Ngày nay, việc tiếp cận các kiến thức cơ bản trong mọi lĩnh vực là vô cùng cần thiết. Nó tạo một nền móng vững chắc trong việc nghiên cứu các lĩnh vực cao và chuyên sâu hơn. Nhóm báo cáo khoa Luật; Trường đại học Cần Thơ xin cung cấp đến độc giả kiến thức cơ sở nền về khách thể và mặt khách quan của tội phạm trong lĩnh vực nghiên cứ khoa học Luật hình sự phần chung. Bài tập nhóm mang tính chất tham khảo,
Trang 1
BÀI TẬP NHÓM:
KHÁCH THỂ - MẶT KHÁCH QUAN
CỦA TỘI PHẠM
Giảng viên:Lê Quỳnh Phương Thanh
Danh sách Nhóm:
1 Lâm Vĩ Khang
2 Nguyễn Mạnh Huỳnh
3 Đặng Thị Nga
4 Trần Thị Diễm Em
5 Lê Thị Quyền Châu
6 Huỳnh Thị Ngọc Diễm
7 Phạm Thị Xuân Mai
8 Phạm Thị Tuyết Phương
9 Trần Ngọc Trâm
Cần Thơ, ngày 14 tháng 02 năm 2019
20192018
Trang 2KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM
n Khái niệm tội phạm:
(Theo Đều 8 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)
1 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
2 Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.
I KHÁI NIỆM
1 Sơ lược về khách thể của tội phạm
Khái niệm Khách thể: Khách thể của một quan hệ pháp luật Là những là
những lợi ích vật chất , tinh thần và những lợi ích xã hội khác có thể thỏa mãn những như cầu đòi hỏi của các tổ chức hoặc cá nhân
Khách thể tội phạm: hệ thống các quan hệ xã hội có ý nghĩa quan trọng nhất,
trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sự tồn tại của các giai cấp thống trị Tính nguy hiểm của từng hành vi sẽ phụ thuộc vào hành vi đó xâm phạm đến những mối quan hệ XH nào và quan hệ xã hội đó ảnh hưởng ở mức độ nào đối với lợi ích và tồn tại của giap cấp thống trị
Ví Dụ : Tội phạm ăn cắp vặt sẽ khác với tội phạm giết người
2 Khách thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam hiện hành
Theo luật hình sự Việt Nam, hệ thống cán quan hệ trên được ghi nhận trong khoản 1 điều 85 Bộ luật hình sự : độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh
thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa , quốc phòng , an ninh , trật tự, an toàn xã hội, quyền , lợi ích hợp pháp của tổ chức , quyền cong
Trang 3người, quyền , lợi ích của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật
xã hội chủ nghĩa
Bộ luật hiên hành cũng ghi nhận , bổ sung “quyền con người” vào hệ thống khách thể tội phạm nhằm thừa nhận một nhóm quan hệ xã hội xuất phát từ nhân thân của con người vốn có mà hiến pháp 2013 đã ghi nhận
Quyền con người là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không thể hưởng không được gọi là một con người
Ví dụ : Quyền được sống , quyền tự do , quyền học tập …v.v.v.
Quyền Công dân chính là những quyền con người được nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình
Bộ luật hình sự 2015 đã đưa cả 2 nhóm “ quyền con người ” và “ quyền công dân” vào khách thể của tội phamju là đúng đắn vì hai nhóm quyền này không hoàn toàn thống nhất
Tuy nhiên các quy phạm pháp luật hình sự không chịu thiệt hại hết từ hành vi phạm tội , vì nó không phải là khách thể của tội phạm
II PHÂN LOẠI KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM
1 Khách thể chung của tội phạm
Là tổng hợp tất cả các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại và được Luật hình sự bảo
vệ Khách thể chung của tội phạm là những quan hệ xã hội được xác định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều gây phương hại đến khách thể chung là một
trong những quan hệ xã hội được xác định tại khỏan 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự Vì
vậy, thông qua khách thể chung, chúng ta có thể thấy được nhiệm vụ của Bộ luật hình
sự và bản chất giai cấp của nó Hay nói đúng hơn là thấy được chính sách hình sự của một quốc gia
2 Khách thể loại của tội phạm
Là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất được một nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị một nhóm tội phạm xâm hại Khách thể loại có vai trò quan
Trang 4trọng về mặt lập pháp Nó là cơ sở để Bộ luật Hình sự xây dựng các chương trong phần các tội phạm
Tội phạm trên thực tế dù rất đa dạng về các mặt chủ thể, chủ quan, khách quan nhưng nếu xâm hại đến các quan hệ xã hội có cùng tính chất sẽ được xếp chung vào một chương Thông qua việc xem xét các nhóm khách thể nhất định, chúng ta có thể đánh giá được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cụ thể khi trực tiếp xâm hại đến một trong số các khách thể của nhóm
Nếu sắp xếp theo các cơ sở khác ( chủ quan, chủ thể…) thì sẽ dẫn đến tình trạng nhiều tội phạm có bản chất rất khác nhau lại nằm cùng một chương Gây khó khăn rất lớn trong việc đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm và việc xử lý chúng
Các tội phạm được quy định trong cùng một chương phần các tội phạm (có cùng khách thể loại) bao giờ cũng xâm hại đến khách thể loại của chúng Tuy nhiên, từng tội phạm trong một chương đó không phải luôn xâm hại cùng khách thể trực tiếp Điều đó có nghĩa là mỗi tội phạm có khách thể trực tiếp riêng của nó
3 Khách thể trực tiếp của tội phạm
Là một hoặc một số quan hệ xã hội cụ thể bị hành vi phạm tội cụ thể xâm hại Thông qua việc gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại (xâm hại) đối với khách thể trực tiếp
mà tội phạm đã gây phương hại đến khách thể chung và khách thể loại của tội phạm Một tội phạm có thể xâm hại đến nhiều khách thể nhưng không phải lúc nào tất cả các khách thể đó đều được xem là khách thể trực tiếp Khách thể trực tiếp khi đó là quan hệ xã hội mà tội phạm gây thiệt hại thể hiện được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
Trong nhiều trường hợp, nếu một tội phạm xâm phạm đến nhiều khách thể mà xâm phạm đến khách thể nào cũng thể hiện được bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội, chúng ta cần xem xét dấu hiệu thứ hai để xác định khách thể loại
Đó là: khách thể đó phải luôn bị tội phạm cụ thể đó xâm hại trong mọi trường hợp, hoặc người phạm tội muốn xâm hại khách thể nào (lỗi)…
Ví dụ: Hành vi giật túi xách của người đi đường làm cho chủ sở hữu ngã dẫn đến
thương tích Ở đây có hai khách thể bị xâm hại là quyền sở hữu và sức khoẻ Tuy
Trang 5nhiên, quyền sở hữu mới là khách thể trực tiếp của hành vi “cướp giật tài sản”, sức khoẻ không là khách thể trực tiếp của hành vi này.
Một tội phạm có thể có một khách thể trực tiếp hoặc nhiều khách thể trực tiếp Tội phạm có nhiều khách thể trực tiếp khi hành vi phạm tội xâm hại đến nhiều quan hệ xã hội mà việc xem xét sự gây thiệt hại đối với bất cứ một quan hệ xã hội nào cũng không thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó và nhiều khách thể đó luôn bị xâm hại ở mọi trường hợp phạm tội
Ví dụ: hành vi cướp tài sản vừa xâm hại đến quan hệ nhân thân vừa xâm hại đến
quan hệ sở hữu
Khách thể trực tiếp là cơ sở thể hiện rõ nhất bản chất của tội phạm cụ thể Nó giúp xác định đúng tội danh và đánh giá đúng đắn tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cụ thể
III Ý NGHĨA CỦA KHÁCH THỂ TỘI PHẠM
Là căn cứ để định tội
Là căn cứ quan trọng để phân biệt tội phạm với các quy phạm pháp luật khác
Là căn cứ quan trọng để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm cho xã hội
Thông qua khách thể của tội phạmcó thể thấy bản chất giai cấp của luật hình sự Việt Nam
IV ĐỐI TƯỢNG TÁC ĐỘNG CỦA TỘI PHẠM
v Khái niệm : Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận hợp thành khách thể của
tội phạm mà chỉ có thông qua việc tác dộng đến nó của tội phạm mới có thể xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Đối tượng tác động của tội phạm còn được biết là đối tượng chịu sự tác động của hành vi phạm tội
Ví dụ : A gây thương tích B thì B là đối tượng tác động của tội phạm mà A gây ra và
“tính mạng, sức khỏe của con người” là khách thể của tội phạm “ cố ý gây thương tích”
Tội phạm thông thường tác động đến các đối tượng sau :
Trang 6- Chủ thể của các quan hệ xã hội
- Nội dung của các quan hệ xã hội
- Đối tượng của các quan hệ xã hội
1 Con người với tư cách là chủ thể của các quan hệ xã hội có thể là đối tượng tác động của tội phạm
Con người vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội, là chủ thể của nhiều quan
hệ xã hội, trong đó có những quan hệ xã hội chỉ có thể bị gây thiệt hại khi có sự biến đổi tình trạng bình thường của chính con người - quan hệ nhân thân Như vậy, đối tượng tác động của tội phạm có thể là con người đối với tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự
Ví dụ: quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhân phẩm, danh dự là khách thể đại
diện cho những đối tượng bị tác động thuộc loại này
2 Nội dung của các quan hệ xã hội là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cũng có thể là đối tượng tác động của tội phạm
Chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội là nhằm đạt tới những quyền và lợi ích nhất định đồng thời phải thực hiện những nghĩa vụ để đem lại quyền lợi cho các chủ thể khác được thể hiện thông qua hoạt động bình thường của các chủ thể Tác động đến nội dung của các quan hệ xã hội là làm biến đổi tình trạng bình thường của các hoạt động của chủ thể
Ví dụ: hành vi đưa hối lộ (Điều 354) làm biến đổi xử sự của người có chức vụ, quyền
hạn, hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự (Điều 332) là hành vi làm mất tình trạng bình thường của chính mình…
3 Đối tượng của các quan hệ xã hội (vật thể) có thể là đối tượng tác động của tội phạm
Trang 7Là vật thể, biểu hiện cụ thể của các quyền và lợi ích của các chủ thể Tác động đến đối tượng các quan hệ là tác động đến các vật thể cụ thể tồn tại trong thế giới khách quan
Ví dụ: Quyền sở hữu là khách thể bị xâm hại khi tác động đến các đối tượng thuộc
loại này Tác động đến các đối tượng vật chất không phải lúc nào hành vi phạm tội cũng chỉ gây ra hậu quả tiêu cực đối với vật chất đó mà có khi tạo biến đổi tích cực Chẳng hạn, hành vi trộm cắp tài sản, kẻ trộm thường không gây hư hỏng cho đối tượng mà muốn làm tăng giá trị của vật chất đó lên.
Cần phân biệt đối tượng tác động với khái niệm công cụ, phương tiện phạm tội Công
cụ, phương tiện phạm tội là những đối tượng mà kẻ phạm tội dùng để tác động đến đối tượng phạm tội, gây thiệt hại cho khách thể
Đối tượng tác động trong nhiều trường hợp là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm cơ bản
Ví dụ: Điều 85 Bộ luật hình sự, đối tượng bắt buộc là cơ sở vật chất – kỹ thuật…
Trường hợp này, đối tượng tác động có ý nghĩa đối với việc định tội Khi đó, đối tượng tác động đóng vai trò như khách thể của tội phạm nhưng bản chất, chúng không phải là khách thể của tội phạm
MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM
I KHÁI NIỆM
1 Cơ sở lý luận của việc quy định mặt khách quan là yếu tố cấu thành tội phạm.
→ Khách quan: Là những gì tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức, ý chí
của con người Pháp luật hình sự chỉ điều chỉnh đối với những hành vi cụ thể của con người được thể ra ngoài thế giới khách quan, không điều chỉnh những gì thuộc về ý nghĩ, tư tưởng của con người
Ví dụ: Anh A có ý định sẽ đi trộm tiền của nhà hàng xóm vì gia đình quá nghèo Anh
B đang thực hiện hành vi trộm tài sản của gia đình ông H.
Trang 8Phân Tích VD: “ Đối với anh A thì chỉ là ý định chưa thể hiện ra bên ngoài nên
pháp luật hình sự không thể điều chỉnh được, chỉ có thể điều chỉnh nhận thức của anh A thông qua giáo dục Còn anh B đã thực hiện hành vi cụ thể là trộm tài sản của nhà ông H nên sẽ được pháp luật hình sự điều chỉnh với khung hình phạt phù hợp.”
Pháp luật hình sự bảo vệ các quan hệ xã hội quan trọng nhất, nhằm duy trì trật tự và
sự ổn định của xã hội Các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ chỉ có thể bị xâm hại khi có một” lực lượng vật chất” tác động vào nó
2 Mặt khách quan của tội phạm theo lý luận luật hình sự Việt Nam hiện hành.
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm ra bên ngaoì thế giới khách quan bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan
hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ ohương tiện, phương pháp, thủ đoạn, hoàn cảnh, địa điểm phạm tội
Nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, khoa học luật hình sự nêu ra các biểu hiện bên ngoài của tội phạm tạo thành mặt khách quan của tội phạm bao gồm :
Hành vi nguy hiểm cho xã hội
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
Các điều kiện bên ngoài khác của tội phạm( công cụ, phương pháp, phương tiện, thời gian, địa điểm, thủ đoạn… phạm tội)
Trong số các dấu hiệu của mặt khách quan thì dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội
là dấu hiệu bắt buộc phải có ở tội phạm Nếu không có hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không có tội phạm Vì vậy, theo Điều 8 Bộ luật Hình sự quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
Trang 9Ví Dụ: hành vi xâm phạm quyền ứng cử của công dân là hành vi nguy hiểm cho xã
hội
Hậu quả tác hại của tội phạm là một trong các dấu hiện khách quan của cấu thành tội phạm , là thiệt hại do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra cho quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ gồm : thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Hậu quả có ý nghĩa quan trọng để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm
Ví Dụ : Khoản 3 Điều 136 phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc
gây tổn hại sức khỏe cho 2 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên thì bị phạt tù từ 01 đến 03 năm
Dấu hiệu thời gian ,địa điểm trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm chỉ ra rằng tội phạm có thật ở thời gian ,địa điểm nhất định Đây là một trong những vấn đề buộc phải chứng minh trong luật hình sự
Phương pháp, công cụ thực hiện không phải là dấu hiệu bắt buộc Tuy nhiên trong bộ luật có một số tội phạm tuy định phương pháp ,công cụ là dấu hiệu đặc trưng để định tội như điểm a, Khoản 1 Điều 104: dùng hung khí nguy hiểm gây thiệt hại cho nhiều người Điểm a, Khoản 1 Điều 93 quy định giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người
→ Như vậy, có thể kết luận rằng mặt khách quan của tội phạm là tổng hợp tất cả những biểu hiện của tội phạm diễn ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan
Không phải lúc nào các biểu hiện của cấu thành tội phạm cũng đc thể hiện trong cấu thành tội phạm mang tính bắt buộc Mặt khách quan của tội phạm là yếu tố cấu thành nên tội phạm, không có mặt khách quan thì không có tội phạm xảy ra, dù có thể các mặt khác của tội phạm đã hội tụ đủ
Ví Dụ: Trong suy nghĩ của anh M rất mong anh T chết nhưng trong thực tế anh T
chết do bị bệnh chứ không phải do anh M giết.
Trang 10Ở đây không có tội phạm xảy ra trong trường hợp này.
3 Ý nghĩa mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan với tư cách là một trong những biểu hiện quan trọng nhất của mặt khách quan của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Nó là cơ
sở để xác định tội danh
Việc quy định tội phạm của bộ luật hình sự dựa vào đặc điểm của hành vi khách quan
để định cho nó là tên gọi gì Chúng ta xác định được dặc điểm của hành vi ( phạm tội) thì có thể dễ dàng xác định hành vi đó phạm tội gì
Ví dụ: Anh A lén lút lấy tài sản của anh T thì anh A đã phạm tội trộm cắp tài sản
( Điều 138 bộ luật hình sự)
Mặt khách quan của tội phạm còn được thể hiện trong cấu thành tôi phạm tăng nặng,
là tình tiết định khung hình phạt
Trong tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có nhiều biểu hiện thuộc mặt khách quan
Mặt khách quan của tội phạm còn có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cơ sở để xác định mức độ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
Xác định nội dung bên trong tâm lý của người phạm tội qua việc xác định lỗi và mức
độ lỗi của người phạm tội
Ví dụ: Ông A xung đột với ông M sau đó ông A bỏ về nhà lấy dao sang đâm chết ông
M Cho thấy ông A cố ý thực hiện hành vi phạm tội và hành vi rất dứt khoát, cương quyết, chuẩn bị mọi phương tiện, công cụ để thực hiện hành vi phạm tội của mình.
II.Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm
1 Hành vi khách quan của tội phạm