Sử dụng bài tập để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức mới.. Cũng như các môn học khác ở trường phổ thông, việc dạy học lịch sử cũng phải tiến hà
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Phần A Đặt vấn đề
I Lý do chọn đề tài
II Phạm vi nghiên cứu
III Phương pháp nghiên cứu
2 2 3 3 Phần B Giải quyết vấn đề
I Cơ sở thực hiện đề tài
1 Cơ sở lý luận
2 Cơ sở thực tiễn
II Tổ chức thực hiện đề tài:
1 Phương pháp sử dụng bài tập lịch sử là gì?
2 Nguyên tắc và quy trình xây dựng hệ thống bài tập:
3 Các biện pháp sư phạm sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử ở lớp 9
3.1 Khái quát chung
3.2 Các biện pháp sư phạm sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử ở lớp 9
a Sử dụng câu hỏi có những yếu tố bài tập nhận thức để học sinh
tiếp nhận kiến thức mới:
b Sử dụng bài tập để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong
quá trình tiếp thu kiến thức mới.
c Tổ chức hướng dẫn học sinh làm bài tập lịch sử trong tự học ở nhà
d Sử dụng bài tập lịch sử trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
học sinh.
e Sử dụng bài tập lịch sử trong hoạt động ngoại khóa
3 3: Biện Pháp kiểm tra đánh giá
III Ứng dụng vào thực tiễn
IV Kết quả thực hiện
Phần C Kết Luận
Tài liệu tham khảo
4 4 4 4 5 5 6 7 7 7 7
12 13
15 17 17 17 18 19 20
Trang 2NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC LỊCH SỬ 9
THÔNG QUA VIỆC RÈN LUYỆN HỌC SINH LÀM BÀI TẬP
PHẦN A ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch sử ở trường trung học
cơ sở nói riêng là một vấn đề lớn, thu hút sự quan tâm không chỉ của những người làm công tác dạy học mà ngay cả các cấp các ngành từ Trung ương đến địa phương
Nhiều năm qua trên thực tế việc đổi mới dạy và học luôn được diễn ra thường xuyên Nhưng hiệu quả đến đâu chưa ai khẳng định được, nhưng những bất cập đi kèm là điều có thực Những yếu kém của ngành giáo dục, đặc biệt trong những năm gần đây bộc lộ khá rõ trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng Biểu hiện nỗi bật của việc giảm sút chất lượng bộ môn là tình trạng coi thường, nhớ nhầm sự kiện, không hiểu lịch sử, không vận dụng bài học kinh nghiệm quá khứ vào rèn luyện đạo đức, phẩm chất, quan điểm tư tưởng, thi cử chất lượng rất thấp Nguyên nhân đưa tới tình trạng này có nhiều: quan niệm không đúng về vị trí, chức năng, nhiệm vụ bộ môn Lịch sử trong đào tạo thế hệ trẻ, cho là môn phụ, tác động mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, những thiếu sót trong công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên … Một trong nhiều nguyên nhân chủ yếu đó là sự lạc hậu, bảo thủ về phương pháp dạy và học Lịch sử
Để góp phần vào đổi mới phương pháp dạy và học cho phù hợp với tình hình hiện nay “ Lấy người học làm trung tâm” Và từ thực tiễn giảng dạy tôi đã chọn đề tài này nhằm góp một ý kiến nhỏ bàn về vấn đề “Nâng cao chất lượng dạy học lịch
sử 9 thông qua việc rèn luyện học sinh làm bài tập”
Cũng như các môn học khác ở trường phổ thông, việc dạy học lịch sử cũng phải tiến hành làm bài tập nhằm tổ chức việc hình thành, cũng cố, đánh giá, kiểm tra tri thức lịch sử mà học sinh đã được lĩnh hội
Rèn luyện học sinh làm bài tập lịch sử nhằm giúp học sinh khắc sâu, nhớ lâu sự kiện, hiểu được vấn đề lịch sử Khắc phục tình trạng học thuộc lòng, nhớ lơ mơ, nhầm lẫn sự kiện
Do bài học lịch sử thường rất dài, học sinh khó nhớ, phân phối tiết chương trình lại ít, học sinh Trường THCS Nghĩa Đức đa phần là học sinh yếu kém, đặc biệt đối với học sinh khối 9 với áp lực có thể là môn thi vào lớp 10 Nên việc nắm được kiến thức cơ bản để làm bài thi một cách dễ dàng nhất chỉ có thể rèn cho học sinh làm bài tập thường xuyên, nhuần nhuyễn
Vì vậy “Nâng cao chất lượng dạy học lịch sử 9 thông qua việc rèn luyện học
sinh làm bài tập” là nhằm giải quyết mục đích trên
Trang 3II PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi nghiên cứu trong diện hẹp
- Nghiên cứu và ứng dụng cho học sinh khối 9 trong dạy học bộ môn Lịch sử
của Trường THCS Nghĩa Đức
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng một số phương pháp sau:
- Khảo sát thăm dò ý kiến,
- Thuyết trình, nêu vấn đề, thảo luận.
- Gợi mở kiến thức thông qua bài học và thực hành bài tập.
- Tham khảo các tài liệu trong dạy học lịch sử và các tài liệu liên quan đến bộ môn Lịch sử 9.
Trang 4PHÂN B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
1 Cơ sở lý luận:
Bài tập là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học, nhiệm vụ của nó là thực hiện một phần quan trọng của bài học và chương trình sách giáo khoa, góp phần từng bước hoàn thành mục tiêu môn học Vì vậy làm bài tập là điều tất yếu và bắt buộc trong quá trình dạy học
Trong dạy học lịch sử, giáo viên không dừng lại ở cung cấp tri thức mà cần hướng dẫn học sinh nhận thức bản chất lịch sử, có thái độ tình cảm đúng đối với các sự kiện lịch sử Phát huy tính năng động tích cực trong việc tìm tòi kiến thức Rèn luyện năng lực thực hành và vận dụng kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới Do đó bài tập góp phần quan trọng giúp các em nắm vững kiến thức, sự kiện lịch sử và nhận thức tốt bài học
Làm bài tập giúp các em hiểu rõ vấn đề, những sự kiện cơ bản của sách giáo khoa, rút ra những gì cần nhớ của bài học, đặc biệt là bài tập giúp các em suy nghĩ độc lập, nhận thức rèn luyện kĩ năng thực hành, hiểu sâu, nhớ lâu sự kiện lịch sử
Cũng như các môn học khác ở trường phổ thông, việc dạy học lịch sử cũng phải tiến hành làm bài tập nhằm tổ chức việc hình thành, củng cố, đánh giá, kiểm tra tri thức lịch sử mà các em chiếm lĩnh được trong tiết học
Đối với học sinh của Trường THCS Nghĩa Đức đa phần là học sinh có học lực ở mức dưới trung bình so với mặt bằng chung trong khu vực
Các em yếu toàn diện ở tất cả các môn Do đó để các em nắm vững được những kiến thức cơ bản của bài học là việc không đễ dàng gì Vì vậy việc tăng cường làm bài tập để hình thành kĩ năng nhuần nhuyễn, khắc sâu cho học sinh nhớ lâu hơn kiến thức đã học là điều hết sức cần thiết ở tất cả các bộ môn nói chung và lịch sử nói riêng như dân gian vẫn dạy “văn ôn võ luyện”
2 Cơ sở thực tiễn.
2.1 Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối 9 Trường THCS Nghĩa Đức
2.2 Thực trạng trước khi thực hiện đề tài:
- Đa số học sinh không thích học bộ môn Lịch sử
- Tình trạng xem nhẹ bộ môn, coi đây là bộ môn phụ.
- Giáo viên giảng, đọc, học trò chép Giáo viên hỏi, học sinh nhìn sách giáo khoa
đọc mà không biết mình đang trả lời cái gì
- Dẫn đến hệ lụy: kiểm tra quay cóp, chép bài bạn.
2.3 Nguyên nhân:
- Do chương trình và nội dung kiến thức lịch sử quá dài Số tiết quá ít so với
chương trình
- Giáo viên dạy ôm đồm kiến thức vì áp lực thi cử.
Trang 5Đa số học sinh không thích học lịch sử vì đó không phải là nghề theo đuổi trong tương lai Các em chỉ thích học các môn tự nhiên, ngoại ngữ để thuận lợi trong việc chọn nghề Đây cũng là một thực tế mà chúng ta phải chấp nhận: có rất ít học sinh sẽ
đi theo ngành nghề liên quan đến lịch sử, nên chúng ta cần giúp các em lĩnh hội và nắm chắc kiến thức một cách cơ bản nhất để các em có đủ kiến thức buớc vào cuộc sống mai sau
Tác động bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường dẫn đến đa phần học sinh rất lười, không chịu khó trong việc học tập, chỉ thích ham chơi điện tử, có bao nhiêu thởi gian,
sứ lực đểu đổ dồn vào đấy
2.4 Vấn đề đặt ra:
Thầy phải cố gắng đầu tư, phải biết cô đọng kiến thức Phải làm sao cho môn học của mình có sức thu hút ( ít nhất là trong các giờ lên lớp) Phải làm sao cho học sinh
ý thức được tầm quan trọng của môn học, thấy nó thú vị và không thể không học Điều này quả không dễ dàng chút nào, nhưng tôi biết không ít thầy cô đã làm được và làm rất tốt
Thầy phải có những biện pháp thích hợp để hướng dẫn học sinh làm sao có thể nắm được kiến thức cơ bản một cách cô động nhất, trong một thời gian ngắn nhất (đừng để học sinh có cảm giác nhắc đến lịch sử là “dài”) vừa đáp ứng được hiệu quả bài học vừa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn bài học
II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
1 Phương pháp sử dụng bài tập lịch sử là gì?
Dạy học là một quá trình thống nhất bao gồm nhiều yếu tố như sau:
Sách giáo khoa, tài liệu, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, thầy-trò Trong quá trình đó để nâng cao hiệu quả dạy học, người thầy phải bằng nhiều phương pháp sư phạm để tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, trong đó có khâu làm bài tập Đối với các bộ môn khoa học tự nhiên việc giải bài tập sau khi đã cung cấp kiến thức mới là điều hiễn nhiên, nhưng đối với bộ môn khoa học xã hội cụ thể là Lịch sử việc làm bài tập như một khái niệm xa lạ đối với học sinh
Trong thực tế qua những tiết học dự giờ của giáo viên cùng trường và học hỏi các trường bạn Tôi nhận thấy đa số giáo viên bỏ qua khâu này, nếu có thì đó chỉ là những câu hỏi chứ chưa được nâng lên thành một bài tập Lịch sử
Vậy bài tập lịch sử là gì? Giáo viên, học sinh phải làm gì khi tiến hành làm bài tập
ở bộ môn lịch sử 9 thông qua việc dạy học
Khi sử dụng bài tập để tổ chức hoạt động nhận thức kiến thức mới cho học sinh trong giờ lên lớp cần chú ý giải quyết các vấn đề sau:
- Cần phải đưa bài tập vào lúc nào?
- Thời gian giành cho giải quyết bài tập là bao nhiêu?
- Hình thức trả lời bài tập bằng miệng hay viết?
- Giáo viên tham gia chỉ đạo, gợi ý ở chừng mực nào?
Trang 6Giải đáp các vấn đề trên phụ thuộc hai yếu tố:
Khối lượng và mức độ khó của bài tập đưa ra
Mức độ lĩnh hội kiến thức đã học và mối quan hệ giữa kiến thức này với bài tập Vậy với ba phương án sau ta giải quyết được những vấn đề trên:
- Giáo viên đưa ra bài tập cho học sinh suy nghĩ và cùng học sinh giải quyết, học sinh nắm được kiến thức đáp án và ghi chép vào vở
- Giáo viên đưa ra bài tập yêu cầu học sinh lên bảng trình bày, còn lại ở dưới lớp
tự làm vào vở
- Giáo viên đưa ra bài tập cùng học sinh cả lớp trao đổi, thảo luận, rút ra vấn đề và các em tự sửa chữa hoàn chỉnh bài làm của mình
Các loại bài tập lịch sử: có nhiều loại bài tập.
Nhóm bài tập nhận biết lịch sử: tái tạo hình ảnh quá khứ, nhằm rèn luyện kỹ năng ghi nhớ, tái hiện lịch sử một cách chính xác
Nhóm bài tập nhận thức lịch sử: đòi hỏi học sinh tìm hiểu sâu bản chất sự kiện, phù hợp trình độ của mình
Nhóm bài tập thực hành: rèn luyện kỹ năng thực hành bộ môn, nâng cao trình độ
tư duy lịch sử
2 Nguyên tắc và quy trình xây dựng hệ thống bài tập:
a Các nguyên tắc xây dựng bài tập:
Thứ nhất, nội dung bài tập phải gắn với chương trình sách giáo khoa, phản ánh
yêu cầu, trình độ học tập của học sinh
Thứ hai, đảm bảo tính hệ thống, thể hiện mối liên hệ lôgíc giữa các sự kiện Thứ ba, đảm bảo tính đa dạng, toàn diện của nội dung bài tập
Thứ tư, nội dung bài tập phải phù hợp trình độ nhận thức của học sinh, phát
huy trí thông minh sáng tạo…
Thứ năm, bài tập cần chính xác về nội dung, chuẩn mực về hình thức.
b Các quy trình xây dựng bài tập: gồm các bước.
Xác định mục đích xây dựng bài tập (loại hình, yêu cầu… )
Xác định nội dung cần kiểm tra học sinh (phù hợp với yêu cầu học tập)
Xác lập hệ thống các loại bài tập
Xác định nguồn tài liệu để xây dựng bài tập (sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, đồ dùng trực quan… )
Thể hiện thành các loại bài tập
Kiểm tra các bài tập dùng để đánh giá học sinh
c Hệ thống các loại bài tập:
Thứ nhất, các câu hỏi trong sách giáo khoa cần được giải quyết.
Thứ hai, các loại bài tập nhỏ liên quan đến kênh hình.
Thứ ba, các loại bài tập sử dụng tài liệu tham khảo, đồ dùng trực quan.
Thứ tư, bài tập trắc nghiệm.
Thứ năm, bài tập tự luận.
Trang 7Thứ sáu, bài tập liên hệ kiến thức về quá khứ đang học với thực tiễn cuộc sống
hiện nay
3 Biện pháp thực hiện:
3.1.Khái quát chung.
Trước hết giáo viên phải quán triệt dạy học theo hướng tích cực hóa nhận thức của học sinh là một xu hướng, đồng thời cũng là một yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, trong quá trình dạy học, người thầy phải hướng dẫn, giúp đỡ học sinh độc lập suy nghĩ, rút ra được tri thức phù hợp trên cơ sở tài liệu học tập, chứ không phải
là một sự nhồi nhét, truyền đạt một chiều Một trong những biện pháp để nâng cao tính tích cực học tập của học sinh là nêu một bài tập lịch sử
Bài tập trong dạy học lịch sử là một tình huống có vấn đề, mà trong quá trình giải quyết, học sinh phải biết vận dụng những kiến thức đã học, những tài liệu liên quan, biết tìm tòi sáng tạo Hệ thống bài tập chặt chẽ chứ không phải chỉ là một vài bài tập rời rạc khô khan
3.2 Các biện pháp sư phạm sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử ở lớp 9
a Sử dụng câu hỏi có những yếu tố bài tập nhận thức để học sinh tiếp nhận kiến thức mới:
Bài tập nhận thức giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn bản chất của sự kiện, diễn biến lịch sử và các mối quan hệ giữa chúng Vì vậy trong các giờ học lịch sử, trước khi truyền thụ kiến thức mới, giáo viên phải xác định nhiệm vụ nhận thức cho học sinh Công việc này có hai tác dụng: nêu rõ mục đích nhận thức của học sinh và hướng học sinh chú ý đến kiến thức trọng tâm của bài học; huy động cao nhất hoạt động của các giác quan kết hợp tư duy có định hướng Bài tập đưa ra vào đầu giờ học
để định hướng nhiệm vụ nhận thức cho học sinh phải hướng vào kiến thức trọng tâm của bài, và giáo viên phải viết ngay câu hỏi phía một góc bảng, song không yêu cầu học sinh trả lời ngay mà sẽ trả lời vào cuối mỗi đề mục hay bài học
Ví dụ:khi dạy Bài 14: Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất (SGK Lịch
sử lớp 9)
Bài tập 1:“Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp đã tác động
đến tình hình kinh tế – giai cấp xã hội Việt Nam như thế nào?”
Triển khai thực hiện:
Giáo viên Học sinh Nội dung kiến thức
- Ghi câu
hỏi lên một
góc bảng
- Trước hết
các em phải
biết được
chính sách
khai thác
thuộc địa
của Pháp có
nội dung gì
-Học sinh theo dõi bài
Dựa vào SGK trả lời lần lượt từng nội dung
1 Chương trình khai thác thuộc địa lần hai của thực dân Pháp.
- Thời gian: từ 1919 – 1929
- Tăng cường đầu tư với tốc độ nhanh, quy mô lớn vốn đầu tư tăng từ (1924 – 1929), lên đến 4 tỉ Phơ- răng:
Nông nghiệp: Thu hút vốn nhiều nhất, chủ yếu đầu tư
vào đồn điền cao su Diện tích các đồn điền cao su được
mở rộng
Công nghiệp: Tập trung khai mỏ nhất là mỏ than Mở
rộng các ngành chế biến như muối, xay xát, dệt…
Thương nghiệp: Ngoại thương tăng, buôn bán nội địa
Trang 8Vậy với
những chính
sách khai
thác đó đã
tác động
đến kinh tế
-xã hội Việt
Nam ra sao?
Học sinh theo dõi câu hỏi và dựa vào SGK trả lời
được đẩy mạnh
Giao thông vận tải: đường sắt, đường bộ đầu tư phát
triển
Ngân Hàng: Pháp nắm trọn quyền chỉ huy kinh tế Đông
Dương, tăng thuế, phát hành tiền giấy và cho vay lãi
Chính trị:
- Tăng cường chính sách cai trị, Bộ máy quân sự, cảnh sát, mật thám, nhà tù được củng cố và hoạt động ráo riết
Văn hóa – giáo dục:
- Hệ thống giáo dục Pháp – Việt được mở rộng (gồm cấp tiểu học, trung học, cao đẳng, đại học)
- In ấn, xuất bản sách báo, chủ trương “Pháp - Việt đề huề”
- Du nhập văn hóa phương Tây phát triển đan xen với văn hóa truyền thống Nhằm phục vụ mục đích khai thác thuộc địa
2 Những chuyển biến mới về kinh tế và giai cấp xã hội ở Việt Nam.
2.1 Chuyển biến về kinh tế:
- Có bước phát triển mới song phát triển mất cân đối, lạc hậu, lệ thuộc chặt chẽ vo kinh tế Pháp
- Là thị trường độc chiếm của Pháp
2.2 Chuyển biến về xã hội: phân hóa sâu sắc.
Giai cấp địa chủ: Bị phân hóa thành 3 bộ phận:
Đại địa chủ cấu kết với Pháp Trung, Tiểu địa chủ có tinh thần dân tộc chống TD Pháp
và tay sai
Giai cấp nông dân: Bị thống trị, tước đoạt ruộng đất ®
nông dân >< với ĐQ Pháp và tay sai gay gắt, là lực lượng cách mạng to lớn
Giai cấp tiểu tư sản: Phát triển nhanh về số lượng, có
tinh thần dân tộc, chống TD Pháp và tay sai Đặc biệt là học sinh, sinh viên và tri thức
- Giai cấp tư sản: Ra đời sau CTTG I, phân hóa hai bộ
phận:
Tư sản mại bản: là chủ tư bản lớn, cấu kết với Pháp -> kẻ
thù của CM
Tư sản dân tộc: địa vị kinh tế nhỏ bé, có khuynh hướng
dâb tộc và dân chủ
Giai cấp công nhân: Ngày càng phát triển, ra đời trước
CTTG I 10vạn ® năm 1929 là 22 vạn,
Đặc điểm của giai cấp công nhân:
Bị 3 tầng áp bức bóc lột ( TS, ĐQ, PK)
Có quan hệt găn bó mật thiết với nông dân.
Có truyền thống yêu nước.
Trang 9Ảnh hưởng trào lưu cỏch mạng vụ sản thế giới đ trở thành 1 động lực mạnh mẽ của phong trào giải giải phúng dõn tộc.
Những chuyễn biến trờn làm cho xó hội Việt Nam mõu thuẫn sõu sắc Đú là mõu thuẫn giữa dõn tộc Việt Nam với
TD Phỏp và tay sai phản động
Tỏc dụng của bài tập: Học sinh phải nắm được tỡnh hỡnh kinh tế, xó hội Việt
Nam trước cuộc khai thỏc thuộc địa lần thứ hai Từ đú phõn tớch để thấy được cuộc khai thỏc lần thứ hai của thực dõn Phỏp làm cho cơ cấu kinh tế – xó hội Việt Nam thay đổi sõu sắc hơn với sự xuất hiện của cỏc giai cấp mới Từ đú cỏc em hiểu được mối liện hệ giữa kinh tế và xó hội
Kết quả thực hiện:
Học sinh chỳ ý tham gia xõy dựng bài 100%
Học sinh làm bài đạt tốt chiếm 70%
Học sinh làm bài đạt khỏ 20%, cũn lại trung bỡnh và yếu
Vớ dụ dạy bài Bài 16 Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài trong những năm 1919 - 1925.
Bài tập 2: Lập niờn biểu những hoạt động của Nguyễn Ai Quốc từ 1919 –
1925 theo những nội dung sau: thời gian, nội dung hoạt động, ý nghĩa và rỳt ra cụng lao đầu tiờn của Nguyễn Ai Quốc là gỡ?
Triển khai thực hiện:
Giỏo viờn: Ghi cõu hỏi lờn bảng.
Học sinh: theo dừi và dựa vào SGK trả lời.
Bước 1: Giỏo viờn giới thiệu hành trỡnh tỡm đường cứu nước của Nguyễn Ai Quốc một cỏch khỏi quỏt minh họa bằng bản đồ như sau
Bước 2: Hướng dẫn học sinh lập bảng thống kờ cỏc mốc thời gian cơ bản theo mẫu
Bước 3: Cho học sinh điền cỏc sự kiện tương ứng mốc thời gian
Bước 4: Hướng dẫn học sinh nờu lờn ý nghĩa
Bước 5: Rỳt ra cụng lao của Bỏc
1 Hành trỡnh tỡm đ ờng cứu n ớc của Nguyễn ái Quốc
( 1911 - 1925)
1912 1913
Những nơi Nguyễn ái Quốc từng đến.
Chú giải
Trung Quốc
1912
1911
1912- 1913
1912
1912 1912 1913
1913
2 Lập bảng thống kờ về những hoạt động chớnh của Nguyễn Ái Quốc (1919 – 1925).
Trang 10Địa điểm Thời gian Hoạt động chính của Nguyễn Ái Quốc Ý nghĩa
Pháp
1919 6/1919 7/1920 12/1920 1921->1923 6/1923 Liên Xô 11/11/19247/1924
Trung Quốc 6/1925
3 HOẠT ĐỘNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC
Địa điểm Thời gian Hoạt động chính của Nguyễn i Quốc Ý nghĩa
Pháp
1919 Bác gia nhập Đảng xã hội Pháp 6/1919 Gửi tới hội nghị Vécxai Bản yêu sách củanhân dân An Nam đòi quyền tự do dân chủ…
7/1920 Người đọc bản luận cương của Lênin về vấnđề dân tộc và thuộc địa.
12/1920
Tại đại hội Tua người gia nhập quốc tế cộng sản và tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp – người cộng sản Việt Nam đầu tiên
1921->1923
Lập ra Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa và xuất bản báo “người cùng khổ” Viết cuốn Bản
án chế độ thực dân pháp…
6/1923 Đi Liên Xô dự hội nghị quốc tế nông dân Liên Xô
7/1924 Dự đại hội lần V của quốc tế cộng sản (1924) 11/11/1924
Người về Quảng Châu (TQ) trực tiếp tuyên truyền, giáo dục lý luận xây dựng tổ chức cách mạng GPDT
Trung Quốc 6/1925 Lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên
4 HOẠT ĐỘNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC
Địa điểm Thời gian Hoạt động chính của Nguyễn i Quốc Ý nghĩa
con đường
1919 Bác gia nhập Đảng xã hội Pháp 6/1919 Gửi tới hội nghị Vécxai Bản yêu sách của