 enhancing competitiveness and employability through skill development” (Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm
2015: Tăng cường khả năng cạnh tranh và tạo việc làm thông qua phát triển tay
nghề) của International Labour Organization ấn hành năm 2015; bài viết “A freer
20
Trang 32flow of skilled labour within ASEAN Aspration, opprtunities and challenges in 2015 and beyond” (Tự do hóa lao động có chuyên môn ở ASEAN: triển vọng, cơ hội và
thách thức vào năm 2015 và những năm sau) của tác giả Guntur Sugiyarto và
Dovelyn Rannveig Agunios ấn hành năm 2014; bài nghiên cứu “Assessing the Progress of ASEAN MRAs onProfessional Services” (Đánh giá tiến độ thực hiện
thỏa thuận lẫn nhau của ASEAN đối với các ngành dịch vụ) do Yoshifumi
FUKUNAGA ấn hành năm 2015; bài nghiên cứu“The Limited Impact of the ASEAN Economic Community on Skilled Labour Migration” (Tác động của Cộng
đồng kinh tế ASEAN đến việc thực hiện di chuyển lao động có chuyên môn) của tácgiả Sukti Dasgupta and Sanchita Basu Das ấn hành năm 2014 Các công trình này
đã phân tích các cam kết về tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộngđồng kinh tế ASEAN và chỉ ra:
Việc thực hiện tự do di chuyển lao động có chuyên môn được coi là biện phápcốt yếu để hội nhập kinh tế, tạo ra một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất.Những quy định về sự dịch chuyển tự do của lao động lành nghề trong khuôn khổAEC phần nào chịu sự chi phối của những yêu cầu trong Hiệp định khung về cácngành dịch vụ ASEAN 1 5, trong đó bao gồm những điều khoản về di chuyển thểnhân Và những quy định này không đi quá xa so với cam kết về di chuyển thể nhântheo phương thức 4 của GATS [84]
Đồng thời với việc chỉ ra quá trình hình thành cũng như lộ trình thực hiện camkết di chuyển lao động giữa các quốc gia ASEAN, các nghiên cứu này đều thừanhận rằng sự chênh lệch về trình độ lao động giữa các quốc gia trong nội khối và sựthiếu hoàn thiện về thị trường lao động giữa các quốc gia, rào cản về văn hóa, ngônngữ, việc thực thi các chính sách bảo vệ người lao động trong nước… là những ràocản lớn để thực hiện tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC Để vượtqua những rào cản này, các học giả khuyến nghị cần hoàn thiện chính sách pháttriển nguồn lao động chất lượng cao, chuẩn hoá theo cam kết công nhận trình độtương đương đối với tám lĩnh vực được tự do di chuyển lao động trong AEC; ngoài
21
Trang 33ra các quốc gia cần tiếp tục hoàn thiện thị trường lao động, các chính sách về laođộng việc làm theo cam kết chung giữa các nước ASEAN.
Nhằm tìm hiểu sâu và làm rõ những vấn đề về lý luận, thực tiễn đối với tự do
di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC, một số tác giả đã bước đầu nghiêncứu các vấn đề liên quan đến nội dung này, cụ thể:
Bài viết “Một số tác động từ Cộng đồng Kinh tế ASEAN 2015 tới cầu lao động ở Việt Nam” của tác giả Đinh ăn Tới đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo Bài
nghiên cứu chỉ rõ, cùng với một mức tăng về hoạt động xuất khẩu như nhau trongcác ngành, lao động của ngành dệt may, da giày; chế biến lương thực, thực phẩm vàđiện, điện tử tăng chậm hơn so với lao động của ngành khai khoáng Khi tỷ lệ xuấtkhẩu trong giá trị gia tăng khu vực ASEAN tăng 1%, thì lao động ngành chế biếnlương thực, thực phẩm tăng chậm hơn so với ngành khai khoáng khoảng 0,09%;chậm hơn so với ngành dệt may, da giày lần lượt là 0,02% và 0,03% Ngoài ra,trong khi xuất khẩu có khả năng tác động nhiều đến lao động phi kỹ năng, nhậpkhẩu thường đi kèm với việc tuyển dụng ngày càng nhiều hơn lao động kỹ năng
Bài viết “Mạnh, yếu, cơ hội và thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam khi gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN” của tác giả Mạc ăn Tiến đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu Khoa học dạy nghề Bài nghiên cứu chỉ rõ khi tham gia Cộng đồng kinh
tế ASEAN, Việt Nam có những lợi thế nhất định, đó là: lực lượng lao động dồi dào
và cơ cấu lao động “trẻ”, cơ cấu lao động đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực,chất lượng lao động cũng đã từng bước được nâng lên Tuy nhiên, bên cạnh đó tỷ lệlao động tham gia vào thị trường lao động chính thức còn thấp (khoảng 30%); chấtlượng và cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hộinhập; chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam còn thấp và còn khoảng cách khálớn so với các nước phát triển trong khu vực Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhữngthách thức nhất định khi gia nhập AEC, đó là nguồn nhân lực có chất lượng thấp,năng lực cạnh tranh chưa cao do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là công tácđào tạo hiện nay chưa phù hợp, chất lượng đào tạo còn hạn chế, mặt khác hệ thốngthông tin của thị trường lao động còn nhiều yếu kém và hạn chế
22
Trang 34Bài viết “Thị trường lao động Việt Nam trong Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức” của Phạm Thị Lý đăng trên Tạp chí Khoa học chính trị, số
1+2/2015 Tác giả chỉ ra cơ hội và thách thức mà thị trường lao động Việt Nam sẽ
phải đối mặt: Về cơ hội, việc hội nhập vào AEC sẽ tạo thêm cơ hội việc làm cho
người lao động Việt Nam, tạo cơ hội cho người lao động có tay nghề được phép dichuyển tự do trong khu vực ASEAN, có cơ hội cải thiện thu nhập, nâng cao tiềnlương, đồng thời Việt Nam có cơ hội nâng cao chất lượng nguồn cung lao động nhờ
vào sự hợp tác về lao động giữa các nước thành viên ASEAN; Về thách thức, sự
cạnh tranh gay gắt giữa các thị trường lao động, lao động Việt Nam có thể bị thuathiệt ngay trên thị trường lao động nước nhà vì chất lượng cung lao động thấp, nguy
cơ gia tăng tình trạng thất nghiệp khi thực hiện đầy đủ cam kết hội nhập AEC
Bài viết “Nguồn nhân lực của các nước ASEAN và những tham chiếu cho Việt Nam trước thềm hội nhập AEC” của Bùi Thị Minh Tiệp đăng trên Tạp chí Kinh tế
và phát triển, số 2/2015 Bài viết chỉ rõ, các quốc gia thành viên ASEAN có trình độphát triển không đồng đều về kỹ thuật và trình độ phát triển dẫn đến sự chênh lệch
về chất lượng nguồn nhân lực Điều này dẫn đến sự khác biệt về khả năng và sự sẵnsàng hội nhập của người lao động giữa các quốc gia thành viên ASEAN Hiện nay,mặc dù lao động Việt Nam đang ở giai đoạn dồi dào về số lượng và chiếm tỉ trọngtương đối lớn trong ASEAN, nhưng chất lượng lao động còn nhiều hạn chế, đây làthách thức lớn cho Việt Nam trước thềm AEC được thành lập
Luận án tiến sĩ “Sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối trong ASEAN” của Đào Thị Thu Trang (2015) Luận án đã đưa ra bộ tiêu chí đánh
giá về tác động của di chuyển lao động nội khối tới các quốc gia tham gia, các tiêuchí đánh giá mức độ tham gia của các nước thành viên trong di chuyển lao động nộikhối, và những nhân tố ảnh hưởng để xác định mức độ tham gia vào di chuyển laođộng của các nước thành viên trong một khối kinh tế Trên cơ sở đó, tác giả nghiêncứu, đánh giá hệ thống chính sách, thể chế và hợp tác khu vực trong di chuyển laođộng nội khối ASEAN; phân tích thực trạng tham gia vào di chuyển lao động nộikhối ASEAN của Việt Nam thời gian qua, đánh giá tác động của hoạt động này tới
23
Trang 35nền kinh tế - xã hội Việt Nam, tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng để xác định đượcmức độ tham gia phù hợp vào di chuyển lao động nội khối ASEAN của Việt Nam.
Từ đó, đưa ra nhận định về những vấn đề cần phải giải quyết đối với việc tham giavào di chuyển lao động nội khối ASEAN và kiến nghị, đề xuất chính sách để ViệtNam tham gia di chuyển lao động nội khối ASEAN phù hợp với bối cảnh trong thờigian tới
Cuốn sách “Di chuyển lao động có kỹ năng trong Cộng đồng kinh tế ASEAN
và triển vọng thị trường lao động ASEAN sau năm 2015” của Nguyễn Ngọc Lan năm 2018 và Đề tài cấp bộ “Di chuyển lao động có kỹ năng trong cộng đồng kinh tế ASEAN và thị trường lao động ASEAN sau năm 2015” do Nguyễn Ngọc Lan làm
chủ nhiệm năm 2016 đã xác định một số nhân tố tác động đến di chuyển lao động
có kỹ năng trong Cộng đồng kinh tế ASEAN; nhận diện thực trạng di chuyển laođộng có kỹ năng trong ASEAN những năm gần đây, đánh giá kết quả đạt được vànhững vấn đề tồn tại trong quá trình di chuyển lao động có kỹ năng giữa các nướcASEAN Từ đó, công trình nghiên cứu đưa ra dự báo về triển vọng phát triển thịtrường lao động ASEAN sau năm 2015 và gợi ý một số giải pháp nhằm tăng cường
sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động có kỹ năng trong ASEAN
1.2 Một số nhận xét, đánh giá và khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu
1.2.1 Một số nhận xét, đánh giá
Nhìn chung, các công trình trong và ngoài nước đã khẳng định việc di chuyểnlao động giữa các nước trong khu vực hoặc trên phạm vi thế giới là xu hướng kháchquan của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế Đặc biệt trong bối cảnh của sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế, xu hướng biến đổi nhân khẩu đang diễn ra theo nhiềuhướng khác nhau, tác động lớn đến sự thay đổi cung và cầu lao động trên quy môtoàn cầu Các nghiên cứu về nhu cầu thị trường lao động trên thế giới và trình độ laođộng hiện tại của các quốc gia cho chúng ta thấy hiện đang tồn tại nhu cầu về laođộng chuyên môn cao và nhu cầu đối với lực lượng lao động này sẽ ngày một giatăng Để tận dụng lợi thế cạnh tranh các quốc gia, các công ty đang chạy đua tronglĩnh vực thu hút nhân tài bằng nhiều biện pháp như nâng lương, quan tâm đến
24
Trang 36đời sống xã hội cho người lao động Các quốc gia đã thay đổi thiết chế bằng cáchnới lỏng các điều luật về di trú, cấp visa, thị thực… Các điều khoản về dịch chuyểnlao động trong các Hiệp định thương mại khu vực, các hiệp định song phương giữacác quốc gia đã được thành lập tạo điều kiện cho di chuyển lao động.
Tuy nhiên, việc ký kết và thực thi các quy định về di chyển lao động trongHiệp định thương mại giữa các thể chế kinh tế, giữa các quốc gia đã tác động nhưthế nào đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, liệu các cam kết có đemlại cơ hội cải thiện cuộc sống, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động, tạo
ra sự liên kết chặt chẽ hơn giữa các quốc gia tham gia vào các thế chế đó thì cho đếnnay đây vẫn là một khoảng trống cần phải tiếp tục nghiên cứu
ASEAN là một trong những khu vực có tỷ lệ người lao động di trú cao nhấttrên thế giới, bao gồm cả những nước xuất khẩu và những nước nhập khẩu lao động.Trong những năm gần đây chính phủ các nước ASEAN đã có những nỗ lực to lớntrong việc xây dựng một cơ chế tạo thuận lợi cho việc di chuyển lao động, nhằmđáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia thành viên; đồng thờihoàn thiện hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, xây dựng một khuôn khổ pháp lýchung trong khu vực cho việc bảo vệ và thúc đẩy quyền của người lao động di trú.Việc thực hiện tự do di chuyển lao động có chuyên môn đựơc coi là một trong cácsáng kiến nhằm xây dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất trongASEAN Tuy nhiên, việc làm này có giúp ASEAN tạo dựng một khu vực phát triển
ổn định, thịnh vượng, có tính cạnh tranh cao như Tuyên bố hòa hợp ASEAN II nêu
ra hay không, và việc tạo thuận lợi cho sự di chuyển lao động có chuyên môn sẽgiúp các quốc gia phát triển kinh tế bình đẳng, giảm nghèo đói, giảm sự chênh lệchtrong phát triển kinh tế xã hội giữa các quốc gia thành viên, đây có phải là biện phápđúng đắn và hữu hiệu để tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảngcách phát triển giữa các quốc gia thành viên… tất cả đều là những câu hỏi lớn cầnphải tiếp tục nghiên cứu vì cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào cóthể giải thích một cách thỏa đáng những vấn đề nêu trên
25
Trang 37Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng: những quy định về sự dịch chuyển
tự do lao động có chuyên môn trong khuôn khổ AEC phần nào vẫn chịu chi phối bởinhững yêu cầu trong Hiệp định khung về các ngành dịch vụ ASEAN 1995, bao gồmnhững điều khoản về di chuyển thể nhân và những quy định này không đi quá xa sovới cam kết về di chuyển thể nhân theo phương thức 4 của GATS Do vậy, vấn đềđặt ra là cần tìm hiểu xem cách tiếp cận hiện nay của ASEAN về di chuyển lao động
có chuyên môn có trái ngược với xu hướng thực tế của các dòng di chuyển lao độngnội khối đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra hay không; các quốc gia thành viên trongASEAN có nên cân nhắc việc công nhận thêm ngành nghề khác trong khuôn khổ đaphương để tạo thêm kênh di chuyển lao động hiệu quả hơn
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cũng đã chỉ ra rằng việc thựchiện cam kết về di chuyển lao động có chuyên môn trong ASEAN hiện nay vẫn vấpphải phải nhiều khó khăn liên quan đến sự khác nhau trong hệ thống giáo dục, kiểmtra sát hạch để được cấp chứng chỉ nghề nghiệp; sự khó khăn do những quy định vềbảo vệ quyền lao động địa phương; sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa; sự chấpnhận của xã hội tạo nên những rào cản đối với dịch chuyển lao động, vượt quá bất
kỳ điều khoản nào mà luật định có thể đặt ra Do vậy, các nghiên cứu cần tiếp tụcchỉ ra những kẽ hở đối với việc thực hiện các cam kết về tự do di chuyển lao động,
và cần cải tiến các quy định như thế nào để các doanh nhân, những người có chuyênmôn, những người có tài năng có thể di chuyển thuận lợi; thu hẹp khoảng cách pháttriển trong ASEAN thông qua hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau Việc chỉ ra những camkết và vướng mắc khi thực hiện các cam kết là chưa đủ, cần phải chỉ ra cho nhữngnhà hoạch định chính sách biết họ cần thay đổi gì để phát huy tối đa hiệu quả củacác cam kết và chính sách đã đề ra
1.2.2 Những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu
Trong bối cảnh AEC đã được thành lập và đi vào hoạt động, nhiều vấn đề lýluận và thực tiễn còn bỏ ngỏ, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách thấu đáocác vấn đề như:
26
Trang 38- Trong quá trình thực hiện các cam kết về tự do di chuyển lao động có chuyênmôn trong nội khối AEC, các quốc gia ASEAN đã thực hiện các cam kết này nhưthế nào, đâu là những thuận lợi và những rào cản đối với các quốc gia.
- Tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC sẽ tác động thế nàođến sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đặc biệt là sự tác động đến thịtrường lao động, đến pháp luật hiện tại về lao động cũng như các vấn đề bảo vệ anninh quốc gia
- Việt Nam có thể tận dụng cơ hội mà AEC đem lại để tạo thêm việc làm, xóađói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và chất lượng sống cho đại đa số người dân ViệtNam hay không; Việt Nam đã thực hiện các cam kết về tự do di chuyển lao độngđến đâu và cần tiếp tục làm gì để thực hiện tốt hơn những cam kết đã ký
- Việt Nam cần phải làm gì để tận dụng tốt cơ hội từ việc thực hiện tự do dichuyển lao động có chuyên môn đem lại, cũng như cần làm gì để hạn chế đến mứcthấp nhất rủi ro mất nguồn lao động chất lượng cao, mất cơ hội việc làm có thu nhậpcao của người lao động tại chính thị trường lao động nước mình
Chính vì thế, việc nghiên cứu đề tài “Tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam” sẽ góp
phần làm rõ những vấn đề trên
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án tập trung vào trả lời cho ba câu hỏi nghiên cứu chính:
Câu hỏi 1: Chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn đang diễn ranhư thế nào ở các quốc gia thành viên ASEAN? Quá trình này đang diễn ra theo xuhướng nào, những nhân tố tác động đến quá trình tự do di chuyển lao động cóchuyên môn trong AEC?
Câu hỏi 2: Chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn của iệt Namnhư thế nào?
27
Trang 39Câu hỏi 3: Việt Nam cần làm gì để thực hiện tốt cam kết tự do hoá di chuyểnlao động có chuyên môn trong AEC cũng như tận dụng tốt cơ hội này cho mục tiêukinh tế, chính trị, xã hội của mình?
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Những quy định về tự do di chuyển lao động có chuyên môn
trong khuôn khổ AEC gần giống với các cam kết về di chuyển thể nhân theophương thức 4 của GATS và hạn chế hơn rất nhiều về mức độ tự do di chuyển laođộng so với quy định về tự do di chuyển lao động trong Liên minh Châu Âu (EU)
Giả thuyết 2: Việc thực hiện chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên
môn đang diễn ra chậm chạp ở các quốc gia ASEAN, vì thế dịch chuyển lao động
có chuyên môn giữa các quốc gia ASEAN diễn ra với quy mô nhỏ, tốc độ gia tăngtương đối thấp Việc triển khai chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môntrong AEC hiện còn gặp nhiều khó khăn liên quan đến vấn đề nhập cư, hay nhữngđối xử mang tính phân biệt đối với các cá nhân cung cấp dịch vụ nước ngoài, đặcbiệt khó khăn do khác biệt trong hệ thống giáo dục giữa các quốc gia, việc thực hiệnthỏa thuận thừa nhận lẫn nhau còn nhiều vướng mắc
Giả thuyết 3: iệt Nam đã và đang thực hiện chính sách tự do di chuyển lao
động có chuyên môn trong AEC, tuy nhiên việc thực hiện chính sách này còn gặpnhiều khó khăn, vướng mắc
28
Trang 40Tiểu kết chương 1
Chương 1, tác giả đã tổng lược về di chuyển lao động và tự do di chuyển laođộng có chuyên môn được các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cậpđến Có thể thấy các công trình nghiên cứu đã khẳng định di chuyển lao động giữacác quốc gia trong khu vực hoặc trên phạm vi thế giới là xu hướng khách quan củaquá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế Đối với các quốc gia ASEAN việc thựchiện tự do di chuyển lao động có chuyên môn được coi là một trong các sáng kiếnnhằm xây dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất Hoạt động này được dựbáo sẽ có nhiều tác động đến việc thúc đẩy phát triển thị trường lao động việc làm,cũng như sự gắn bó đoàn kết giữa các quốc gia trong khu vực Tuy nhiên, còn rấtnhiều vấn đề liên quan đến thể chế cho dịch chuyển, tác động của các dòng dịchchuyển mà các nhà nghiên cứu cần phải tiếp tục làm rõ Trong khuôn khổ của luận
án này, tác giả hướng đến làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc thựchiện tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN, đặcbiệt là những vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong quá trình thực hiện các cam kết dichuyển lao động có chuyên môn trong nội khối
29